free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

Phiếm Luận - Phóng Sự

Biện minh cho người trí thức?
Bùi Chánh Thời

Sinh hoạt trí thức về các vấn đề trước mắt của đất nước là một yêu cầu cấp bách, nhất là về những vấn đề có tính cách cơ cấu như vấn đề "trí thức Việt Nam". Mặc dù trí thức đã từng là đề tài chính luận trong nhiều thập niên qua, ở miền Nam trước 1975, và thỉnh thoảng ở ngoài nước, sau này, nhưng cũng không mấy khi có những cuộc tọa đàm và thảo luận có khả năng mở rộng với một đề tài đi thẳng vào vấn đề như đề tài "Tư cách chính thống của trí thức Việt Nam".

Tôi không được hân hạnh tham dự buổi nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài và chỉ được đọc bản ghi lại; bản ghi này thỉnh thoảng có đôi chỗ thiếu, sót; vì vậy những ý kiến đóng góp của tôi dưới đây cũng có thể có những chỗ không phản ánh từ ý kiến chân thật của diễn giả.

Vã lại, mặc dù trí thức Việt Nam nói chung là chủ đề của buổi nói chuyện, nhưng dường như những nhận xét về tư cách của người trí thức có phần dựa trên thực tế mà diễn giả đã trải qua ở miền Bắc, hơn là những kinh nghiệm ở miền Nam.

Dù sao, tôi là người sinh trưởng và sinh sống ở miền Nam, nên cũng không rõ lắm về tình hình trí thức ở miền Bắc; do đó, tôi chỉ xin nêu những nhận xét có tính cách chung chung về giới trí thức, mà không đi sâu vào các chi tiết về sinh hoạt trí thức trong nước hiện nay.

Tôi rất đồng ý với diễn giả rằng mọi vấn đề Việt Nam đều phức tạp, nhưng, trái với lời mở đầu khiêm tốn của diễn giả, bản chất phức tạp của tầng lớp trí thức đã được diễn giả giản đơn thành những hiện tượng của đời sống con người; cho nên cái phần "huyền hoặc" về người trí thức không còn ám ảnh chúng ta nữa, mà chỉ còn là những vấn đề thực tế bao quanh con người trí thức ấy.

Cái thực tế cốt yếu nhất đó là hơn hai ngàn năm có một dân tộc, một văn hóa, một lãnh thổ, mà ngày nay đất nước ta trở thành một đất nước lạc hậu nhất, và theo diễn giả, "đến đời cháu chắt chúng ta vẫn đội sổ". Ngoài ra, cũng theo diễn giả, "ở Việt Nam cái bệnh không chữa được là bệnh bất an".Chính vì cái bệnh "bất an" ấy khiến cho con người "khó sống tạm cuộc đời của mình, sống tiếp cuộc đời của thếhệ trước, và sống trước cuộc đời của thế hệ sau".

Diễn giả cũng nêu lên một câu hỏi thích đáng đó là trong cái số phận của dân tộc, người trí thức "tham dự như thế nào", "chịu trách nhiệm gì ?"

Có thật sự người trí thức phải chịu trách nhiệm chăng? Diễn giả không quyết đoán như vậy; nhưng cho rằng "không thể quy vào chính thể nào" mà "rõ ràng ?là vấn đề văn hóa", "thuộc về văn hóa" và nếu mở hồ sơ văn hóa thì phần phải gặp là "trí thức" Việt Nam. Tuy nhiên, "nhà văn không làm cái việc đi tìm lỗi và tìm ai có lỗi", chỉ "quan sát và khám phá giới trí thức", chỉ "khắc chạm diện mạo trí thức," mặc dù trí thức Việt Nam là chủ đề của hầu hết sáng tác của nhà văn nữ này. Phạm Thị Hoài nêu lên hai tư cách "chính thống" và "học trò" của giới trí thức Việt Nam: tư cách chính thống, tức là "tư cách phò chính thống" (theo Nguyễn Kiến Giang), tức là tư cách "quan văn" (Pham Thị Hoài). Nói một cách nôm na thì đó là tư cách "phò chính quyền". Tư cách này không thể tách rời "tư cách học trò". Cho nên khi nói đến sự "hiếu học" cũng có nghĩa là "hiếu" làm quan; và, mục tiêu tối hậu của sĩ phu Việt Nam là trở thành giới cầm quyền. Nhận định này của Phạm Thị Hoài không xa thực tế ? bao nhiêu.

Không có gì lạ khi Phạm Thị Hoài đánh giá rất thấp trí thức Việt Nam, cho trí thức là "hèn, nhu nhược và cầu an". Vì cái tinh thần nhu nhược và cầu an đó mà có mặc cảm "thấy mình nhỏ bé trước những thành tựu văn hóa khác"; trí thức ra nước ngoài không tự tin, "chờ người ta tiến bộ rồi mình ăn sẵn."

Từ những nhận xét đáng buồn cho giới trí thức Việt Nam trên đây, Phạm Thị Hoài đi đến kết luận rằng: "khi cái học của tầng lớp có học của chúng ta như thế, thì cái học ấy có hơn gì sự vô học của đám đông hay không".

Nói theo cái ý được bộc lộ trong toàn bài nói chuyện của nhà văn Phạm Thị Hoài, thì trí thức Việt Nam, chung tất cả, chẳng có thể được gọi là trí thức; quá hơn nữa, cũng chỉ là một lớp người vô học đó thôi.



Mặc dù trong phần trình bày, diễn giả Phạm Thị Hoài nói rằng nhà văn không làm cái việc đi tìm lỗi, hay tìm ai có lỗi. Nhưng qua cách "khắc chạm" của nhà văn, thì chúng ta không thể không đi đến nhận định rằng sự yếu kém của tầng lớp trí thức Việt Nam là nguyên nhân cuả sự suy bại của đất nước chúng ta hiện nay.

Trước hết, đa số người Việt chúng ta vẫn hay quen hiểu từ"trí thức" là để chỉ những người có học, dù học ít hay học nhiều, mà không quan tâm mấy đối với yếu tố hoạt động trí tuệ và tinh thần là chủ yếu. Thật ra, tính cách "trí thức" cũng có một khoảng cách với tính cách "học thức", dùng để chỉ bất cứ người nào có một trình độ học vấn (instruit, educated), thông thường là người?có "bằng cấp", thậm chí còn gọi là "khoa bảng".

Ngay trong định nghĩa về trí thức mà Phạm Thị Hoài nêu ra trong bài nói chuyện, cũng chỉ có thể áp dụng cho một số người giới hạn. Yếu tố "hoạt động trí tuệ, tinh thần thường trực" không dễ gì tìm thấy trong tuyệt đại đa số những người "khoa bảng" xuất thân. Đó là thực tế của mọi xã hội, chứ không phải chỉ riêng lẻ cho trường hợp xã hội Việt Nam chúng ta.

Trong nền văn hóa xưa, người ta còn dùng chữ kẻ sĩ để chỉ người trí thức chân chính (và do đó thêm từ "ngụy tri thức", để chỉ những người có học vấn mà thiếu những đức tính cần có của kẻ sĩ).Kẻ sĩ có những đức tính được đề cao: khi không thể làm được điều tốt thì thà làm một người xử sĩ , sống an bần lạc đạo (thà chịu sống nghèo khổ, mà vui vớiđạo của kẻ sĩ, không làm điều trái với lương tâm); hoặc giả thà chịu chết chứ không chịu nhục (sĩ khả lục, bất khả nhục). Ngoài ra, người trí thức cũng là người biết phò chính nghĩa chứ không phò chính thống.

Thế cho nên nền giáo dục thời xưa chủ yếu, và trước hết là trồng người và quan niệm việc "trồng người" là kế trăm năm (thụ nhân = thập niên chi kế mạc như thụ mộc, bách niên chi kế mạc như thụ nhân).

Ngày nay, những điều nói trên chỉ còn là "vang bóng một thời". Đa số con người đi theo cử nghiệp ngày nay chỉ nhằm tìm kiếm con đường ngắn nhất để vào chính quyền, để"phò chính thống" như Phạm Thị Hoài nói. Tình hình đó không mấy khác với thời cận đại của chúng ta, tôi muốn nói đến thời Pháp thuộc; đa số sinh viên cao đẳng chỉ mong có mảnh bằng để được bổ đi làm tri huyện, đốc học, tham tá... và mấy cô gái thời ấy thường chỉ kén chồng trong số những người khoa bảng lớp mới đó (phi cao đẳng bất thành phu phụ) .

Thế nhưng, ở bất cứ xã hội nào, cũng có những con người trí thức (người Pháp dùng từ "intellect" chỉ khả năng trí tuệ của những người này) và chính khả năng trí tuệ ấy giúp cho con người tìm đến trạng thái chân thiện mỹ của sinh hoạt trí thức.

Trong bất cứ thời đại nào cũng có người (ta tạm gọi là) chân trí thức; và đồng thời cũng có vô số những kẻ ngụy trí thức hiện diện ở đó. Chúng ta khó phân biệt được; nhưng không phải vì khó phân biệt mà chúng ta có thể bỏ rơi cái số người chân trí thức vốn ít ỏi kia. Ngay trong thời quân chủ chuyên chế ở nước ta cũng có những kẻ sĩ, như Chu Văn An, sau khi dâng thất trảm sớ để trừ lũ gian thần mà không được toại nguyện thì từ quan, trở về dạy học, chứ không chịu sắp hàng cùng lũ gian thần ấy. Trong thời kỳ pháp thuộc, những kẻ sĩ như Phan Đình Phùng, như Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu chấp nhận cái chết khi mưu đồ phục quốc thất bại. Ngày nay, dưới chế độ cộng sản, ở Trung Quốc cũng như ở nước ta, đã có biết bao văn nghệ sĩ, biết bao nhà nghiên cứu đã bị trù dập dã man trong các phong trào phản kháng như phong trào Trăm hoa (Trung Quốc), Nhân văn (Việt Nam); gần đây hơn nữa là những người trí thức, văn nghệ sĩ đang đấu tranh quyết liệt để đòi dân chủ trong nước, số người này càng ngày càng gia tăng. Và, trước mắt tôi, nhà văn Phạm Thị Hoài đã, ít nhất, là một biểu tượng của trí thức phản kháng.

Chúng ta không thể đòi hỏi ở người trí thức một loại "phong trào quần chúng". Nhưng hành động của họ có khả năng tác động vào quần chúng một cách mạnh mẽ. Tôi tự hỏi, nếu không có bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi, liệu cuộc kháng chiến chống quân Minh có kết thúc trong mười năm không?



Tất nhiên, người ta có quyền đòi hỏi nhiều hơn từ người trí thức Việt Nam. Tuy nhiên con người thường hay bị hạn chế trong hoàn cảnh nào đó, nếu không có cơ hội hay những yếu tố khác góp vào thì khó mà vượt qua được cái hoàn cảnh ấy. Tôi không muốn nói rằng tình hình đáng buồn của tầng lớp gọi là trí thức Việt Nam mà Phạm Thị Hoài nêu lên là do ai, vì ai; hay là vì một trong những "thằng" khách quan mà diễn giả gợi ý; chẳng hạn như lịch sử, bối cảnh, ngoại xâm, v.v..

Thật ra, không cần phải đổ lỗi cho ai, cho cái gì; nhưng ít nhất cũng cần phải đặt vấn đề vào một khung cảnh xã hội nhất định để tiện phân tích và tìm ra giải đáp cho vấn đề.

Tôi cũng có cùng một nhận định như Phạm Thị Hoài rằng vấn đề trí thức Việt Nam là thuộc vào văn hóa. Trải qua nhiều thế kỷ trước thời pháp thuộc, người trí thức, cũng gọi là giới sĩ phu Việt Nam, trầm tư trong ý thức hệ nho giáo, nhất là thời nhà Nguyễn lại sùng thượng Tống nho, một hệ Nho giáo không có được tính chất tự do, phóng khoáng của hệ Minh nho, cho nên thiếu sáng kiến và ý kiến, không dám nghĩ điều gì khác hơn là "Tử viết..." Cũng vì cái ý thức hệ Tống nho ràng buộc, mà đất nước chúng ta đã bỏ mất cơ hội canh tân như Nhật Bản. Sự sai lầm lịch sử này đã đưa đất nước chúng ta vào vòng nô lệ cho người Pháp gần cả trăm năm.

Tất nhiên, trong thời gian Pháp thuộc, ngoại trừ một số sĩ phu nổi lên chốngPháp, như chúng ta đã biết, đa sốcòn lại chấp nhận thân phận con dân của một nước thuộc địa. Tâm lý nô lệ không thể làm cho con người vươn lên cao được và đồng thời cũng phát triển cái tâm lý cầu an, ích kỷ. Trong cái khung tâm lý và xã hội đó, những người có học vấn cũng chẳng làm được gì hơn là mong có cơ hội được một chút chức phận trong chính quyền thuộc địa để được "sớm vác ô đi, tối vác về". Văn hóa nô dịch đã dễ dàng biến con người thành nô dịch, số trí thức có tinh thần cách mạng, hay đi làm cách mạng thật hiếm hoi.

Văn hóa có tính cách di cữu, nói nôm na là dây dưa. Văn hóa hình thành theo tập quán và giáo dục, theo tâm lý xã hội, theo nếp sống của con người trong xã hội đó. Thật ra, thông thường thi chính trị chỉ là một bộ phận của văn hóa, Nhưng trong trường hợp của một chính thể chuyên chế hay thuộc địa thì chính trị trở thành một thứ "văn hóa", một nếp sống của xã hội. Bởi vậy, khi mà xã hội Việt Nam bước từ vùng bóng tối của một nền chính trị thuộc địa, sang nền chính trị vô sản chuyên chính, thì chính thể này đã hình thành một nền văn hóa mới, văn hóa Mác-xít.

Nhưng, như đã nói trên đây, văn hoá có tính cách di cửu, cho nên ngay trong nền văn hóa Mác-xít vừa hình thành, thì những dấu tích của nền văn hóa nô dịch, thuộc địa cũng hội nhập vào nền văn hóa mới. Nói một cách khác, nền văn hóa Việt Nam hiện nay là một hỗn hợp của nền văn hóa của các thời đại từ quân chủ chuyên chế đến thuộc địa và hiện nay là cộng sản (với xã hội chủ nghĩa kinh tế thị trường !), cách khoảng bởi hai cuộc chiến tranh; chiến tranh dành độc lập và chiến tranh Quốc-Cộng.

Khi Phạm Thị Hoài đặt câu hỏi rằng vì sao ở nhiều nước người ta cũng có lúc trải qua cơn nghèo đói và lạc hậu, nhưng chỉ một thời gian sau người ta đã có thể vươn lên, như nước Ý chẳng hạn; trong lúc đó thì đất nước ta vẫn cứ mãi mãi nghèo khổ và còn thêm bệnh "bất an" nữa.

Sự khắc khoải của nhà văn Phạm Thi Hoài là chính đáng. Tôi đã gặp nhiều người nước ngoài sau khi viếng thăm Việt Nam trở về cũng có những thắc mắc tương tự. Tuy nhiên, vốn có tinh thần duy lý, những người này nhận xét rằng, cơn bệnh của Việt Nam chính là nỗi lo âu không biết ngày mai ra sao, càng thêm lo khi họ biết mình không làm chủ được vận mệnh của mình. Người dân trở thành người ngoài cuộc, trong khi những cơn sóng tham nhũng, bất công cuốn hút lấy sự sống của họ.

Phạm Thị Hoài kịch liệt đả kích những người đi học ở nước ngoài ngày nay, chỉ học qua loa, chẳng tới đâu cả mà "về thì nói phét". Nếu có ai theo dõi tình hình du học của sinh viên Việt Nam hiện nay thì tất thấy rằng đa số các du học sinh ấy là " con ông cháu cha", hoặc con cháu của lớp "tư bản đỏ" trong nước. Con cháu của cái "giai cấp mới" này, chẳng khác gì con cháu nhà giàu thời Pháp thuộc, sang Tây du học; rốt cuộchầu hết các cậu chỉ học được môn... "nhảy đầm".

Tất nhiên, nếu không thay đổi nền văn hóa nửa thuộc địa, nửa Mác-xít đó, và nếu không bắt đầu xây dựng nền văn hóa dân chủ để thay thế, thì tôi nghĩ rằng cái bệnh "bất an" cùng với sự nghèo đói và bất công xã hội sẽ khiến cho đất nước ta đi lùi về thời nô lệ. Người trí thức Việt Nam trong hoàn cảnh này, cần phải tách rời với cái tâm lý "phò chính thống" và bắt đầu làm người trí thức thật sự và độc lập để xây dựng một chế độ chính trị dân chủ, đồng thời với một nền văn hóa khai phóng, để đưa đất nước chóng thoát khỏi tình trạng lạc hậu và chậm tiến hiện nay.

Bùi Chánh Thời
( Australia )

( Trích từ Dien dan Lien Mang Tri Thuc )