Nhân dịp ghi dấu 30 năm người Việt lưu vong 1975 - 2005:
Giao Chỉ – San Jose 2004
Cali Today News - Trước năm 1975, người Việt lưu vong chỉ có mặt tại các xóm nhỏ ở Thái Lan, Lào, và Cam Bốt. Phải là du khách có tinh thần mạo hiểm mới tìm đến các khu vực hẻo lánh có lưu dân gốc Việt tại các quốc gia Đông Nam Á và nghe được một loại Việt ngữ pha trộn với thổ âm.
Ngoài ra trên thế giới, dân Việt hiện diện rất cô đơn rải rác bốn phương trời và vốn liếng Việt ngữ của ông cha đem theo hầu như dần dần mai một.
Nhưng từ tháng 4-1975 đến nay thì mọi thứ hoàn toàn thay đổi. Người Việt hiện diện trên 5 châu, 4 bể lên đến 3 triệu người quy tụ thành các cộng dồng và Việt ngữ đã phát triển vô cùng mạnh mẽ.
Người Việt tỵ nạn ra đi từ miền Nam suốt 30 năm qua đã xây dựng các cộng đồng tại Hoa Kỳ và thế giới tự do. Trong khi đó, người Việt đi lao động từ miền Bắc đã có các cộng đồng tại Nga và các quốc gia Đông Âu. Đa số nói Việt ngữ trong nhà, ngoài chợ, và các nơi sinh hoạt công cộng. Các nơi đông đảo dân tỵ nạn tại Hoa Kỳ lại có thêm báo chí, Radio và TV Việt ngữ.
Cho đến tháng 4-2005 vừa đúng 30 năm, lịch sử ghi dấu sự phát triển của Việt ngữ tại hải ngoại có thể coi là đang ở mức tối đa.
Hôm nay, nhân dịp cơ quan IRCC và thành phố San Jose phối hợp tuyên dương Trung Tâm Việt Ngữ Về Nguồn, chúng tôi xin cùng quý vị ôn lại câu chuyện Việt ngữ từ những năm qua.
Nếu tôi nhớ không nhầm thì ngày xưa học giả Phạm Quỳnh rất tán thưởng câu truyện Kim Vân Kiều của Nguyễn Du. Ông đã từng viết rằng: “Truyện Kiều còn thì tiếng Việt còn, mà tiếng Việt còn thì nước Việt còn.”
Năm 1975, khi người Việt di tản nằm trong lều vải chờ xuất trại trong Camp Pendleton ở Cali đã có một cụ già đôn đáo đi hỏi bà con cố nhớ lại để chép cho đầy đủ truyện Kiều. Ông cụ theo đúng thuyết của Phạm Quỳnh ngày xưa, cố ghi lại truyện Kiều để tiếng Việt còn và nước Việt nhờ đó mà tồn tại. Sau khi tỵ nạn xuất trại đi bốn phương trời thì Việt ngữ như đắm chìm vào khắp 50 tiểu bang toàn nước Mỹ.
Đó là thời kỳ 75. Qua đến năm 76, tỵ nạn gốc Việt bắt đầu nhẹ nhàng, rón rén dọn nhà về ở gần nhau. Việt ngữ trao đổi vừa phải như tiếng thầm thì của nhóm khách lạ đang ở nhà ông bà bảo trợ Hoa Kỳ.
Những nồi cơm đầu tiên đã được nấu chín, chưa có nước mắm nhưng đồng hương bắt đầu đi chợ Tàu, chợ Nhật để mua nước tương hay xì dầu để nhớ về cố quốc.
Từ đó các cộng đồng được xây dựng qua các chợ Á Đông, các tiệm ăn khai đường mở lối cho Việt ngữ cất tiếng ngày một mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, bà con vì nhu cầu sinh tồn nên vẫn phải kéo nhau đi học Anh văn. Ai cũng lo yếu sinh ngữ. Chưa ai nghĩ đến nhu cầu phải cho con học tiếng Việt. Qua đến đầu thập niên 80, bà con chèo thuyền vượt biển ngày một đông, cộng đồng nở rộ ngày thêm mạnh mẽ.
Báo chí Việt ngữ, radio Việt ngữ, TV Việt ngữ ra đời, ngày một phát triển.
Những đứa trẻ đến Mỹ từ năm 75 bắt đầu không nói được Việt ngữ. Cha mẹ, ông bà nói tiếng Việt, con cháu trả lời bằng tiếng Mỹ. Cuộc sống bắt đầu trục trặc và xa cách. Trẻ con nói tiếng Mỹ với nhau ào ào, nhưng khi gặp người lớn thì chỉ ậm ự, ừ ào.
Từ bên Canada, cụ giáo cao niên Bùi Văn Bảo bắt đầu soạn sách giáo khoa để phổ biến. Kèm theo vần thơ mở đường cho Việt ngữ của thế hệ tương lai.
Thơ rằng:
Chỉ sợ đàn con quên tiếng Việt.
Đừng lo lũ trẻ kém Anh văn.
Đó là thời điểm các lớp Việt ngữ dạy tình nguyện bắt đầu được tổ chức. Đặc biệt là không ai bảo ai, không hề có sự phối hợp toàn quốc Hoa Kỳ hay toàn thế giới. Tất cả đều là tự phát. Có nơi do các thanh niên thiện chí. Có chỗ là cơ sở tôn giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và Tin Lành đều có lớp dạy Việt ngữ. Một số thầy cô di tản nhớ nghề cũ mở lớp cuối tuần. Có khi là đoàn thể mở trường hướng về sinh hoạt văn hóa giáo dục.
Từ 1985 đến nay là 20 năm Việt ngữ lên đường. Đã có hàng trăm nơi dạy Việt ngữ, hàng ngàn thầy cô tình nguyện và hàng chục ngàn học sinh đã đi học cuối tuần.
Chúng ta không biết được số lượng các cơ sở dạy Việt ngữ trên toàn thế giới nhưng riêng California đã có tới cả trăm trường Việt ngữ cuối tuần. Và nhiều nơi đã liên kết, hội thảo sư phạm và trao đổi tài liệu.
Việt ngữ chính là phương tiện mạnh mẽ chuyên chở văn hóa Việt đến theo chaâ lưu dân quần cư ở bốn phương trời. Hầu hết các buổi hội họp cộng đồng đều dùng Việt ngữ để cho một vài vị khách quý Hoa Kỳ chính cống ngồi lạc lõng trên hàng ghế danh dự.
Trong các hãng xưởng có nhiều nhân viên Việt Nam, nhà vệ sinh ghi thêm tiếng Việt để hướng dẫn bà con ta khỏi bị nhầm lẫn. Tất cả các cơ sở công quyền từ DMV cho đến văn phòng bầu cử tại Cali đều có bản hướng dẫn bằng Việt ngữ.
Các nhà khoa bảng trẻ tuổi Việt Nam từ nha sĩ, bác sĩ, luật sư, sau khi quên lãng Việt ngữ, đi học thành tài, ra trường trở về Cali, mở văn phòng đã cùng một lúc học lại Việt ngữ để thưa gửi với khách hàng. Rồi đến các chính trị gia gốc Việt trên đường tìm phiếu đồng hương cũng phải trau dồi Việt ngữ. Phim bộ Trung Hoa chuyển âm Việt ngữ để cho bà con coi liên tiếp sáng đêm cũng đã góp phần nuôi dưỡng một loại ngôn ngữ Việt ngữ đặc thù trong các gia đình tỵ nạn.
Và cũng không ít các trẻ em Việt Nam đã bắt chước thực tập Việt ngữ kiểu Tàu với đại ca và hiền muội.
Đặc biệt nhất là vai trò của các tài tử nghệ sĩ danh tiếng, các MC tại hải ngoại và người hướng dẫn chương trình trong nước. Các cuộn băng, các CD, DVD đã trở thành mẫu mực cho Việt ngữ qua dòng thời gian.
Có rất nhiều học sinh trung học Việt Nam, cha mẹ xuất thân từ khắp các miền đất nước, các em sinh trưởng tại hải ngoại đã học hát, học nói Việt ngữ qua văn nghệ.
Từ các nghệ sĩ tình ca nhạc sến quê hương cho đến các tài tử quậy của nhạc Rock lời Việt, tất cả đều có thể là thần tượng của các em để theo đó mà bắc chước từ lời nói cho đến âm điệu.
Chính các băng nhạc đã góp phần lớn lao vào việc nuôi dưỡng Việt ngữ ở các chân trời xa lạ từ Na Uy, Thủy Điển cho đến Á Căn Đình, Ba Tây là những nơi ít người Việt tỵ nạn.
Cách đây vài năm, chúng tôi đi du lịch Âu Châu, đến đâu cũng mở niên giám điện thoại để tìm các họ Nguyễn, Trần, Lê, Lý, Vũ. Tại Áo Quốc, chúng tôi gặp hai nhóm gia đình gốc Hải Phòng và gốc Chương Thiện. Họ đã từ hai chân trời khác nhau lưu lạc đến Thụy Điển rồi thông gia và qua làm ăn ở nước Áo.
Âm thanh Việt ngữ từ miền đất cảng Hải Phòng có những sự khác biệt đặc biệt với Hà Nội. Trong khi đó, tiếng Việt của miền Rạch Giá, Chương Thiện, Gò Quao lại có những chữ rất đặc thù rất dễ nhận ra. Trong một bữa cơm Việt Nam với không khí gia đình, những du khách Việt Kiều từ Cali đến đã được gia chủ giới thiệu mấy đứa con Việt Nam trưởng thành ở Áo Quốc. Cha mẹ hãnh diện bảo con cái ra chào các bác. Cậu bé hồn nhiên nói rằng: “Mấy đứa này con phải chào đứa nào trước?” Chủ khách đều đã được một phen cười thỏa thích.
Ôi! Tiếng quê hương qua lời cậu bé đã làm cho khách Cali rung động biết chừng nào.
Với những kỹ thuật tân tiến hiện đại và đặc biệt là sự hiện diện của máy điện toán với hệ thống nối kết toàn cầu làm cho thế giới vĩ đại đã nhỏ bé gần gũi hơn. Do đó Việt ngữ càng bành trướng và phát triển.
Thêm vào đó, dân số Việt Nam sau chiến tranh đã gia tăng mạnh mẽ và chỉ một thập niên nữa là Việt Nam sẽ bước vào hàng ngũ các dân tộc có 100 triệu người quốc nội và 5 triệu người lưu dân hải ngoại.
Trong số này 50% trưởng thành sau chiến tranh và đây chính là sức sống mãnh liệt để nuôi dưỡng Việt ngữ tồn tại trên thế giới, hay nói một cách khác là “trên hành tinh của chúng ta” là chữ mà các tay văn chương ở quê nhà thường dùng.
Cách đây 30 năm, mới đến Hoa Kỳ, người lưu dân tỵ nạn Việt Nam tưởng chừng sắp sửa vĩnh biệt Việt ngữ. Tưởng rằng thế hệ thứ hai và thứ ba thì tiếng Việt sẽ hoàn toàn không còn ở lại với anh em.
Nhưng hôm nay, những suy nghĩ đó không còn đúng nữa. Việt ngữ không những vẫn tồn tại mà còn phong phú hơn cùng với nhịp sống mãnh liệt từ quê nhà đến bốn phương trời hải ngoại. Tại quê nhà Việt ngữ miền Bắc, Trung, Nam có sự khác biệt cần khám phá và tìm hiểu mới thấy nhiều thú vị.
Việt ngữ của lưu dân tỵ nạn ở Ý khác Việt ngữ của dân Việt bên Đông Âu. Việt ngữ của dân tỵ nạn ở Hoa Kỳ khác với cách nói của nhóm gia đình gốc Việt ở Băng Đảo. Nhưng các phương tiện truyền thông và chuyển vận đã làm cho địa cầu ngày càng thu hẹp và chúng ta đem Việt ngữ đến gần nhau hơn.
Trong niềm cảm hứng vào tương lai tốt đẹp của Việt ngữ chúng tôi xin cầu chúc cho các trung tâm dạy tiếng Việt một năm mới 2005 tốt đẹp. Những công tác và thành quả như Văn Lang, Hướng Việt, Về Nguồn vân vân đã gặt hái từ nhiều năm qua là những điều cụ thể và tốt đẹp nhất cho cộng đồng Việt và sẽ còn mãi mãi trong tương lai.
Giao Chỉ – San Jose 2004
(trích đăng từ Cali Today News Website>