
Lời Tựa :"Dư Âm Ngày Cũ".
Hòang Long Hải
..."Dư Âm Ngày Cũ"...
Giới thiệu
“Dư Âm Ngày Cũ” không phải là một tập truyện ngắn. Đúng hơn, đó là một hồi ký,
một hồi ức của tác giả về một xóm nhỏ có thực với những con người có thực và những chuyện
có thực ở nơi ông đã sinh ra, lớn lên thời thơ ấu. Cái xóm đó, gọi theo đúng thực trạng của nó là Xóm Cồn
– một cồn đất ở cửa sông Cái, Nha-Trang.
Tác giả có nhắc lại sự hình thành của Xóm Cồn,- khoảng một trăm năm trước kể từ giữa thế kỷ 20
-. Trong những năm chiến tranh Việt-Pháp 1945-54, và tiếp đó là cuộc di cư của người miền Bắc
sau Hiệp-Định Genève 1954, xóm tụ tập đủ hạng dân lao động, từ các tỉnh miền Trung Trung Bộ
và miền Nam Trung Bộ; họ tìm về đây kiếm một nơi trú ẩn để tránh tên bay đạn lạc, phần đông nghề
chính là đánh cá biển, thêm một vài nghề khác không được phổ biến, hình thành một xóm lao động
nghèo, nghèo tiền bạc nhưng rất giàu tình nghĩa xóm làng như chính tâm hồn của người viết tập sách nầy vậy.
Những người đến đây định cư kiếm sống, mang theo rất ít hành trang:
Không nhiều quần áo, không tủ chè sập gụ, và có thể không nhiều tiền bạc, tư trang,
nhưng cái xóm lao động ấy ổn định rất nhanh vì trong hành trang lưu lạc của họ lại rất nặng
văn hóa dân tộc, những dấu ấn sâu sắc về tình nghĩa gia đình, xóm làng và cả lòng yêu nước.
Do những đặc thù đó, tập truyện của Nguyễn Thanh Ty mang nhiều sắc thái khác nhau.
Có thể đó là một tiểu thuyết phong tục có tục thờ cá voi chết tấp vào bờ mà người dân chài
thường gọi một cách kính cẩn là “Ông Lị” (lụy) và “giả sắn” để nhuộm lưới khi lưới nylon chưa
nhập cảng vào nước ta. Đó cũng là tập tục tôn trọng người có học vì họ là người biết Lễ
(Tiên học lễ, hậu học văn) và “Trọng thầy mới được làm thầy” (tôn sư trọng đạo) là những
câu cách ngôn được treo trên tường các lớp khi tác giả còn học tiểu học.
Thật vậy, tôn trọng người có học, người hiểu biết lễ nghĩa liêm sĩ, trung hiếu tiết nghĩa
là điều rất thường thấy trong sinh hoạt của họ, ngoài một lý do không ít quan trọng là để tránh một
nghề lao động vất vả chân tay. Cho con đi học là giúp con được làm Người (Viết Hoa) và thoát ra
khỏi cảnh bùn lầy nước đọng. Trong đà phát triển của xã hội miền Nam trước 1975, nhiều người
trong xóm ông đã thành đạt, trong đó, dĩ nhiên có cả tác giả.
“... Mãi đến năm sáu mươi, làng tôi mới có một chàng Hiến Binh đội “kết-pi” đỏ đầu tiên.
Đó là anh Sáng, con cậu Sáu tôi.
“Sau ngày anh Sáng tôi trở về làng oai hùng trong bộ đồ Hiến Binh thì lần lượt xuất hiện thêm
vài người hùng khác nhưng trong những bộ đồ lính không quân.... đầu tiên là anh Sáu Diệu và anh Ba Xáng.
Về sau thêm nhiều người hùng nữa mà tôi không nhớ hết. Cái dấu ấn đậm nét nhất trong tôi là thằng Cò Ù
tức thằng Thừa Mập, em chú chín Ú. Nó mới học hết lớp nhứt thì bỏ học... rồi đăng lính Nhảy Dù,
“Thiên Thần Mũ Đỏ”. Cái ngày nó từ trung tâm huấn luyện trở về, chúng tôi trố mắt nhìn nó.
Vừa ngạc nhiên, vừa thán phục. Trông nó khác hẵn thằng Cò Ù xưa. Nó vừa oai hùng, vừa
bảnh chọe với chiếc bê rê đỏ đội lệch trên đầu và bộ đồ rằn ri như da con báo. Chúng tôi phục nó
sát đất và hãnh diện có một thằng bạn như vậy. Bây giờ chúng tôi trịnh trong kêu nó là anh Thừa
chớ không gọi là Cò Ù và mày tao như trước.
“Nó ở chơi với chúng tôi bảy ngày và giã từ đi tới đơn vị bổ nhiệm.
“Một tháng sau, người ta chở về cho má nó một cái hòm kẽm, trên phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nó đã tử trận và bây giờ nằm im lìm trong đó. Hình như nó mới vừa mười bảy tuổi, chưa tới tuổi quân dịch;
và cũng chưa biết mùi con gái.
Cũng trong truyền thống dân tộc, người dân trong Xóm Cồn của Nguyễn Thanh Ty
đã có một thời đứng lên chống Pháp, cùng với toàn dân tộc chiến đấu giành độc lập, khi
Thực Dân Pháp trở lại xâm lược nước ta sau khi Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai chấm dứt.
Cuộc nổi dậy đó đã bị Pháp đàn áp một cách tàn bạo:
“Họ đã vì lòng yêu nước, hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh, cầm gậy tầm vông
đứng lên đánh nhau với súng “Mút-cà-tông” và “Mi-trây-dết” của Pháp.
............
“Đoàn người chưa bước được mươi bước thì:
- “Đùng, đùng, đùng... ”
“Một loạt tiếng súng liên thanh “Mi-trây-dết” nổ giòn từ những lỗ hổng của bờ thành
Lầu Ông Tư bắn ra. Đạn vãi như mưa bấc. Những người đi đầu trúng đạn ngã quay ra đất, chết lập tức.
Những người đứng sau bị thương ngã dụi xuống, kêu la, rên rỉ ầm ĩ. Một quang cảnh náo loạn, kinh hoàng
xảy ra quá bất ngờ. Đoàn biểu tình tan nhanh như cơn gió thoảng. Mạnh ai nấy chạy tan tác. Phần đông
là nhảy xuống bờ sông bơi về nhà hay trốn qua Cồn giữa. Bỏ lại tại chỗ hơn mấy chục người vừa chết
vừa bị thương quằn quại.
Việc bắn giết của lính Lê Dương trong cuộc nổi dậy ấy đã để lại một hậu quả nặng nề cho
Xóm Cồn của ông: nhiều người điên khùng, tàn tật. “Khi được thả về, người nào cũng xanh xao,
ốm yếu. Có người ôm ngực ho ra máu. Có người trở thành mất trí, lúc tỉnh, lúc điên.
“Trong số những người đó, tôi nhớ rõ nhất là ông Bảy Mạnh, ông Sáu Chúc, ông Ba Đen
và ông Chín Bốc. Bốn người này có những cá tánh đặc biệt khó quên khi đến uống rượu tại quán má tôi.
Sau đây là một hoạt cảnh rất sống động, rất thực; như rõ ràng hiện ra trước mắt chúng ta
hình ảnh một người dân lao động hơi luống tuổi:
“... tôi đã rót cho ông ly rượu Công Xi rồi. Ông thò tay bốc thêm mấy trái ớt xiêm trên cái trẹt
gần tầm tay, bỏ vô miệng nhai rau ráu, rồi ngữa cổ uống ực một cái hết cả rượu lẫn ớt. Ông móc túi
trả một đồng bạc, lấy mu bàn tay chùi hai bên mép, rồi đi về nhà.
Kế đó, cũng là hoàn cảnh một người lao động khác, một đứa bé như ông hồi niên thiếu phải
có con mắt nhận xét tinh tế mới thấy được:
“Từ ngày Tây thả về, ông Ba Đen ở ru rú trong nhà. Cửa liếp luôn đóng im ỉm.
Xung quanh nhà có hàng rào làm bằng cây sắn đan khít lại. Vợ con ông đi bán cá về,
muốn vô nhà phải hé cửa để lách mình vô. Cơn điên của ông cũng nổi lên bất thường.
Lúc thì buổi sáng, lúc buổi chiều.
Lại một hình ảnh khác nữa, rất thường thấy trong xã hội chúng ta ngày trước:
“Ngược lại với ông Ba Đen, ông Bảy Mạnh lúc nào cũng lang thang ngoài đường,
đầu trên xóm dưới. Ông cứ lòng vòng trong xóm, miệng thì lảm nhảm: “mỏa? rẻm me moa! rẻm me moa!”
Nhân vật sau đây hết sức đặc biệt, tuyệt đối “mê tín dị đoan”. Bạn đọc phải mở sách
đọc hết từng trang mới cảm nhạân hết kết cục bi thảm của sự mê tín đó:
.....
“Ông Sáu Chúc đã nghèo vậy, mà mỗi lần trước khi uống, hai tay ông bưng
ly rượu, giơ ngang trán một cách trịnh trọng, miệng lâm râm đọc thần chú hay khấn vái
điều gì đó; xong, đổ bớt một phần tư rượu xuống đất rồi mới uống phần còn lại. Tôi cứ
lấy làm thắc mắc và tiếc tiền cho ông. Má tôi nói ổng thờ “Ông” tức là thờ cá voi:
Hai vợ chồng già sau đây là một hiện tượng hiếm thấy trong xã hội cũ. Người đọc
có thể thấy đây là một căn bệnh tình dục hơn là một sự xung khắc giữa hai vợ chồng:
.....
“Bà Chín vừa nói vừa lộn hai cái túi áo bà ba ra cho ông Chín coi. Ông Chín nhào tới mò
lưng quần bà thì bà xô ông ra, tông cửa chạy ra ngoài. Ông Chín rượt theo. Bà Chín chạy lòng vòng,
từ nhà này sang nhà kia. Sau bà là ông Chín rượt đuổi. Sau ông Chín là đám con nít hơn chục đứa
nối đuôi chạy theo, vừa vỗ tay vừa la:
- “Tụi bay ơi chạy theo mau lên! Bà Chín sắp tuột quần rồi!”
“Cái màn diễn của hai ông bà Chín hôm nào đoạn kết cũng giống nhau nên mọi đứa trẻ
xóm đều thuộc lòng, nhưng cũng cứ khoái coi hoài nhưng chưa thỏa tính tò mò vì ông bà Chín hạ
màn đột ngột quá, tụi nó chưa mãn nhãn...
Xóm Cồn của tác giả không thiếu những người sống trong ảo tưởng,
mà người xưa thường cho rằng học quá thành khùng. Ở đây, ngoài ra, còn là hậu quả
của những cuộc tra khảo của chế độ thực dân:
.....
“Kế đến là anh Bảy. Anh bị vẹo chân phải. Khi đi, người lệt hẳn một bên, kéo lê cái
chân bị tật lết trên đất. Do vậy anh có thêm cái tên “dẹo” (vẹo): Bảy Dẹo. Người em gái út là chị Xù.
Chị Xù lấy anh Năm Bẩn, con bà dì Năm tôi. Mấy đứa nhỏ trong xóm kêu lén sau lưng chị là chị “Xè Lú”,
bởi chị và anh Bảy, chị hai Tỵ đều lé. Lé ghê gớm chớ không phải “lé kim” thường thường như người ta gọi là “mại”.
Có lẽ ở làng xã chúng ta không thiếu những nhân vật như Bảy Phết sau đây. Nói cho cùng,
điều ấy không có chi lạ. Có sự khác biệt chăng là anh chàng Lao Ái ngày xưa trong truyện Đông Chu
đã không biết tự hạn chế mình như Bảy Phết của Xóm Cồn:
- “Tao mà được như thằng Bảy Phết cũng sướng một đời. Người ta nói “của to không lo gì đói”,
đúng quá xá là đúng!
Anh ôm gà đi từ đầu làng tới cuối xóm. Cái “của quí” to và dài như cái chày đâm tiêu lũng lẵng
giữa háng, đánh qua, đánh lại hai bên bắp vế theo nhịp đi của anh. Những lúc anh ngồi chồm hỗm
theo dõi con gà mình đang đá, “thằng nhỏ” của anh cũng thò cái đầu bóng lưỡng ra khỏi ống quần
để xem ké. Thiên hạ lúc này bỏ coi đá gà quay qua chiêm ngưỡng cái “vưu vật” hiếm có trên đời này.
Đến lúc phát hiện ra chuyện lạ, Bảy Phết đỏ mặt, đứng vụt dậy, kéo ống quần xuống, cười bẽn lẽn
nhưng cũng đầy vẽ tự hào.
Như mọi đứa trẻ khác, những năm học tiểu học để lại những dấu ấn sâu sắc trong trí óc trẻ thơ.
Nguyễn Thanh Ty cũng vậy, nhưng cái “nhớ’ của ông đầy vẻ tinh nghịch, buồn cười, với những nhận xét
sâu sắc về các thầy cô:
“Đó là trường Nam Tiểu Học Nha Trang. Ngôi trường đó có Ông Đốc Thành lúc nào
cũng quần “sọoc”, áo sơ mi trắng ngắn tay. Với dáng thấp, đậm người, tròn lẵn, hồng hào, bao
giờ ông cũng uy nghi, bệ vệ như một vị thần linh trước mắt lũ chúng tôi. Còn có cả thầy Lộc bụng phệ,
thầy Ẩn với hàm râu cá chốt, thầy Thanh xuề xòa, đôn hậu, thầy Tuy hiền lành, nhỏ nhẹ, thầy Ngộ tướng
dữ mà hiền, thích đá gà... Còn có cô Mai, hè nào cũng mang bầu, đến ngày tựu trường thì nghỉ đẻ;
học trò chúng tôi không có giáo viên, lại được nghỉ học thả dàn. Cô Lệ ốm cao, dáng người Huế quí
phái với mái tóc giả bọc trong lưới, có vẻ mặt lúc nào cũng buồn buồn. Có phải cô luôn ngẫm nghĩ về
một quá khứ cung đình vàng son nơi xứ Thần kinh?
Xóm Cồn là nơi tập trung của nhiều người từ nhiều xứ tụ về nên nó pha tạp nhiều giọng nói
khác nhau, lại là giọng nói của người miền quê nên ngôn ngữ Xóm Cồn có những nét rất đặc sắc.
Nó bao gồm tiếng Quảng Nam “En không en tét đèn đi ngủ” hoặc “đất Nhoa-Troang làm eng được
” hoặc tiếng Phú Yên của “nẫu”: “dẫy na các ông” hoặc trọ trẹ tiếng Huế “Dị mà nói “mai chừ chưa
ăng chi hệ......ệt.” trước khi “ôm ông nội lội qua sông.” (Ôm ống nổi lội qua sông) và “nước mắm độ
lộn mợ” (Nước mắm đổ lộn mỡ”. Người ta phải hết sức lắng nghe và suy nghĩ, đoán chừng mới hiểu
được “Bữa nay không học ke, trại bữa nay phát ké, không có phát gè”. Chưa hết, còn một giọng Bắc sau
cuộc di cư năm 1954: “Bố mẹ tiên sư nhà chúng mày, con nhà mất dậy.
Con bà đi giải mà chúng mày lén chúng mày nhòm. Bà mà bắt được tay, vây được cánh,
bà cho chúng mày niếm qua niếm nại”.
Khi họ chưỡi lộn nhau thì đó là một bản “hòa tấu” nhịp nhàng âm điệu và “ca từ”hiệp vận
còn hơn bất cứ một nhạc sĩ tài danh nào.
Người xứ lạ mới đến, nhiều khi phải có thông dịch, nhưng trong cộng đồng đó với nhau,
sau một thời gian ngắn, họ hiểu nhau rất rõ và cũng rất nhanh.
Đa số người Việt theo đạo Phật truyền thống, có nghĩa là họ rất ít khi đi chùa nhưng họ biết
giữ lòng từ bi và biết giữ giới. Do đó, họ không ăn thịt chó vì sợ bị “tội”:
“... bỗng có tin đồn rĩ tai chuyền đi mau lẹ trong xóm, đầu làng, cuối ngõ đều biết:
- “Cha con thằng Bắc kỳ Thủy bán phở thịt chó!”
- “Chao ôi! Thịt chó! Sao mà gớm ghiếc vậy!”
Hầu hết dân xóm tôi là người Lương. Một số nhà có bàn thờ Phật. Họ rất sùng đạo.
Họ nghe lời các Thầy hơn là tin Phật.... đầu đội chậu máu là chuyện Mục Kiền Liên ai ai cũng thuộc nằm lòng...
“Lúc này trẻ con, người lớn, túa tới bu coi mỗi lúc mỗi đông. Tiếng con nít hò la “Bắc
kỳ ăn thịt chó!” càng lúc càng lớn, khiến Bảy Phết càng hăng máu, càng hừng chí. Anh xăm
xăm xáp lại gần xe phở. Bố con anh Thủy càng run lập cập lùi ra xa. Bảy Phết đưa tay giở
nắp thùng nước xúp, thò mũi vào hít hít mấy cái, rồi lấy cái giá trụng bánh phở khua khua
trong thùng một lúc, bỗng la lớn lên:
- “Nè bà con, cô bác, có cái đầu con chó trong này nè!”
“Mọi người ồ lên một tiếng thật to. Đám con nít sợ xanh máu mặt.
Nguyễn Thanh Ty có những nhận xét sâu sắc về những nhân vật đặc biệt trong xóm ông,
qua đó, “Chi Tám Lại Cái” có những cái lạ của một nhân vật ái nam ái nữ, nhưng chị có những tình
cảm rất thường của tình mẹ yêu con hay tình yêu nam nữ. Dĩ nhiên chị không thể có con, nhưng chị
yêu con không khác gì một người đàn bà bình thường:
“Chị thương con bé lắm. Cái cách thương con, càng muốn làm mẹ của chị cũng là một
trò vui cho cả xóm cười nhạo chị. Chị cho nó bú bằng bình nhựa có núm cao su. Nhưng chị
cũng giả bộ vạch áo ra, ấn đầu con bé vào ngực, cũng giả bộ ù ơ:
- “Ờ, ờ! Con ngoan! Má cho con bú nghen! Ngoan ngoan! Bú đi con!”
“Rồi chị rung rung con bé trên tay, ru nó ngủ bằng cái giọng ồm ồm:
Âu ơ ... Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Âu ơ ... Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra,
...
“Bảy Phết đi ngang, chưỡi đổng:
- “Tổ bà thằng lại cái! Vú móm đâu cũng bày đặt vạch áo, bú đi con, bú đi con!
Con! Con cái con c... tao đây nè!”
“Chị Tám xua xua tay ra hiệu cho Bảy Phết đừng nói lớn tiếng làm con bé thức dậy:
- “Anh Bảy làm ơn! Em nó đang ngủ!”
“Rồi chị lại rung rung con bé hát tiếp. Mắt thì ngó Bảy Phết ra vẻ hờn trách.
Vậy mà “chị” Tám rất “mê” Bảy Phết, muốn từ bỏ hết để theo anh ta, mặc dù “chị” đã
bị Bảy Phết đối xử rất “vũ phu”:
- “Cái đó là tại anh Bảy! Anh Bảy không thương em! Anh Bảy chê em,
hất hủi em, anh Bảy đạp em một cái như trời giáng. Bây giờ anh Bảy chịu bỏ năm bà
vợ mà lấy em, em thề xé bỏ giấy đi Mỹ để theo anh Bảy suốt đời liền”.
Đọc truyện “Lực Sĩ Đỗ Khánh Du” không ai không xúc động bởi vì chúng ta không khác gì
tác giả bao nhiêu, ai chẳng có một “thần tượng” thời thơ ấu:
“Lực sĩ Đỗ Khánh Du trạc chừng hai mươi lăm tuổi, người thấp đậm, da ngăm đen.
Khuôn mặt vuông, ngũ quan đều đặn. Cặp mắt rất sáng. Hàm răng đều nhưng hơi vàng xỉn do
hút thuốc điếu quá nhiều. Ông vận chiếc quần chùng bằng lãnh đen, thắt giây lưng lụa đỏ, to bản,
buông dài chấm gối. Chân đi giầy vải. Mình ở trần. Lồng ngực nở nang. Bụng thon, nổi vồng
lên sáu cơ bắp hình vuông, thiệt đẹp... Khi ông lên “gồng” những cơ bắp nổi lên cuồn cuộn, thấy rõ từng bắp một.
Thế rồi mấy chục năm sau, Nguyễn Thanh Ty hết sức đau lòng gặp lại “thần tượng”
thời thơ ấu của ông:
“Cũng vẫn chiếc xe “đòn dông” cũ, nay càng thêm bệ rạc. Hai cái bánh xe trơ trọi,
không còn cặp dè. Ghi đông trụi lũi, không có thắng, không có chuông. Hai bàn đạp không còn “pê đan”,
chỉ thò ra hai que sắt, mòn nhẵn, nhọn hoắc. Thùng “cạc tông” chắc ông đã thay mấy lần mưa nắng
sao trông nó cũng tồi tàn quá. Bốn bên cạnh không đứng thẳng mà muốn ngã ụp vào bên trong.
Bây giờ ông chỉ còn rao bán ở hai bến xe Ninh Hòa và Xóm Mới. Bằng một giọng khàn đục,
không đủ hơi, ông rao phều phào, tiếng rõ, tiếng không:
- “Bà con, cô bác đi đường xa, chóng mặt, nhức đầu, đau bụng nên mua ngay
chai dầu Nhị Thiên Đường hiệu ông Phật để dành, lỡ khi mưa nắng bất thường”.
“Khi mua xin nhìn kỹ nhãn hiệu dầu cù là Mắc Xu vẽ hình chủ nhân bào chế,
có “cầu chứng tại Tòa”, kẻo nhầm với dầu cù là đựng trong hộp thiếc màu đỏ có vẻ hình ngôi sao vàng.
Dù xuất thân từ một xóm lao động, Nguyễn Thanh Ty được giáo dục khá kỹ về đạo làm người.
Sự giáo dục đó, được biểu hiện bằng cây roi mây nơi tay thân phụ ông:
“Cha tôi đánh con cũng kiểu cọ lắm. Nếu tôi yếu tim như bây giờ thì đã đi đời nhà ma từ lâu rồi.
Mỗi lần anh em tôi có ai lầm lỗi điều gì thì ông bắt nằm xuống hết một loạt như cá hộp sắp lớp.
Không cần biết ai phạm lỗi. Cứ thằng lớn đầu nhất trong nhà là tôi, đánh trước để làm gương.
Ông nhịp nhịp cái roi mây trên mông đít tôi, vừa nhịp vừa dạy:
- “Lớn mà không làm gương, nhỏ mới lập đường trèo lên! Biết không?”
- “Dạ biết!” Tôi mếu máo thưa chớ có biết ất giáp gì mà làm gương.
Trong lúc tôi lơ đãng thưa theo “nhịp cầm canh” của cái roi mây nhịp nhịp ở mông,
thình lình nghe tiếng gió của cái roi trên cao quất xuống, không kịp lấy gân, trân mình thì đã
nghe tiếng “trót” thiệt ngọt, giáng xuống mông rồi. Hai cái mông nóng lên như lửa chớ không thấy đau.
Tôi đưa tay ra sau đít, chà xát lia lịa cho bớt nóng thì ông đã quát lên:
- “Lấy tay ra! Nếu không, tao quất một roi nữa là gãy lìa mấy ngón tay!”
“Cứ thế, ông đi hết một lượt năm, bảy anh em tôi, từ trai tới gái. Nhiều lần,
lúc ông nhịp tới đứa chót thì tôi đã ngủ hồi nào rồi không hay.
Lối giáo dục ấy không có kết quả hay hay chăng? Không, chính cây roi mây ấy đã dạy
ông nên Người, dạy cho ông thương xót và khóc khi hay tin một cấp chỉ huy cũ, một tấm gương
đạo đức sáng chói đã qua đời:
“... một ngày cuối đông lạnh lẽo, với những cơn gió bấc thổi thốc vào căn nhà tuềnh toang,
trống trãi ở gần hai bồn xăng dưới chân núi Cầu Đá, đối diện với dinh Bảo Đại, Thầy đã trút hơi thở
cuối cùng, lặng lẽ từ giã cuộc đời đầy phiền não và hận thù để vĩnh viễn ra đi về cõi vĩnh hằng.
“Và khấn rằng: “Thưa Thầy! Đời đục cả! Mình Thầy trong. Không vì đời đục mà Thầy đục theo.
Thầy là tấm gương sáng cho những kẻ chỉ biết chạy theo bã danh lợi suy ngẫm ở quãng cuối đời còn lại”.
“Những giọt nước mắt muộn màng rơi trên trang giấy này, em xin thay cho những lời tạ lỗi.
Xin Thầy hãy mĩm cười bao dung và tha thứ cho em!
Trong đời thực và trong văn chương, con người Nguyễn Thanh Ty không khác nhau bao nhiêu.
Gặp bạn bè, ông thường có những lời đùa vui vô hại, có nghĩa là chẳng moi móc ai, cười để mà cười,
vui để mà vui. Tuy nhiên, trong văn chương, cái cười đó có vẻ chua xót hơn, có phải vì đời ông
nhiều “bầm dập”, nhất là khoảng thời gian nhiều năm trong trại cải tạo đã cho ông cảm nhận nhiều đau đớn
đó chăng?! Trong chuyện “Khổ vì nước...” khi mô tả một người bán nước uống cho hành
khách đi xe lửa, ông viết lại câu nói đùa chua chát mà tôi không nghĩ ông là người sáng tác.
Co lẽ ông đã nghe, đồng cảm và chép lời của ai đó:
“Bán nước theo tàu nè !”
Chữ nước và cữ tàu, người ta hiểu theo cả nghĩa bóng, nghĩa đen và cả
tiếng lóng nữa. Ở một chỗ khác, khi nói về lực sĩ Đỗ Khánh Du bán dầu cù-lằ “Mắc-Su”,
ông (hay người dân miền Nam) dặn nhau đừng lầm với một thứ dầu “Mắc-Su” mới hiệu “sao vàng”:
“Khi mua xin nhìn kỹ nhãn hiệu dầu cù là Mắc Xu vẽ hình chủ nhân bào chế, có “cầu chứng tại Tòa”
, kẻo nhầm với dầu cù là đựng trong hộp thiếc màu đỏ có vẻ hình ngôi sao vàng. Đó là loại “cao sao vàng”
của gánh xiếc đời nay. Rất dễ bị ngộ độc.
Sao lại là gánh xiếc? Đời nầy chơn giả đều là trò xiếc cả thôi sao? Nhưng trong
cái “xiếc” của Lực Sĩ Đỗ Khánh Du, giả lại là chơn vì ông ta sống bằng khả năng có thực của ông,
còn gánh xiếc đời bây giờ có ai không cho rằng “người ta” đã “lộng giả thành chơn”bằng trăm ngàn
trò phỉnh gạt, lừa dối?! Điều ấy làm cho đời bây giờ rất dễ bị ngộ độc nên chẳng ai chấp nhận cái
“sao vàng” đó là “giải phóng” hay “cứu tinh” cho một dân tộc, cho một đời, hay cho một người đang bị cảm mạo?
Xóm Cồn của ông nằm giữa sông Cái và biển, ba bên bốn bề là nước, nhưng vì là xóm nhà lá,
nên rất “nhiệt tình” mỗi khi bà Hỏa đến thăm. Trong cơn hỏa hoạn, nạn nhân đang nháo nhác,
người dân Nha Trang cũng như ngay chính tác giả, không thiếu hóm hỉnh bảo nhau “Ra cồn dòm lửa”.
Cái dí dỏm ấy trở thành nhan đề một tác phẩm sắp ra lò của Nguyễn Thanh Ty.
Chưa bao giờ tôi thấy bất lực như khi viết lời giới thiệu cho Nguyễn Thanh Ty,
một việc trước đây tôi cũng đã làm cho vài người bạn văn. Gân bốn trăm trang giấy
chan chứa những tình cảm cũng như kỹ niệm của tác giả đối với một quê hương thời thơ ấu,
vui buồn thương nhớ lẫn lộn với rất nhiều đau đớn xót xa; làm sao tôi có thể gói gọn tất cả những
tình cảm nhung nhớ thương xót ấy vào trong hơn mười trang giấy giới thiệu. Cho tôi gởi lời xin lỗi tác
giả cũng như độc giả và xin mời quí độc giả hãy bước vào thăm Xóm Cồn của Nguyễn Thanh Ty qua
tác phẩm “Dư Âm Ngày Cũ”.
Tiếc một điều, Xóm Cồn không những không phát triển thêm thành một nơi cư ngụ đẹp
đẽ trong cuộc sống mới mà lại mất dấu trên bản đồ Nha-Trang ngày hôm nay, cả “Lầu Ông Tư”,
dấu tích nơi phục vụ nhân loại của một nhà khoa học nổi danh của Pháp tại đất Nha-Trang, nay
cũng đã trở thành bình địa.
Cái “bình địa” mất dấu ấy lại trở thành những cơn sóng dữ trong tâm tưởng
của một người lưu lạc xứ người như Nguyễn Thanh Ty. Vì vậy, tôi xin mượn lời của ông
để kết thúc lời giới thiệu nầy:
“Ôi! Những kỷ niệm của tôi sao mà nhỏ bé, tầm thường.
Nó chỉ là những trái tra, trái xoài quéo còn non. Những chùm dũ dẽ nửa sống,
nửa chín ở bãi hoang Xóm Mới. Những trái cò ke ở khu sân bay Bình Tân, Lỗ Nước...
Những cuốn chả ram, những miếng dừa già, những khúc kẹo kéo ngắn ngủn... mà sao
tôi nhớ đến quay quắt, nhớ đến nôn nao...
Hòang Long Hải
|