free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

Trung Học Võ Tánh


...Ngày xưa còn nhớ ...
Lê Thế Nhiếp... !!!

- Để tưởng nhớ Cha tôi, Ông Lê Nguyên Diệm
- Đến Mẹ thân yêu
- Đến Vợ và các con
- Đến các em: Hương, Liên, Nghị, Bình.

LTS: Thầy Lê Thế Nhiếp gửi bài viết nầy đến trong thời gian tòa soạn chuẩn bị cho VT & NTH Giai Phẩm 2000, nhưng vì bất cẩn kỷ thuật, bài viết đã không xuất hiện trên Giai Phẩm năm ấy. Tòa soạn đã tạ tội với thầy và hứa sẽ đưa bài vào GP 2001. Đến nay, thầy không còn có dịp để thấy sự đóng góp của thầy trên diễn đàn Giai Phẩm VT & NTH Nhatrang. Thầy Lê Thế Nhiếp đã đi về chốn miên viễn vào ngày 16-4-2001 tại Montreal, Canada. Tòa soạn xin chân thành thắp nén hương lòng tưởng niệm đến vị thầy đáng kính, nguyện cầu hương hồn thầy sớm tiêu diêu miền cực lạc. Chúng tôi xin chia sẻ nỗi buồn với gia đình Thầy.

Nhận được nghị định chuyển về Trường Võ Tánh Nha Trang, tôi hơi ngạc nhiên vì khi ra Trường Sư Phạm không chọn nơi này. Tôi hiểu là cha tôi, lúc đó đang làm Hiệu Trưởng Trường Võ Tánh đã xin tôi về đây. Trình diện nhà trường tháng 2 năm 1964, một thầy giáo trẻ mới ra trường trong thân hình mảnh khảnh, nên có cảm tưởng ai cũng khinh rẻ mình, làm tôi lúng túng và mất tự tin.Vì vào giữa niên học, trường sắp giờ dạy cho tôi một cách lủng củng, nghỉ, dạy bất thường. Những hôm dạy học đầu tiên tôi đã chán ngấy. Cai trị mấy ông trời con lớp đệ lục, đệ ngũ, phá phách như quỉ. Nhưng chỉ vài tuần sau, vì hiếu động nên cũng vui lây với các sinh hoạt của các em. Tôi đã bày đặt ra nhiều hình phạt, cho đến bây giờ vẫn cho là hợp lý và có kết quả tốt. Tôi đã áp dụng chính sách ‘Gậy Ông Đập Lưng Ông’ mà tôi đã đọc trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Nghĩa là nạn nhân bị phá phách cũng hành động lại những sự việc mà bạn mình đã dùng để chọc phá mình.
Thí dụ, một buổi trưa lúc trốn vào lớp, học sinh chơi đùa mồ hôi nhễ nhại. Một ông lỏi con vào lớp cởi áo thun bịt vào nũi ông bạn ngồi kế bên. Ông này la chí chóe và mách thầy. Tôi bật cười bảo nạn nhân cởi áo ra rồi bịt vào mặt ông bạn kia làm cả lớp cười ầm lên. Tôi nói về sau ai chọc phá bạn bè cứ biện pháp đó thực hiện.
Có khi đang dạy bình thường, tự nhiên có cậu la ầm lên vì bị cậu bên cạnh ngứa tay thụi một phát vào hông. Tôi kêu cậu bé nghịch ngợm lên bảng và bắt cậu bé cứ thế đấm vào cái bảng đen cho đến khi khóc lóc mãi mới cho về chỗ. Về sau quả thật, phương pháp xử phạt này rất có kết quả và công bằng. Từ đó tôi cũng quen dần với không khí làm thầy, công việc cũng vui vui. Vài tháng sau được làm quen nhiều bạn đồng sự, đồng lứa và hoàn toàn hòa đồng với đại gia đình Võ Tánh. Niên học sau tôi mới được sắp giờ dạy đàng hoàng đúng với khả năng của mình. Khi dạy mấy lớp đệ nhất tôi hơi ngán vì học sinh có người chỉ thua tôi có vài tuổi. Nhất là mấy cô nữ sinh có vẻ chẳng nể nang gì thầy giáo mới này.
Như ngày đầu tiên vào lớp đệ nhất C, thoạt mới đến cửa lớp thấy một nữ sinh đang cầm guốc đập trước mặt bàn của một cô bạn ra vẻ tức giận lắm. Thấy ái ngại và cũng không biết xử trí làm sao, tôi làm lơ như không có gì xảy ra vẫn tiếp tục dạy như thường. Nhưng cũng không nhịn nổi sự tò mò, cuối giờ, gọi một học sinh ra hỏi cho biết đầu đuôi câu chuyện. Em trả lời là:
“chị Mỹ Hảo cãi nhau với chị Liên Chiêu là Bà Cô của chị ấy, đó thầy.
À! ra cô này là Mỵ Hảo, tôi đã từng nghe tên, học giỏi, mặt mày sáng sủa mà sao nóng nảy quá vậy! Oái oăm thay, sau này khi ra nước ngoài vợ chồng Mỵ Hảo + Bửu lại làm thông gia với tôi!
Năm đầu tiên, môi trường tôi đang sống có cảm tưởng là tu tại gia, không tìm đâu được một cách giải trí nào khác ngoài phần đi dạy học. Hơn nữa, ông thân sinh tôi là Hiệu trưởng trường Võ Tánh lúc bấy giờ, đã nhắn nhủ tôi là muốn gì cũng được nhưng đừng làm mất uy tín của ông.
Do đó, ngoài việc qua trường Võ Tánh, tôi chỉ quanh quẩn ở nhà với các em:
Hương, Liên, Nghị, Bình; đứa lớn nhất 13, đứa nhỏ nhất 6 tuổi.
Chiều chiều trên chiếc Vespa Piagio HA 2273, có con kangourou đặc biệt ở đàng sau bảng số xe; hai đứa đứng trước; hai đứa lớn ngồi sau, dạo một vòng bờ biển rồi thẳng xuống Chụt ăn phở gà Cầu Đá. Nói đến phở gà Cầu Đá, cho mãi đến bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy được cái mùi vị thơm ngon và đam mê của nó. Tới đó kêu một tô phở gà khô đặc biệt, có mấy cái trứng non và tô nước dùng béo ngậy, nếu cần một đĩa toàn phao câu và lòng gà thì thật là đầy đủ. Ăn một miếng phở, húp một muỗng nước lèo thơm mùi tôm khô, mực nướng ngọt lịm, phải dùng câu ‘Tuyệt cú mèo’ như nhà văn Duyên Anh thường nói mới tả hết cái thú vị của phở. Hoặc chúng tôi chở nhau lên đường trên Thành vừa để hưởng cái khung cảnh đồng nội thoáng mát vừa thưởng thức món thịt vịt non chấm tương gừng tuyệt vời cùng món cháo vịt hết chỗ chê...
Cái gì rồi cũng quen đi, tôi đam mê cái không khí đầm ấm của trường Võ Tánh và cái yên tĩnh, mát mẻ, dịu dàng của thành phố Nha Trang. Tôi đã có một nhóm trẻ đi chơi với nhau gồm các Thầy Ngô Đức Diễm, Nguyễn văn Hòa, Nguyễn văn Lục, Trần Đức Bảo, Cao Quảng Hà, cùng các bậc đàn anh như Thầy Trương Tiếu Oanh, Đặng Ngọc Ấn, Trần văn Tây... Rồi các bạn ở Trường Nữ Trung Học thật tế nhị và dễ thương như các Cô: Đỗ thị Tuất, Trần Mộng Tường, Nguyễn thị Lê, Võ thị Cung, Trương Túy Trúc, Cô Mỹ Nam, Cô Bích Hường cùng một số coi như bạn đang ở trang lứa học trò, trong đó có Trương Bích Khuê, Huê Dung, Nguyễn thị Út... Nói đến Huê Dung, tôi còn nhớ rõ những đặc biệt của cô này, quen Huê Dung qua ông anh ruột của cô là Chánh Dung.
Huê Dung cũng là học trò của tôi ở Trường Văn Hóa sau này rồi vào học Trường Nữ Nha Trang.
Dung học không có gì xuất sắc nhưng sách vở và chữ đẹp ít có người so sánh được. Lúc đó Huê Dung chừng 16-17 tuổi, cũng vào loại ăn diện có thớ vì có bà chị đang du học ở Canada gởi áo quần về. Tôi để ý cô ta hay mặc một bộ áo tắm màu xanh nước biển rất đẹp. Sáng thứ bảy nào cũng vậy, gặp cô đi dạo một mình trên bãi biển nhưng không thấy xuống tắm bao giờ. Tôi kể chuyện lại cho mấy đứa em, tụi nó nói Huê Dung sợ bị đen nên không dám nhúng nước biển, vả lại Dung rất điệu chỉ muốn biểu diễn thôi, khi cô ta vào học trường Nữ cũng làm bực mình nhiều ông thầy. Lúc qua Montréal, tôi có gặp lại Huê Dung, cô ta mập gấp 4-5 lần lúc trước và cuộc đời cũng lắm sôi nổi.
Nói đến nam giáo sư bên trường Nữ, tôi không quen nhiều vì phần đông họ yểu điệu và nhũn nhặn như con gái, như các thầy Nguyễn Trung Can, Thái Huy Bào, Nguyễn Trung Trinh, Trần văn Châu, Ngô Hữu Lại. Nhắc đến Thầy Lại, tôi có nhớ một giai thoại cũng khá vui, thầy là người Quảng, có chiếc răng vàng lóng lánh ở hàm trên và ăn mặc cũng không săn sóc cho lắm. Thầy có tật là chỉ mặc một quần đùi lót phía trong quần dài nên đi đứng không được tao nhã. Do đó học sinh Trường Nữ đã đặt cho thầy cái mỹ danh là Ngô Hữu ‘Đại Đồng’ (Đồng có ký hiệu Cu).
Khi mấy cô em gái mách lại tôi cười lăn, bò càng về sự tinh nghịch của mấy nữ sinh.
Được hai năm ở Nha Trang, tôi bắt đầu mê Nha Trang thật sự. Sau những giờ dạy học đầy mệt mỏi, tôi đã tìm được nhiều môi trường để giải trí một cách lành mạnh. Thường thường chiều tối cả gia đình đem cơm ăn ngoài bờ biển cho đến gần nửa đêm mới về; hoặc lang thang đến nhà chị Bích Hường, có người chồng là anh Phương làm Trưởng ty Công Chánh, ngay trên đường Duy Tân. Ở đây tôi hay gặp và chuyện vãn với các cô Đỗ thị Tuất, Cô Hải, Cô Mộng Tường... (Khi nghe gia đình chị Bích Hường mất tích trên đường vượt biên, cho mãi đến bây giờ khi nhớ đến bé Quỳnh Dao, Cu Tèo, Cu Tý... tôi vẫn thương cảm khôn nguôi).
Ở đây, tôi cũng được làm quen với các bạn Phan Đình Tần làm ở Hải Học Viện, bạn Hà Thúc Nhơn, BS Quân Y Viện Nguyễn Huệ, cũng đều là cựu học sinh Trường Võ Tánh. Sau này Hà Thúc Nhơn rất thân với tôi và nhận mẹ tôi làm mẹ đỡ đầu. Nhơn cũng là một nhân vật đã đi vào lịch sử của học sinh Võ Tánh và toàn dân Nha Trang. Anh rất tài hoa, đàn guitar rất hay, nghề nghiệp chuyên môn lại giỏi, nhưng phải cái tội hay nóng tính và hay nghe lời bạn bè xúi xiểm mà không suy nghĩ. Sau này cũng vì lời xúi giục của bạn bè nổi lên chống tham nhũng ở Quân Y Viện Nguyễn Huệ, vì đơn độc, nhà nước lúc bấy giờ lồng vụ Nhơn vào hệ thống chính trị và kết án tử hình anh, mặc dầu anh kêu ông Hà Thúc Ký bằng chú. Chính ông Tỉnh Trưởng đương thời dùng xe tăng vào tận chỗ anh làm bản doanh kết liễu cuộc đời anh thật tội nghiệp. Đám tang của anh, dân nghèo Nha Trang đi đưa thật đông, dài đến mấy cây số.
Đó là biến cố đầu tiên làm khuấy động cái yên tĩnh của Nha Trang. Dần dần nơi đây trở thành trung tâm du lịch của cả nước, có hệ thống xe lửa và xe buýt đi các nơi như Sàigòn, Đà Lạt, Huế thật tiện lợi.
Xe lửa có giường ngủ chạy suốt một đêm đã tới Sàigòn. Chúng tôi gồm Trương Tiếu Oanh, Ngô Anh Tuấn v.v.. hay hẹn nhau chiều thứ Sáu, sau khi làm xong nhiệm vụ là khăn gói vào Sàigòn chơi cho đến chiều Chủ Nhật. Nhiều khi ham vui, thứ Hai mới về đi dạy. Các anh em trong đó có tôi ngồi lì chịu trận cho cha tôi la rầy; nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó vì họ đều là học trò cũ của cha tôi ở Huế và các anh coi nhà tôi như một đại gia đình. Ngoài ra tụi tôi còn tổ chức đi chơi ở Hòn Chồng, tắm biển Đại Lãnh, Đồng Đế hoặc đi thăm các hải đảo ở ngoài khơi Nha Trang như hòn Vợ, hòn Chồng, hòn Rùa, hòn Đỏ, hòn Chà Là, hòn Bảy Miếu, hòn Yến, nơi đây sản xuất tổ yến tốt nhất Việt Nam.
Đôi khi các học sinh lớp đệ Nhất cũng tạo thành nhóm rồi đột xuất kéo tới rủ tôi về quê chơi. Lúc đó tôi mượn một chiếc xe Jeep Wagon của anh bạn làm ở USAID. Thầy trò lái chạy lung tung về quê ăn uống, tắm sông ở những nơi có nhà học sinh hay phụ huynh mời. Đôi lúc gặp trời tốt, chúng tôi rủ nhau đi câu ngoài hải đảo, một cái thú ít nơi có được. Thường xuyên đi câu có thầy Tôn Thất Thoại hướng dẫn. Cứ tối thứ Sáu, Thoại và tôi sắm sửa đủ thứ, nào lò, nước mắm, muối, củi lửa... rồi thuê một chiếc canô nhỏ chở chúng tôi đến ở hải đảo một đêm rồi sáng mai đón về. Giữa cảnh hùng vĩ của biển cả, chúng tôi câu cá suốt đêm. Câu có khi được cá chình, cá mú, cá đuối, cá bò... đã sẵn đồ nghề, chúng tôi nấu ăn tại chỗ. Thịt cá tươi dai như thịt gà ngon vô kể.
Đi câu với Thoại cũng gặp một trường hợp khá vui. Số là trên đường về sau một lần câu đêm, trời thật mát và thoải mái, chắc vì ăn cá tươi quá nhiều, để hở bụng trúng gió, nên Thoại bị đau bụng. Anh phải đến cuối mũi tàu để xổ bầu tâm sự. Chẳng may vì gió mát, anh ngủ gật bị tuột tay ngã xuống dưới biển. Ông chủ ghe quẹo lại vớt Thoại lên. Vì nghề nghiệp câu cá lâu năm, nhìn xuống nước biển trong xanh, anh thấy một con mực ống đang lượn qua lượn lại, Thoại sáng mắt vội chỉ cho tôi xem để tìm cách vớt lên. Nhìn xuống nước, sau khi quan sát kỹ tôi ôm bụng cười sùi cả bọt mép, thì ra đó là cái quần nịt lót của Thoại, loại quần lót kiểu xưa có 4 sợi dây vải để buộc, nên khi chìm xuống nước nó uốn éo như con mực. Lúc đó Thoại mới biết quần lót mình bị mất. Sau anh phải thương lượng với tôi để cùng về nhà với anh vì sợ chị Viện (vợ Thoại) nghi ngờ, đi câu ban đêm mà lại mất quần lót, thật tình ngay lý gian!!!

Những hôm có dịp lễ, Tết, thầy trò chúng tôi gồm có Quy Hồng (sau này là ca sĩ thật sự), Anh Loan và một số nam sinh, bên giáo sư có tôi, Đặng Như Đức, Ngô Đức Diễm, cùng nhau trình diễn một số mục văn nghệ giúp vui cho thương bệnh binh tại bệnh viện Nguyễn Huệ. Đời sống cứ đều đều như vậy cho đến năm người Mỹ vào Việt Nam nhiều và chọn Nha Trang làm nơi nghỉ mát, nơi này hết vẻ mộng mơ và trầm lặng cố hữu của nó. Vì gia đình tôi xin thuyên chuyển vào Sàigòn năm 1971, từ đó tôi xa mái trường Võ Tánh và thành phố đầy thân yêu.


Sau bao nhiêu năm chìm nổi với cuộc sống, lặn lội mãi và tá túc ở thành phố lạnh lẽo Mộng Lệ An này (Montréal). Năm 1994 về Sàigòn thăm gia đình bên vợ, tôi cũng phải dành 3 ngày để thăm lại Nha Trang và trường Võ Tánh sau 20 năm xa cách.
Trường Võ Tánh lúc này trở thành cũ kỹ, nhà dân chúng vây chung quanh, không còn cái sân trường đầy cây dương liễu như thuở xưa. Thành phố Nha Trang, nhà cửa mọc lên như nấm, những khách sạn cao tầng được xây san sát trên đường Duy Tân; con đường dọc bờ biển nay trở nên nhỏ hơn, ngột ngạt khó thở. Nha Trang bây giờ như một cô gái phốp pháp, mặt hoa da phấn, đỏm đáng và chua ngoa. Vẻ to lớn đó, sự phát triển đó, nhiều người mới đến đều thích thú và thán phục. Riêng tôi, tôi vẫn thích Nha Trang xưa. Nhớ cái vẻ thanh tú, mộc mạc và hiền hòa của nó. Còn đâu những buổi trưa hè oi ả tại ngôi nhà 12 Hoàng Hoa Thám đầy kỷ niệm, nằm nghe tiếng sóng biển dội lại từ xa, tiếng xào xạc của các tàn lá dừa, tiếng vi vu của những rặng dương liễu, những làn gió mát thoang thoảng mùi hoa keo vàng, tai nghe tiếng Violoncel, Violon Ténor, Piano quyện vào nhau từ bản nhạc Double concerto của Brahms thật là thần tiên. Do đó khi đến Montréal, tôi vội đi tìm cho được bản nhạc này. Mỗi khi nghe bản nhạc, tôi lại nhớ được không khí của gia đình Võ Tánh và cái đầm ấm của Nha Trang để đầu óc được dịu lại, tạm quên đi những dằn vặt của tâm tư vì cuộc sống xô bồ ở cái xứ văn minh vật chất này.


Lê Thế Nhiếp

(Trích đăng từ VT & NTH Giai Phẩm 2000)