Đời Phi Công và một thời văn-nghệ tự-do Nguyễn Vy-Khanh 1- Đời Phi Công : Đời Phi Công của nhà văn Toàn Phong (tên thật Nguyễn Xuân Vinh) xuất-bản lần đầu năm 1960 và được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc năm 1960 - giải được công bố ngày 6 tháng 4-1961. Trong một phỏng vấn ở hải ngoại sau này, tác-giả Toàn Phong cho biết ông bắt đầu viết vào năm 1959 và đăng mỗi tuần một kỳ vào ngày thứ Hai trên nhật báo Tự Do 1. Đời Phi Công mang hình thức thư-từ và tự-sự như là một kỹ thuật văn-chương, cùng hình thức với Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử (1958) của Nguyễn Mạnh Côn. Tờ Tin Sách tháng 3-1963 khi giới thiệu ấn bản của nhà Tố Như đã xếp tác-phẩm vào loại 'tạp văn', có thể chỉ xét sơ qua về hình thức. Thật vậy, Đời Phi Công là một tiểu thuyết sử-dụng hình thức những bức thư của một phi công viết cho người yêu sinh viên đại học tên Phượng, dõi theo đời nàng từ Bắc đến khi nàng và gia-đình di-cư vào miền Nam, để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên mây trời, đêm thì dõi theo 'ánh tinh cầu', ghi lại những kỷ niệm vui buồn trong những phi vụ, kể lại một cuộc sống vừa lãng mạn vừa tích-cực chuyên chở những suy tư và mơ ước của một phi công Việt Nam thời chiến. Đời Phi Công ra đời làm nức lòng các thanh niên thiếu nữ, hoặc đang nuôi giấc mộng hải hồ hoặc mơ có người yêu là một chàng tuổi trẻ không quân hào hoa 'cỡi gió, đè mây'. Tập truyện đã là đề tài thuyết trình và có những đoạn của truyện được trích dẫn trong chương trình Kim văn trung học đệ nhất cấp. Sách được tái bản nhiều lần và ít nhất hai lần ở hải ngoại 2. Tác-giả là một thanh niên có cái nhìn tích cực và tươi sáng về cuộc đời, tin tưởng ở tương lai. Đi học bay ở xứ người Bắc Phi và nước Pháp, dù đặt bổn phận lên trên tình riêng nhưng người phi công thường nhớ về quê nhà và nhất là người yêu tên Phượng: "Có những sáng rực mây hồng, có những giai-nhân nằm trong chăn ấm, làn tóc mây xõa trên gối mịn và làn mi cong còn ôm-ấp mộng lành đêm qua, có một đàn chim đã bắt đầu cất cánh. Sương đêm còn đọng trên bãi cỏ. Tiếng động cơ sé tan bầu không khí trong lành buổi mai. Từng phi tuần nhẹ lướt trên mây trời..." (tr. 80-81). Vì "... mang thân làm kiếp chim bằng dù có bay xa ngàn vạn dặm lòng lúc nào cũng ngóng về cố hương.." (tr. 145), mục đích của cuộc sống hải hồ hôm nay là để bảo vệ đất nước."Những cánh chim heo-hút lướt đi từng đàn. Còn gì sung-sướng và hãnh-diện hơn được là những con người thường-trực tuần-phòng để bảo-vệ không-phận đất nước khỏi bị xâm-phạm" (tr. 83). Như người chinh-phu thuở xưa "chàng từ đi vào nơi gió cát", người thanh niên lên đường nhập ngũ rồi nay làm phi công, đời trai gắn liền với kiếp hải hồ đưa 'chàng' đi khắp nơi, từ những kinh thành ánh sáng Paris, Madrid đến những thành phố đô hội Nice, Marseilles, những tỉnh lẻ Ancelles, Tarascon, vùng Bắc Phi (Alger, Marrakech), những chốn tuyết rơi cũng như bão cát, v.v. Nhưng điểm chính là cuộc sống giang hồ với người tình mới: 'ánh tinh cầu'! Chàng mang vào thân những đam mê 'cổ điển, lãng-mạn' vào thời đó như thuốc lá (Gitame), mê cà phê như mê mùi cay đắng, ma túy, cho nên từ 'lý luận cà phê' đến 'con người cà phê'. Chàng tuổi trẻ học thói hào hoa. Nơi quán cà phê kinh thành ánh sáng, chung đụng những con người trẻ đẹp nhưng chàng phi công chỉ như lướt qua nhanh : :"Mái tóc giai-nhân có hoe vàng như những sợi tơ nuột, mầu mắt có xanh lơ như hồ thu dịu và khoé cười có say-đắm như ánh ly rượu ngọt có lẽ anh cũng không cảm thấy nữa vì tất cả chỉ thoảng qua đi như một cơn gió dịu" (tr. 27). Sau những cuộc vui, là nhung nhớ: "Anh viết thư nầy cho em trong một quán rượu giữa khu Latin, một buổi chiều thu buồn về chầm chậm. Có qua Ba Lê và lạc vào khu sinh-viên nầy em mới có thể hiểu được rằng tại sao người ta có thể ngồi viết thư trong một quán rượu. Dọc theo hai bên đại lộ St. Michel từ đầu sông Seine tới vườn Luxembourg người ta chỉ thấy quán rượu, hiệu sách và sạp bán báo. Nói là quán café thì đúng hơn vì thường thì ai cũng chỉ gọi cà-phê hơn là gọi rượu. Vào trong quán tìm một bàn trong một góc kín-đáo nhất, gọi một tách cà-phê rồi trầm ngâm nhìn thiên-hạ là một trong những cái thú của người sinh-viên ở Ba Lê." (tr. 22). Truyện chứa đựng nhiều miêu tả linh động đồng thời chan chứa tình cảm: "Tiếng gió reo, ánh nắng ban mai làm tan hết vui buồn. Không khí trong lành quá và bầu trời xanh làm biến mất hết những mây trời cuồn cuộn. Đường xa lại chạy dài và cánh gió lại lướt mây trời. Có ai nghĩ rằng trôi lênh-đênh trên những đám mây trắng là buồn ..."(tr. 69). Trong tập, người đọc tìm thấy những đoạn văn thi vị, như đoạn viết về bãi biển Nice :"Anh đã tới miền hoa hồng muôn thuở" (tr. 101).Tâm tình lãng mạn còn biểu tỏ qua lời văn như thơ, như khi nói đến tình yêu với cô gái tên Phượng "Anh ước ao nó sẽ mãi mãi đẽp như mây hồng trôi sáng nay, sâu đậm như trời xanh bát-ngát và thắm-đặm như nước biển màu quan-lục" (tr. 102). Tác-giả dùng nhiều hình ảnh, như gọi tờ thư là "một giòng lá thắm", tưởng tượng người yêu "cau đôi mày liễu"(tr. 98), ánh mắt cô Phượng "trông như ánh pha lê để anh thấy nhớ nhung ở khắp bốn phương trời" (tr. 80), ví hành trình của người trai thời loạn như "một chiếc lá vàng nhẹ đã trót được thả trên giòng đời. Dù có trôi tới đại-dương chăng nữa thì chiếc lá cũng sẽ đi biền-biệt. Có bao giờ lá rụng lại trở về nguồn?!" (tr. 106). Phi công được thi vị hóa ví von với những 'tráng sĩ' rồi 'hiệp-sĩ không-trung' (tr. 80, 85) và 'thân tàu màu xanh lục như bao gươm hiệp-sĩ' (tr. 81). Tâm hồn người phi công nhịp với cảnh tượng cuộc đời, thực tế hơn, như mỗi khi lái 'chiếc phi-cơ hồng-thập-tự' : "Thường thường như một định-mệnh éo-le, mỗi lần có thương-binh cấp-cứu là lần ấy bầu trời u-ám. Có lẽ tại vì địch hay tấn công đồn vào những đêm mưa gió nặng-nề. Nhưng dù sao thì mỗi lần chiếc phi-cơ hồng-thập-tự cất cánh thì người phi-công cũng cảm thấy bầu trời trở nên sầu thảm" (tr. 139). Tập thư kết thúc khi người phi công hồi hương phi vụ cứu thương ở Nha Trang và nằm quân y viện vì bị thương sau một tai nạn máy bay. Người sĩ quan phi công hồi hương để phục vụ đất nước và đồng thời tìm mái ấm gia đình: "Nếu có cuộc đời nào giang-hồ trôi-nổi thì có lẽ là cuộc đời của người phi công, nhưng nếu có những người nào mong muốn có một gia-đình thì cũng sẽ là những kẻ nặng nghiệp bay. Lướt gió trên vạn kinh-thành, lang thang một sớm một chiều xứ người xa lạ, ai là người tránh khỏi nghĩ đến quê-hương, đến gia-đình đến những người thân tình? Và như những cánh chim sáng sáng ra đi, khi sương sa nặng hạt bao giờ các anh cũng quay trở về tổ ấm" (tr. 176). Về hình thức, Toàn Phong có văn phong của ông: chữ dùng trang trọng, văn của con người chữ-nghĩa, mê văn-chương, dùng nhiều từ Hán Việt; thí dụ ở trang 26: 'con người lưu-lạc phương trời, dù cho mái tóc đã bạc màu quan-tái, đôi vai đã nặng chĩu phong-sương ...', trang 76:'chờ tân-khách', 'nụ cười cao-kỳ' 'tiệc trà huy-hoàng, xiêm-nghê lộng-lẫy', hay trang 82: 'những trang phong-lưu hào-hoa ở đế-đô', 'đô-thị tráng-lệ', 'đêm hoa-lệ', v.v. Ngoài ra, dấu gạch nối từ kép được tác-giả chăm chút (khi trích dẫn, chúng tôi tôn trọng ghi lại). Đời Phi Công là tác-phẩm văn-chương xuất-bản đầu tiên và duy nhất (cho đến nay) của tác-giả Toàn Phong. Cuốn Theo Ánh Tinh Cầu do nhà Đại Nam xuất-bản năm 1999 gồm những bài bút ký và hồi ký. Ông đã khởi sự viết văn từ thập niên 1950 trước khi vào Nam và đã có truyện ngắn đầu tiên đăng trên tờ Thế Kỷ ở Hà Nội, tạp chí của nhóm Thế Kỷ gồm Bùi Xuân Uyên (Chủ nhiệm) và Triều Đẩu, Trúc Sỹ, Phan Phong Linh, Tạ Tỵ, v.v. Ngoài ra trong cuộc phỏng vấn của Hương Kiều Loan ngày 15-12-2001 đăng trên tạp chí điện tử Hồn Quê, nhà văn Toàn Phong tiết lộ rằng "cuốn sách đầu tay của tôi là cuốn Gương Danh Tướng, là một tập sách nhỏ chưa đến 100 trang, do Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng in ra vào năm 1956 (...) Tôi viết cuốn Gương Danh Tướng khi mới còn đang là một đại úy để nêu lên những đức tính cần phải có của những người lãnh đạo trong quân đội" (1). 2- Khung cảnh văn-nghệ miền Nam : Đời Phi Công của Toàn Phong đã xuất hiện vào thời mà miền Nam cộng-hòa đang nỗ lực xây dựng mọi nền tảng từ cơ cấu chính-trị, hành chánh, giáo dục cho đến tổ chức một quân đội xứng chính danh 'quốc gia'; các binh chủng như không quân, hải quân, v.v. cũng không ra ngoài bối cảnh lịch-sử đó. Tác-giả Toàn Phong là một phi công rồi sĩ quan và trở thành tư lệnh Không quân, là người đã mang trách nhiệm tổ-chức, phát triển để Không quân thành một binh-chủng riêng biệt, có một Bộ Tư Lệnh độc lập về kỹ thuật và hành quân. Trong cùng cuộc phỏng vấn đã dẫn của Hương Kiều Loan, ông cho biết thêm là "nhằm mục đích nêu lên tình người và tình yêu tổ quốc và không gian của những người nặng nghiệp bay mà sau này tôi viết cuốn Đời Phi Công. Nhờ sự phổ biến sâu rộng của cuốn sách này mà giới thanh niên và sinh viên hiểu biết thêm về Không Quân Việt Nam và chúng tôi đã tuyển mộ được nhiều thanh niên ưu tú để gửi sang theo học những khóa huấn luyện bay những phi cơ tối tân của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ" 1. Lúc hãy còn là sinh viên phi công, ông đã nghĩ : "Một ngày kia mình phải có một quân-đội hùng-mạnh. Cũng vì thế mà anh muốn trở thành một phi công và hơn nữa một phi-công quân-sự. (...) Người quân nhân hiện nay hơn lúc nào hết phải học hỏi nhiều cho mình mỗi ngày một tiến" (Đời Phi Công, tr. 16-17) 1954-1975 là thời gian của một cuộc chiến tranh ý thức hệ quốc gia - cộng sản, đồng thời cũng là huynh đệ tương tàn với áp lực của các cường quốc trong một cuộc đối đầu gọi là chiến tranh lạnh! Việt Nam chia đôi ở vĩ tuyến thứ 17 và cuộc di cư năm 1954 đã thay đổi bộ mặt văn học nghệ thuật miền Nam cho đến thời điểm ấy vốn chủ động bởi người địa phương. Sau những đấu tranh văn nghệ cho chính trị ý thức hệ của hai năm đầu 1954-1955, người làm văn nghệ muốn làm nghệ thuật mới, thuần túy nghệ thuật hơn, kiểu nghệ thuật vị nghệ thuật. Sau sẽ rõ ra cũng là một công cụ của chính trị giai đoạn! Tạp chí Sáng Tạo ra đời trong hoàn cảnh mới đó (10/1956). Mai Thảo, trong số ra mắt tạp chí Sáng Tạo đã phần nào chủ quan nói văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đã chuyển vào thủ đô văn hóa Sài Gòn! Nhưng khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị-động, phải đối phó tức thời với kẻ thù cộng sản. Đảng Cần Lao được tổ chức như cơ cấu của kẻ thù, đòi hỏi hy sinh và một lòng, một mục đích. Với những phương tiện tương đương. Các tạp chí quân đội hay tâm-lý chiến mà cả những Sáng Tạo, Hiễn Đại, v.v. cũng không đi ra ngoài quỹ đạo đó! Trong bầu không khí chính trị mới, tự do và dân chủ của sau hiệp định Genève 1954 đó, xuất hiện tác-phẩm văn-học của Võ Phiến, Đỗ Tấn, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Kỳ Văn Nguyên, ..., những con người từng theo kháng chiến, đã góp phần xây dựng chính trị miền đất mới trong giai đoạn đắp nền của thời đệ nhất cộng hòa. Tác phẩm của họ đã đáp ứng những chờ đợi của con người thời đó. Văn chương trở thành vũ khí đấu tranh chính trị với cộng sản, dĩ độc trị độc, cũng như người cộng sản đã đặt văn nghệ thành chính sách và cả khống chế văn-nghệ sĩ. Những chuyện xảy ra ở các liên khu kháng chiến, trong Người Tù, Kỳ Hoa Tử, Khu Rừng Lau, Mùa Ảo Ảnh, v.v . chứng minh đấu tranh con người và chính trị là một! Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Thúc Vịnh quyết tâm bảo vệ lý tưởng, ý nghĩa đã có, dứt khoát vai trò của người trí thức, phải bỏ chủ nghĩa cộng sản, đề cao dân tộc tính và tình người khi còn có thể. Nguyễn Mạnh Côn nhiệt thành Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử (1958) trình bày cho đồng hao và thế hệ trẻ biết những thất vọng của ông về một chủ nghĩa, với kinh nghiệm chính ông Lạc Đường Vào Lịch Sử (1965). Một cách phá đổ huyền thoại kháng chiến đồng thời nhận chân giá trị thực của công cuộc vận động kháng thực đó! Vì an sinh của miền Nam cộng hòa, nơi tập hợp mới của con người không cộng sản (và chưa biết cộng-sản!), văn chương chống cộng, tố cộng, đề cao tự do, cảnh tỉnh người dân về hiểm họa cộng sản là thiết yếu, là những viên gạch không thể thiếu trong hoàn cảnh. Miền Nam của những năm đầu sau 1954 trước hết có nghĩa là tự do. Tự do trong chính trị, tự do của hết chiến tranh. Tự do của tái dựng cuộc đời, của thiên cư dù trong đổi thay đã có những bi kịch cho tập thể và cá nhân. Và tự do trong văn nghệ! Tuy nhiên cái tự do này sẽ bị hoàn cảnh mới về chính trị giảm thiểu đi phần nào, dù vậy vẫn giúp phát triển những cái mới trong văn nghệ như nhóm Sáng Tạo, thơ tự do, thơ lục bát mới, thơ văn xuôi, kịch nói, v.v. Để đối phó với đấu tranh chính trị mà miền Bắc vẫn tiếp tục, dù sao thì tổng tuyển cử mà hiệp định đình chiến đã quy định vẫn như lưỡi kiếm Damoclès lơ lững trên sự sống còn của cả miền Nam. Người dân miền đất mới đã phải bắt tay xây nền móng. Một văn nghệ tâm lý chiến phục vụ giai đoạn sẽ nằm trong nỗ lực vô hiệu hóa mũi dùi của cộng sản Hà Nội, nỗ lực sẽ thành công dù chỉ mấy năm đầu 1954-1959, khiến cho miền Bắc tức tối sẽ thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam ngày 29-12-1960 thay cho Mặt Trận Tổ Quốc và liên tục gây chiến cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đó trước hết là một cuộc đấu-tranh về chính-trị, một cuộc chiến đi vào văn chương qua hai ngã chính quyền và tự do. Ngã chính thức xuất phát từ các cơ quan thông tin của Nhà Nước như tâm lý chiến, chiến tranh chính trị, thông tin, rồi dân vận, phát triển nông thôn, chiêu hồi, v.v. Phụng Sự là cơ quan báo chí đầu tiên của quân đội (của Phòng 5 Bộ Tổng tham mưu Quân-đội Quốc-gia Việt Nam) ra hàng tháng với chủ bút đại-úy Trần Huỳnh, từ 1957 là đại-úy Phạm Văn Sơn. Số 1 ra từ năm 1953 và số cuối 64 đầu năm 1960, đây là một tạp chí nghị luận, biên khảo và văn nghệ, lúc đầu có các nhà văn Toàn Phong, Hoàng Ngọc Liên, Hà Liên Tử, Huy Sơn, Tường Linh, ... sau 1957 thêm Nguyễn Mạnh Côn, Uyên Thao, Huy Quang, Phan Lạc Tuyên, ... Năm 1957, đại-úy Nguyễn Xuân Vinh làm Trưởng Phòng Báo Chí Nha Chiến Tranh Tâm Lý và đã tham gia ban biên tập tờ Phụng Sự với bút hiệu Toàn Phong và tiếp tục cộng tác với báo Chiến Sĩ Cộng Hòa (1959-1974) là cơ quan hợp-nhất hai tờ Phụng Sự và Quân Đội. Tạp chí Chỉ Đạo xuất hiện từ tháng 10-1956, do Ủy ban chỉ đạo chiến dịch Tố Cộng thuộc Bộ Quốc Phòng xuất bản, với Ngô Quân chủ bút; từ số 3, trung tá Nguyễn Văn Châu chủ nhiệm thay trung tá Trần Văn Trung, thiếu úy đồng hóa Nguyễn Mạnh Côn về làm thư ký tòa soạn, mở rộng phần văn nghệ và mời các cây bút ngoài quân đội hợp tác như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Thiệu Lâu, Toan Ánh, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền rồi Bình Nguyên Lộc, Đỗ Tốn, Hoàng Văn Đức, v.v. và từ 1959 thêm các nhà văn Trần Phong Giao, Phan Kim Thịnh, Dương Kiền, Duyên Anh, Hà Huyền Chi, v.v. Đình bản sau đảo chánh 1-11-1963 trong sự mến tiếc của giới văn chương nghệ thuật, cũng như đã từng tiếc tạp chí Phụng Sự. Tờ Chỉ Đạo khởi đầu cuộc chiến tranh phức tạp này với khẩu hiệu : "Trước khi dùng đến vũ khí, trước cả khi dùng đến chính trị, cuộc đấu tranh chống cộng sản hơn bao giờ hết là một cuộc chiến tranh tâm lý" (Xuân Đinh Dậu 1957). Chính tổng thống Ngô Đình Diệm đã xác nhận trong một diễn văn tại trường sĩ quan Võ bị Đà Lạt ngày 5-6-1960: "Cuộc chiến tranh ta phải đương đầu không phải là một thứ chiến tranh quân cụ, một thứ chiến tranh bấm nút, hay một thứ chiến tranh chỉ liên hệ đến một số quân nhân mà thôi đâu. Thứ chiến tranh mà ta phải đối địch là thứ chiến tranh cách mạng, một thứ chiến tranh lý tưởng liên hệ trực tiếp đến toàn dân, và trong đó yếu tố tinh thần, yếu tố tin tưởng vào chế độ của mình là yếu tố quyết định". Ngoài ra, nguyệt san Quân Đội của Nha Chiến-tranh Tâm-lý bộ mới xuất hiện trong gần 4 năm, từ đầu năm 1957 đến 1960, do trung-úy Tô Kiều Ngân làm chủ bút. Rồi tiếp đến là những tờ Tiền Phong (1965-1975), Lý Tưởng (1964-), Mũ Đỏ (1967-), Lướt Sóng (1964-), Tinh Thần (1950-), Khởi Hành (5/1969-), và các nhật báo Tiếng Dân, Dân Việt, Tiền Tuyến, vv. Nhiều tác phẩm văn học đặc sắc đã xuất hiện lần đầu trên các tạp chí và nhật trình của Nhà Nước nói trên trước khi các tác giả của chúng nổi tiếng như Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Tạ Tỵ, Doãn Dân, Nguyễn Đạt Thịnh, Nhất Tuấn, Mặc Thu, Lan Đình, Tô Kiều Ngân, Tường Linh, Hà Huyền Chi, vv. Khung cảnh báo chí là một, còn phải nói đến mục đích quan trọng hơn của dân quân thời đó là xây dựng và tái thiết miền Nam sau gần trăm năm bị thực dân đô hộ và mười năm chiến tranh. Thật vậy, trong mục đích xây dựng và kiến thiết miền Nam, văn nghệ trở thành phương tiện dấn thân hành động, và bảo vệ quê-hương, với nhiệm vụ xây đựng nền tảng cho một miền Nam không cộng sản. Một vài dẫn chứng tài liệu: trong lời chúc Tết của tạp-chí Gió Mới số Xuân 1958, ban biên tập đã viết 'những giây phút thái bình' để gọi mùa Xuân năm ấy, và ghi rằng "Tất nhiên không phải vì lạc quan mà chúng ta sẽ quên những nhiệm vụ trong tương lai. Niềm hân hoan càng mãnh liệt thì sự tưởng nghĩ đến nhiệm vụ của chúng ta càng sâu rộng..." 3. Ngay tác-giả Toàn Phong trong Đời Phi Công cũng ghi nhận một miền Nam hòa bình và thật đẹp sau cuộc di-cư năm 1954, khi ông viết cho cô Phượng : "... hiện nay đất nước đang thanh-bình, chúng ta đang ở miền Nam có nắng đẹp hiền-hòa, có hoa thắm tưng-bừng, có một xã-hội mà gia-đình là căn-bản sao chúng ta không để ra vài phút giây để nghĩ đến nhau, đến tương-lai, đến những người mà chúng ta có thể làm cho sung-sướng" (tr. 174-5). Thanh bình chỉ là tạm bợ vì hiểm họa xâm lăng và mất an ninh vẫn thường trực. Giai đoạn đầu như đã trình bày là thời văn chương "chính trị" của những Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Triều Lượng Chế, Nguyễn Triệu Nam, Ngô Xuân Phụng, v.v., những nhà văn chống cộng bằng kinh nghiệm hoặc lấy khung cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp trước 1954, họ đã thành công đánh động được người đọc, bên cạnh những Doãn Dân, Mặc Đỗ (Siu Cô Nương 1957), Lưu Kiếm (Đất Hồ 1956), Nguyễn Vỹ (Hai Thiêng Liêng 1957), Mặc Thu (Đêm Trừ Tịch 1955, Bát Cơm Bát Máu 1957), Lan Đình (Đường Xa Chi Mấy 1960), Đỗ Tấn (Mùa Hoa Sim Nở 1956, Chiều Cuối Năm 1957) , Tô Kiều Ngân (Người Đi Qua Lô Cốt 1957, Người Lính Việt Nam 1965), Nguyễn Ái Lữ (Đường Tự Do 1956, Gió Đêm), v.v. Vào giai đoạn tiếp sau đó, các nhà văn nghệ khác sẽ dùng kinh nghiệm hôm nay và sẽ nói về cái chiến tranh trước mắt, về những người chiến sĩ cộng hòa, về những thiên thần mũ đỏ, những tráng sĩ mũ nâu, những cánh chim trời, v.v.; những Nguyễn Đạt Thịnh (Đường Mòn Hành Hương 1968), Bùi Đăng (Cúi Mặt 1969), Phạm Lê Phan (Chiến Ca Mùa Hè), Hoàng Ngọc Liên (Đoàn Quân Mũ Đỏ 1969), Nhất Tuấn (Truyện Chúng Mình 1964, Đời Lính 1965), Lan Đình (Từ Đêm Khởi Chiến 1969), vv. Trong nhiều tiểu thuyết tình cảm, Văn Quang viết về những người lính hào hoa. Trong Chân Trời Tím, Phi sau những chuyện tình trắc trở đã trở thành sĩ quan dũng cảm xa đô thành, đóng đồn nơi hẻo lánh để dẹp cộng sản. Hình ảnh người lính oai hùng và phong nhã đó sẽ tái xuất ở nhiều truyện khác như Người Yêu Của Lính, Đường Vào Bến Mê, Nghìn Năm Mây Bay, vv. Trong các tác phẩm của Toàn Phong (Đời Phi Công), Hà Huyền Chi và Phạm Huấn (Nghiêng Cánh Sắt), v.v., chiến tranh hiện diện, nhân vật là lính chiến, nhưng lãng mạn, nhẹ nhàng tâm lý và ít tang thương Văn-học miền Nam nói chung, tác-phẩm về chiến-tranh, chính-trị cách riêng, đều khởi sắc. Thí dụ như năm 1957, trên tờ Gió Mới do Nguyên Sa làm chủ bút, Đinh Từ Thức ghi nhận bộ môn tiểu-thuyết 'có một sinh hoạt tưng bừng nhất' với những sắc thái cá biệt ở mỗi cây viết 'đi lên của thời đại' - là những Tô Kiều Ngân, Thanh Nam, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Mặc Đỗ, ..."4. Chính quyền miền Nam tổ chức Giải thưởng văn học toàn quốc và một số tác phẩm tiểu-thuyết mang tính chính-trị, chiến tranh tâm lý đã được đề cao như Tìm Về Sinh Lộ của Kỳ Văn Nguyên và Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Mạnh Côn năm 1958, Dì Mơ của Đỗ Thúc Vịnh năm 1959, Đời Phi Công 1960, v.v.; trong đó một số tác-phẩm thật sự có giá trị văn-chương như Đời Phi Công, Dì Mơ,... Những năm 1958-1959 biến cố Nhân Văn Giai Phẩm từ miền Bắc dồn dập đến, nhiều trí thức, nhà văn và nhà báo đã bị bắt và chịu án tù với tội danh 'phản Đảng, phản Mác-Lê, gián điệp' (họ bị bắt từ năm 1956 sau khi các báo đã bị ngưng và tịch thâu). Rồi nhà văn lão thành Phan Khôi từ trần ở Hà-nội ngày 16-1-1959 và ở Sài-Gòn, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất-bản tuyển tập Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc (1959) tường thuật phổ biến chi tiết về thân thế các văn nghệ sĩ và tác phẩm liên hệ. Mặt Trận này được thành lập cũng như nhiều hội đoàn nghiên cứu chủ trì ý thức hệ quốc gia chống cộng trên cơ sở khai thác truyền thống. Tháng 5-1960 một Đại hội Văn nghệ chống đối văn nghệ Cộng sản của Bắc Việt được tổ chức tại Sài-Gòn. Như vậy, vào giai đoạn đầu 1954-1963, một nền văn nghệ tự do sinh hoạt trong một không khí văn hóa, tin tưởng, thì đến giai đoạn sau 1964-1975, văn nghệ đa dạng hơn nhưng cũng đa tạp hơn với những người làm văn nghệ phân hóa, bạo động trong một xã hội thời chiến giá trị văn hóa mất dần. Dù sao thì chỉ với một thời-gian hiện diện hơn 20 năm, văn học miền Nam 1954-1975 đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt, đa dạng và có một số đặc điểm có thể ghi nhận: khai phóng, rộng tay và tâm hồn đón nhận những trào lưu và hương hoa văn học thế giới đông-tây; nhân bản, có nỗ lực đào sâu tâm linh, đặt những vấn-đề căn bản, cấp thiết (dân-tộc, phản kháng, ...). Văn học đã gắn liền với vận mạng dân tộc, được coi trọng và trở nên một phần quan trọng của học thuật quốc gia và đã được đưa vào chương trình giáo dục! Chúng tôi đã lược lại phần nào lịch sử một số báo chí dân sự và quân đội thời đó để sống lại khung cảnh và không khí một lòng xây dựng đất nước tức miền Nam tự do và từ đó hiểu được sự ra đời của tập truyện Đời Phi Công của Toàn Phong. Những năm sau đó các sinh hoạt văn nghệ tiếp tục sống mạnh và đến sau đảo chánh 1-11-1963 thì văn học nghệ thuật rẽ sang con đường khác, con đường của những ... ảo tưởng trí thức và ảo giác tháp ngà. Phía văn-nghệ quân đội thì nhập cuộc hơn với thực tại cuộc chiến như đã đề cập ở phần trên, bên trường văn trận bút dân sự thì sôi động như tìm lại ... tự do mới: báo chí và nhà xuất bản đua nhau xuất hiện. Nhà văn Đặng Tiến đã phải cảnh giác "Không phải hai ông Diệm và Nhu chết đi là văn nghệ tiến bộ; như thế thì dễ quá và hèn quá. Muốn tiến bộ, văn nghệ đòi hỏi nhiều điều kiện phát triển, trên mọi lãnh vực kinh tế, văn hóa lẫn chính trị"5. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn từng làm chủ bút tờ Chỉ Đạo và hoạt động hăng say với ngành tâm-lý chiến thì xác nhận "không thấy phải xét lại chủ trương cũ của tôi... Người cầm bút, chỉ trừ những trường hợp khẩn thiết, chẳng bao giờ muốn tham dự vào 'guồng máy'. Ngoài vị trí thật đặc biệt của những chứng nhân của thời đại, một nghệ sĩ chỉ còn nhiệm vụ giúp sao cho cuộc đời bớt đi từng phút thương đau..."6. Năm 1962, khi trung tá Nguyễn Xuân Vinh từ-chức tư-lệnh Không quân để trở lại với lãnh vực khoa học, cũng là giai đoạn của nhiều biến động về chính trị cũng như của một số thay đổi về nhân sự hành chánh và quân sự, đã đưa đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 và sự can thiệp của 'đồng minh' Hoa-kỳ. Chú thích: Các trích dẫn chúng tôi dùng ấn bản lần 5 của NXB Vinamerican. 1- Phỏng vấn của Hương Kiều Loan ngày 15-12-2001 đăng trên tạp chí điện tử Hồn Quê: 2- Chúng tôi không có phương tiện thư-tịch để kiểm chứng, so sánh ấn bản lần đầu với các lần tái bản thứ hai (ghi là 'in lần 3') do NXB Tố Như (Sài-Gòn) năm 1963 và sau đó, là bản in lại (reprint) hoặc thật sự tái bản (réédition/new edition); riêng bản in lần 5 do nhà Vinamerican (Reading, PA), năm 1986 thật ra là một bản chụp lại bản của nhà Tố Như. Bản in lần 6 do nhà Cội Nguồn chúng tôi chưa có dịp tham khảo, ghi tác-giả là Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. 3- "Mùa Xuân". Gió Mới, số Xuân 1958, tr. 3. 4- Gió Mới số Xuân 1958, tr. 22. 5- Đặng Tiến. "Kiểm điểm tình hình văn nghệ trong năm qua". Tạp-chí Mai, số 38, 1-3-1964, tr. 28. 6- Nguyễn Mạnh Côn. "Nhiệm vụ của người cầm bút". Tạp-chí Văn (SG) số 1, 1-1-1964, tr. 6. Nguyễn Vy-Khanh Montréal, 5-4-2008