free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

Phiếm Luận - Phóng Sự

Viết nhân ngày 30 tháng Tư
- Phần 3 :

7- Đường cùng
8- Đổi Mới hay là Chết !
9- Giải phóng dân tộc



Viết nhân ngày 30 tháng Tư - Phần 3 :

7- Đường cùng

Sa lầy vào chiến tranh trên đất Chùa Tháp, mất hậu thuẫn quốc tế, phải đối phó với nguy cơ phương Bắc, bị cô lập và cấm vận kinh tế trong khi đó cải tạo xã hội ở miền Nam theo mô hình XHCN khó khăn trầm trọng: hợp tác xã nông nghiệp kiểu “đánh kẻng” để nông dân đi làm như với miền Bắc đầu những năm 60 lại lập lại thêm một lần sự thất bại không thể phủ nhận được cuối thập niên 70. Sau Giải Phóng, sản lượng nông nghiệp trong Nam xuống trầm trọng, cái cảnh ăn độn bo-bo bắt đầu đập vào mắt, rõ ràng động cơ kinh tế là củ cà rốt chứ không thể tạo ra bằng cái gậy giơ cao đánh xuống (với ý chí điên rồ đem bỏ toàn bộ nhân dân vào một cái nhà tù khổ sai “vĩ đại” chấn chỉnh bằng roi vọt). Đầu những năm 80, Đảng đành chấp nhận 5 thành phần kinh tế và cho khoán sản phẩm, một kinh nghiệm làm chui ở Vĩnh Phúc năm 66 khi cải cách nông nghiệp trên miền Bắc thất bại. Trước, sự thất bại ta đổ tội cho chiến tranh. Nay, cũng vậy.
- Tại sao Đảng lại lập lại trong miền Nam những thất bại cải cách kinh tế ở miền Bắc? Bình Minh ngạc nhiên.

Tôi không biết làm thế nào để trả lời Bình Minh cho thật ngắn gọn. Hình ảnh đất nước lại chập chờn khơi lại chuyến tôi về Hà Nội 25 năm về trước. Thuở đó, Hà Nội xơ xác, điện lắm hôm bị cúp ngày 2,3 lần, khi có điện thì cái máy suyệc-vôn-tơ kêu sè sè. Tối tối, tôi thả bộ dọc đường Trần Hưng Đạo, xót xa nhìn những ngọn đèn dầu lạc le lói chiếu những cái hòm gỗ con con để dăm bao thuốc lá bán lẻ cho khách qua đưòng. Đầu ngõ, những cái bảng nguệch ngoạc “Nhận đan len, nuôi thỏ” hay “Qui-Gai-Xốp”, ba chữ có âm điệu Liên Xô mãi sau chúng tôi mới hiểu ra là bánh bít-qui, bánh gai...Dân Hà Nội nghèo. Nhưng điều khiến tôi ngỡ ngàng là cái thói nói chuyện đất nước mà cứ thì thào vào tai, mắt nhìn ra sau như sợ có người nghe. Lắc đầu, tôi ban đầu cho rằng đó là do cái thói quen bảo mật trong thời chiến, nhưng sau tôi hiểu, nó đến từ một sự sợ hãi lơ lửng đe dọa những phát ngôn lỡ ra không đúng lập trường, sai đường lối chính sách, và lung tung vô tổ chức. Nhưng khi tập thể bóp chết tư duy mọi cá nhân thì cái tập thể đó phải chăng đang mê muội lên đồng, tự thắt họng, trong cuộc hiến tế dâng xác mình cho thần chuyên chế?

Thời đó là thời Đại Hội V. Nghe đâu ông Võ Nguyên Giáp có thể sẽ thành Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng thay ông Phạm Văn Đồng. Nhưng ông Giáp đòi làm cho rõ ràng hai chuyện chồng chéo là Đảng lãnh đạo và Nhà Nuớc quản lý, tức yêu cầu có một hình thức phân quyền nào đó mặc dầu lãnh đạo hay quản lý thì nhất định cứ phải là đảng viên trước đã. Hai ông Duẩn-Thọ điều ngay ông Giáp từ Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật, một trong ba dòng thác cách mạng, sang phụ trách Sinh đẻ có Kế Hoạch. Dân vè: ngày xưa Đại Tướng cầm quân, bây giờ Đạt Tướng cầm quần chị em!

Thôi thì, cứ từ từ. Thuở đó, tôi giao tiếp với ông Phan Đình Diệu và ông Nguyễn Khắc Viện. Hai vị này “điều trần”, và phần tôi, tôi được (hay bị) ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cơ Thạch và (về sau) ông Võ Văn Kiệt khuyến khích đề đạt những góp ý về vấn đề xây dựng kinh tế. Viết gửi Hội Đồng Bộ Trưởng thời đó, tôi đề xuất quan điểm xã hội như một hệ thống “mở”, trong đó thông tin luân chuyển và có tính phản hồi, tức một hệ thống sinh động chứ không bó vào quán tính ù lì. Trên phương diện kinh tế, tôi xin đẩy mạnh “khoán” đến việc sử dụng cơ cấu giá thị trường như đòn bẩy kích thích, và giới hạn sự tham gia của Nhà Nước vào những chính sách vĩ mô liên quan đến y tế, giáo dục, quân sự, và những ngành công nghiệp cần tập trung...Về mặt vi mô, tôi cho rằng Nhà Nước phải giới hạn nền kinh tế quốc doanh vào nhiều lắm là 60% từng ngành, mở rộng tham gia cho nhiều thành phần kinh tế, và làm sao để các xí nghiệp quốc doanh cạnh tranh một cách công bằng trên cơ sở qui luật thị trường chứ không dùng ưu tiên chính trị để chèn ép những xí nghiệp thuộc những thành phần kinh tế (tư nhân) khác ...Đấy là cái tội trời chưa sáng đã gáy của tôi đầu thập niên 80! Từ 82, tôi phải đợi 6 năm sau mới có giấy phép nhập cảnh Việt Nam, đơn của một người như tôi xin về đóng góp xây đựng quê hương mình phải có chữ ký chấp thuận của đến ba vị lãnh đạo là các ông Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt và Nguyễn Cơ Thạch!
Bình Minh ngắt, giọng nghiêm trang, quay lại vấn đề hệ trọng hơn :
- Nhưng anh chưa đáp câu hỏi, tại sao lại lập lại những thất bại...
- Tại cái câu của Lê-nin, là cướp chính quyền dễ, nhưng giữ được chính quyền mới khó ! Dưới thời thực dân phong kiến, bộ máy quản lý nông thôn ở mức xã có xã trưởng, hương tuần... cộng lại đến 10, 20 người là nhiều. Nhưng với giải phóng, rất nhiều chức tước, mọc ra nhan nhản với nào là Ủy Ban nhân dân, Xã đội, công an...và thường là phình ra gấp 5, 7, thậm chí 10 lần bộ máy ngày trước. Giữ chính quyền đồng nghĩa là nuôi được và cho cái bộ máy mới này những đặc lợi. Người cầy thực ra không có ruộng, đất là sở hữu tập thể, và nông dân bán sức lao động. Đất đai có hạn, người ngày một đông, thu nhập thấp rồi sưu cao thuế nặng. Trên giấy tờ, thuế nông nghiệp Trung Ương chỉ 15-20%. Nhưng còn tỉnh, còn huyện, còn các thứ quĩ đảm phụ nào là y tế, trường học, phụ lão...cho nên khi đến tay người cầy chỉ còn độ 20-25%. Một lần tôi đi tham quan và có dịp hỏi riêng một vị tiên chỉ ở một cái xã ngoại thành Hà Nội, nếu Nhà Nước ở các cấp chỉ thu độ 40% thuế các loại, nông dân ta có làm hăng hơn không? Cụ tiên chỉ sụp xuống, kêu nếu ông lo được thế thì làng tôi xin vái ông làm Thành Hoàng. Tôi vội đỡ cụ dậy, ngậm ngùi nói “...Cụ ơi, cháu cũng là dân như cụ thôi, làm gì được!”. Trong khi đó, nông nghiệp là khâu các nước tiên tiến phải có chính sách bù lỗ mới giữ được nông dân canh tác thì ở nước ta thuế má như vậy, tôi kêu lên những người lãnh đạo. Kêu thôi, nhưng chính trị thống soái, và Đảng vẫn giữ bộ máy cồng kềnh của chính quyền để đảm bảo cho sự tồn tại của mình! Ở trung tâm xã hội kiểu XHCN thời đó, quyền lực tập trung vào bộ máy giữ chính quyền, kinh tế chỉ là chóp băng bề mặt, và sâu dưới đáy là văn hóa kềm giữ bằng cách bóp chết thông tin khiến trí tuệ không oxy chết ngạt...Và rêu rao kẻ thù bên ngoài với khả năng chiến tranh là cái gậy thần đưa toàn dân vào cái thế cúi đầu ngậm miệng trước giặc trong! Đó là thời mà một ông bạn tôi, con nhà nòi Cách mạng thuộc thế hệ có đào tạo và có thể là lớp kế thừa, khi thấy người ta giữ chính quyền mà bỏ cho dân đói, đã để lại vợ và hai con đi vượt biên! Và từ lúc có lao động thế nào đi nữa thì ăn cũng chẳng đủ no, chỉ sau hai năm khoán hộ, miền Nam thoát khỏi cảnh ăn độn bobo, đã có khả năng chi viện lương thực cho miền Bắc xưa nay vốn hiếm không tự túc được.
- Thì bây giờ cũng đầy giặc trong, giặc chỉ chuyển từ nông nghiệp qua những dự án xây dựng hạ tầng cơ sở và khâu gia công trong công nghiệp nhẹ, phải không anh? Bình Minh thở dài, quay mặt như tránh câu trả lời.
- Bây giờ có khác, ta sẽ có dịp nói sau, nhưng cái gì thì cùng cũng tắc biến...

8- Đổi Mới hay là Chết !

Cùng tắc biến, nếu không mang tính hiện thực thì cũng là một câu mở cửa về phía tương lai. Nhưng biến tắc thông trong Kinh Dịch thì chẳng chắc. Đại hội VI, với các vị lãnh đạo tối thượng nay trở thành cố vấn, để ông Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí Thư Đảng. Chiến tranh Campuchia là chuyện quá khứ. Quan hệ với Trung Quốc đỡ căng. Về phía Liên Xô, “Glatsnost” và “Perestroiska” với Gorbachov báo hiệu một cách nhìn mới trên phưong diện tổ chức chính trị. Việt Nam tung khẩu hiệu đổi mới tư duy, bước đầu là cởi trói cho văn nghệ sĩ, điều tướng Trần Độ ấp ủ từ Đại hội V, nhưng sau bị Trưởng ban Tổ Chức Lê Đức Thọ gạt đi. Thật ra, cái nhu cầu cởi trói đã có từ năm 1979, gần như lập lại nhu cầu thời Nhân Văn-Giai Phẩm 25 năm về trước. Để tuyên xưng lòng can đảm và tình yêu sự trung thực cũng như trí tuệ của những người dám nhắc nhở những điều bức thiết, không có gì hơn là trích lại Đề Cương Đề Dẫn thảo luận ở Hội Nghị Đảng Viên bàn về Sáng tác Văn học 1979 do Hội Nhà Văn chủ trì:

“...Cho đến cuộc cách mạng tư sản thì sự khẳng định cá nhân con người trở nên quyết liệt nhất, sự “giải phóng”, “làm chủ” của cá nhân trở nên rực rỡ nhất, nhưng dần dần cũng trở nên cực đoan nhất, sự đối lập của cá nhân với xã hội cũng trở nên triệt để nhất, mỗi một cá nhân đối lập quyết liệt, triệt để với toàn thể xã hội. Và tấn bi kịch kéo dài suốt lịch sử đến đây trở nên thảm khốc hơn bao giờ hết. Chưa bao giờ con người tự thấy năng lực của nó to lớn đến thế, chưa bao giờ nó làm chủ được những lực lượng vật chất khổng lồ đến thế, thì đồng thời cũng chưa bao giờ nó cũng trở nên bơ vơ, cô đơn đến thế. Sự tha hoá của con người đạt đến mức cùng cực. Cuối cùng nó rơi vào trong cái vực thẳm của chính nó. Chúng ta đã từng thấy tình trạng bi đát cùng cực này được phản ánh như thế nào trong nền văn học tư sản, dưới mọi màu sắc. Đó là tình trạng của con người trong cái đêm trước của buổi bình minh chủ nghĩa xã hội.

Bài toán đó, tất nhiên, cũng đặt ra đối với chúng ta khi chúng ta bước vào chủ nghĩa xã hội với những đặc điểm riêng của đất nước ta. Từ sản xuất nhỏ đi thẳng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta đang giải đáp bài toán này như thế nào? Bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta “bỏ qua”, chúng ta tránh cho con người chúng ta phải rơi vào tấn thảm kịch mà xã hội tư sản đã lâm vào. Song, cái công việc khẳng định toàn diện của cá nhân, phát triển đến cao nhất mọi năng lực của mỗi con người, giải phóng mọi sức mạnh và cá tính sáng tạo phong phú, độc đáo của từng con người, thì từ con người của nền sản xuất nhỏ đi lên phải chăng chúng ta nhất thiết phải làm, hơn nữa phải làm rất mạnh, rất nhiều, rất toàn diện.

Bước lên vũ đài lịch sử, một trong nhiệm vụ to lớn và đẹp đẽ nhất của chủ nghĩa xã hội, về mặt con người, là nó phải - và chỉ có nó mới làm được công việc này - chấm dứt cuộc xung đột lâu dài giữa con người và xã hội đó, trả con người trở lại với toàn xã hội, với tập thể, đưa con người thống nhất trở lại với tập thể. Nhưng đây là một sự thống nhất có chất lượng hoàn toàn mới mẻ, một sự thống nhất không xoá nhoà cá nhân, một sự thống nhất trong đó mỗi cá nhân không phải là một đơn vị vô danh, mù mờ, không màu sắc; trái lại mỗi cá nhân đều long lanh những sắc màu riêng độc đáo nhất, được tự do phát triển và do đó năng lực sáng tạo to lớn của mỗi cá nhân đều đạt đến chỗ cao nhất. Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thật sự là chủ nghĩa xã hội chân chính nếu nó đảm bảo sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân. Và mỗi một con người chỉ thật sự là con người xã hội chủ nghĩa khi được phát triển đến cao nhất bản sắc của riêng nó, nó lại hoà hợp với toàn xã hội ở mức độ rất cao...Xã hội, có thể nói, lần đầu tiên thực sự là xã hội loài người. Đó là một bài toán cực kỳ khó khăn, cũng cực kỳ lý thú, đẹp đẽ mà chủ nghĩa xã hội phải trả lời. Nhìn từ góc độ ấy chúng ta dễ nhận rõ cuộc đấu tranh xây dựng con người trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa về cơ bản là cuộc đấu tranh xây dựng mối quan hệ mới về chất giữa cá nhân và xã hội, giữa từng con người và tập thể‘’.

Những lời đẹp đẽ vừa kể phải chăng chỉ là tô vẽ về một xã hội huyễn vọng lý tưởng? Nhưng có xã hội nào không còn huyễn tưởng mà đáng để cho những con người sống là mong vượt lên trên giới hạn của cá nhân mình để cùng đồng loại tiến đến một cái gì tốt đẹp hơn? Sau Đại hội, cuộc cởi trói cắt rốn đã khai sinh một số những tác phẩm văn học có chất với những tên tuổi như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Nhật Tuấn... Đùng một cái, biến cố Thiên An Môn ở Trung Quốc, rồi sự sụp đổ như những lá bài Tây xếp lá này dựa vào lá kia làm bức thành XHCN của Liên Xô và những nước Đông Âu cứ lả tả ngả xuống. Thế là co lại.Thế là quay ngoắt sang “chiến lược” dựa vào Trung Quốc để chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của Đế quốc Mỹ, hoảng sợ đẩy nhanh cuộc thương lượng bình thường hoá quan hệ Việt-Trung qua cách đem bán đứng Campuchia trong cuộc hội nghị cấp cao ở Thành Đô và bị đánh lừa một cách bi hài! Than ơi, lại mẹo Trạng, nhưng lần này thì Trạng hết thiêng, cái láu lỉnh ứng biến vô nguyên tắc không thể thay được một cách nhìn có bề sâu và có chiều dài . Nhân dân lẩy Kiều, Trăm năm trong cõi người ta. Co vào rồi lại bung ra, mấy hồi !
- Nhưng có khác được không? Bình Minh lại hỏi.
- Trung Quốc từ 1976 của Đặng Tiểu Bình bắt chuột, mèo đen hay mèo trắng đều được. Nhưng ngoài chuyện kinh tế bắt chuột thì Đặng xua xe tăng vào Thiên An Môn bắt sinh viên Bắc Kinh biểu tình đòi nới ra cái không gian chính trị ngột ngạt của một chế độ toàn trị. Việt Nam co lại theo con đường đó, tức tốc giải tán 2 đảng Xã Hội và Dân Chủ, mặc dầu thật ra 2 đảng này cũng chỉ là loại sản phẩm phụ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Về mặt tư tưởng, người ta khuyên nhau, ai ơi chớ có huyên thuyên, đa thê thì đặng đa nguyên thì đừng. Ông Trần Xuân Bách là Ủy viên ban Bí thư chỉ tương đối cởi mở chứ chưa kịp đa nguyên đã bị hất ngay ra khỏi vòng quyền bính. Còn tôi, phận mỏng, vừa về đến Nội Bài hè năm 90 thì được mời ra khỏi phi trường ngay, có hai vị đại tá công an xách hộ vali đưa đến tận cửa máy bay. Air Thai chờ tôi nên không được cất cánh, mặc dầu tôi có visa và cả giấy mời về „đóng góp” với Ủy Ban Vật Giá. Ơ hay, tôi có đa nguyên hoặc định diễn biến hòa bình hay không? Đúng là năm 89 tôi có phát biểu với một cấp lãnh đạo nghe đâu sắp với đến chức Tổng Bí Thư Đảng rằng chẳng nên giải tán 2 cái đảng vệ tinh nói trên. Chắc “Đảng” cho là tôi có cú đá hậu của Ngựa bộc tệch trong truyện Lục Súc tranh công chăng? Và trâu bò húc nhau, thôi thì để cứ để cái thằng tôi ruồi muỗi hóa ra đệm bông đấu đá (proxy fight), nhân tiện thành „điển hình” làm gương răn đe cho bọn trí thức lắm điều!

Còn câu Bình Minh hỏi có khác được không thì có khả năng lắm chứ. Quan hệ Mỹ-Trung khi đó căng, Việt Nam thì vào cuộc đổi mới trễ, vẫn đang kiệt quệ, còn bị cấm vận và khá cô lập. Thời cơ lúc ấy là cởi mở với phương Tây, hòa nhập về kinh tế, nới không gian chính trị, để thế giới thấy Việt Nam không cứng ngắc giáo điều và nhắm mắt làm chư hầu một Trung Quốc đang tìm cách bành trướng bá quyền. Chỉ 6 năm sau, Việt Nam làm thế thật, tức là co vào rồi lại bung ra, nhưng không còn cái thế tạo ra một thứ Nam Tư ở Á châu, quá muộn và mất hậu thuẫn của nhiều nước, kể cả nước láng giềng mình bội ước. Dĩ nhiên nói thế không có nghĩa là giải pháp vừa kể không có vấn đề, và cái chính là vấn đề nội bộ các vị lãnh đạo. Đa số họ không nắm vững tình hình địa dư chính trị vùng cũng như xu hướng của thế giới, vừa đa nghi vừa bảo thủ, co lại bảo vệ những điều đã đạt được, tức là quyền lực của họ. Trí nhớ họ khi đó chắc kém: họ quên Chu Ân Lai ép cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17 năm 54, Mao Trạch Đông đầu thập niên 60 thúc họ đánh Mỹ, sau khi gặp Tổng Thống Mỹ Nixon năm 72 lại khuyên họ là thôi, con hổ giấy có móng có vuốt, đánh nhau với nó làm gì!

Đổi mới hay là chết? Người Việt lại tiếu với nhau, không chết, vẫn ngắc ngoải như cũ, rồi cười. Quái thật, cái gì cũng cười được, người mình có cái thói lạ !

9- Giải phóng dân tộc

Khi chúng tôi đến Bến Ngự, chợ bắt đầu tàn. Hàng quán đóng cửa, chỉ còn những người bán rong đang thu xếp quang gánh. Men dòng sông An Cựu, chúng tôi vừa đi vừa hỏi, lát sau tìm được nơi xưa kia cụ Phan Bội Châu đã bị Pháp giam lỏng hàng chục năm. Trong vườn nhà ông già bến Ngự, bức tượng đồng, tác phẩm của nhà điêu khắc Lê thành Nhơn, chơ vơ giữa phong rêu thách thức, chòm râu trên chiếc cằm bạnh ra oai phong, sắc đồng xanh han rỉ khiến vầng trán ông nhăn lên những nếp suy tư hằn theo tháng năm dâu bể. Không có lấy một nén hương thắp lên, chúng tôi chỉ còn biết im lặng, và tưởng nhớ.
- Cụ sống giờ này không biết cụ nghĩ chi, hả anh ?
- ... khỏi cái ách thực dân rồi, chắc cụ sẽ nghĩ đến xây dựng đất nước, như tất cả chúng ta! Sinh thời, cụ ít khi đề cập đến chuyện này, và nếu có, thì cụ theo Tân Thư. Đồng thời với cụ là Tây Hồ Phan Chu Trinh. Tây Hồ tranh đấu giải phóng qua cái sách „hưng dân trí”. Giải Phóng Dân Tộc như vậy đối với Tây Hồ là một vấn đề văn hóa.
- Trong những bài giảng Lịch Sử, Giải Phóng Dân Tộc cứ được nhắc đi nhắc lại là công lao của Đảng ...
- Giải Phóng Dân Tộc phải là giải phóng người người khỏi giặc dốt và giặc nghèo. Thật ra, nghèo vì dốt, cho nên giặc dốt là cái thứ giặc ghê gớm nhất. Từ những năm 50, Đảng đã bưng vào Việt Nam cái mô hình văn hóa tư tưởng vừa Stalin vừa Mao-ít, tức là thứ văn hoá lưỡi gỗ với trí tuệ giáo điều đóng khung trong sáu tấm ván thiên, phản ánh một xã hội toàn trị, nói ra viết ra thì lập trường giai cấp là câu đầu miệng. Trong một môi trường văn hóa như vậy, trí tuệ bị xơ cứng, và nỗi sợ khiến con người đâm ra vong thân - tha hóa, nghĩa là mất mình, và trở thành một kẻ khác, một con người xa lạ với chính mình. Đầu thập niên 80, tôi cảm nhận thấy ở Việt Nam trong mỗi người có đến hai, ba con người: con người ở cơ quan, vâng dạ, miệng lề lối, lấm lét tìm cách nếu không thể tiến thân thì khép nép cầu an; con người trong vòng gia đình bè bạn, bất lực như bị hoạn, yếm thế, thì thầm, lúc nào nói thật thì ngoái cổ ra đằng sau sợ có người nghe; và con người trong xã hội phố phường, rất sĩ diện, rất mẽ, sống hời hợt với sự giả tạo bề ngoài. Tóm lại, đó là con người bị xé làm 3 mảnh, song song tồn tại dưới 3 khuôn mặt, gì cũng thật nhưng gì cũng ảo, và cái tập hợp những con người như vậy thật ra không có một chất keo gắn bó họ vào cái chúng ta gọi là xã hội. XHCN, nghịch lý thay, phi xã hội hóa con người, biến họ thành những cá nhân yếu đuối, trí trá với mọi người và với cả chính mình, sống với cái ám ảnh lúc nào cũng có thể trở thành tên tội phạm của quyền lực quơ trên đầu lưỡi dao „tập thể”...
- Thế hệ cha em, thì thế thật ! Bình Minh chép miệng.
- Và biến con người ra nông nỗi ấy thì giải phóng là cái gì? Tất cả là vì cái xã hội toàn trị cả!
- Nó là cái gì mà ghê thế anh ?

Nó là gì? Xã hội là tập hợp của các hệ thống kinh tế, văn hoá và chính trị. Trong chế độ toàn trị chỉ tồn tại có một hệ thống, đấy là chính trị. Hệ thống chính trị đã nuốt chửng những hệ thống khác, xóa xã hội dân sự, tất cả đã bị khuất phục bởi Nhà Nước, tức Đảng cầm quyền. Tất cả các mặt của đời sống xã hội bị trộn lộn làm một. Đặc điểm quan trọng nhất của chế độ toàn trị là sự hợp nhất một cách tuyệt đối tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chế độ toàn trị cố gắng xoá nhoà ranh giới giữa cá nhân, gia đình, xã hội, nhà nước, lãnh tụ, đảng, quần chúng. Văn hoá tinh thần, bao gồm văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức thậm chí cả khoa học đều bị hệ tư tưởng Đảng toàn trị ngốn nghiến. Công cụ quan trọng nhất để biến xã hội thành đám đông vô tổ chức, thành các cá nhân “hạt nhân”, là khủng bố. Sau khi mất hết các mối liên hệ theo chiều ngang giữa người với người, các cá nhân trở thành đơn độc, trở thành một mình đối diện với Đảng-Nhà Nước, dĩ nhiên là hoàn toàn bất lực. Đặc điểm của chế độ toàn trị là ngoài hệ thống chính trị ra, tất cả các hệ thống khác của đời sống xã hội đều không tồn tại. Chúng đã bị trộn lộn vào làm một, được một hệ tư tưởng duy nhất cố kết, và được chỉ huy và kiểm soát từ một trung tâm. Từ đó, có thể rút ra một nguyên tắc, là chế độ này không có mối liên hệ phản hồi giữa quyết định của chính quyền và phản ứng của xã hội.

Hệ thống chính trị của chế độ toàn trị bao gồm bộ máy chính trị quan liêu và một loạt phương tiện (tuyên huấn, công an mật, v.v.) để đảm bảo cho nó tiếp tục nắm giữ quyền lực. Phương tiện quan trọng nhất là của hệ thống chính trị này là tính độc đảng, và phù hợp với nó là tư tưởng nhất nguyên. Sau khi đã tiêu diệt các đảng phái khác, sau khi đã hợp nhất bộ máy đảng với bộ máy nhà nước và đàn áp sinh hoạt có tính chất tự trị trong nội bộ đảng, chính đảng toàn trị này trở thành trụ cột của bộ máy nhà nước với bộ máy quản lý nằm trong tay những nhân vật chóp bu của Đảng. Trong hệ thống toàn trị, đảng chính là con đường cho người ta thăng tiến vì nó nắm toàn quyền trong việc chỉ định các chức vụ từ lớn đến bé. Chỉ có đảng viên mới được giữ các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước, trong các đơn vị sản xuất, trong quân đội, trong lĩnh vực ngoại giao và tất cả các lĩnh vực khác. Giai cấp cầm quyền này (ở Liên Xô gọi là “nomenklatura”) tồn tại không phải trên cơ sở sở hữu tài sản mà là trên cơ sở nắm giữ quyền lực
. Nếu trong các xã hội tư bản, theo Karl Marx phân tích, thu nhập của một người trong giai cấp bóc lột phụ thuộc trực tiếp vào số tài sản mà hắn sở hữu thì trong chế độ toàn trị thu nhập phụ thuộc vào mức độ tham gia của hắn vào bộ máy quyền lực và nhất là vào quyền lực mà hắn nắm giữ .

Trong chế độ toàn trị, công tác tư tưởng đúng hàng đầu, có nhiệm vụ thực hiện: (1) Chức năng hợp thức hoá chế độ hiện thời, thường xuyên biện giải cho việc nắm quyền của đảng và lãnh tụ, tán dương quá khứ, vẽ ra tương lai tươi sáng mà đảng và lãnh tụ đang toàn tâm toàn ý xây dựng, gán ghép những qui luật qua đó mà dường như chế độ là diễn trình tất yếu. Hòn đá tảng trong hệ tư tưởng toàn trị là lời khẳng định rằng chế độ xã hội hiện thời được thiết lập là do qui luật tất yếu của lịch sử và tự nhiên. Trong trường hợp chủ nghĩa cộng sản thì đấy là chiến thắng tất yếu của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản, và chế độ xã hội chủ nghĩa nhất định sẽ thay thế chế độ tư bản. Theo qui luật biện chứng duy vật sử quan, chủ nghĩa toàn trị xuất hiện là do nhu cầu của lịch sử (chủ nghĩa cộng sản), hoặc do nhu cầu sinh học (chủ nghĩa phát xít). Nó chỉ thực hiện ý chí của lịch sử hay tự nhiên khi tiến hành tiêu diệt “các giai cấp bóc lột” hay các “chủng tộc hạ đẳng” vì một chế độ hoàn thiện hơn mà thôi; (2) Chức năng thứ hai là động viên quần chúng thực hiện các nhiệm cụ do chế độ đặt ra. Chế độ toàn trị cố gắng giữ cho quần chúng luôn ở trong tình trạng khích động vì khi tình trạng căng thẳng xã hội giảm thì sẽ xuất hiện vấn đề tự do chính trị. Vì vậy chế độ toàn trị luôn luôn giữ vững và hướng dẫn tính tích cực quần chúng bằng cách tìm ra những kẻ thù mới, chuẩn bị chiến tranh hay các phong trào, có khi là phong trào thực hiện những kế hoạch kinh tế vĩ đại. Việc động viên quần chúng dĩ nhiên là được thực hiện từ trên xuống bằng biện pháp cưỡng ép hoặc lừa mị tư tưởng; (3) Chức năng thứ ba, là “làm tê liệt về đạo đức”, nhằm biến một người được giáo dục theo truyền thống đạo lý biến thành công cụ trong tay chế độ toàn trị. Để buộc những người này thực hiện các kế hoạch của chế độ thì cần phải cung cấp cho họ một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức mới. Từ đó, hệ tư tưởng toàn trị gần giống với tôn giáo, có xu hướng không chỉ cải biến hiện thực khách quan mà cải biến cả bản chất con người. Stalin từng tuyên bố: “Chủ nghĩa Marx là tôn giáo của giai cấp, là biểu tượng của đức tin”. Còn cương lĩnh của đảng là “biểu tượng chính trị của niềm tin”. Hệ tư tưởng toàn trị đã trở thành một cái gì đó giống như tôn giáo của nhà nước với những giáo lý đặc biệt, những cuốn kinh, những vị thánh, những tông đồ, những lãnh tụ không bao giờ sai lạc, và các buổi lễ trọng cờ quạt…. Hệ tư tưởng toàn trị biện hộ cho tham vọng giải quyết được mọi vấn đề vì nó xác định nó chính là chân lý cuối cùng. Nhưng rõ ràng rằng khi tuyên bố là chân lý tuyệt đối trong chính trị, nó đã tiêu diệt tính đa nguyên của các quan điểm, tiêu diệt tự do lựa chọn. Tuyên bố chân lý tuyệt đối trong chính trị nhất định sẽ dẫn đến phủ nhận tự do, phủ nhận dân chủ.

- Nhưng nói gì thì nói, Việt Nam ta cũng phân quyền, có Đảng, Nhà Nước và Quốc Hội ... Bình Minh phản đối, mặt đỏ lên.
- Ta thì gì mà chẳng có, nhưng đôi khi chỉ danh mà không thực. Tôi nhẹ giọng, biết không thể một sớm một chiều mà nói hết được.

Thấy tôi ngần ngại, Bình Minh nhếch một nụ cười vẻ như thách thức. Tôi tiếp :
- Một đặc điểm nữa của hệ thống chính trị trong chế độ toàn trị là việc hợp nhất cả ba nhánh chính quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp vào tay một nhóm ưu tú của đảng. Nhóm đương quyền của Đảng chọn ra thành phần của quốc hội giả hiệu lập pháp, ủng hộ mọi việc làm và thông qua mọi điều luật mà bộ máy quan liêu của đảng cần. Bộ máy hành pháp quan liêu này lại chuyển các ý nguyện của Đảng thành nghị quyết, nghị định của chính phủ, cũng gồm toàn các quan chức đảng viên. Đảng cũng kiểm soát công tác của toà án, nhiều khi viết sẵn cho các quan toà các bản án, đấy là nói khi Đảng cảm thấy cần có toà án. Một đặc điểm nữa của chế độ toàn trị là việc bất bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật.

- Như vậy nghĩa là ba nhánh quyền lực chỉ là những mắt xích dây xiềng… của Đảng, cũng giống như các tổ chức như Mặt Trận Tổ Quốc, Đoàn Thanh niên, Phụ Nữ, Công Đoàn... Bình Minh thốt lên như khám phá ra được điều gì lý thú.

- Nếu các cuộc cách mạng tư sản tuyên cáo quyền bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật thì cách mạng Bolsevich tuyên cáo sự bất bình đẳng và tước quyền công dân của “những kẻ bóc lột”. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên được ban bố năm 1918 ở Liên Xô đã nói rằng những người sống “không phải bằng lao động”, những người buôn bán, các doanh nhân, giới tăng lữ bị tước tất cả các quyền công dân. Và không chỉ người chủ mà tất cả các thành viên của gia đình họ đều bị tước hết quyền y như thế. Cho đến giữa những năm 1930, những người có gốc gác “tư sản” vẫn không được vào đại học, không được tham gia công đoàn, bị hạn chế trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Toà án bị bộ máy đảng và bộ máy đàn áp kiểm soát một cách toàn diện và triệt để, toà án chỉ có mỗi một việc là thi hành chỉ thị của đảng mà thôi. Năm 1921 Lê-nin đã từng tuyên bố: “toà án của chúng ta mang tính giai cấp, chống lại bọn tư bản”. Như vậy là trong chế độ toàn trị không có chuyện bình đẳng của tất cả các công dân trước pháp luật và toà án, không có chuyện nhà nước đối xử một cách bình đẳng với các công dân mà không phụ thuộc vào nguồn gốc, thành phần giai cấp, xã hội, tôn giáo, chủng tộc, quan điểm chính trị…. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền XHCN. Trong khi đó thành phần lãnh đạo và lãnh tụ của các chế độ toàn trị lại đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Pháp luật nhà nước không có hiệu lực đối với đảng và các đảng viên. Quyền lực của lãnh tụ và nhóm đầu sỏ cầm quyền là vô giới hạn vì không có lực lượng nào có thể ngăn cản và buộc họ phải tuân thủ pháp luật gì cả.

Thấy Bình Minh ngơ ngẩn nhìn lên bức tượng cụ Phan Bội Châu như còn hoài nghi, tôi nhẹ nhàng :
- Nếu xã hội hiện là kiểu toàn trị như vừa trình bày thì quả là Đảng ...khó mà bảo đã giải phóng những con người Việt Nam trong cuộc dâu biển 60 năm qua. Cứ nhìn thành quả mỏng mảnh của nền văn học hiện thực XHCN trong 40 năm trời thì khắc biết . Khi văn hóa bị xiềng bị xích, làm gì có con người giải phóng. Và không giải phóng được những con người thì hòng nói gì đến Giải Phóng Dân Tộc!

Chúng tôi rời khu vườn nhà ông già Bến Ngự. Lối ra cỏ hoang mới được phát quang, nhưng bàn tay thu vén chắc khá vội vàng, đất xới lên mầu đen đủi như số phận những cái ta gọi là văn hóa và lịch sử trong một nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN trước ngưỡng cửa cuộc hội nhập toàn cầu.
Bình Minh mời tôi ăn bữa tối “gia đình”', với Hoàng Oanh, người yêu của Bình Minh từ ngày ra Huế đi học. Giọng có chút ngượng ngập, Bình Minh cười:
- Nhà Oanh bán bánh bèo, bánh khoái...nên ăn uống giản tiện lắm. Em chạy bàn, còn Oanh đổ bánh, phần anh, anh nói cho bọn em nghe về chuyện kinh tế, anh hỉ!

Back to Top