Viết nhân ngày 30 tháng Tư - Phần 4 : 10- Hội nhập kinh tế: ?! 11- Đi về đâu ? 12- Nắng trong lòng
10- Hội nhập kinh tế: ?! Quán ở tầng trệt, sáu bàn, ngay sau là bếp. Tầng trên là nơi gia đình Hoàng Oanh ở, có mẹ và hai người anh lớn, một người nay đi làm xa. Nghe đâu cha Oanh đã hy sinh bên Campuchia, mấy mẹ con bỏ xứ Quảng về quê mẹ làm ăn từ khi Oanh lên năm. Bà mẹ Oanh đon đả: - Mời chú vô, mấy em nói về chú, nghe nói chú giảng dậy Kinh Tế phải không hà ? Tôi chưa kịp đáp, Oanh chen vào: - Nhờ anh chỉ dậy, em cuối năm nay ra trường quản trị kinh doanh, nhiều thắc mắc lắm hè. Em xin nói trước, em người Quảng Nam hay cãi... nghen, có chi anh bỏ qua! Anh Minh nói, chuyện trò với anh học được... Tôi ngắt lời Oanh: - Tôi không làm nghiệp vụ giảng dậy chi hết, trao đổi bình đẳng chứ nếu không thì ta nói chuyện nắng mưa ở Huế thôi! Ngồi ăn, tôi nghe mẹ Hoàng Oanh phân biệt bánh khoái và bánh xèo, nhưng thú thật không nắm được gì. Nhưng bánh bèo ở đây thì tuyệt vời, và ngôn ngữ chịu, không thể chuyển cái ngon đến đầu lưỡi, có giỏi cũng chỉ khêu gợi được sự tò mò của thứ vị giác được chưng cất bằng tưởng tượng. Bất ngờ, Hoàng Oanh hỏi: - Nghe anh Minh kể thì dường như anh chống chế độ ? A, cô em người Quảng khai pháo, và bắn là bắn tới đích chứ không vòng vo. Tôi chựng lại một giây, nhưng lại rất thích cái thái độ rất ngay thẳng của Oanh. Nhìn Bình Minh không giấu được chút ngỡ ngàng, tôi cả cười: - Trời, cô em, hỏi chi đâu mà khó dữ! Nói theo, thì không hoàn toàn thành khẩn, và dẫu bây giờ có nói nhưng chẳng mấy ai tin. Nhưng nói chống, thì rất chung chung. Theo gì, chống gì và nếu có, chống ra sao mới là vấn đề... - Thế anh chống cái gì... - Chống những điều đang đục ruỗng hiện tại khiến tương lai xã hội đâm ra chênh vênh. Và không chống bằng bạo lực hay kêu gọi bạo lực, mà bằng lý lẽ của mình, nhưng đồng thời vẫn chấp nhận lắng nghe lý lẽ người khác và sửa đổi khi thấy mình sai! Em nghe vậy có được không? Nhoẻn miệng, Oanh hạ một câu : - Tức là “diễn biến hòa bình”... - Em không thấy đất nước ta chiến tranh quá nhiều rồi ư? Câu hỏi ngược khiến Oanh bật cười thành tiếng, dịu giọng : - Em chọc anh một chút thôi! Bây giờ ta nói chuyện tích cực trước. Từ ngày đổi mới, về kinh tế Việt Nam mình bung ra, tỉ lệ tăng trưởng hàng chục năm cứ từ 6 tới 8%, sau chỉ sau Trung Quốc, và sẽ thành một con Rồng châu Á, anh có đồng ý không? - Những con số vừa kể tự nó không nói lên được gì nhiều đâu. Nhưng trên căn bản so sánh với những nước cùng mức độ phát triển, có lẽ ta sẽ có một hình ảnh sát sao hơn. Dựa trên bảng những số liệu thống kê, chúng ta có thể so sánh Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc (TQ) từ thời bung ra năm 1985-86 cho đến năm 2000. Về GDP/đầu người: Việt Nam tăng 2 lần, Thái tăng 3 lần, TQ tăng 4.3 lần. Về đầu tư, Việt Nam tăng từ 11% lên 20,1% GDP, Thái từ 23% lên 27,2% GDP, TQ từ 29,8% lên 36,1%. Nhưng quan trọng hơn là tính cơ cấu: một nước có phát triển sẽ chuyển từ nông nghiệp qua công nghiệp và rồi dịch vụ như thường thấy. Từ 1975-2000, · Về phân bố lao động vào nông nghiệp ở Việt Nam bất biến ở mức 70-73% của tổng lực lao động, trong khi đó giảm từ 75,3% đến 51,3% ở Thái, và từ 76,3% đến 47,4% ở TQ. · Về phân bố lao động vào công nghiệp, Việt Nam giảm từ 13,6% xuống 12,6% , trong khi Thái tăng từ 8,1 % lên 17,7%, và TQ tăng từ 12,1% lên 20,4%. · Về phân bố lao động trong khâu dịch vụ, Việt Nam ở mức 14-16%, trong khi Thái thì 31% và TQ, 32,3% của tổng lực lao động. Cơ cấu kinh tế phản ánh rõ trong khâu xuất khẩu: năm 2000, 45,7% xuất của Việt Nam là nông thực phẩm, Thái là 33,7%, và TQ chỉ 8,6%. Cán cân ngoại thương thặng dư ở Thái từ 1985, chưa bao giờ thiếu hụt ở TQ trong 25 năm vừa qua, nhưng với Việt Nam, cán cân này luôn luôn âm, có nghĩa là số nợ nước ngoài ngày một tăng. Còn số nợ năm 2000 của Việt Nam là 22,5 tỉ đôla, xấp xỉ tổng sản lượng nội địa, tức ở mức báo động. - Nói vậy, tức là nước ta với Kinh Tế Thị Trường có định hướng XHCN không tạo ra được một cơ cấu mới à? Hoàng Oanh hỏi, giọng ngạc nhiên. - Vào đầu thập niên 90, mở cửa nền kinh tế là một bắt buộc, và dĩ nhiên qui luật thị trường “thuận mua vừa bán” là qui luật chung chứ ai ép được ai! Nhưng Kinh Tế Thị Trường không giải quyết được một số vấn đề cơ bản: thứ nhất, có những loại sản phẩm xã hội không thể điều chỉnh bằng giá, nhất là cho một Quốc Gia nghèo đang phát triển như Giáo Dục, Y Tế xã hội, Môi Trường ... Thứ nhì, cơ chế thị trường không thể bảo đảm được một sự phân bố lợi tức xã hội hài hòa, và phân hóa giầu-nghèo, phân hóa lợi tức giữa thành thị-nông thôn, giữa các vùng địa dư ...có cơ nguy tạo ra những bất bình đẳng dẫn đến những hậu quả xã hội và chính trị khó lường. Khi nghe đến cụm từ “có định hướng XHCN”, chúng ta có thể lầm tưởng chính quyền có những chính sách thích ứng về sự phân bố lợi tức hoặc những sản phẩm xã hội không thể “tư hóa” được. Sự thật thì không phải thế: với cái định hướng vừa nói, chính quyền chỉ có mục đích giữ khâu xí nghiệp quốc doanh, thậm chí làm nó phình ra, và bất chấp nó có hay không hiệu năng kinh tế cần thiết để tồn tại. Bình Minh lo lắng : - Nhưng gần đây thì sao, anh ? - GDP giảm tốc độ tăng, từ hơn 9 % xuống mức thấp nhất là 4,8 % năm 1998, nhưng năm 2004 tốc độ tăng phục hồi và đạt mức 7,5 %. Như vậy là 3 năm qua, kinh tế đạt mức tăng trên 7 % một năm. Mức tăng trên cơ bản là do đầu tư của nhà nước. Năm 2004, đầu tư lên trên 35 % GDP, khoảng gần 16 tỷ USD, một tỷ lệ đầu tư ở mức cao nhất thế giới hiện nay, nhưng lại tràn lan, thiếu chất lượng và hiệu quả . Nhưng đầu tư tràn lan để tạo cơ hội tham nhũng. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, tham nhũng tăng chính là con đẻ của việc nhà nước đầu tư tùy tiện bất chấp hiệu quả kinh tế thực sự. Đầu tư của nhà nước đã nằm trong chiến lược kích cầu một cách vô trách nhiệm. Ngân sách thu không cung cấp đủ thì ngân hàng cấp vốn. Vốn của ngân hàng cấp cho quốc doanh qua tín dụng tăng năm 2003 hơn 30 %. Việc tăng tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước và các công trình xây dựng là đầu mối của lạm phát đột biến vào năm 2004, ở mức 9,5 %. Đầu tư vào khu vực nhà nước trước năm 1997 ở mức dưới 50 % tổng mức vốn đầu tư xã hội. Sau năm 1997, đầu tư vào khu vực nhà nước tăng mạnh và đưa tỷ lệ trên lên cao, năm cao nhất là 58,7 %, và hiện nay, 80% tín dụng đổ vào những xí nghiệp quốc doanh. Đầu tư của tư nhân dù tăng nhanh với chính sách mở rộng hiện nay vẫn chỉ chiếm 26 % tổng đầu tư xã hội. Về đầu tư của nước ngoài, tỷ lệ vốn đổ vào đã giảm từ cao điểm 30 % xuống khoảng 17 % hiện nay. Chính sách tín dụng nhằm kích đầu tư dẫn đến tình trạng lạm phát: theo dự báo thì 2 tháng đầu năm 2005 giá sẽ tăng khoảng 3,5 % (bằng cả năm 2003), mở màn cho lạm phát tiếp tục cao năm nay, và sẽ làm giảm mức thu nhập của tuyệt đại đa số dân chúng lao động Việt Nam. Lương sẽ điều chỉnh tăng 10 % năm nay, xem ra nhỉnh hơn một chút so với lạm phát 9,5 % năm 2004, nhưng không bù được việc giá lương thực thực phẩm trong năm đã tăng 17 %, mà đây là chi phí chính của dân chúng. Để kìm được độ tăng giá dưới 10 %, nhà nước đã phải bù lỗ 10.000 tỷ (khoảng 640 triệu USD) trong năm 2004, giải pháp mang một hình thái chẳng có tính chất gì của nền kinh tế thị trường như rêu rao. Một hiện tượng mất quân bình đáng lưu tâm là khâu ngoại thương. Xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, tăng gần 29 % so với năm trước. Tuy nhiên nhập khẩu là 31,5 tỷ, cũng tăng mạnh đưa thiếu hụt cán cân thương mại với nước ngoài 5,5 tỷ USD, bằng 21 % xuất khẩu và lên tới hơn 12 % GDP. Đây là những tỷ lệ thiếu hụt rất lớn chứng tỏ sự mất quân bình trầm trọng trong nền kinh tế. Thiếu hụt cán cân thương mại phản ánh tính yếu kém, thiếu khả năng cạnh tranh của của nền kinh tế. Hiện nay thiếu hụt cán cân ngoại thương chưa tạo vấn đề vì được bù đắp bởi đầu tư nước ngoài và kiều hối. Kiều hối gửi về qua hệ thống chính thức lên tới 3.4 tỷ USD năm 2004 nhưng thực tế có thể nhiều hơn. Số tiền này lấp vào thiếu hụt cán cân ngoại thương, nhưng đồng thời nó cũng có tác hại làm đồng Việt Nam cao giá và tạo sự ỷ lại của những người làm chính sách kinh tế. Vì có thể thu hút được khoản ngoại tệ không làm mà có này, họ thiếu quan tâm giải quyết yếu kém của ngoại thương mà một phần không nhỏ là do vấn đề tỷ giá mất quân bình kéo dài suốt từ năm 1990 đến nay. Riêng về tỷ giá hối xuất, thời điểm cho cơ hội giải quyết thuận lợi là khi giá cả trong nước gần như không tăng. Thời điểm đó nay qua rồi, bây giờ lạm phát cao, việc xử lý tỷ giá có khả năng tạo lạm phát phi mã. Chính sách phát triển kinh tế có cả chất lẫn lượng không phải chỉ nhằm tăng GDP mà còn cần tăng công ăn việc làm cho dân chúng. Điều này hết sức quan trọng để làm giảm phân hoá giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị. Năm 1990, tỷ lệ dân nông thôn khoảng 80 % và thành thị là 20 %. Năm 2003, tỷ lệ dân nông thôn là 74 % và thành phố là 26 %. Ở Trung Quốc, hiện nay đã có 40 % dân sống ở thành thị, đó là vì việc làm ở đó tăng. Ngược lại, ở Việt Nam, số lao động có việc làm thêm hàng năm ở thành thị rất thấp, năm 2004 chỉ có thêm 360.800 việc làm. Tổng số lao động tăng thêm năm 2004 là 1,131 triệu, nhưng con số này không nói lên gì nhiều vì lao động tăng ở nông thôn có thể chủ yếu là thất nghiệp trá hình. Ngay cả con số hơn 1,1 triệu việc làm mới cũng vẫn thấp so với chỉ tiêu 1,5 triệu lao động dự trù sẽ tăng theo như Quốc hội quyết định cho năm 2004. Kinh tế Việt Nam có khởi sắc, nhưng cũng đầy những mất quân bình cơ cấu, cần điều chỉnh để đưa vào quĩ đạo phát triển không chỉ lượng mà phải có chất và có tính bền vững. Việc chạy theo tăng tốc GDP qua đầu tư tràn lan tạo tình trạng thiếu hiệu quả, gian giảo, và tham nhũng. Nếu sự mất quân bình tiếp tục tăng thì một lúc nào đó chỉ có một cuộc khủng hoảng lớn và kéo dài mới giải quyết được nó. Đó là chưa kể đến tình trạng phân hoá về lợi tức và mức sống ngày càng lớn giữa thành thị và nông thôn, sẽ đưa đến nguy cơ bất ổn xã hội trầm trọng. 11- Đi về đâu ? Nhìn về phía Bình Minh rồi quay lại, Hoàng Oanh dịu giọng nhỏ nhẹ nói với tôi: - Tóm lại.... - Nhìn lên bề mặt, kinh tế Việt Nam tóm lại không phải là phương diện cho phép lạc quan: gần 20 năm từ thời kỳ Đổi Mới, cơ cấu kinh tế vĩ mô vẫn: (i) là một nền kinh tế chủ yếu sản xuất hàng hạ đẳng (nông nghiệp, tài nguyên...với tỉ lệ thặng dư thấp); (ii) lượng lao động do thất nghiệp hoặc lãng công quá cao ở nông thôn (60% năm 2000); (iii) nhập siêu liên tục, hàng nhập là hàng tiêu dùng, và hàng công nghiệp nhẹ (vải vóc) dùng trong những doanh nghiệp sử dụng lao động rẻ để xuất khẩu (tức là, trên thực tế, Việt Nam gián tiếp xuất khẩu lao động mà thôi); (iv) khâu quốc doanh, với những hoạt động được quyền lực bao che quá lớn so với khâu tư doanh, đầu tư tràn lan, vì chính đầu tư vào những công trình tầm cỡ mới cho phép ăn hớt, tức là tham nhũng ở mức độ cao ( có thể lên 40% dự chi theo Ngân hàng Thế giới); (v) năng xuất kinh tế vì thế rất kém, thiếu sức cạnh tranh, và sẽ đặt ra vấn đề trong quá trình hội nhập. Ghê gớm hơn, là cho đến nay, khi nhẩy từ nền kinh tế kế hoạch tập trung qua cái ta gọi là nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN, chính quyền đánh bóng một cụm từ mù mờ để che đi cái thực tế đã nói, là dùng khâu quốc doanh để biển lận, có lẽ mục đích là tạo ra một tầng lớp nay người ta gọi là tư bản đỏ. Lớp người này tập hợp trong những tập đoàn có mầu sắc địa phương và mang hơi hướm phân chia quyền lực trong Đảng, tích lũy tiền biển thủ từ những công trình và đề án có tài trợ dưới dạng đi vay tư bản nước ngoài và các tổ chức quốc tế. Dĩ nhiên tiền đó thất thoát ra ngoài, hoặc biến thành đầu cơ trong bất động sản kiểu gà què Việt Nam ăn quẩn cối say, khiến giá đất ở phố cổ Hà Nội trong một nước nghèo cao ngang với giá đất khu trung tâm Tokyo, NewYork ... là một nghịch lý khiến ai có chút kiến thức kinh tế cũng lắc đầu. Có thế, con gái ông Chủ Tịch Quốc Hội mới có thể chi 75 ngàn đôla US cho một buổi tối sinh nhật như báo chí loan tin. Có thế, cậu quí tử con ông thứ trưởng phân quota may mặc mới quát công an, mày không biết bố tao là ai à! Có đất, thu địa tô. Có quyền, thu quyền tô. Nhưng quyền không bền, nên phải chụp giựt khiến quyền tô rất cao, có thể lên đến 30-40% những món nợ “quốc gia”. Ai trả nợ, tôi hỏi? Một nhân vật trong tầng lớp tư bản đỏ tiếp tôi trong một buổi tối tôi được đãi ăn cơm tây với dao nĩa bằng vàng thản nhiên đáp, con cháu sau này! Cuộc đánh cướp thời này là cướp cả những thế hệ chưa kịp sinh ra nhưng đã mắc nợ. Có kẻ trong đám mới giầu lên lại hão huyễn đưa ra cái viễn tưởng rằng những thay đổi tích cực như tinh thần dân chủ, đạo lý và công chính sẽ từng bước được khôi phục với “giai cấp tư bản”. Xin thưa rằng không, không thể có chuyện này: tiến bộ theo xu hướng dân chủ xưa nay chưa bao giờ đến từ những ông chủ đất, và cái giai cấp tư bản hoàn thành nhiệm vụ mang nền dân chủ - nhân quyền đến nhân loại ở phương Tây là những kẻ chống lại quyền lợi những ông chủ đất đứng đằng sau những chế độ quân chủ phong kiến. Kinh Tế Thị Trường nhưng quốc doanh chơi luật quyền lực chính trị. Định hướng XHCN chẳng qua là cách Đảng khẳng định vai trò độc tôn và độc quyền thống soái tài sản quốc gia. Việt Nam không hề có một sách lược phát triển nào trong 30 năm qua. Chính quyền hài lòng với những tỉ lệ tăng trưởng GDP nào là 6, 7 hay 8% và cho thế là đạt được những thành tựu lớn! Thực ra, vấn đề phát triển, ổn định và hội nhập phức tạp hơn. Nhìn quanh, từ Nam Hàn, Đài Loan, Ấn Độ... cho đến những nền kinh tế của những quốc gia- đô thị như Singapore, Hong Kong, người ta đều tìm được những ưu thế kinh tế đặc biệt để len vào tìm chỗ đứng trong nền kinh tế toàn cầu. Nam Hàn từ thập niên 70 đã thành số 1 hay 2 trong công nghiệp đóng tầu. Đài Loan thúc đẩy phát triển công nghiệp điện tử, Ấn Độ khởi động công nghiệp “chất xám”, Hong Kong và Singapore thì tập trung vào dịch vụ, ngân hàng, tài chính trong vùng, vv...Hội nhập ở mức độ vùng kinh tế hay ở mức độ toàn cầu đều có nghĩa là có phân công kinh tế, và sự phân công đó liên hệ đến, và dựa trên, ưu thế tuơng đối một nền kinh tế này đối với những nền kinh tế khác. Ưu thế của Việt Nam là gì? Hỏi, chúng ta sẽ chỉ nghe đi nghe lại bài người Việt thông minh cần cù chịu đựng, nhưng ít ra nay cũng không còn đèo vào câu đất nước chúng ta được thiên nhiên ưu đãi với rừng vàng bạc biển! - Không sách lược, Bình Minh đắn đo, nhưng .... - Không sách lược, nhưng Việt Nam chẳng thiếu khẩu hiệu: dân giầu nước mạnh, ấm no hạnh phúc, sống nếp sống văn minh với truyền thống đậm đà bàn sắc dân tộc... Đồng thời, những khâu lẽ ra không phải là hàng hóa trao tay qua cơ chế thị trường như giáo dục, y tế ... được “'xã hội hóa”' ở cái nghĩa là Nhà Nước phủi tay, để xã hội lo: như một bước lùi trong lịch sử những định chế về giáo dục chẳng hạn, thế hệ bây giờ có thể mua luận án, bằng giả, đút lót các cô các thầy để kiếm chút danh hờ ...Và thế là đâu đâu cũng đầy những tiến sĩ, phó tiến sĩ, giáo sư...in trên danh thiếp. Như vậy, ta đi về đâu khi trong thiên niên kỷ này thế giới đang chuyển sang kinh tế tri thức? Vấn đề đào tạo con người trong những xã hội đang tìm cách vượt thoát nghèo dốt trong bối cảnh hiện nay là vấn đề hàng đầu. Và những con người trong xã hội chúng ta bây giờ ra sao? Đọc báo trong nước, rõ là đạo lý suy thoái! Xã hội chúng ta nay đầy rẫy những anh Xuân tóc đỏ, chị Xuân tóc hung, những bà Phán Phom tóc muối tiêu, nhân vật của một Vũ Trọng Phụng đã nằm xuống quá sớm nên hụt mất cái thời buổi đầy chất liệu. Hình như con người bây giờ không còn ý thức xã hội, sống chết mặc bay, ai nấy lo làm “giầu”, vinh thân phì gia, hành xử theo một thứ chủ nghĩa thực dụng thô thiển hời hợt để biện minh tất cả, nhưng thật là chỉ cho cá nhân mình. Luật chơi trở nên trò chèn ép, mánh mung, ăn cắp ăn trộm vặt. Trong cái phồn vinh giả tạo đô thị, người ta quên đói nghèo của đồng bào đồng loại, thản nhiên trước những cảnh gái quê lên thành phố chầu chực để những người đàn ông Đài Loan chọn làm con hầu mang đi, và thế có khác gì bán thân hòng đem lại chút tiền nuôi mẹ, nuôi em? Sự ô nhục của một dân tộc bây giờ được đánh đồng với một trận đá bóng, đội nhà thua trước một đội nước ngoài, và chỉ thế là người ta kêu, than, vật vã vì “danh dự Tổ quốc”! Tại sao ? Phải chăng thất bại hiển nhiên nhất của một chế độ là sự thất bại trong xây dựng con người? Trồng cây, 10 năm. Trồng người, 100 năm. Cây xanh ta chặt, môi trường ô nhiễm, lũ lụt hàng năm ven Trường Sơn, sẽ lấy gì để hy vọng một chính sách phát triển bền vững. Còn đám trẻ vừa đến tuổi hát đồng dao trong phố phường bụi bậm hay trên ruộng đồng ngày một chật vì người mỗi lúc một đông, ta hớt ngay những hy vọng một cuộc sống có ăn có học, có tình người với nhau, có một hiện tại ổn định và một tương lai để chia chung! Có phải người Việt Nam chúng ta kém trí tuệ, thiếu khả năng? Không. Cộng đồng người Việt lưu lạc ở hải ngoại chứng minh rằng người Việt có những thành tựu không thua kém bất cứ một cộng đồng di dân khác. Tuổi trẻ Việt Nam ở nước ngoài có thể nói rằng khá thành công trong các trường Đại Học, các doanh nghiệp công, tư...Như vậy, lý luận đơn giản cho thấy thì ra chỉ trong nước mới có những vấn đề con người ở mức độ báo động. - Chu choa - mẹ Hoàng Oanh trước giờ im lặng, bất ngờ thốt - chú nói tui bắt sợ...Mà đúng vậy, tui thấy cái thời thế này khó sống quá...Chồng tui đó, chắc còn ổng nóng gan lên nói bậy rồi chết! Ổng theo Cách Mạng khi 15 tuổi, lên rừng, rồi 30 năm liền hiến thân chớ ít đâu. Hồi mới giải phóng, ổng than, hòa hợp hòa giải dân tộc chưa thấy gì mà điều ổng về làm quản giáo... Ổng kêu, có dăm ba bài nói tới nói lui mà giáo dục được ai! Ổng biểu, xin trở lại bộ đội, có đi Campuchia cũng còn đỡ áy náy hơn là làm cái công tác “cải tạo”.... Hoàng Oanh lo âu, ngước mắt : - Giờ phải làm chi anh ? Tôi không biết nên trả lời thế nào ! Chẳng lẽ tôi lại nói, bỏ điều 4 trong Hiến Pháp. Hay nới ra những cái nghiêm cấm trong điều 30 và 33 để cởi trói tư duy và cho thông tin báo chí có nhiều tự do hơn. Chẳng lẽ tôi nhắc lại lời ông Đặng Quốc Bảo, yêu cầu trong nội bộ Đảng CSVN có đối trọng, tức ít nhất đảng viên có quyền suy tư và hành động chính trị theo một phương hướng khác với sự áp đặt nhân danh một tập thể hạt nhân độc đoán không dung hợp bất cứ gì khác mình? Hay chẳng lẽ tôi cũng lên tiếng tố cáo cái xã hội đen nay là con do Đảng sinh thành ... Những điều hiển nhiên này, nói ra đâu cần có tôi. Phải chăng đã đến lúc phải nghĩ lại là xã hộiViệt Nam ta cần có những thay đổi nào để tạo ra cơ sở thuận lợi ngõ hầu hội nhập vào thế giới. Ngày nay, diễn trình tiến hóa của lịch sử không còn rập theo cách vận động dựa trên hình thái đấu tranh giai cấp. Hai mươi năm vừa qua, những tiến bộ vượt bậc trong công nghệ kỹ thuật thông tin và tự động cho phép nhìn thấy một viễn cảnh trong đó lao động, kể cả lao động chất xám, có khả năng được thay thế bằng những phương tiện máy móc hiện đại. Giai cấp công nhân ở những nước tiền tiến ngày một teo tóp lại, đồng thời ý thức giai cấp cũng như cuộc tranh đấu theo mẫu hình công đoàn bị đẩy lùi từ sau chiến tranh lạnh. Hiện nay, 500 tập đoàn tư bản kiểm soát 2/3 tổng sản lượng kỹ nghệ thế giới, và dẫu có cạnh tranh nhưng cũng biết kết hợp để chiếm độc quyền đặc lợi. Từ 15 năm qua, nhiều consortium tài lực đã hình thành, hoạt động đa dạng, đa ngành, mang tính toàn cầu, với những cơ quan có chức năng quốc tế (như World Bank, IMF, WTO...) đứng hậu thuẫn và đảm bảo một thứ pháp chế đứng trên và chi phối những quyển lợi quốc gia cá biệt. Công nghiệp mức trung và nhẹ cần xử dụng nhiều lao động được chuyển giao từng bước cho những nước đang phát triển, nhưng trong điều kiện thế giới thừa lao động với chất lượng và tay nghề có thể nhanh chóng đào tạo, công nhân không thể tạo ra những áp lực đáng kể với những xí nghiệp đa quốc gia với vốn tư bản khổng lồ và có thể chuyển dịch bất cứ lúc nào đến những nơi ít biến động. Cho nên, nền chuyên chính một giai cấp công nhân vô sản có rất nhiều khả năng là sự không tưởng cuối cùng của nhân loại. Xã hội toàn trị chuyên chính chắc chắn sẽ tiêu ma. Nhưng trong thiên niên kỷ này, yếu tố nào sẽ là yếu tố vận động lịch sử ? Thế giới mai sau sẽ tập trung vào những đơn vị văn hoá-chính trị-kinh tế siêu quốc gia? Hay sẽ tách thành những xã hội nhỏ có khả năng co cụm tồn tại với những đặc thù và bản sắc cá biệt ? Dù với khả năng nào đi nữa, xu hướng trên thế giới là tiến tới những xã hội dân chủ dựa trên nền tảng một số quyền cá nhân bất khả xâm phạm. Trong hướng đó, có lẽ Việt Nam chúng ta phải động não tìm ra những viên gạch xây từ đầu nền tảng cho một cơ sở dân chủ - xã hội phù hợp với truyền thống lịch sử và văn hóa của chúng ta. Muốn thế, đầu tiên con người phải trở lại làm người với nhau để cấu thành một xã hội. Và xã hội phải thiết lập lại định chế dân sự với những quyền công dân cơ bản . Bình Minh giục : - ... Nhưng anh ơi, phải làm chi đây anh? Có người nói dân chủ là dẫn đến năm bè bẩy mối, chia rẽ xung đột, rồi lại bạo loạn, như bên Phi Châu... - Không phải thế! Loạn là do xã hội không pháp chế luật lệ. Những nước dân chủ trên trái đất này loạn hết à? Nhưng quá trình tiến đến một xã hội dân chủ thì quả có những yếu tố bất ổn. Đó là vì người Việt Nam chưa hề biết thế nào là tự do bởi hàng trăm năm nay chúng ta phải sống qua chế độ phong kiến, thực dân, rồi hai cuộc chiến dài, và sau đó là thời gian mò mẫm xây dựng xã hội theo một mô hình chẳng mấy thích hợp sau giải phóng. Vì không tự do, nên mỗi người chúng ta đều ít ý thức cá nhân, nhất là cá nhân như một phân tử xã hội, biết tôn trọng những cá nhân khác.Và chưa có thói quen cũng như tinh thần đối thoại với nhau, nên ta dễ sa đà vào những thuộc tính bầy đàn phe phái thường dẫn đến những hành xử quá khích, thậm chí bạo lực. Vì vậy, cần một cái khung để thực hiện quá trình dân chủ. Nhưng dân chủ là gì? Đâu phải dân chủ là chỉ là đi bầu cử ra người đại diện định kỳ cho mình! Trước hết, dân chủ là một giá trị tinh thần trên cơ sở đó con người đồng thuận xây dựng với nhau một xã hội. Tinh thần dân chủ đòi hỏi mỗi cá nhân - tự do và có những quyền con người bất khả xâm phạm - đều tôn trọng những cá nhân khác, cũng tự do và cũng có những quyền cơ bản như mình. Với tinh thần đó, xã hội dân chủ tất nhiên là sự kết hợp của những con người có tự do và có những quyền con người bình đẳng với nhau... Hoàng Oanh mất kiên nhẫn, xin lỗi ngắt lời, hỏi thẳng một câu rất thực tiễn : - Cụ thể là thế nào? Anh nghĩ Đảng sẽ nới tay chia quyền cho người khác à? Ban phát như thế thì Đảng được gì ? - Cứ nghĩ Đảng là một khối thuần nhất thì nay không đúng. Trong Đảng, quyền lực đã khai sinh ra một lớp tư sản và một giai tầng trung lưu thành thị. Họ đã có tư hữu, dĩ nhiên muốn bảo vệ tài sản, và muốn cho bền vững thì cách hay nhất là mở rộng và triệt để hợp pháp hóa quyền tư hữu kể cả “những phương tiện sản xuất”. Họ sẽ không chống lại xu hướng dân chủ. Ngoài họ, trong Đảng có những đảng viên thật lòng yêu quê hương đồng bào và nhận ra rằng cuộc Cách Mạng mà họ đã dâng hiến cả cuộc đời không thể mang lại điều họ mong ước, là cơm no áo ấm và công bằng xã hội cho mọi tầng lớp. Họ cũng mong có thay đổi, và trước ngọn triều toàn cầu, họ biết là không có cách gì khác là phải dứt khoát với một ý thức hệ không hiện thực và không có chỗ dựa. Nhưng quan trọng hơn cả là giới trẻ, những người tay chưa vấy tì vết thế cuộc, có khả năng trí tuệ giữa một thế giới khó có thể bưng bít thông tin, sẽ đặt lại những vấn đề cơ bản. Trước ba thế lực vừa nói, Đảng sẽ chẳng ban phát gì mà chỉ chuyển mình động não để có thể tiếp tục tồn tại lâu dài nếu chính là Đảng vẽ ra cái khung cho quá trình dân chủ hóa xã hội. Chẳng hạn, bước đầu Đảng dân chủ hoá chính mình, không tiếp tục tập quyền vào Bộ Chính Trị, chấp nhận sự đa cực với những ý kiến khác biệt công bố trước truyền thông, báo chí của các ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương về những vấn đề có tầm cỡ chính sách... Bình Minh khoát tay : - Ở cấp cao thì khó lắm. Đã leo lên đến chỗ ấy, mấy ai muốn thay đổi ! - Ấy, em đừng đánh giá thấp những thay đổi từ bên trên. Em quên Đại Hội VI Đổi Mới rồi sao. Nay, dư luận bàn ra tán vào cụm từ Dân Chủ Cơ Sở do đương kim Tổng Bí Thư Đảng phát biểu. Nếu dân chủ từ cơ sở nghĩa là ngay ở cấp xã, dân bầu ra Hội Đồng Nhân Dân Xã nhưng không theo cái kiểu Đảng cử Dân bầu nữa, và cứ thế từng bước đi lên những cấp chính quyền cao hơn thì chậm nhưng chắc, và sẽ mở đường cho những diễn trình thay đổi linh động sau này. Còn không bầu cử, nhân sự cầm quyền ù lì không thay đổi bất chấp dân nghĩ thế nào, sống ra sao, nhưng hễ có động tịnh gì thì mang công an ra trấn áp thì rồi sẽ loạn. Và loạn to... Hoàng Oanh thở dài : - Quê cha em ở Điện Bàn, nông dân mất đất, thưa kiện cả chục năm nay...Vẫn mấy ổng cũ xì, nên con kiến đi kiện củ khoai, anh à! - Ở Nam Đàn quê em cũng rứa, Bình Minh buột miệng... Đúng, giá mà cứ ba năm, bốn năm dân được đi bầu cho những người mình tin tưởng thì thiệt là đỡ khổ cho những kẻ thấp cổ bé miệng. Đó là dân chủ, nhưng hơi chút là các ổng lại kể công giành độc lập, thống nhất đất nước và giải phóng dân tộc. Hết ý, các ổng đem cả bác Hồ quê em ra dọa thế là không như lời bác dậy... Tôi buồn bã, nói nhỏ : - Thực tiễn lịch sử về ba chữ độc lập, thống nhất và giải phóng dân tộc thì ta đã trao đổi với nhau nhiều rồi. Đó là chuyện tuyên truyền mãi nên nghe-như thật, chẳng một ai nghĩ đến thực chất nội dung. Nhưng xương máu đã đổ trên mọi miền đất nước, là giá đã trả cả bên này lẫn bên kia, và là công lao của những người đã nằm xuống mà chúng ta sẽ không bao giờ quên. Còn ai đó mang bác Hồ ra răn đe, thì các em có thể dẫn lời bác năm 46, độc lập mà dân cứ đói cứ khổ thì độc lập làm gì? - Nhưng rút tỉa gì trong câu chuyện đây? Bình Minh đăm đăm nhìn. Nhìn ánh đèn chiếu cầu Tràng Tiền lịm tắt, tôi trầm ngâm rồi từ tốn : - Ta rút tỉa gì được từ câu chuyện đã nói với nhau sau khi lược lại lịch sử 60 năm vừa trôi qua? Xin nói ngay, tôi không hề ảo tưởng có thể sở hữu gì về một thứ chân lý bất khả tranh cãi nào đó, chỉ thành tâm mong đặt vấn đề để cùng đào xới mong cho tương lai đất nước chúng ta đã quá ư thiệt thòi gian khổ tươi sáng hơn. Tôi nghĩ, thành quả lớn lao nhất của người Việt Nam chúng ta là đã toàn vẹn lãnh thổ và xóa được những chia cắt đất nước do Thực Dân và Đế Quốc áp đặt. Đổi lại, máu và nước mắt cùa quân dân Nam, Bắc đã thấm vào đất vào sông vào biển ông cha ta để lại. Trên cây thánh giá cứu chuộc trong thiên niên trước, người Việt Nam chịu đóng đinh suốt từ 1945 cho đến 1975, đòi hỏi quyền độc lập và phất ngọn cờ giải phóng khỏi ách kềm kẹp của những dân tộc bị áp bức. Nhân loại đã tri ơn sự hy sinh này, và từng hướng về xem người Việt Nam chúng ta bước xuống thập giá để phục sinh như thế nào. Cuộc phục sinh đó mang ý nghĩa Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc vẫn còn viết trên tất cà những văn bản công quyền. Độc lập chính trị của một quốc gia, dẫu tương đối trong tương quan toàn cầu ngày nay, tỉ lệ thuận với cái chúng ta quen gọi là dân giầu-nước mạnh. Nhưng làm sao để dân giầu đây? Dân có thề nào giầu lên được khi xã hội khép cứng tư duy mọi thành viên vào một khuôn phép chính thống chỉ còn biết bám vào mục tiêu ổn định quyền lực? Có lẽ chúng ta phải vượt qua sự Thống Nhất hiểu là thống nhất quyền lực chính trị bằng quan điểm rằng Thống Nhất là tìm ra sự đồng thuận tổng hợp mọi mặt về một tương lai đất nước chăng? Nhưng muốn thế, mọi công dân phải tự do -hiểu trên bình diện cá nhân- với những quyền hạn và nghĩa vụ xã hội. Nói cho cùng, Tự Do là cái đích của công cuộc Giải Phóng con người, và là điểm xuất phát đi đến Hạnh Phúc. Bước xuống thập giá, cuộc phục sinh không thể thực hiện khi con người tay chân đóng đinh lại bị áp chế, để quyền lực nặn ra và bóp lại cho nhỏ như nhau, tất cả nhân danh một lý tưởng xã hội chủ nghỉa chắc chắn bất khả thi trong thiên niên kỷ này. Bình Minh quay nhìn ra ngoài trời. Hoàng Oanh rót nước cho tôi, nén thở dài, cười làm vui nhưng không giấu được chút ánh buồn đọng cuối mắt. Đã khuya, tôi cám ơn gia đình Oanh và xin kiếu từ. Mai tôi ra trường bay Phú Bài, vào Sài Gòn mấy bữa rồi bay trở lại miền đất tuyết đã cưu mang tôi mấy chục năm nay. Nói câu tạm biệt, nhưng trong lòng, tôi nghĩ sẽ chẳng có dịp nào như thế này, ăn một bữa rất Huế, và nói những chuyện rất Việt Nam. Phần tôi, tôi thật không ngờ gặp và chuyện trò được với hai người bạn trẻ có những trăn trở khác với nỗi lo sinh kế ta thường nghe như câu đầu cửa miệng trên khắp nẻo đường đất nước. Những điều tôi trao đổi, tôi chẳng biết chúng có mang lại được gì cho những người sơ ngộ, nhưng thôi, biết thế nào hơn... Tôi không muốn Bình Minh đèo tôi về khách sạn. Đêm cuối cùng, tôi xin được một mình với Huế. Men bờ sông, tôi bước về phía cầu Bạch Mã, qua trước cổng Thành Nội nay vắng lặng không một bóng người. Nhưng thật lạ, khi ngước nhìn cửa Ngọ Môn, bỗng dưng tôi hân hoan một điều gì chưa hẳn định hình, như gió đêm chợt đến chợt đi, đùa vào nhân gian cái cảm nhận của những đổi thay tất nhiên như qui luật của sự sống. Nhưng niềm hân hoan đó mơ hồ, như đêm mơ hồ, như những ngày ở Huế cố đô, mơ hồ và ám ảnh... Sáng hôm sau tôi lấy xe của Việt Nam Airlines ra Phú Bài từ lúc tinh mơ. Và, ơ kìa, tôi không ngờ, Bình Minh và Hoàng Oanh đèo nhau ra sân bay tiễn tôi. Huế như thế không phụ bạc. Còn nhân tình. Và từ đó thì còn tất cả. Lần đầu trên quê hương tôi vẫy tay thực tâm hẹn một ngày về với những người ở lại. 12- Nắng trong lòng ''...hôm qua nhận được tin vui của hai em, tôi mừng, và ao ước có thể về dự lễ cưới hai em, nhưng giả dụ tôi không có mặt thì xin tin là lòng tôi vẫn cùng hai em chia sẻ những phút giây đẹp đẽ nhất của một mối tình trọn vẹn. Những kỷ niệm thời tôi ghé Huế cố đô như được sinh khí phà vào, sống lại, và câu chuyện dài về quê hương vẫn đâu đây, vẫn chưa thực sự có một đoạn kết, vẫn còn là điều day dứt trăn trở. Và tôi biết tôi còn nợ tuổi trẻ hai em một lời khẳng định. ...Câu chuyện ngày nào giữa chúng ta xoay quanh những bài học rút tỉa từ cuộc bể dâu trên đất nước. Như tất cả chúng ta, lúc nào tôi cũng xao xuyến trước những tấm gương ái quốc, và yêu mến những biên giới quê hương như vòng tay người mẹ ôm tròn che chở đàn con. Trong lòng tôi, những biên giới cũng được dựng lên, không phải biên giới của hận thù mà chỉ là lằn mức địa lý văn hóa trong đó con người chia chung cho nhau một đời sống thân ái. Đời sống Việt Nam đã dạy chúng ta những bài học đau đớn nhưng vĩ đại. Dạy biết từ một tấm lòng nhỏ nhen đến một tâm hồn cao cả. Dạy từ mưu toan giết chết hằng vạn người của những tên hề mím môi cắn miệng trong những tuồng tích mà làng mạc rừng núi thành đấu trường, và phố thị hóa ra sân khấu. Chiến tranh phải kết thúc, nhưng phe nào thắng thì cuối cùng con người cũng bại. Thương tích bên ngoài tưởng lành, nhưng ở trong sâu, còn những nỗi đau vẫn âm thầm mưng độc. Nhưng dù sao, mọi sự đã là thế. Lịch sử lỡ như thế, không đảo ngược được, và tôi cũng lỡ để một bàn chân trong cơn xung động. Lịch sử mang niềm đau của tất cả . Cá nhân lại có cái xót xa quằn quại riêng trong sự bất hạnh chung. Với những biến đổi vô thường, làm sao có được một tổng hợp đích xác về thân phận con người. Mỗi dự tưởng về hạnh phúc con người đều là nguồn cội vực sâu. Luôn luôn có một ngộ nhận về ngữ nghĩa vì thói quen đánh bóng những bất hạnh và gọi đó là niềm bi tráng của thân phận. Dự tưởng càng lớn, thì càng xa, càng tách khỏi con người. Và tất nhiên, càng tách khỏi con người thì càng đào cho vực thêm sâu. Đến lúc đạt được đỉnh cao, trời hỡi, cũng là lúc kề cận nhất với vực sâu hun hút để nghe cho rõ tiếng tru thất thanh của con người trượt dốc. ...Tôi đã nói quá nhiều về quá khứ. Và những bóng ma. Trên muôn ngóc ngách của quê hương này, bao nhiêu là linh hồn chưa nuốt hết oan khiên vẫn còn đợi giờ siêu thoát. Bao nhiêu là những tà ma gây ra nghiệp quả còn đọa đầy ở sáu tầng địa ngục. Bao nhiêu là những con người sinh thành từ những bóng ma còn lẩn quẩn đòi những món nợ trần gian. Dẫu nói về quá khứ và những bóng ma, nhưng thật tâm tôi nghĩ đó là cách tốt nhất để nói đến tương lai và những con người. Trên một đất nước, của hai em, của tôi, của những người sống trong nước, của những kẻ ở hải ngoại nhưng vẫn đau đáu một lòng với quê hương. Sau 30 năm chiến tranh, đất nước đó có đến 3 thế hệ cầm súng, và cả hai phía đều mang trong tâm thức những quán tính hằn vết oán hận mưng độc từ những nỗi đau chưa dứt, những ngộ nhận đúng-sai không ngày xét xử, những mất mát không có đền bù. Nhưng tất cả oán hận kia có thể xả ra và quên đi, tức là thực sự có hoà hợp hòa giải dân tộc, khi chúng ta cùng thấy và cùng nhau xây dựng tương lai để hiểu rằng những thương tích trong quá khứ kia là bàn đạp để con em chúng ta bước vào một ngày mai tươi sáng hơn. Trách nhiệm Lịch Sử này là trách nhiệm chung. Những kẻ nào thui chột tương lai dưới bất cứ một thứ danh nghĩa nào, một tập hợp quyền lực nào, đều là những kẻ phản quốc. Ngẫm lại, bao nhiêu trăm năm qua, chúng ta lúc nào cũng có một kẻ thù để chống lại. Sự tồn tại của chúng ta không đến từ sự khẳng định chính mình. Nó đến từ sự phủ định những kẻ xâm lăng. Chừng mực nào, sự bất hạnh khởi đi từ đó. Trong thế giới ở thiên niên kỷ này, xâm lăng mang hình thái mới, kẻ thù còn, nhưng không dễ nhận diện. Và cũng không thể đơn giản nghĩ rằng chỉ những người khác mới là kẻ thù. Khi chỉ còn lại chính ta đang chiến đấu với bóng mình ở bên kia mặt gương, sự bất hạnh đó biến thành hiểm họa tự giết mình. Do đó, nó ghê gớm hơn, và không kịp thời nhận diện thì làm thế nào tránh được một cuộc tự tử tập thể đây? Bây giờ, đã là lúc chúng ta phải khẳng định chính mình để tồn tại. Và một cách xứng đáng, đền bù cho những bất hạnh đã phải trả trong những năm tháng nhọc nhằn qua. Chưa bao giờ tôi có thể điên dại để tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn. Nhiều lần, tôi đã mong được thấy những giá trị hão huyền bén rễ sâu xa trong tâm não tôi được thải ra ngoài như thứ ô tạp cần gạn lọc. Tôi không phải là kẻ dễ mất niềm tin, nhưng trong tôi, tuyệt vọng lắm khi làm mùa độc nếu như tôi không còn cái may mắn gặp gỡ cùng tuổi trẻ. Với tuổi trẻ, tôi gây lại lửa nuôi dưỡng hy vọng, và trước những con mắt trong sáng vây quanh, lòng ái ngại biến tôi thành một bóng tối nhỏ nhoi. Với những trái tim quí báu đó, có thật tôi đã đóng góp một điều gì tốt đẹp? Nhưng, tôi ơi, khi đã lỡ có cơ duyên thì những tình cảm kia phải được đền bồi. Thu mình ngậm miệng từ đó hết cơ hội tự giải oan. Đó là sự liêm sỉ tối thiểu.
Back to Top