Văn Nghệ

Chiếc Nón Lá

Người phụ nữ Việt Nam nếu chưa một lần đội chiếc nón lá và mặc chiếc áo dài, áo lụa Hà Đông, chắc sẽ chưa thấy cái duyên dáng, cái đẹp nên thơ nơi chính mình. Chiếc nón lá với người thiếu nữ Việt chẳng khác gì chiếc khăn Piêu (1) với người con gái Thái vùng Lai Châu Tây Bắc.
Nón lá tuy một dạng nhưng có nhiều kiểu khác nhau, do số vành và góc mở rộng hẹp. Thường thì nón có 16 vòng, Nón Bài Thơ xứ Huế, nón làng Chuông Hà Tây, nón Ba Đồn Quảng Bình, cho đến nón Diên Thủy Khánh Hòa, thảy đều theo chung một lối.
Nón cho dân dã cuốc bẫm cày sâu bao giờ cũng dày, thô mà chắc.
Nón cho các bà đi chợ, đơn giản dễ coi giá phải chăng.
Nón cho tiểu thư đài các thì nhẹ hững, trong veo thấy trời, nón Bài Thơ, giữa hai lớp lá thế nào cũng có đôi câu:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

hay :

Những hẹn hò từ nay khép lại,
Thân nhẹ nhàng như mây...
Hoặc chỉ đôi ba chữ gợi lên cái đẹp của Huế:
Huế mộng mơ. – Huế Đẹp Huế Thơ

Nếu nón chỉ là một đồ dùng che nắng mưa như mũ đội của đàn ông, thì chẳng có gì đáng nói. Chiếc nón lá đẹp duyên dáng, dịu dàng, và, trong nhiều trường hợp còn quyến rũ đấng mày râu cách mãnh liệt.
Khi nghe: “Nghiêng nghiêng vành nón” hay “vành nón nghiêng nghiêng”
có phải cả một bầu trời gợi cảm đã hiện lên trong tâm trí mỗi người? Sau vành nón thấp thoáng một nụ cười, một ánh mắt, một làn da... một sự lôi cuốn bí ẩn, một cái gì khêu gợi mà không ai có quyền hờ hững quay đi. Tôi có đọc một truyện ngắn, trong đó tác giả đã bị người con gái Huế cuốn theo, chỉ vì những lửng lơ sau vành nón.
Người con gái áo tím với chiếc nón lá nghiêng nghiêng, mỗi câu hỏi là một tiếng “dạ” nhẹ nhàng trả lời.

“Em đi học về?”
– “Dạ”.
–“Tôi đưa em về nhé?”
– “Dạ”
– “Tôi mời em đi ăn cơm?”
– “Dạ” – “Thôi tôi về đây”
– “Dạ”...

Vậy mà người theo không bất bình, chỉ vì chưa khám phá hết bí ẩn sau vành nón. Nón lá phải đi với áo dài, trắng hay tím. Khi trời ngược gió, bước chân nghiêng, chiếc nón thả, tà áo bay, vừa uyển chuyển vừa kín đáo, và người con gái đẹp biết bao. Chiếc nón lá giúp cho đôi tay nói lên tâm sự thầm kín. Trước bao câu hỏi, đôi bàn tay mượt mà chỉ mân mê vành nón, vuốt vuốt chiếc quai, là đủ trả lời tất cả. Nếu có ai không hiểu thì rõ “uổng công Tạo Hóa” vô cùng.
Chiếc nón tạo cho người con gái thêm nét đẹp nhịp nhàng mềm mại.
Mặc áo lụa Hà Đông mà để đầu trần tóc rối hay che một chiếc dù Thượng Hải thì nó lạ đời lắm, khó coi và mất hết ý nghĩa. Nón lá như thứ duyên nợ gắn bó với dáng người thiếu nữ. Càng trẻ, càng gần chiếc nón để điểm tô, để dáng dấp thêm đậm đà lôi cuốn. Đối với thế giới khi nhắc đến người con gái Việt, chắc chắn trong đầu óc họ sẽ hiện lên tà áo dài và chiếc nón lá muôn thuở.

Mấy mươi năm trước, mỗi buổi sáng mờ sương trên bến đò Thừa Phủ, từng tốp nữ sinh áo dài trắng, nón lá trên đầu, cặp sách trước ngực, đợi đò qua trường Đồng Khánh. Một hình ảnh đẹp tuyệt, một hình ảnh làm nao lòng thi nhân. Hình ảnh ấy nay không còn nữa, tiếc thay!
Nón lá không chỉ theo người phụ nữ đi đó đi đây mà nón lá còn lên sân khấu còn đi vào văn học nghệ thuật. “Múa nón”, “Chiếc nón bỏ quên”, “Qua cầu gió (nón) bay”, “Trôi theo dòng”... là những đề tài quen thuộc trong Ca vũ, Hội họa, Nhiếp ảnh.

Nhìn chiếc nón trôi bên hồ hay nằm lẻ loi trên đồi thông, ai cũng có thể hình dung bao nhiêu chuyện chung quanh chiếc nón.
Thuở quen nhau mà được tặng nón hay quai nón của người yêu là niềm hạnh phúc lớn.
Tôi thích nón lá dù mình là một đấng nam nhi. Tôi không bao giờ quên cảm xúc khi được tặng chiếc quai nón màu tím năm nào. Và, tôi thích chụp hình những chiếc nón lá. Tôi đã tìm về thăm quê hương của nón.
Nón lá tuy đơn giản bình dị, nhưng để có một chiếc nón quả không giản đơn.
Làng Chuông ở Hà Tây, chuyên nghề nón. Chuông cách Hà Nội hơn 20 cây số, đi về thị trấn Vân Đình, cùng hướng đi Chùa Hương. “Người bạn nhỏ” chở tôi, rẽ xe vào một xóm làng bên phải con lộ 21B, qua một chiếc cầu thì vào ngay Chợ Chuông. Lúc đi, tôi đã hình dung những nhà làm nón đông người, tấp nập kẻ vào ra mua bán. Nhưng không, vắng hoe. Chợ họp lưa thưa ngay trong khu vực Đình Chuông. Thấy ngôi đình cổ kính tôi vào thăm và hỏi nơi làm nón. Các bô lão trong đình cho biết cả làng làm nón, song nhà ai nấy làm, rải rác chứ không tập trung. Vào xóm trong gặp được cô gái đi chợ, tôi chận lại:

Tôi muốn thăm vài nhà làm nón. Em chỉ giùm cho.
Hôm nay không ai làm đâu vì ngày rằm, mọi người nghỉ đi lễ chùa. Chú muốn mua nón?
Không, thế ngày thường nhà nào cũng làm?
Trước kia chứ bây giờ, người ta đi làm nhiều thứ lắm. Nón chỉ làm thêm.
Sao bảo làng Chuông chuyên nghề nón?
Dạ đúng thế, nhưng nghề nón bây giờ không sống nổi nên phải sống nhờ công việc khác.
Vậy nón làm lúc nào, bán cho ai?
Dạ làm vào những ngày không kiếm ra việc. Một tháng có hai Phiên Chợ Nón, mồng 4 và 10 ngay chợ Chuông.
Làng Chuông sản xuất nón thường hay có nón đặc biệt?
Nón thường thôi, nón vành quai thao dành cho mấy nhà ngoài đầu cầu, và họ cũng chỉ làm khi có đơn đặt hàng.
Lúc chúng tôi quay ra thì gặp nhà đối diện chợ đang chằm nón.
Tôi ngạc nhiên khi thấy “công nhân” là hai bé gái tuổi mới lên mười.
Em bé có mái tóc dài và mướt như chải dầu. Tôi vào thăm, gọi chai nước ngọt vừa hỏi chuyện:

Nhà chị làm nón do người ta đặt?
Không ạ, làm bán vào phiên chợ.
Thế, nhà tự làm tất cả các thứ?
Dạ không, lá nón mua trong Vinh, vòng vành do dân Kim Tư, Tràng Xuân mang sang bán ở chợ nón
Cháu đây làm được bao lâu rồi mà có vẻ sành lắm.
Dạ cháu làm đã hai năm.
Em bé mắt không rời mũi kim, miệng mỉm cười, khuôn mặt em tươi lên rất có duyên. Tôi lấy máy ra và đề nghị em ngồi theo một vài tư thế. Em bé hai tay lên xuống, khâu đều, chăm chú vào công việc. Tôi không phải vất vả, chỉ ngồi một chỗ mà cũng chụp được nhiều kiểu. Và tôi chợt nhận ra một điều:
Có nhiều nghề tưởng là chuyên môn của phụ nữ, hóa ra đàn ông lại giỏi không kém. Làm bếp, may mặc, các bà không dễ gì theo kịp. Riêng nghề nón, chưa thấy người đàn ông nào. Cạn ly nước, trước khi ra xe tôi hỏi người bạn: “Mua cho em một chiếc nón nhé” – “Chạy xe máy ai đội nón bao giờ?”
Tùy sinh hoạt, tùy địa phương, nón có nhiều kiểu khác nhau, để phù hợp với cuộc sống đời thường. Tôi thích nón chóp thông dụng ngày nay. Các kiểu nón khác thật khó, chẳng hạn nón chóp lính thú:

Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón chóp, vai mang súng dài.
Nón rộng vành lại đòi hỏi y phục ngày hội rắc rối mặc dầu người xưa ca tụng:

Ai làm chiếc nón quai thao,
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.

Xem ra trong các nghề, nghề nón rất “cơ động”, không đòi hỏi hãng xưởng ồn ào, chỗ nào làm cũng được, lúc nào rảnh thì làm không lo chuyện dở dang. Việc làm nhàn nhã, yên tĩnh, giúp cho tâm trí bớt dao động. Làng nón Phú Cam Huế, một khu lao động nhỏ cạnh nhà thờ, các nghệ nhân chằm nón, quy tụ từng tổ dăm bảy người và làm việc trong thầm lặng. Làm nón mà hát xướng ồn ào, có khi đâm kim vào tay. Chằm nón cũng là “môn pháp tu”.
Ấy thế nhưng tâm tính con người thường xuyên bị tham sân che mờ nên đôi lúc làm mất tính cao quí của nghề nghiệp. Anh bạn mới quen phải mất gần tiếng đồng hồ, chở tôi chạy loanh quanh mới tìm ra được làng nón Phú Cam.
Tôi nghe nói có “cô Thí cụt” nhiều người đến quay phim chụp hình nên ra công tìm cho được.
Chúng tôi vào đúng con ngõ nhà cô Thí, song nhà làm nón ngay đấy bảo
“Cô Thí đi Sài Gòn rồi, chú muốn chụp hình, tôi kêu thợ tới cho”.
Quay ra đường cái, hỏi chị bán nước, mới biết người ta muốn “giấu” cô Thí.
“Chú vào trong thêm vài nhà nữa là tới”. Đúng thế. Khi tìm ra nhà, cô Thí nói:

Cháu có nghe tiếng chú hỏi nhưng người ta đã nói rứa mà mình lại ra mặt?
Phải chi cô lên tiếng cho tôi đỡ sốt ruột, đỡ mất thì giờ. Nhà có đông người làm?
Dạ, chú muốn bao nhiêu cháu kêu, họ tới chừ (ngay).
Tôi nhìn căn nhà không rộng lắm, và đề nghị:
Kêu giùm chú chừng 5 người.

Lát sau, cả chục người kéo đến. Trước đây chắc đã nhiều lần làm mẫu có “tiền bồi dưỡng” nên họ mạnh dạn tham gia. Để vui lòng mọi người, tôi cho ngồi vào tất. Phân công mỗi người một việc, ủi (là) lá, dải lá, khâu lá, nứt vành. Một bức ảnh loạn xà ngầu, nhưng ai nấy đều hăm hở hết mình. Trong lúc bấm cho vui, tôi thấy chỉ mỗi cô Thí là người mẫu nên nhờ. Ảnh chụp theo kiểu hợp tác xã chỉ để báo cáo thành tích sản xuất chứ chẳng nghệ thuật gì.

Bây giờ thì một mình cô Thí, khuôn nón trên tay, người hơi khom phía trước, cánh tay cụt cố vói ra chặn giữ khuôn nón, tay còn lại đưa mũi kim lên xuống. Nét mặt chăm chú mà hồn nhiên, bấm máy vào lúc môi hơi thoáng nụ cười:
“Niềm vui tự tại”, bấm máy lúc này mới đáng giá. Trong khi nhìn vào khung máy, tôi chợt khám phá ra người thiếu nữ thương tật mới đẹp làm sao. Cô không trang điểm mà môi vẫn hồng. Lao động chân tay mà ánh mắt thanh thoát kỳ lạ. Tôi chụp hơi nhiều hơn thường lệ, bởi mấy khi gặp được người mẫu như vầy. Tôi hỏi bà mẹ tại sao cô Thí lại bị mất nửa cánh tay, bà cho biết, năm Mậu Thân bà có mang, uống nhiều trụ sinh nên thế.

Về Nha Trang, tôi lại theo người bạn ảnh trẻ đi thăm làng nón Diên Thủy, huyện Diên Khánh.
Nghề nón ở Diên Thủy cũng theo lối thủ công cá nhân. Nón làm bỏ mối cho bạn hành Nha Trang. Giá nón từ 3 đến 5 ngàn một chiếc. Tại chợ Đầm giá 10 đến 15 ngàn, trong các Souvenir Shop của du lịch, giá 25 ngàn. Người làm ra sản phẩm chẳng được bao nhiêu! Mà cứ gì nón, nhiều mặt hàng khác cũng thế, từ gốc đến ngọn, giá cả chênh nhau một trời một vực. Thương cho những người lao động chân tay, làm nhiều ăn ít. Người chỉ tay năm ngón thì vơ không biết mệt, nhà cửa xe cộ không biết để đâu cho hết. Con người đi tìm công bằng bằng cách sống trên bất công và tội lỗi.

Nón lá ngày nay tuy có giảm số lượng người dùng, nhưng giá trị của nón lá vẫn phổ biến, vẫn được ca ngợi. Các thành phố du lịch, chiếc nón lá như một món hàng lạ, quí hiếm, người ta còn chế ra những size nón tí hon làm đồ trang trí mà du khách người Âu rất thích. Nón lá và áo dài như một cặp song sinh, áo dài còn thì nón lá còn. Nón lá đã gợi lên cả một trời thương nhớ quê hương nơi mỗi người dân Việt. Chiếc nón lá là hình ảnh đặc trưng, là biểu tượng muôn thuở của Quê Hương Việt Nam.

Trần Công Nhung
Tháng 4-2003
(Một Đóa Hoa Ban QHQOK tập 1)