Thơ & Truyện
Nguyễn Văn Lục
>
cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
--- hiện định cư tại Montréal;Canada
|
Điện Biên Phủ ...
Nguyễn văn Lục
Lời Ban Biên Tập :
Trang Võ Tánh qua bài viết "Điện Biên Phủ ..." của Thầy Nguyễn Văn Lục :
Ai cũng có ước mơ;mơ ước cho chính bản thân,cho gia đình, cho nước nhà !
Cái mơ ước của Thái Kim Lan là Đại Trai Đàn trên núi Điện Biên cho người Việt
và người Pháp . Trong "Tâm" ai cũng có Phật hay Chúa .... thế cho nên ước mơ
nhỏ bé cho đất nước ,Trang Võ Tánh "hơi ích kỷ" một tí ;chỉ mong muốn cho Người
Việt thôi ;mong sao có một Đại Trai Đàn không những ở Điện Biên ; mà còn cho một
Mậu Thân ở Huế ;cho những người Việt đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh Bắc Nam ...
Những người chết sẽ không còn oán thù nhau ... người sống cũng như vậy . Cái mơ
ước không cần cho thế giới biết Việt Nam mạnh hay yếu;chẳng cần thế giới biết Việt Nam không sợ một "thế lực đế
quốc" nào cả , chỉ cần anh em một nhà hòa thuận thương yêu lẫn nhau thật sự sau một trận
chiến tương tàn mà thế giới đều rỏ ! : Chiến Tranh Việt Nam .
Nếu mơ ước được như vậy ; người nước ngòai sẽ hiểu được "lòng nhân ái" của Dân Tộc Việt
phải thế phải không Thái Kim Lan ; người nữ nhi thiếu thời hay tranh đấu .
..........................
Chiến thắng ĐBP đối với người Việt Nam là một cuộc tranh đấu dành độc lập,
chấm dứt chế độ thực dân Pháp. Nó chứng tỏ rằng nếu một quốc gia dù yếu,
nhưng nếu có quyết tâm và lòng yêu nước thì yếu có thể thắng mạnh. Thật vậy,
không ai ngờ rằng từ những ngày khởi đầu cuộc kháng chiến Nam Bộ, những
người dân đi chân đất với gậy tầm vông đã lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại :
một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại một nước mạnh. Sức mạnh tinh thần đã đưa
Việt Nam đến thắng lợi là : lòng quyết tâm của cả một dân tộc. Và vị tướng giỏi
nhất trong trận chiến này là nhân dân. Vì không hiểu rõ điều đó nên cho đến ngày
nay một số sử gia như Benjamin Stora cho rằng : có một sự ám ảnh ĐBP trong giới nghiên
cứu sử người Pháp. Hay như lời diễn tả của Alain Ruscio, trong cuộc Hội thảo 27-28
tháng tư tại Hànội "Từ lạc quan cuồng nhiệt đến chấn thương vì thất bại ". Và đúng như
Charles Fourniau, người đã gặp ông Hồ chí Minh trong những ngày cuối cùng đã nhận xét :
" đó là sự mù quáng của thế giới thuộc địa muốn được áp đặt sức mạnh và lợi ích của
nó đối với một dân tộc ". (1)
Điều thứ hai, chiến thắng này đã mở ra xu hướng giải thực ở nhiều nước bị trị, đặc
biệt ở Algérie, Maroc và Tunisie. Nó mở đầu cho một làn sóng chiến tranh dành độc lập
của các nước bị trị ở khắp nơi nhằm đánh đổ các đế chế kể từ sau thế chiến thứ hai.
Phần 1 : Những cơ hội một nền Hoà bình dang dở .
Chiến tranh là điều bất đắc dĩ. Người Việt Nam hiển nhiên là không muốn điều ấy.
Vậy mà người Pháp vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới, tại sao lại tiếp tục cuộc
chiến tranh khác? Nước Pháp phải chăng muốn tái lập lại chề độ thuộc địa bằng mọi giá?
Cơ hội hòa bình dang dở rơi vào cái mà người ta gọi sau này là nền Cộng Hoà đã chết.(2)
---------------------------------------------------
(1) Trích tóm lược cuộc hội thảo về ĐBP ngày 27-28-04, tại Hànội của TTXVN
(2) Xin trích dẫn tài liệu, đăng trên tờ L!humanité, ngày 20 tháng tư, 1951.. Tài liệu là một bản
tuyên ngôn của tù binh Pháp, tại trại 2, bao gồm gần một ngàn tù binh Pháp đã ký tên mà nội dung
có một đọan quan trọng như sau :" De ces faits, nous voyons que cette guerre, menée par le gouvernement
Francais est non seulement absurde mais encore criminelle. D'une part, elle ne profite en rien au peuple de France,
d'autre part, elle vise à asservir un peuple , ami du nôtre. Nous voyons ainsi que nous avons eu tort
de participer à cette guerre et que nous aurions du plutôt rester tranquilllement en France à côté de nos familles,
travailler à la reconstruction du pays. Hélas, le sort en est ainsi."Sau đó có chữ ký đại diện của 35 tù binh Pháp.
Không dám khẳng định là những người Pháp này có toàn quyền tự do khi viết bản tuyên ngôn này hay không ?
Tài liệu lấy lại trong Indochine, lec Combats oubliés, Annexe 2. Jean Arright
---------------------------------------------------
Thật ra, không có bất cứ một người Pháp nào muốn bỏ Đông Dương.
Nhưng nếu phải trả giá bằng một cuộc chiến tranh lâu dài thì họ không đồng ý với nhau..
D'argenlieu không đồng ý với đại tướng Leclerc, Leclerc không đồng ý với Valluy hay đại tá Debès.(3)
Debès là người rất hiếu chiến và cứng rắn, chính ông này gửi tối hậu thư cho chính quyền đương
cuộc ở Hải Phòng buộc rút quân trước 9 giờ tối. Rồi sau đó ra lệnh tấn công bộ đội Việt Minh.
Phát súng mở màn cuộc chiến tranh ở phía Bắc. Ngay cả đảng Cộng Sản hay đảng Xã hội Pháp
cũng chủ trương chiếm giữ Đông Dương và vì thế đã chấp nhận ngân sách chiến tranh đầu tiên
do Quốc Hội bỏ phiếu ngày 19-3-1947.
Theo Jean Lacouture, Charles De gaulle muốn khôi phục lại chế độ thuộc địa và những lợi nhuận từ
chế độ đó mà ra. Đó là những ảo tưởng lớn về chính trị nơi De Gaulle.. Một con người được mô
tả bề ngoài là tự cao đến phách lối, ích kỷ, tự coi mình như trung tâm của vũ trụ.. mặc dầu vẫn
được coi là một nhân vật vĩ đại (4) . Nhưng dưới mắt Churchill, trong chuyến viếng thăm Paris về..
Ong đã viết thư cho Tồng thống Mỹ coi De Gaulle như một người đầy mặc cảm tự ty, mặc cảm
yếu thế cần được nâng đỡ. Hai ngày sau khi mặt trận ĐBP bị mất, De Gaulle dự trù xuất hiện
trước dân chúng Paris có khoảng từ 100.000 người tham dự trở lên.. Kết quả thật thảm bại mà
sau này Léon Noel đã thuật lại trong Sa traversée du désert.... Cuộc hành trình qua sa mạc mà De Gaulle
và nhiều người khác đã trải nghiệm sau chiến thắng ĐBP. Cái thất bại trải qua một sa mạc đó 4
năm sau vào năm 1958, De Gaulle lại chạm chán với với vấn đề Algérie mà tự ông không tìm được
lối ra " Một bước quan trọng đưa tới sự thất bại ở Phi Châu " ( Important étape dans la voie qui nous
conduit à la perte de l'Afrique.)
Nhưng điều chính yếu là người Pháp không muốn Mỹ dính líu vào nội tình VN. Vì thế mà D'Argenlieu ,
người của Charles De Gaulle được cử sang là để thi hành sứ mệnh ấy. D'Argenlieu cứng rắn và không
nhượng bộ VN bất cứ điều gì.
------------------------------------------------------------
(3) Một số người viết sử muốn mặc cho cuộc chiến tranh Việt Pháp một ý đồ tôn giáo, một
âm mưu cấu kết giữa Vatican và Pháp qua cá nhân con người Cao ũy D'Argenlieu. và những
thành phần tôn giáo trung gian bản xứ. . Nước Pháp không phải chỉ có một D'Argenlieu mà có rất nhiều.
Cuộc chiến tranh nào mà chả có những nhãn hiệu, những chiêu bài. Nhà sử học phải nhìn ra đuợc thực
chất của mỗi cuộc chiến ấy. Vậy thực chất cuộc chiến tranh Việt Pháp là gì ? Câu trả lời của một số hiếm
hoi những người viết sử là cuộc " Thánh chiến". Cứ như thế chiến tranh Irak hiện nay cũng là
thánh chiến. Đây là một quan niệm vết sử đáng để chúng ta suy nghĩ lắm.
(4) De Gaulle et Churchill của Francois Kersaudy. La mésentente cordiale. Trang bìa cuối.
-------------------------------------------------------------
Stanley Karnov cũng có nhận xét tương tự khi ông viết :" Vào năm 1942, với mục đích nâng
đỡ những người Pháp tự do của Charles de Gaulle trong việc chống lại chế độ Đức Quốc Xã,
TT Roosevelt có hứa để người Pháp duy trì những quyền lợi của họ ở hải ngoại. Nhưng năm sau,
ông lại nói với con trai ông là Elliott, ông sẽ làm tất cả mọi cách để chống lại " tham vọng đế quốc"
của nước Pháp. Năm sau, ông đã đề nghị đặt Đông Dương dưới quyền bảo hộ quốc tế
và yêu cầu nước Pháp trao trả nền độc lập cho nước này." (5)
Ba tháng trước khi chết, ông TT đã nói với ngoại trưởng Edward R. Stettinius " Bất cứ một
quyết định nào về Đông Dương lúc này đều quá sớm "
Bernard Fall đã nhận định về vấn đề này như sau :" Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm.
Thật vậy, bởi vì mọi người đều muốn lợi dụng cuộc chiến tranh này. Kể từ 1952 đến 1954,
cuộc chiến tranh đã đem vào cho ngân quỹ của chúng ta cả tỷ Mỹ Kim của viện trợ Hoa Kỳ…..
Đã có lúc, hàng xuất khẩu lớn nhất của chúng ta không phải là những xe hơi "Dauphine"
của hãng Renault hay nước hoa của vùng Grasse, mà là chiến tranh Đông Dương. Đó là một
cuộc buôn bán mà cả nước Pháp đã tham dự….(6)
Cơ hội hoà bình và độc lập cho VN bị dang dở. Vì có rất nhiều người Pháp " sợ hoà bình",
sợ mất quyền lợi của họ ở Đông Dương. Họ không lý gì đến nội dung hội nghị Postdam đã
giao quyền giải giới và kiểm soát Nhật ở phía Nam cho Anh và Trung Hoa Trưởng Giới Thạch,
từ vĩ tuyến 16 trở ra.
Đến người kế vị TT Roosevelt , TT Truman với phe nhóm của ông đã ủng hộ nước Pháp
về những đòi hỏi về quyền lợi của nước này đối với Đông Dương. Một lần nữa. Hoà bình
bị bỏ rơi và chẳng lạ gì sau này , nước Mỹ đã bỏ ra 2 tỷ 500 triệu cho Pháp trong cuộc chiến này,
số tiền còn lớn hơn cả số tiền mà người Pháp nhận được trong khuôn khổ kế hoạch Marshall.
Phần ông Hồ, biết mình còn yếu thế, phải ép mình đi giây lúc với Pháp,
lúc với Trưởng Giới Thạch, lúc với Nhật, lúc với các đảng phái quốc gia và với cả CIA
của Mỹ ở Côn Minh. Qua việc cứu một phi công Mỹ bị rớt máy bay ở Sàigòn, ông Hồ
được tiếp xúc với tướng Claire Chennault và đã xin ông này một ảnh chụp như bằng cớ bảo
đảm có tiếp xúc với Mỹ. Và qua đó cơ quan OSS của Mỹ có giúp đỡ ông Hồ vào đầu
năm 1945 trong một cuộc nhày dù có bí hiệu Deer ở căn cứ của ông Hồ. Sự giúp đỡ bao
gồm súng cá nhân, súng cối và lựu đạn. Mặc dầu vậy, sau này ông Hồ trong một dịp nói
chuyện với Bảo Đại đã chán nản cho rằng, Mỹ chỉ là bọn con buôn tư bản mà thôi.(7)
----------------------------------------------
(5) Viet Nam, Stanley Karnov Editions Presse de la cité, trang 81. 1984.
-----------------------------------------------
Ông Hồ chí Minh thì muốn thương lượng, ngưới Pháp thì không. Ông đã hạ bút ký Hiệp định
Sơ bộ 6-3, tạm ước 14-9. Người Pháp còn muốn gì nữa ? Vì thế, chẳng lạ gì khi ông HCM
vừa lên đường sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau vào ngày12 tháng 6 năm1946, ông dừng
chân ở Biarritz thì một ngày sau đó ở Sàigòn, Cao ũy D'Argenlieu lập chính phủ Nam Kỳ tự trị,
đưa ông Nguyễn văn Thinh lên làm Thủ Tướng. Và sau này một số tay sai làm việc cho Pháp như
Trần văn Hữu, Nguyễn văn Xuân, Lê văn Hoạch, Nguyễn văn Tâm
Ông Hồ chí Minh đã phải nằm chờ ở bên Pháp cho đến khi lập xong chính phủ do
Bidault làm thủ tướng, Moutet giữ bộ Pháp Hải ngoại. Theo lời thuật lại của Sainteny
trong Histoire d'une paix manquée rằng, vừa tới phi trường Bourget, HCM bước ra ngoài cửa
phi cơ thì có hàng ngàn thợ thuyền và chính khách đón tiếp : Ông Hồ hai tay run nói nhỏ
bên tai tôi : "Anh đừng rời tôi, thiên hạ đông quá "(8). Sau thất bại ở Hội nghị, phái đoàn
VN đã lên đường về nước.
Riêng Hồ chí Minh ở lại. Đêm 14 tháng 9, Hồ chí Minh đến gõ cửa nhà Moutet ở số
19 đường Courcelles để ký tạm ước tay đôi giữa Moutet và Hồ chí Minh. Ký xong , Hồ
chí Minh nói với viên thanh tra đi theo hộ tống : Tôi vừa ký bản án tử hình tôi.
Sau đó, ông Hồ đã chọn đi tầu thủy để về VN thay vì đi bằng máy bay, ông đã
bị phản đối khi đi qua các ga Marseille, Toulon. HCM chỉ muốn tránh một cuộc chiến
tranh không đồng sức nên phải thương thuyết, thương thuyết không được thì phải nhượng
bộ để kéo dài thời gian . Ông đã làm hết cách những gì mà ông có thể làm, ngay
cả cái nhục ký các các hiệp định sơ bộ cũng như tạm ước.
---------------------------------------------------------
(7)Bernard Fall : Indochine 1946-1962, Chronique d!une guerre révolutionnaire, trang 11.
(8)Trong 86 ngày ở Paris, ông Hồ muốn xin gặp De Gaulle cũng không được, ngay cả
tướng Leclerc cũng không nốt. Phái đoàn Việt Nam gồm có Phạm văn Đồng, trưởng phái đoàn ,
Phan Anh, Trịnnh văn Bình, Tạ quang Bửu, Nguyễn mạnh Hà, Nguyễn văn Huyến, Bửu Hội,
Huỳnh Thiên Lộc, Dương bạch Mai., Chu bá Phượng, Đặng phúc Thông, Phạm khắc Hoè,
Hoàng Minh Giám và những chuyên viên như Nguyễn Đệ, Hoàng văn Đức, Vũ trọng Khanh,
Hồ đắc Liên, Nguyễn văn Luyện, Nguyễn văn Tịnh, Nguyễn đắc Khê.. Hội nghị tan vỡ.
Phái đoàn VN không ký tạm ước và xuống tầu Pasteur về Hải Phòng ngày 10 tháng 09 năm 1946.
-----------------------------------------------------------
Cũng cần nhắc lại là còn một cơ hội có thể cứu vãn được tình thế đưa đến chấm dứt
chiến tranh dựa trên đàm phán vào năm 1952. Chính quyền pháp của tổng thống Vincent
Auriol được thông báo qua Tướng Grossin là cần tìm một giải pháp cho một cuộc hòa đàm ,
mà trong trường hợp thất bại không làm mất mặt chính phủ Pháp. Công việc đó được giao cho
ông Antoine Pinay, với điều kiện là công việc được giữ bí mật tuyệt đối. Riêng tổng thống
Pháp yêu cầu là mọi diễn biến kết quả đàm phán đều phải thông báo đầy đủ cho Bảo Đại..
Ông Letourneau đã được giao trọng trách trực tiếp tổ chức vấn đề đàm phán này.
Nhưng ông không mấy tỏ ra hăng hái mà có vẻ miễn cưỡng để làm việc này.
Letourneau cử một đại tá đi thăm dò một số nhân vật tai mắt. Kết quả thất bại hoàn toàn.
Sainteny đã đưa ra giải pháp là chính ông sẽ nhảy dù xuống khu vực Việt Minh chiếm
đóng và trực tiếp nói chuyện với ông Hồ Chí Minh. Cuối cùng người ta nghĩ đến Giáo sư
Bửu Hội.. Ông Bửu Hội cho hay, ông có thể lấy tư cách một nhà nghiên cứu đi thuyết trình
về khoa học ở bất cứ nước nào ở Đông Nam A. Bản thân Bửu Hội vẫn còn giữ cái tít
là "đại diện văn hoá của Chính phủ VNDCCH". Đối với Việt Minh, ông là nhân vật persona
grata. Bảo Đại được thông báo đã đồng ý giải pháp đàm phán này. Sự kết hợp Bửu Hội
với Saiteny mà Bửu Hội cho là nhân vật có uy tín nhất của Pháp đối với phe VM trong cuộc
đàm phán bí mật là lợi điểm tối ưu mà nước Pháp có được. Tiếc thay chính phủ Pinay từ chức,
Letourneau lấy cớ đó không chịu trách nhiệm về chuyến đi của Bửu Hội. Đồng thời,
Letourneau đã thông báo cho Thủ tướng Nguyễn văn Tâm "về diễn tiến cuộc đàm phán",
Nguyễn văn Tâm lấy cớ đó đã phản đối quyết liệt với người Pháp..
Phải đợi ngày 9 tháng giêng, 1953, khi chính phủ mới ra đời, ông René Mayer mới đưa ra
quyết định chấp thuận cử ông Bửu Hội đi chuyến thăm dò đàm phán này. BH đã giữ kín
cuộc đàm phán theo lời yêu cầu của TT Vincent Auriol. Cuối cùng BH đã đến Miến Điện,
Rangoon để tìm một người đại diện VM là ông Luận, một người thanh niên vào khoảng 30 tuổi.
Đại diện VM tỏ ra rất quan tâm đến chuyện đàm phán và hứa sẽ thông báo tức khắc cho
chính phủ kháng chiến. Họ có hỏi thăm dò ai sẽ là đại diện bên phía Pháp.. BH trả lời là
Sainteny và Raphael-Leygues.. Phiá VM hoan hỉ chấp nhận ngay. BH ở Rangoon hơn một tuần
chờ sự trả lời của VM mà họ hứa chỉ có thể trả lời trong vòng ba tuần lễ. Cuối cùng BH
quay về Pháp, trước đó đã dừng lại ở Ấn Độ. Vô phúc là chính ở đây, họ được nghe qua
Radio lời tuyên bố của bộ trưởng phụ trách Đông Dương Letourneau tuyên bố :"Nước Pháp sẽ
không thương lượng trước khi có một cuộc chiến thắng quân sự hoàn toàn, và sẽ từ chối bất
cứ giải pháp nào khác " Ở Sàigòn Letourneau, đại tướng Salan và thủ tướng Nguyễn văn Tâm
đều bác bỏ bất cứ một cuộc đàm phán nào với Việt Minh. Công tác của BH vì thế bị thất bại..
Cơ hội đàm phán hoà bình lùi xa hơn.
Phần 2 : Tình hình Việt Pháp căng thẳng trước ngày bùng nổ chiến tranh Việt Pháp.
Ông Hồ ở Pháp khoảng ba tháng, một tháng để đi và về. Trong 4 tháng đó, tình hình
Việt Pháp mỗi ngày một găng thêm đến chỗ tồi tệ không thể tránh được.
Tình hình ở trong Nam trước và sau ngày ký thỏa ước.
Người Pháp sau chiến tranh thế giới, qua De Gaulles bằng mọi giá chiếm lại đất Nam
Kỳ làm thuộc địa nên đất Nam Kỳ là nơi xuất phát đầu tiên ngọn lửa đấu tranh dành độc lập.
Ngay từ những thập niên 1930, tiếng súng cách mạng chống pháp đã nổ ra ở Nam
bộ dười hình thức các cuộc đình công bãi thị của các nghiệp đoàn, thợ thuyền trong
các nhà máy và bến cảng Sàigòn, nhũng cu li đồn điền cao su Đất Đỏ ( terres rouges.)
Rồi mặt trận bình dân đã thắng cử cuộc bầu cử 1936.. Những tổ chức quần chúng như thế
nhằm một cục diện tranh đấu lâu dài. Có lẽ không ở đâu hơn ở Nam Bộ mà các
cuộc đấu tranh chính trị được thực hiện dưới hình thức này hình thức khác.(11)
*******************************************************************
(9)Trích dẫn trong Les deux guerres du Viet Nam của Georges Chaffard, trang 148-157.
(10) Sau khi ký kết một Modus Vivendi với Marius Moutet, Ông Hồ đã dời Paris đi Marseille bằng xe lửa,
ngủ một đêm tại ga Saint_Charles, Sáng hôm sau, các giới chức thẩm quyền Pháp đến chào từ biệt có
ông Collaveri, ông Massenet và các tướng Pelle và Dumini. Hàng loạt xe Citroen đen tiễn đưa ông Chủ tịch
Hồ chí Minh đến trại Mazargus, ở đó đã có 3000 thợ thuyền và binh lính Việt Nam ở Marseille…
Sau đó, ông dùng xe hơi đi Toulon và lên tầu Dumont- d!Urville đi qua Thái bình Dương, Đại Tây dương,
Địa Trung Hải.., đi lên bờ thăm Luân đôn, Nữu Ước, Boston, Le Havre và Alexandrie.. Ông vui vẻ hoà nhã
với thủy thủ và gần như ông đóng kịch, giả đò với mọi người. Ông chỉ mang theo hai bộ quần áo gồm
2 quần, hai sơ mi, hai quần đùi và đòi dành giặt ủi lấy. Dĩ nhiên , thuyền trưởng không để cho ông làm việc đó. .
Có một bữa tiệc để khoản đãi ông trong dịp này. Vì tính xuề xòa nên đước nhiều
lính trong quân đội Pháp kính nể. Sau này, có dịp ông lại bầy tỏ lời cám ơn với Thủy thủ đoàn.
Sau này thủy thủ đoàn còn đá banh với thanh niên địa phương ở Hải Phòng.
( Trích trong Les deux guerres du VN . La Table ronde de combat của Geores Chaffart. Trg 32 )
(11) Le Viet Nam, Jean Chesneaux, trang 34-36. nxb Maspro.
*********************************************************************
Cũng xin trích dẫn ở đây lá thư của Hoàng Hậu Nam Phương, như một thông điệp kêu gọi chống thực
dân Pháp ở vào thời điểm đó như một biểu tượng của dân miền Nam lúc bấy giờ :"Khi thoái vị, chồng tôi,
cựu hoàng Bảo Dại đã tuyên bố" thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ
" Bản thân tôi, tôi cũng đã từ bỏ không thương tiếc những đặc quyền, đặc lợi của một Hoàng Hậu,
sát cánh cùng với chị em đồng bào tôi để ủng hộ chính phủ của chúng tôi, mỗi người theo phạm vi,
năng lực của mình, để bảo vệ nền độc lập, chính nghĩa thiêng liêng của chúng tôi.
Giờ đây, máu đang tuôn chảy trên đất Nam Bộ, cái nôi của thời thơ ấu của tôi. Biết bao
sinh mệnh bị thiêu đốt trong lò lửa hủy diệt, bởi lòng tham đầy tội lỗi của một nhóm người thực
dân Pháp được hậu thuẫn bởi một số quân Anh đi ngược lại những chỉ thị của các nước đồng minh.
Tôi kêu gọi tất cả những ai đau khổ vì những tội ác gây nên bởi cuộc đại chiến mới rồi, hãy hành động để
chấm dứt những sự hung bạo không thể gọi hết được bằng tên hiệu đang hoành hành trên đất nước tôi. "
( Bà Vĩnh Thụy, Cựu Hoàng Hậu Nam Phương )(12)
Tại Sàigòn, ngày 25 tháng 8 năm 1945 Lâm Uũy hành chánh Nam Bộ đã ra đời gồm 9 ủy viên, trong đó
7 ủy viên là thuộc đảng Cộng Sản với những người như Trần văn Giầu, Phạm ngọc Thạch Nguyễn văn Tạo,
Phạm văn Bạch.. Phong trào kháng chiến Nam Bộ đã có một lời thề chung :"chết chứ không chịu nô lệ .. "
Ngày 23 tháng 9, 45, Cédille lấy cớ Việt Minh không phải đại diện dân chúng VN và đã nổ súng cướp lại
các bót cảnh sát và công an, toà đô chính và ngân khố. Lâm Uũy hành chánh dời tòa đô sảnh và rút ra
khỏi Sàigòn. Đồng thời dân quân Cách mạng tấn công, phá hoại nhà đèn Chợ Quán, đốt chợ Sàigòn..
Mặt khác, kêu gọi dân chúng bãi thị, bãi công, chợ búa không nhóm, xe cộ không đi lại, phố phường
không người ở.. Sàigòn như một thành phố chết.."
Tưóng Leclerc với 35 ngàn quân lính Pháp bình định Nam bộ.. 4 sư đoàn Dân quân cách mạng phải tản
đi nhiều nơi và chủ yếu rút về đồng Tháp Mười.
Trần văn Giàu đã tổ chức một cuộc biểu tình mà theo nhà báo Nguyễn Kỳ Nam,
chưa có một cuộc biểu tình nào làm xúc động lòng dân bằng cuộc biểu tình này.
Đây là hình ảnh biểu tượng cho cuộc kháng chiến của toàn dân. Chính họ là nhân tố
cho cuộc kháng chiến chống Pháp ngay từ lúc ban đầu. Cuộc kháng chiến đã bắt đầu
như thế : thô sơ, hủ lậu, và nghèo nàn :" Dân quân ăn mặc rất thô sơ, có người đi chơn không,
cầm những khẩu súng 2 lòng, kiếm dài, dao găm.. Nhưng vẫn được toàn thể đồng bào hoan
nghinh nhiệt liệt".
**********************************************
(12)Hồ chí Minh Abd-el-Krim et Cie của Jean Renaud et Ong Chua do Guy Boussac xuất bản,
năm 1949 Paris. Dịch lại do Trân Thái Bình, trong cuốn Tìm Hiểu lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản
Văn Hoá Thông Tin. Hànội 2001.
***********************************************
Trên các đường phố, hàng ngàn các biểu ngữ với các khẩu hiệu :
Độc lập hay là chết
Đả đảo thực dân Pháp.
Việt Nam độc lập muôn năm.
Khoảng 2 giờ, mọi người lắng nghe tiếng nói của đài phát thanh Hànội, bài diễn văn của chủ tịch chính
phủ Trung Ương là Hồ chí Minh.. Nhưng đã quá nửa giớ, máy Radio không " bắt" được.
Sau đó, Trần văn Giàu đã đứng lên diễn thuyết kêu gọi đồng bào coi chừng "Phải trừng trị những bọn
mãi quốc cầu vinh, những bọn gây rối cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà" .. Diễn thuyết xong,
cuộc biểu tình bắt đầu tuần hành…
Theo Ký giả Nam đình trong Hồi ký 1925- 1946 , Có súng nổ, tiếng nổ khắp châu thành..
Dân quân chia ra phản công. Dân chúng hoang mang chạy toán loạn. Cả một toán dân quân mà
chỉ có một khẩu súng hai lòng, núp sau băng đá ở đại lộ Bonard, rồi chĩa súng bắn xỉa qua lầu văn
phòng trưởng tòa Corogne.. Súng nổ, càng lúc càng nhiều. Người nầy bắn, rồi người kia bắn..
Một cây súng chuyền tay qua lại không biết mấy lần. Đến 6 giờ chiều, trời sắp tối, tiếng súng mới yên.
Nhân dân Sàigòn-Gia Dịnh đã bắn những phát súng mở đầu cuộc chiến tranh Việt-Pháp vào ngày 23 tháng 9
năm 1945. Như thế chiến tranh thật sự đã bùng nổ ở Nam Bộ vào ngày 23 tháng 9- 1945. Đến trưa
ngày 10 tháng 10, Uũy ban Nhan Dân Nam Bộ cho phát truyền đơn kêu gọi dân quân : kháng chiến.
Dân quân phong tỏa Sàigòn. Vòng vây kinh tế siết chặt lại. Cũng theo nhà báo Nam Đình :
Sàgòn không đèn, không nước, không chợ.. Người Việt, đàn ông, đàn bà đã ra khỏi chhâu thành.
Đây là một đọan trong bài phóng sự của một ký giả Pháp đả được ông Trần Tấn Quốc dịch lại :" Một bộ đội dân
quân Việt Nam tiến theo đường Verdun tràn xuống Trung Tâm Sàigon, chiếm chợ Bến Thành, kéo thẳng đến
đại lộ Bonard, xả súng bắn..từ xa xa , nhiều đám cháy ngùn ngụt đỏ trời.. Một cảnh tượng kinh hoàng bao trùm
nhà hàng Continental : rất đông đàn bà và trẻ con Pháp lánh nạn vì tại nhà hàng mà nơi đây, không còn
một miếng nước, không có tia sáng của đèn điện,từ đây thỉnh thoảng lại được tin những người Pháp
ở lẻ loi vừa bị thiệt mạng.. Còn Việt Minh hiện giờ chiếm đóng tất cả các khu vực ngoại ô. "Ở vùng Tân định,
nhiều tử thi người Pháp nằm sóng sượt. Dân quân chiếm được Chợ Mới Sàgòn, nhưng tiến tới đại lộ
Lê Lợi là đụng quân Pháp hay An, nên ngừng lại đó
không tiến thẳng tới hãng Sạt ne cũ được.. Còn một bộ đội dân quân khác, lại từ bên kia
kinh Tàu hủ – tức Arroyo Chinois – qua Sàgòn, do ngã Cầu Ong Lãnh. Họ núp theo vùng nhà chú
Hỏa để tiến theo dọc đại lộ La Somme, tức đại lộ Hàm Nghi ngày nay, đặng đánh vùng Chợ Cũ.
Tại đây, họ bị quân Pháp chận đánh nên không thấy nói bộ đội đó tiến nữa. Sàgòn bị dân
quân đôt kích như vậy vào lúc xế chiều đủ thấy tình hình nghiêm trọng như thế nào.(13)
Tiếng súng cách mạng, tiếng súng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã bắt đầu từ
cuộc kháng chiến Nam Bộ theo cái tinh thần miền Nam đi trườc, nhưng lại về sau..
Trong thời điểm chiến dịch ĐBP, Người dân Sàigòn-Gia Định đã mở nhiều cuộc tấn công
đồn bót của Pháp tại các vùng Hóc Môn, Bình Chánh, Trung huyện, Liên huyền, Thủ đức,
Nhà bè. Đặc biệt, quân dân Sàigòn Gia Dịnh đã tấn công Kho Phú Thọ Hoà trong đêm 31
tháng năm 1954. Kho lớn này nằm trong vùng rừng cao su rộng khoảng 4km , dài 2 km, ở phía
Tây Nam Tân Sơn Nhứt, gần Ngã tư Bảy Hiền, thuộc quận Tân Bình ngày nay. Tạp chí Mỷ " Đại
học quân sự Ngày Nay" năm 1962 viết về trận đánh này đã cho rằng " Đây là một trong những
trận đánh làm thay đổi so sánh lực lượng, một trận đánh đau nhất". Navarre cũng đã viết :"Ở
Sài gòn, những cuộc tiến công còn nhiều hơn ở Hà nội, số lượng công tác ở vùng bất an
ninh ngang bằng thậm chí cao hơn ở Hànội ".(14)
*****************
(13)Phần viết trên được tóm lược từ hồi ký 1925-1964ù của Nguyễn Kỳ Nam, một ký giả kỳ cựu
của làng báo Việt Nam . Xin giới thiệu vài dòng về hồi ký này và ký giả Nguyễn Kỳ Nam.. Ông nguyễn kỳ Nam
còn có bút hiệu Nam Đình, một ký giả kỳ cựu trong làng báo Nam Kỳ, nổi tiếng trong nước.
Tập Hồi ký này ghi lại những biến cố chính trị hầu hết ở trong Nam từ năm 1925 đến 1964.
Tập 2 từ 1945-1954.. Rất tiếc tập hai chưa hề được xuất bản. .
(14)Trích từ cuốn Đông Dương hấp hối, hồi ký của tướng Henri Navarre, trang 261, nhà xuất bản Công An Nhân dân.
****************
Ngày 14 tháng chạp, năm 1946, Léon Blum viết trên báo Le populaire bài xã thuyết như
cảnh cáo nhà cầm quyền Pháp :"Muốn gìn giữ Đông Dương, chỉ còn một cách : thành thật
thương thuyết với Việt Nam, ký kết hiệp ước, trên căn bản độc Lập".
Những lời cảnh cáo đó tỏ ra đã muộn màng , tình thế không cứu vãn được nữa. Tất cả đều có vẻ quá trễ :
Giải pháp Moutet sang Đông Dương cùng cao ủy D'Argenlieu vào ngày 19 tháng 12.
Đã Trễ mấy giờ đồng hồ. Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh cho quân đội của ông chuẩn bị chiến đấu.
Rồi tuyên ngôn của mặt trận Việt Minh kêu gọi đồng bào chuẩn bị chiến tranh như : đào hầm núp, đặt
chướng ngại vật, dân chúng bắt đầu tản cư. Hoàng văn Đức, đảng dân chủ, kêu gọi đồng bào về quê ,
vì chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào . Không khi chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Chuyện rắc rối giữa Pháp và Việt Nam càng căng thẳng khi tự vệ phục kích bắn chết
một xe lương làm chết tài xế và hai người lính ở Hải Phòng. Sainteny ra lệnh tấn công đồn tự vệ gần đó.
Phía VN , 15 thường dân bị giết oan.. Sau đó, đến ngày 18 tháng 12, phía VN tung lựu đạn, một lính nhảy dù
bị giết, một bị thương. Nhảy dù Pháp trả đũa, kết quả, Phía VN có 20 người chết . Người ta tự hỏi Pháp muốn gì ?
Ông Hồ chí Minh đã bằng mọi cách tránh chuyện chiến tranh xảy ra. Từ nhiều ngày nay,
ông tiên liệu tình hình mỗi ngày mổi xấu đi. Ông đã nói với Hoàng quốc Việt vào ngày 17 :
" Người ta đã đưa các cháu ra khỏi Hànội chưa" ? Từ một năm nay, hay ít lắm từ một tháng nay,
ông đã tìm hết cách để tránh một cuộc đụng độ bằng quân sự với ngưới Pháp. Hình như, ông đã
thấy chán nản và mệt mỏi vì không đạt được.. Ông vẫn chờ đợi câu trả lời của " đồng chí Blum"
của ông, trong khi chung quanh ông, các đồng chí trong Tổng Bộ không còn nhẫn nại được nữa..
Việc Marius Moutet sang VN bị các đồng chí của ông cho chỉ là người Pháp muốn kéo dài để
củng cố vị trí quân sự của họ.. Hình như mọi chuyện đều không có đường thoát nữa.(15)
************************************
(15) Trích trong Những kỷ niệm về Hồ chí Minh. Của Võ nguyên Giáp, Nguyễn lương Bằng,
Hoàng Quốc Việt . Trích lại trong Hồ chí Minh. Jean Lacouture. Trang 138.
**********************************
Fernand Petit, làm ở sở phản gián điệp đưa tin :"Tối nay, quân đội Việt sẽ tấn công Pháp với 3
sư đoàn và tự vệ thành." Pháp lập tức tập họp binh lính trong thành, dàn các chiến xa ra
những địa điểm chiến lược như trước sở Hành Chánh tài chánh trên con đường đôi,
phủ toàn quyền, kho bạc, nhà ga xe lửa.
Phần 3 : Cuộc chiến tranh Việt_Pháp bắt đầu.
Ông Giáp không có đường chọn lựa nào khác. Vì thế, tối 19 tháng 12 năm 1946, tiếng mìn nổ đầu tiên
ở nhà mày điện phát nổ như lệnh cho khắp nơi bắt đầu tấn công. Thành phố tối om.
Tiếng tắc bọp chen lẫn tiếng liên thanh tạch tạch, tè. Cứ thế, khắp nơi đều có tiếng nổ.
Cho đến nay, nhiều người còn đặt câu hỏi : Pháp hay Việt Minh là người nổ súng đầu tiên ?
Bên nào khai phá mở màn cuộc chiến ?
Tiếng mìn nổ ở nhà máy đèn là lịnh tấn công mở đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp của đại tướng Giáp đấy.
Đi tìm hiểu tại sao tướng Giáp đã có quyết định tối hậu là tấn công quân đội Pháp,
mở đầu cuộc chiến tranh ? Thật ra chung quanh Hồ chí Minh, lúc bấy giờ các tự vệ ở tình trạng
khủng hoảng , khích động đến không kềm giữ được nữa. Theo ông Paul Mus thì cạnh đó còn
rất nhiều thành phần quá khích muốn có chiến tranh và không thiếu cả những viên chức
Nhật Bản nữa. Theo Philippe Devilliers :" Nỗi lo lắng ý muốn thoát ra khỏi tình trạng đến không
kềm và chủ động được gì nữa, sự thù hận chống Pháp và tinh thần biện chứng cách mạng.
Tất cả đều có phần trong quyết định nổ súng đánh Pháp" (16)
********************
(16) Histoire du Viet Nam, trang 353 1940-1952. Devilliers Philippe. Paris. Editions du Seuil, 1953
********************
Tiếng mìn đó đáp ứng lại tất cả những nhẫn nại, những nhượng bộ những chèn ép của Pháp trong
hiệp định sơ bộ, trong việc lập chính Phủ Nam Kỳ tự trị, trong việc mang tầu chiến chiếm Hải Phòng.
Ngày 30 tháng 11, Quốc Hội Việt Nam còn gửi một thông điệp sang Balê, yêu cầu Quốc Hội Pháp
làm trọng tài để giải quyết dùm mà nội dung như sau :".. Dân tộc VN chúng tôi cương quyết muốn hợp tác
với dân tộc Pháp, nên yêu câu Quốc Hội Pháp nên can thiệp và gửi một Uũy ban tận chỗ mở cuộc điều tra.. "
Ngày 15 tháng 12, ông Hồ chí Minh còn gửi cho ông Léon Blum đề nghị hai bên rút về vị trí trước ngày 20 tháng 11..
Pháp khẩn cấp gửi Sainteny có đủ quyền hành dân sự và quân sự sang Việt Nam. Ngày 2 tháng 12,
Sainteny tới phi trường Gia Lâm đến gặp ông HCM. Đại tướng Võ nguyên Giáp thay mặt tiếp Saiteny
và nói ông HCM cáo lỗi bệnh không tiếp được. Cái bệnh của người làm chính trị trong lúc này
thật hay giả khó biết được. Cuối cùng thì ông HCM cũng tiếp Sainteny trên giường bệnh.
Câu chuyện của hai người có thể tóm tắt như sau :
Sainteny nói với ông Hồ: Ông thấy không, lúc còn ở BaLê, tôi đã nói, ông ở đây lâu là có hại lắm.
Phải , nhưng ông qua đây cũng chậm quá.(17)
Cho đến trưa ngày 18 tháng 12, Sainteny còn nhận được bức thư sau đây của ông Hồ Chí Minh :
" Kính gửi ông Sainteny. Bầu khí càng ngày càng căng thẳng trong những ngày gần đây.
Thật là đáng lấy làm tiếc. Trong khi chờ quyết định của Paris, Tôi tin tưởng vào ông và ông
Hoàng Minh Giám tìm ra một giải pháp ngõ hầu cải thiện được bầu khí hiện nay. Xin ông nhận tình bạn
của tôi và lời chào trân trọng đến bà Saiteny. Hồ chí Minh ".
Cùng giờ đó, ông Giáp yêu cầu đại tướng Morlière giảm bớt tình trạng căng thẳng bằng cách
giải giới sự tập trung quân lính Pháp.
Và xin nhường lời cho ông Sainteny ghi lại biến cố như sau :" Vào lúc 8 giờ,
thành phố chìm trong một sự im lặng bức xúc. Đồng hồ ở nhà thương Yersin, bên cạnh
nhà của đại diện Pháp, thong thả đổ 8 tiếng, tôi nói với các người cộng tác của tôi :
Hình như chưa phải là chiều nay, vậy tôi về nhà xem sao. " Tôi vừa bước vào xe thì một tiếng
nổ đinh tai và lập tức cả thành phố chìm trong bóng tối . Trung tâm nhà đèn vừa bị phát nổ.
Lúc đó là đúng 8 giờ 5 phút.. Những tiếng nổ lộp bộp phá màn đêm đang bao phủ thành
phố và đồng thời chôn vùi luôn những cố gắng và hy vọng của chúng tôi " (18)
*****************
(18) Trích lại trong Hồi ký 1925-1946. trang 395 Ký giả Nguyễn Kỳ Nam
Trích lại trong Ho chí Minh. Jean Lacouture. Trang 140
******************
Sau đó, Sainteny nhảy lên một xe có trang bị súng đại liên chạy về hướng sở Hành Chánh tài chánh,
nhưng xe của ông bị trúng mìn , ông bị thương nặng với 20 vết thương trên đường Paul Bert.
Riêng Ông Hồ và ông Giáp, vào buổi chiều ngày 20, vất vả lắm mới chạy ra khỏi dinh chủ tịch nay
đã bị người Pháp tái chiếm.
Kết quả có 200 thường dân Pháp thiệt mạng và 40 lính Pháp tử thương. PhíaVN không rõ con so tử vong
là bao nhiêu ? Ông Giáp ra lệnh tổng tấn công trên toàn diện lãnh thổ. Huế, Phủ Lạng Thương, Nam định...Hải phòng..
Trong Nam, ngày hôm sau , tự vệ mới bắt đầu nồ súng khắp nơi.
Ngày hôm sau, chính phủ Hồ Chí Minh rút ra khỏi Hànội, tạm đặt các cơ sở chính quyền ở Hà Dông,
cách Hànội 10 cây số.
Về điểm này, nhiều nhà quân sự Pháp cứ tiếc hùi hụi là tại sao không cho quân nhảy dù trực
tiếp nhảy xuống Hà Đông bao vây và bắt sống ông Hồ Chí Minh cùng toàn bộ bộ tham mưu
của tướng Giáp. Giả dụ điều đó xảy ra thì cuộc chiến Đông Dương đã ngã ngũ ra thế nào ?
"Vào ngày 12 tháng hai, 1947, trong nhật ký của ông, D'Argenlieu đã ghi lại nới ẩn náu chính
xác của ông Hồ chí Minh và bộ tham mưu trong một cái động ở Hà đông. Ông đề nghị một
cuộc đổ bộ bằng nhảy dù xuống Hà Đông, chặn nút hai đầu vị trí ẩn náu của ông HCM
và chắc chắn là có thể bắt chọn gói toàn bộ cấp lãnh đạo của HCM. Bộ Trưởng Hải ngoại
Moutet đã từ chối giải pháp này viện cớ rằng : Nước Pháp không hành xử như những bọn cướp."(19)
Phần Cao uỷ D'Argenlieu chỉ muốn cắt đứt liên lạc với chính phủ Việt Minh quét sạch quân đội
Việt Minh ra ngoại ô rồi sẽ tìm cách liên lạc với một bất cứ một nhân vật quốc gia nào khác như
Nguyễn Mạnh Hà, Hoàng xuân Hãn, Ngô đình Diệm và xa hơn nữa với lá bài Bảo Đại. Bollaert
được chỉ thị thay thế D'Argenlieu, ông này nghĩ đến việc qua Hương Cảng rước cưụ Hoàng Bảo đại về.
Tướng Leclerc, sau khi đi thị sát tình hình khắp nơi về đã thất vọng phúc trình như sau :"
Cái lỗi lớn nhất của chúng ta là đẩy Việt Minh ra ngoài cho họ lập chiến khu, rồi đánh
du kích.. Nay Việt Minh đã ra chiến khu, lực lượng sẽ càng tiêu hao, phải đeo đuổi chiến tranh
làm cho tài chánh, quân sự, kinh tế của Pháp phải kiệt quệ.." Đây là một trận giặc hao
mòn mà Pháp phải chịu đựng lâu dài. Leclerc kết luận :"Muốn bình định, phải có hằng trăm
ngàn quân lính và phải hai ba năm. Muốn thế, phải rút quân lính ở Pháp qua đây tăng cường
cho lực lượng viễn chính .. Phải cho họ độc lập chứ đừng hứa." .(20)
*******************
(19)Trích Viet Nam, de la guerre… , sách trích dẫn ở trên, trang 25.
(20)Tướng Leclerc và ông Sainteny là những người tương đối ôn hoà và được ông Hồ chí Minh nể trọng.
Theo Léon Blum. Leclerc là người đã giúp cho thỏa ước tháng 3- 1946 được thực hiện,
mặc dầu đô đốc D'Argenlieu tìm mọi cách để ngăn chặn. Leclerc là người giải phóng Paris ,
đồng thời cũng là người muốn đem lại một nền hoà bình cho xứ Đông Dương.
Năm 1961, tại Hànội, trước mặt Jean Lacouture, Ông Hồ chí Minh đã nhắc lại những kỷ niệm đối
với đại tướng Leclerc mà ông Hồ tỏ ra rất quý mến.. Trong dịp khánh thành một bức tượng của tướng
Leclerc vào năm 1969, Tổng Thống Pompidou một lần nữa nhắc nhở cái nhìn sáng suốt của Leclerc
về chiến trường VN thời bấy giờ. ( Trích Les deux guerres của Georges Chaffards, trang 103.)
*********************
Quả thật, đúng như những lo ngại của LeClerc, cuộc chiến ĐBP đã chấm dứt mọi tham vọng
của người Pháp ở Đông Dương .
Vào lúc 4 giờ, Tướng De Castries đã điện về Hànội là quân đội Việt Minh đã tràn ngập
các cứ điểm ĐBP, về phía Tây Claudine. Giữa khoảng 17 giờ mười và 17 giờ 30, ông này
đã liên lạc một lần chót với tướng Cogny : " cuộc chiến đi đến chung cục. Chúng tôi sẽ
chiến đấu tới cùng. Chúng tôi phá hủy những súng đại bác và tất cả liên lạc vô tuyến.
Chào đại tướng. Hoan hô nước Pháp "(21)
Cũng cùng thời gian đó, trung úy Allaire nhận được lệnh của Trung tá Bigeard phải ngừng bắn.
Allaire yêu cầu Bigeard gửi cho một lệnh viết tay. Bigeard bực mình , nhưng cũng chiều lòng
cấp dưới. Được rồi, anh cho người đến bộ chỉ huy nhận lệnh. 15 phút sau, một người lính dù,
quần áo nhếch nhác, lấm bùn cầm lệnh viết tay về cho Allaire trong đó nguệch ngọac mấy
dòng chữ sau đây của Bigeard :" Gửi Allaire, ngưng chiến đấu vàơ lúc 17 giờ ba mươi. Hãy ngưng bắn,
không có treo cờ trắng. Hẹn gặp lại. Allaire nhét mảnh giấy vào túi mệt mỏi chửi thề :
C'est la merde. Ông đang ở cứ điểm Eliane 3. Ong vén tay áo nhìn đồng hồ. Lúc ấy là 17 giờ.
Cứ điểm bị chiếm lúc 17 giờ 30.(22) Điện Biên phủ đã bị mất vào tay Việt Minh. Chiến tranh kết thúc.
****************
(21)Viet Nam. De la guerre Francaise a la guerre Américaine. Philippe Devilliers et Jean Lacouture,
trang 161. Collections Esprit.
(22) Trích trong : Les 170 jours de DBP của Ervan Burgot. Nxb Presse de la cité, 1979
*******************
" Bộ tham mưu ĐBP lặng lẽ nối đuôi nhau bước ra khỏi căn hầm. Đứng trên những bao đất rách
phủ nóc hầm bằng thép cong, ba người lính Việt Minh trong đó có trung đội trưởng Chu bá Thế
đang cầm một lá cờ đỏ sao vàng. Chuyện một lá cờ đỏ phấp phới trên mái hầm chỉ huy sở ĐBP
vào hồi 17 giờ 40, ngày 7-5 ấy là chuyện chắc chắn có.
Hàng nghìn người đã trông thấy và nhiều người đã nói với tôi. Ngược lại, không một ai trông
thấy lá cờ trắng trên nóc hầm. Sau này ở Hànội, tôi đã được xem những đọan phim quay cảnh thật :
Không đâu thấy có treo cờ trắng cả. Tập đoàn cứ điểm đã rơi vào tay Việt Minh, không phải là nó đầu hàng..
1 giờ 50 ngảy 8-5 – máy bay chỉ huy lượn trên trời thu được bức điện cuối cùng của quân Pháp ở ĐBP :
• phá vây thất bại – stop – không thể duy trì liên lạc tiếp được – stop và hết.
Đến đây thì thật là chấm hết. Chấm hết chiến tranh Đông Dương, chấm hết chế độ thuộc địa Pháp
Ngày 8-5, một máy bay ném bom 4 động cơ Priveter của phi đội 28F hải quân đi ném bom
hệ thống giao thông hào vận tải của Việt Minh trên đường 41, bị bắn rơi tại Tuần Giáo.
Người phi công lái máy bay, trung uý Hải quân Monguillon và tám hạ sĩ quan phi hành đoàn là
những người Pháp cuối cùng bỏ mạng trong trận ĐBP *.(23)
Một cuộc chiến kéo dài 7 năm, bảy tháng, một ngày.
Một cuộc chiến đã để lại những
vết thương và con số thương vong khó có thể hàn gắn lại. Nhà thơ Nguyễn Huy Tưởng sau khi
tham quan chiến trường ĐBP đã ghi lại như sau :* Điện Biên lẫn lộn giữa hoang vu và bàn tay người,
giữa gian khổ và cố gắng, giữa hỗn độn và tổ chức, giữa chiến tranh và xây dựng, giữa cái cổ sơ
( trâu bò,lợn rộng ) và cái khoa học ( máy cầy, điện ), giữa cái đang lùi và cái đang lên, giữa
cái nghèo nàn túng thiếu và cái tương lai đầy triển vộng, tất cả đều ở trong một sự hỗn độn,
ngổng ngang , chờ đợi, vươn lên.. * (24)
**********************
(23) Trích dịch : Tập đoàn cứ điểm ĐBP : 24 giờ cuối cùng của Bernard. B. Fall do Vũ trần Thủ dịch
Trích lại của Quỳnh Lam ( SGGP)
(24) Phía Việt Nam, cho dến giờ phút này, vẫn không một ai biết được có bao nhiêu chiến
sĩ đã hy sinh, bao nhiêu mạng người đã nằm xuống. Mới đây, trong một tình cờ, người ta còn tìm
Một cuộc chiến đã tiêu hao hằng bốm trăm ngàn sinh linh và hàng tỉ bạc mà cho đến nay chưa
ai biết rõ con số đích thực là bao nhiêu ? Đó là những con số làm phiền, làm chúng ta phải suy nghĩ.
Cùng lắm, nếu may mắn có được những con số thì vẫn là những con số ảo, số âm, số trừ.
Một người chết hay trăm người chết có thay đổi gì được bộ mặt của chiến tranh? "Có những
D'information sur un sujet précis peut induire les consommateurs de nouvelles que nous sommes tous,
en confusion, sinon en erreur. La surinformation est vite synomymes de désinformation"
Đã có bao nhiêu binh lính của hai bên đã bỏ mình trong trận đánh cuối cùng này ?(27)
*******************
(26) L'aigle et le dragon, trang 1-2 của Claude de Groulat. Cuốn sách bàn về cuộc chiến 1954-1975
(27) Theo Bernard Fall trong Diện Biên Phủ, Un coin D!enfer, trang 486, nxb Laffont, Paris, 1968 thì về phía Pháp
sự thiệt hại lên đến 16 ngàn người, trong đó 1500 bị chết, 4000 bị thương và 10 ngàn người bị bắt làm tù binh
hoặc mất tích. Trong số 10 ngàn tù binh này, sau bốn tháng bị Việt Minh giam cầm.
Chỉ có 3290 trở về.. Thiếu 7573 người. Tỉ lệ chết trong trại tù là 70%. Về Phía quân đội Việt Minh
là từ 25 đến 28 ngàn người, trong đó có khoảng từ 8000 đến 10000 bị giết.
*********************
Phần 4 : Những quan điểm nhìn khác nhau về trận ĐBP
Về phía các nước Pháp và nước Mỹ.
Dư luận thế giới qua tờ New-York-Times đã bình luận như sau :" Nước Pháp là nước duy nhất ở Âu Châu
đã dùng võ lực đề giữ thuộc địa ở A Châu ".
Đây là đầu mối và sai lầm lớn nhất đã gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương. Phải nhắc lại và cần nhắc lại nhiều lần
: Ông Hồ chí Minh trước sau chỉ muốn độc lập.. Điều này đã được phần đông các tác giả,
nhà nghiên cứu chính trị nhìn nhận. Dù ở Pháp, dù gặp bất cứ đại diện chính quyền Pháp nào,
ông Hồ chỉ có đòi hỏi một điều kiện duy nhất là độc lập. Ngay cả độc lập trong Liên Hiệp Pháp.
Người Pháp đã không hiểu trằng : Xu hướng giải trừ thuộc địa là điều tất nhiên sau thế chiến hai. Vì thế,
trong công cuộc giải trừ thuộc địa, Đông Dương biến thành bi kịch lớn nhất và thảm họa cho chẳng những
người Pháp đã biến cuộc chiến Đông Dương kể từ 1950 thành một tranh chấp quốc tế, tầm vóc thế giới,
một khủng hoảng trong phong trào giải thực, cộng với khũng hoảng Đông và Tây.
Thật vậy, sau chiến tranh, tất cả các cựu thuộc địa cách này cách khác được trao trả.
Người Mỹ ở Phi Luật Tân, Người Anh ở Mã Lai và Miến điện, người Hoà Lan, người Anh ở Ấn.,
ở Nam Dương. Nhìn chung bối cảnh chung lúc đó, các sử gia đều nhận thấy sự đi trật đường của nuớc Pháp.
Chỉ cần so sánh Bá tước Mounbatten trong việc đưa nước Ấn, một thuộc địa của Anh đến độc lập
và thái độ của Đô đốc Thierry D'Argenlieu, muốn thiết lập chủ quyền của nước Pháp tại VN là đủ.
Thái độ thủ cựu, quan điểm lỗi thời mà D'argenlieu là đại điện đã kéo nước Pháp và Việt Nam vào một cuộc
chiến mà đáng nhẽ nó có thể tránh được.
Kể từ 1946-1950, cuộc chiến tranh diễn ra giữa nước Pháp và Việt Minh là một cuộc chiến
tranh dành độc lập chống lại thực dân Pháp. Một bên là toàn dân VN và một bên là đoàn
quân Viễn chinh Pháp (28). Những đội quân hỗn hợp này mà phần đông bọn họ đã phải trả một
giá rất đắt là đem xương máu của họ ra thay cho đạn súng cà nông. Trong bọn họ, một phần
là những người Phi Châu và những người ở các quần đảo Antilles cũng đang thức giấc về một
giấc mơ độc lập của chính sứ sở họ. Họ là những người lính mà đất nước họ đã hoặc đang là
nơi diễn ra những cuộc kháng chiến giải thực như Maroc năm 1933, Tunisie năm 1952 và Algérie 1954.(29)
Dĩ nhiên , nếu cuộc chiến tranh Đông Dương mà không được dẫn dắt bởi một lãnh tụ có mầu sắc
Cộng Sản, vần đề lại khác.(30)
Cuộc tranh đấu dành độc lập của đảng quốc gia Nam Dương ( PNI. Parti national Indonésien) đã hẳn
khác cuộc tranh đấu dành độc lập của VN ? Người Anh ngay từ 1948 đã chống lại Cộng Sản Tầu ở Malaisie.
Đại Hàn, ở thủ đô Hán Thành, ngay từ 1945 đã xuất hiện Cộng Hoà Dân chủ Hàn Quốc lãnh đạo bởi
các người Cộng Sản. Vì thế Mỹ đã không nhìn nhận chính phủ Hàn Quốc và 5 năm sau đã nổ ra cuộc chiến
Bắc Nam có sự tham dự của người Mỹ.
*********************
(28) Từ Légion étrangère là do sự thành lập một quân đội Pháp tại Algéries,
năm 1831 ở Algérie, bao gồm những người lính tình nguyện mà phần lớn là người ngoại quốc.
Trong quân đội viễn chinh Pháp ở Việt Nam thời đó bao gồm những người lính đánh thuê,
những tù binh trong quân đội Đức ở mặt trận Nga sô sau chiến tranh, người các nước
Phi Châu sau thế chiến thứ hai, binh đội Việt Nam trong quân đội quốc gia. Bộ trưởng tư
Pháp André Marie đã chọn lính tình nguyện từ các trại tù những binh lính tình nguyện mà bọn họ không
cần biết tương lai họ ra sao, sống chết thế nào , miễn là ra khỏi cảnh nhà tù.. Lúc đó, có khoảng 4000
người tình nguyện trong bọn họ. (trích trong Guerre D!Indochine ( 1945-1954 ). Les dossiers Historia,
éditions Tallandier. 1999.)
(29) Theo Jules Moch, đại diện Pháp ở LHQ, người Pháp đã gửi sang Dông Dương 400.000 người,
trong đó có 9 vạn người chết 11 vạn người bị thương. Trích lại trong Nuremberg pour le Viet Nam
của Bertrand Russell. Trang 22. Cahiers libres 96.
(30) Ngay từ ngày 18 tháng hai 1930, ông Hồ, với gần 20 bí danh khác nhau đã cho phát thanh chuơng
trình 10 điểm của đảng Cộng Sản trong đó có một số điểm như : Đánh đổ chủ nghĩa thực dân đế quốc.
Thiết lập một chính quyền gồm công nhân thợ thuyền. Quốc hữu hoá nhà băng và những cơ sở thương mại
của đế quốc. Tịch thu ruộng và tài sản của chủ điền , tay sai đế quốc, phân phát cho người nông dân..
Trích trong chủ tịch Hồ Chí Minh của Trường Chinh, Hànội 1960, trang 98
*********************
Ngay sau thế chiến hai, Thủ Tướng Churchill đã cảnh cáo thế giới về "cái gọi là hiểm họa
Cộng Sản "hay Tổng Thống Truman " gọi là kế sách Domino ". Thật vậy , đảng Lao động Anh
có khuynh hướng thiên về phía Nga sô.. Riêng đảng Bảo Thủ thì Thủ tướng Churchill đã soạn
thảo một phúc trình là : Đường hướng thuận lợi cho nước Anh ( La bonne voie pour la Grande Bretagne ),
trong đó có đoạn như sau :"chúng ta không thể cho phép ý thức hệ Cộng sản trở thành món
hàng để xuất cảng.. Vấn đề là tìm hiểu xem xã hội Cộng Sản có thể sẽ lan rộng ra khắp
thế giới hay nó chỉ là một ý thức hệ ở thượng tầng có thể gây được phản ứng sinh động
đủ để làm hưng phấn các cuộc kháng chiến và lấy lại những phần đất đã bị mất …" (31).
Vì thế, vào năm 1946, ở Zurich, Churchill đã đưa ra ý tưởng thành lập Liên Hiệp Âu Châu
và sau này năm 1948, tại La Haye. Nhưng sau này, ông lại tỏ ra dè dặt hơn và nói rằng :
" tốt hơn hết hãy nhìn xem người con gái đã, trước khi cưới nàng".
Dư luận Mỹ qua Nixon nhìn chiến trận Điện Biên Phủ như một thử thách đầu tiên về khả năng của " thế giới tự do"
chống lại sự xâm nhập của Cộng Sản. Tại Hoa Thịnh Đốn, đô đốc Arthur Radford đã đưa ra chiến dịch
Vautour, trong đó họ sẽ dùng ba quả bom nguyên tử cỡ nhỏ để tiêu diệt các vị trí của Việt Minh
và giải thoát quân đội Pháp ở lòng chảo ĐBP. Nhưng Ngoại trưởng Dulles và tổng thống Eisenhower
nhận thấy là chỉ khi nào có sự can thiệp trắng trợn mạnh bạo của Trung Quốc thì kế hoạch trên mới
được đem ra thi hành. Người Mỹ nhận thấy Việt Minh đã được cung cấp võ khí, lương thực cũng
như huấn luyện của Trung Quốc. Vì thế, vào tháng 3, TT Mỹ đã nghĩ tới những giải pháp hoá giải khác
như cho quân của Trưởng giới Thạch đổ bộ xuống đảo Hải Nam, hoặc phong tỏa đường biển của Trung Quốc.
TT Eisenhower đã nói trước nghị viện " Tôi đề cập đến vấn đề này vào lúc này, bởi vì bất cứ lúc nào, từ
đây đến 48 giờ sắp tới, có thể chúng ta phải tham dự vào trận chiến ĐBP
ngõ hầu ngăn chặn trận chiến đó quay lại chống lại chúng ta, trong trường hợp đó, tôi sẽ triệu
tập những lãnh tụ đảng Dân Chủ cũng như Cộng Hoà để thông báo cho họ những điều mà
chúng ta sẽ tiến hành " (32) .
***********************************
(31)Trích trong Winston Churchill et L!Angleterre du XXè siècle của Jacquea Chastenet
Hàn Lâm Viện Pháp, trang 433, nhà Xuất Bản Fayard, 1965
(32)Trích lại trong Mémoires Richard Nixon, trang 133, nhà xuất Bản Stanké, 1978
********************************
Phần đô đốc Radford đã sang Luân đôn tham khảo ý kiến với Churchill. Thủ tướng Churchill cho
biết là nước ông đã không muốn chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của họ tại An Dộ thì không có lý do gì
nước Anh chiến đấu để bảo vệ Đông Dương cho người Pháp. Mặc dầu ông nhìn nhận rằng,
nếu mất Việt Nam vào tay Việt Minh thì rất có thể những phần còn lại có thể bị nguy hiểm.
Nhưng ông cũng khẳng định không có sự đe dọa nào cho Đông Nam Á như Nhật Bản, Úc đại lợi.
Phần Tổng Thống Mỹ, ông cũng dè dặt và bất động không làm bất cứ điều gì để thúc ép nước Anh
và các đồng minh của minh tham gia cứu gỡ ĐBP.
Hơn thế nữa, người Pháp đã đánh giá sai lầm về khả năng tác chiến của Việt Minh và
ngay cả những người lãnh đạo của họ. Một sai lầm mà Napoléon đã từng viết :" Đối với một nhà chiến lược
và có lẽ cả với một nhà chính trị nữa, thì sai lầm lớn nhất không thể tha thứ được là đánh giá tấp đối thủ"
Nhưng điều đáng ghi nhận là mặc dù không có hành động quyết liệt can thiệp để giải cứu ĐBP, qua cái nhìn
của Mỹ và đồng minh của họ, trận chiến ĐBP báo hiệu một chiến thắng có tầm vóc chẳng những lịch sử
đối với Việt Nam và cả thế giới, mà còn là dấu hiệu về sự đe dọa của chủ nghĩa Cộng Sản nữa.
Cuối cùng thì nước Pháp đơn độc chiến đấu mà kết quả là cuộc thất trận mà nhiều
người như tờ Paris Match mới đây với nhan đề : Điện Biên Phủ, cách đây 50 năm,
những ảo tưởng tan ra mây khói* (33)
Trung Quốc và chiến thắng ĐBP
Charles De Gaulle đã nhận xét như sau về nuớc Tầu :" Không có một cuộc chiến tranh
hoặc hoà bình nào ở Á Châu mà không có sự dính líu của nước Tầu * ( Il n'y a ni guerre
ni paix en Asie sans que la Chine soit impliquée " (34).
**************
(33) Paris Match .DBP, il y a 50 ans, les illusions perdues
(34)De Gaulle, tác giả Jean Lacouture, tập 3, Le Souverain. trang 433. Editions du Seuil, tháng 10, 1968
*************
De Gaulle quả thực đã nhìn không sai về Á Châu và nước Tầu. Á Châu với gần 3 tỉ người,
với 50 thế kỷ lịch sử kể từ khi có lịch sử được gọi là lịch sử, với mảnh đất không gian
trải dài như vô tận từ SiNai đến Kamtchatka.. Trong đó nước Tầu với dân số đông nhất thế
giới với một miền địa lý chạy dài tử Tiểu A đến bờ Thái Bình Dương, từ miền bắc cực Sibéri đến
biên giới nhiệt đới đến An độ và cuối cùng dừng lại ở xứ Bắc Kỳ.
Sức nặng lịch sử đã đè nặng trên dân Việt với không biết bao nhiêu trải nghiệm với lòng tự
quyết và ý chí sinh tồn. Lịch sử Việt Nam tóm lại trong mấy nghìn năm chỉ là lịch sử sinh tồn
để không bị đồng hóa. Thời xưa đã vậy, thời nay cũng thế mà thôi. (35)
Trong chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày kỷ niệm 50 năm đó, nhiều người đã nhân dịp này,
nhất là phía một số sử gia Trung Quốc muốn người Việt phải nhìn nhận cái yếu tố quyết định
đưa tới thắng lợi ở ĐBP là do Trung Quốc.
Xin nhắc lại ở đây một số sử liệu để ta nắm được trọn vẹn vấn đề hơn. Sau chiến tranh Hàn Quồc
kéo dài từ 25 tháng 6 - 1950 đến 27 tháng 7- 1953, Chính phủ Việt Minh hầu như đơn độc chống Pháp,
nhưng sau đó số lượng quân Trung Hoa tình Nguyện đánh ở trận Hàn Quốc và số quân trang quân dụng
của Liên Xô nay chuyển sang để giúp Việt Nam. Theo Stephan Pan va Daniel Lyons :
- Từ 20 tháng tám 1950 có 15 vạn lính Trung Hoa chuyển đến Côn Minh và Hồ Nam
để giúp Việt Nam. Nguồn tin này được đưa ra từ Chinese United News Agency ở Hồng Kông.
*********************
Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp
đỡ Việt Nam chống Pháp*, xuất bản tại Trung Quốc, năm 1900 )(35)
Nếu thật sự có lòng với đất nước, trong vụ Hiệp định biên giới Việt Trung cách đây 3 năm, phải nhìn thấy
những khó khăn trong những bang giao với nước Tầu trong suốt lịch sử nước ta. Phải nhìn thấy, Hà nội
không ngu gì cần người ta dạy cho cách phải hành xử thế nào đối với nước Tầu. Chỉ gần đây, thủ tướng
Phan văn Khải lại khăn gói quả mướp sang Trung Hoa , lần thứ năm của ông.. trong đó cũng lại để giải quyết
những khó khăn rắc rối về vấn đề biên giới. Cứ ngồi cách xa nửa phần trái đất để phán, để trị nước, để tuyên bố,
để đưa ra đường lối, để đưa kế sách,để dạy cho người trong nước phải làm thế này, không làm thế kia. Chỉ là
"một thứ lãng mạn chính trị". Xin trân trọng nhắc lại ở đây những lời nói trối trăn trong lá thư của ông
Nguyễn Hữu Chung gửi cho Đi Tới :"Mình viết về một dân tộc mà mình biết có phân nửa. Mình viết về
một đất nước mà mình biết có phân nửa…. Anh thấy không, anh kêu tôi viết về tuổi trẻ, về tương lai,
về một thế hệ mà đã hơn một phần tư thế kỷ mình không có ở đó, cái điều đó cũng không sao,
nhưng quan trọng hơn là mình không có dự phần, mình không chia xẻ, thì bây giờ viết cái gì bây giờ …"
Đi tới số tháng 4,5,6, trang 202.
.
*******************
- Ngày 28 tháng 06, 1950 Tờ China Tribune Of Nework City cho hay có hai tầu thủy mang
tên S.S.Kwo Tai và S.S Kuo Young từ một cảng gần Quảng Đông đã di chuyển về phía Bắc Việt Nam
với những trang bị vũ khí. Không rõ số lượng. Cơ quan Kwong Wah News Agency ở Hồng Không cũng thuật lại
cho biết có hai tầu thủy rời Quảng Châu đi Hải Phòng, phía Bắc VN với các trang bị quân sự.
Cũng không nói rõ số lượng.. Nhưng chở những quân dụng đó đến bến Hải phòng là một điều khó hiểu ?
- Vào 13 tháng 08, 1951, theo một tờ báo thiên Cộng Sản ở New York, tờ China Daily News,
có hơn 50 người đại diện cho chính quyền Việt Minh đã tham dự * The Chinese Political Consultation
Conference * Trong hội nghị này đã đề ra đề cương một chính sách giúp đỡ chính quyền Việt Minh
để cho cuộc Cách mạng đi đến thành công.
- Theo tờ Chinese United News Agency ở Hồng Không tường thuật tướng Lâm Bưu
đã gửi một vị tư lệnh của ông, tướng Shao Keh thiếp lập một bộ tham mưu hỗn hợp
* Sino-Viet Minh joint staff group * cùng với 6 cố vấn quân sự của Liên Xô.. Nhiệm vụ
của đoàn cố vấn này là điều hợp những công tác tham mưu giữa Trung Quốc và Việt Minh.
- Vào tháng 9, năm 1951, nhiều báo chí ở Trung Quốc lọt ra ngoài đã kêu gọi quân tình nguyện
Trung Quốc để gửi sang giúp các đồng chí Việt Minh, để tiêu diệt bọn tư bản đế quốc cùng một
lúc trên hai mặt trận Hàn Quốc và Việt Nam
- Ngày 29 tháng năm, 1963, tờ China Daily News thuật lại Hồ Chí Minh trước đây đã gặp
Lưu Thiếu Kỳ và ra một thông cáo chung, trong đó Hồ chí Minh nhìn nhận có sự giúp đỡ của
Trung Quốc cho bội đội Việt Minh. (36)
Dưới con mắt của những người viết sử Trung Quốc thì như Qiang Zhai đã trả lời phỏng vấn đài BBC
:" Việt Nam miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng đối với ngưới Pháp bởi
vì tình cảm dân tộc mạnh mẽ của họ *. Nhưng chính ông cũng thừa nhận vào năm 1993 rằng:" Do bài viết
chủ yếu dựa trên tư liệu Trung Quốc, nó không tự xem là đã thể hiện đầy đủ về quan hệ Trung-Việt trong
cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất ".
Phải nhận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận nước VNDCCH do ông Hồ
Chí Minh lãnh đạo vào ngày 18-1-1950, sau đó mới đến các nước Đông Âu và Bắc Hàn..
Ngày 15-1-1950, VNDCCH đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức.
*************************
(36) Viet Nam Crisis, Stephen Pan và Daniel Lyons , trang 24-26.Nhà xuất bản East Asian Research Institute, N.Y
**************************
Sự công nhận ngoại giao này mở đầu cho thấy VNDCCH nay nằm trong khối các nước
theo chủ nghĩa Xã Hội. Và cũng từ đó, nhiều người cho rằng cuộc chiến Việt Minh-Pháp
là sự đối đầu giữa hai khối : Thế giới tự do, thế giới cộng sản.(37)
Cũng theo Qiang Zhai, từ tháng tư đến 9-1950, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Minh gồm 14.000 súng trường
và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60khẩu pháo và 300 bazooka cùng đạn dược,
thuốc men, quần áo và 2800 tấn thực phẩm.
Tác giả cũng nói đến vai trò cố vấn quân sự cuả Trung Quốc ở cấp sư đoàn và vai trò chỉ huy
ở cấp Trung đoàn. Đồng thời cho biết tướng Trần Canh đã áp dụng học thuyết " Chiến tranh nhân dân
của Mao vào Việt Nam trong công cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc dân đảng.
Mao đã huy động thành công trong việc huy động phụ nữ cho chiến tranh". Hoặc phương pháp
"bao vây đồn bốt trong lúc tấn công cứu viện" hay "hủy diệt lự lượng cơ động của kẻ địch trên
các chiến trường và chiếm một số đồn nhỏ, cô lập nhằm giành thắng lợi ban đầu trong lúc tích lũy
kinh nghiệm và thúc đảy tinh thần chiến sĩ ." Một số đơn vị Việt Nam cũng được huấn luyện và trang
bị đầy đủ tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây.
Về những điểm nêu trên thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng không dấu diếm gì và
trình bầy khá chi tiết trong cuốn : Đường tới Điện Biên Phủ. Theo đại tướng Giáp, Ông Hồ chí Minh
đã phải sang Trung Quốc gặp Lưu thiếu Kỳ, Chu ân Lai , Chu đức và Trần Canh..
Sau đó sang Liên Xô gặp Staline và Mao Trạch Đông đang ở đấy. Ông Hồ chí Minh yêu cầu Nga Sô
giúp trang bị 10 đại đoàn bộ binh và một Trung đoàn pháo cao xạ. Staline chuyển những yêu cầu
đó sang phía Mao trạch Đông. Ông này đồng ý ngay trước mắt trang bị 6 đại đoàn đang
ở phía Bắc và rằng VN có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí bên Trung Quốc.
Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của VN.
*******************************
(37)Số liệu trên theo tài liệu :" Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong
cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam chống Pháp". Xuất bản ở Trung Quốc 1900.
*****************************
Ngay khi ông Hồ về lại VN, tháng tư năm 1950, VN đã gửi sang 3 trung đoàn sang Trung Quốc,
đồng thời được huấn luyện thêm về chiến thuật " Công Kiên", kỹ thuật đánh
"Bộc Pha" trong 3 tháng huấn luyện. Và cũng kể từ đó, quân đội Việt Minh đã không còn
xử dụng giáo mác trong binh đội của mình nữa .(38)
Trong hai cuốn sách của Đại tướng Giáp : cuốn Điện Biên Phủ ( nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia,
in năm 1994 ) và cuốn Đường tới Điện Biên Phủ, nhà xb Quân Đội Nhân Dân,
người viết có cảm tưởng trong cuốn đầu, ông Giáp không nhắc nhở xa gần gì đến
chuyện viện trợ, giúp đỡ của người Trung Quốc. Đó là một đố kỵ cố ý. . Chỉ trừ
một đọan ông trình bầy cho biết có thương thảo với đồng chí cố vấn bạn là thay đổi
phương án đánh nhanh thành đánh chậm , đánh chắc :
"Trận đánh sắp bắt đầu. Đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình tới lúc này ra sao ?"
Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng Đoàn.. Tôi nói tiếp ba khó
khăn lớn nhất của bộ đội rồi kết luận :
Nếu đánh là thất bại.
Vậy nên xử trí thế nào ?
Quyết định của tôi là hoãn cuộc tiếng công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập kết,
chuẩn bị lại theo phương châm đánh chắc, tiến chắc…
Điều này phải suy ra là đại tướng là người thật sự chủ xướng thay đổi cách đánh .
Những điều mà người Trung Quốc viết là sai sự thật. (39)
Trong cuốn thứ hai, xb năm 2000.. Đã có thay đổi, thay đổi lối nhìn, thay đổi cách
viết thông thoáng và bớt tính cách giáo điều, bài bản thuộc lòng . Đã thêm vào những
dữ kiện tài liệu liên quan đến sự trợ giúp của Trung Quốc cho VN.
Phần 5 : ý nghĩa chiến thắng ĐBP với người dân Việt.
Đối với cuộc chiến tranh dành độc lập thì không có trả giá. Và nếu phải trả giá thì giá nào có thể trả cho
đủ được ? Cái chết và sự hy sinh của một người cũng là một giá, huống chi đó là sự hy sinh của cả một dân tộc,
của nhiều thế hệ. Đối với chế độ thuộc địa thì không thể có một lời tốt đẹp nào. Xâm lược là xâm lược.
Bản chất xâm lược là bạo lực và bóc lột. Tất cả những điều khác chỉ là những mỹ từ tuyên truyền,
che đậy, gian dối.
Cuộc chiến tranh của VN đã vận dụng được sức người, sức của và sự hy sinh tuyệt đối
biến toàn thể khối người Việt thành một thứ Chủ Nghĩa Anh Hùng. Hễ cứ cầm súng giết giặc là
trở thành một chiến sĩ.. Có hai triệu chiến binh du kích như thế và gần 200 ngàn quân chủ lực.
Cuộc chiến đã diễn ra khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có thể là chiến trường : Trên rừng sâu,
đồng bằng, từng khu xóm, một con sông, con suối. Ngày đêm cũng không nghỉ. Đã vậy,
đã bao nhiêu người đã nằm xuống ? đã bao nhiêu gia đình mất cha,
mất mẹ, mất anh em ? Ai có thể tranh công với những người chết như thế ?
Đó là lịch sử của triệu người viết nào phải của Lã quý Ba hay Trần Canh ?
Đã có bao nhiêu người Tầu chết như thế ? 100 người , nghìn người. Nước Mỹ đã giúp nước
Pháp gấp trăm lần như thế ? De Gaulle đã trả ơn như thế nào ?
*********************
(38) Đường tới Điện Biên Phủ, từ trang 13-16. Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhà xuất bản Quân đội Nhân Dân. 2001.
(39)Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trang 41, Hànội 1994.
*********************
Ngay đối với những người Cộng sản, những lãnh tụ như Hồ Chí Minh hay Đại tướng Võ nguyên Giáp,
nếu đằng sau không có nhân dân thì họ làm được gì ? Nhiều người cho đó là thắng lợi của Đảng,
do đường lối lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị. Đó là cách nhìn, cách
đánh giá trong tập sách : Điện Biên Phủ, văn kiện đảng và nhà nước ( Sự Thật, nhà xuất Bản
chính trị quốc gia ). Đảng nói như thế có thể không sai, nhưng không đủ. Nói trong nội bộ với nhau
thì cứ việc nói. Nhưng ngay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong một lọat bài về chiến thắng ĐBP,
đã gọi đó là một cuộc chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân. Không lẽ đó chỉ là khẩu
hiệu tuyên truyền ? Hay như lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh vào những ngày đầu của cuộc
chiến tranh 20-12-1946 :"Thay vì hy sinh và không cúi đầu làm nô lệ. Đồng bào hãy cùng đứng
lên tiến về phía đằng trước. Bất kể là đàn ông, đàn bà, trẻ con, người già, người trẻ, không
kể tôn giáo, quốc tịch. Hễ đồng bào là người Việt Nam thì hãy nhất tề đứng lên chống lại
bọn thực dân Pháp để cứu đất nước. Kẻ có súng thì hãy cầm súng mà chiến đấu, kẻ có
gươm thì dùng gươm và đối với những người không có cả súng lẫn gươm thì chiến đấu bằng cuốc
sẻng và gậy. Không một ai đứng ngoài hoặc lùi lại đằng sau trong cuộc chiến yêu nước chống lại
bọn thực dân đế quốc". (40)
Nhưng nếu cứ dành công thắng lợi cho đảng Cộng Sản thì đó là điều tai hại,
vì đã biến chiến thắng chống chế độ thực dân, giải phóng dân tộc thành cuộc
chiến tranh ý thức hệ giữa Tự Do và Cộng Sản. Tự nó, ý nghĩa này đã phản bội lại
những người đã chết.
***********************
(40) Oeuvres choisies.. trích trong Ho chi Minh. J.Lacouture, trang 86. Editions du Seuil. Paris VI è.
***********************
Người Pháp để bào chữa cho sự thua cuộc này cũng chỉ muốn có thế. Họ cho rằng chiến thắng
ĐBP là do sự can thiệp giúp đỡ trực tiếp của các nước Cộng Sản như Liên Xô và Tầu. Đành rằng,
súng 105 ly của Tầu là hữu hiệu, nhưng không có chuyện đội đá vá trời Kéo Pháo thì thử hởi 105 làm được gì ?
Xin trích dẫn lời của ông Vũ thư Hiên trong cuộc phỏng vấn của thông tấn VNN
:" Kẻ thắng ở Diện Biên Phủ là toàn dân Việt Nam".
Hay như lời nhận xét của Giáo Sư Trần quốc Vượng, một người CS :" Chính chủ nghĩa dân tộc và
lòng yêu nước đã vẫy gọi chúng tôi, và chúng tôi luôn luôn xem ông Hồ chí Minh là một nhà dân tộc hơn
là một người Cộng Sản. Đó là cuộc chiến chống thực dân dành độc lập".
Ngày nay, nhìn lại ý nghĩa của chiến thắng ĐBP nhằm mục đích nhìn lại sự thật, "cái gì của César
thì trả cho César ", tưởng nhớ lại quá khứ, tưởng nhớ và vinh danh những người đã vì lý tưởng ,
đã nằm xuống và từ đó hướng về tương lai. Đã 50 năm rồi, không phải là lúc chỉ có chửi hoặc
ca tụng và thần thánh hóa một người, một chủ nghĩa, một đường lối sách lược, đồng thời
hạ thấp đối phương là người Pháp. (41)
Nhưng cũng thật lỗi thời và lạc điệu, nếu tỏ ra hững hờ, dửng dưng, đứng ngoài không phủ nhận,
cũng không nhìn nhận chiến thắng ấy. Cái tâm trạng khó ở đó, nhiều người quốc gia nay vẫn
vướng mắc chưa gỡ rối ra được. Nhưng thử hỏi, đã có bao nhiêu người Pháp chấp nhận
sự đầu hàng nước Đức và phục vụ dưới trướng của Thống chế Pétain ?
Vậy mà sau thế chiến thứ hai, những người Pháp này đã tự đồng hóa mình cùng với cả nước
Pháp ăn mừng chiến thắng giải phóng Paris của tướng Leclerc. Trang sử đã qua 60 năm,
thử hỏi có còn người Pháp nào còn muống mang cái gánh nặng Pétain chùm lên đầu của
chính mình hoặc chùm lên đầu người khác ? Tại sao ta lại mang cái gánh nặng mà tự mỗi người
có thể trút bó được ? Mới đây, ngày mồng 6-6-2004, Nước Pháp và nước Đức đã cùng
kỷ niệm ngày đổ bộ Normandie.
************************
(41)Paris , hội thảo về 50 năm ĐBP*..Phía Pháp công khai hoá hồ sơ về số thương vong
và đòi phía VN, qua bác sĩ J.J Arzalier đưa ra một bản thống kê chi tiết của Pháp về số chết,
************************
Jacques Chirac của nước Pháp và thủ tướng Gérhard Chroder
cùng tham dự lễ kỷ niệm này cùng với đại diện của 15 nước khác ? 10 năm trước đây
Helmut Kohl đã từ chối lời mời của TT Mitterand. Bao giờ Việt Nam có thể cùng với người
Pháp bắt tay nhau cùng chung kỷ niệm ngày chiến thắng ĐBP ? Và cuối cùng hãy biến
ngày đó như biểu tượng của cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do dân chủ và hoà bình ?
Hãy xếp lại những oán hận, những chiêu bài chủ nghĩa, những vinh danh cá nhân để cùng
nhau nhìn nhận đó là chiến thắng đánh đuổi thực dân Pháp của toàn dân.. Đồng thời tưởng
niệm những người đã hy sinh, đã chết cách này cách khác như Thái Kim Lan đã viết :
"Ai cũng ước mơ thì tôi cũng xin được nói ra một ước mơ này : trong buổi lễ kỷ niệm 50
năm chiến thắng vĩ đại Điện Biên, tại sao chúng ta không tổ chức Một Đại Trai Đàn trên
núi Điện Biên để cầu siêu thoát cho người đã khuất, Việt cũng như Pháp, những người
chết không còn oán hận thù hằn nhau, cầu cho người sống an lạc tôn trọng lẫn nhau, để cho
thế giới biết rằng Việt Nam dứt khóat không sợ hãi bất cứ vũ lực đế quốc nào và Việt Nam
có thừa nhân ái hoà bình cho tất cả mọi người trên trái đất" (42)
Thật vậy, cái chết đã đem lại một an nghỉ và bình yên tuyệt đối cho mọi người. Người chết đã vậy,
nhưng bi kịch còn lại là hình ảnh người mẹ, ngưởi vợ, người con mắt đăm đăm nhìn những nấm mồ mà họ
biết rằng người thân của họ không bao giờ trở lại
:* Đối với một bà mẹ, không có lý tưởng tốt hay xấu, mà chỉ có những đứa
con đã mất.Ở đây, trước những ngôi mộ phần, cái biên giới thù nghịch không còn,
sự kiêu hãnh cũng như cay đắng không còn, có chăng chỉ là những niềm thương nhớ (43)
Đánh nhau, chiến trận là chuyện bất đắc dĩ. Chẳng ai trong chúng ta mong muốn có một ĐBP
thứ hai. Mọi người, từ những chiến sĩ ngoài mặt trận đến chị dân công đều khát vọng hòa bình
mà trong đó không còn chiến tranh nữa. Xin ghi lại đây câu chuyện của tướng Nguyễn Chương "Anh
hùng quân đội nhân dân", chỉ huy trưởng đại đoàn 312,
một trong những đại đoàn khét tiếng nhất của quân đội Việt Nam
****************************
(42)Trích Giao Điểm tháng 6. Một Phật tử tên Thái Kim Lan
(43) Trích * Kinh cầu hồn cho chiến trận BP, dịch lại trong cuốn * Chiến trận ĐBP của Jules Roy.
Tạp chí Hành trình, số5, tháng 2,1965.
*********************************
như phần kết thúc bài này do ký giả Pháp Jean Claude Pomonti ghi lại :
Nguyễn Chương là tù binh của Pháp bị bắt ngày 7-04, sau này là một tướng Sư đoàn. Ông kể lại
chỉ vừa học hết một năm tiểu học . Sau trận đói năm 1945 trong làng, ông bỏ đi theo Việt Minh .
Trong trận đánh ĐBP, xe tăng Pháp ủi và tràn ngập các giao thông hào.. Tất cả đồng đội cũng
như vị chỉ huy tiểu đoàn đều chết hoặc bị thương . Tôi thu gọm đồng đội chỉ còn khoảng 30 chục
người ra lệnh rút lui.. Bọn lính Phi Châu tiến lên chiếm lại vị trí giao thông hào và giết những bị thương
còn lại. Lúc đó, tôi nghĩ đến gia đình, đồng đội đã chết vả quả thực , tôi muốn mình phải sống. Tôi
bất tỉnh và không còn biết gì nữa. Tôi tỉnh dậy thấy bị thương đầy mình, bị bắt làm tù binh, giam
cách bộ chỉ huy của Tướng De Castries vài chục bước. Mỗi ngày được phát 400 grammes gạo,
thỉnh thoảng có muối và cả thịt hộp nữa. Binh lính Phi Châu cũng ăn uống như chúng tôi. Có một
tuyên úy thỉnh thoảng mang đến kẹo, ít thuốc và cả dao cạo lẫn sữa nữa. Những ngày cuối cùng,
pháo binh bắn dữ đội quá tưởng chắc chết. Đại tá Vinh, thuộc hạ của ông xác nhận : chỉ nguyên
trận đánh cứ điểm Elianne 2, một ngọn đồi mà người Pháp đã bảo vệ một cách anh dũng. Không
dưới 20 trận tấn công và phản công lại để tranh dành từng mét đất.. Chúng tôi phải đào một đường hầm
bằng tay , ngay dưới vị trí của quân đội Pháp. Đó là những kỷ niệm khủng khiếp nhất không bao giờ quên
được. Người thì đào hầm bằng tay, người thì quạt để người đào khỏi bị ngộp trước khi đặt chất nổ, vì không
ai chui vào hầm quá 15 phút mà không bị ngộp. Chỉ nội trận đánh cứ điểm Eliane 2 mà ngày nay có một nghĩa
địa ở dưới chân đồi, có 800 ngôi mộ đồng đội đã chết. Tướng Chương nói tiếp :"chiến tranh thật là buồn".
Ngày nay, đã về hưu, ông sống trong một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông Hồng bên cạnh bầy con và 8 đứa cháu..
Nhưng đầu óc ông lúc nào cũng để đâu đâu. Gia đình ông bảo ông khùng. Ông ngồi viết lại hồi ký hay
làm thơ kỷ niệm 50 năm ĐBP. Trong một góc của căn gác, ông bầy một bàn thờ để tưởng nhớ
những đồng đội đã mất.. Thắp một nén hương cho đồng đội, thế là những hình ảnh quá khứ lại lần lượt hiện ra..
Ông nói thêm, giọng buồn, tôi vẫn thất học. Tôi không thích chiến tranh. Đối với tôi , thế là đã đủ rồi.
Tôi đã về hưu từ năm 1990 và lần đầu tiên, tôi tìm lại được nụ cười 100%. (44)
**********************
(44)Trích trong Archives du * Monde*, bài viết Prisonnier des Francais à Điện Biên Phủ của Jean
Claude Pomonti. Báo Le Monde , ngày 22 tháng tư.
*********************
|