free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ & Truyện

Nguyễn Văn Lục

   > cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
    --- hiện định cư tại         Montréal;Canada

 

Phải chăng có những người con hoang của J.P. Sartre

Nguyễn văn Lục

Sau chiến tranh thứ hai, nước Pháp hoang tàn, có một De Gaulle trở về đem vinh dự và hy vọng cho cả nước Pháp. Nhưng tình hình chính trị, kinh tế chưa ổn định. Ngày 15 tháng 8, 1945, Thống chế Pétain bị kết án tử hình. Ngày 15-10 đến luợt Laval bị xử bắn. Rồi vụ án Nuremberg tháng 11. Những cuộc thanh toán, ám sát những kẻ làm tay sai cho Đức trước đây xảy ra chỗ này chỗ kia. An đền oán trả. Kẻ xấu trả nợ, kẻ tốt được vinh thăng. Từ đó xuất hiện những nhà văn-anh hùng như André Malraux, A. Camus và sau chót là J.P. Sartre. Đang từ trong bóng tối, Sartre chợt chói sáng, nhất là từ khi J.P. Sartre làm giám đốc tờ Les temps moderrnes. Ít khi nào có một trí thức, nếu không nói là lần đầu tiên vừa là triết gia, vừa là nhà văn tài hoa đến như ông.

Sau khi xuất bản La nausée (1938), Le Mur (1939), ông thay thế dần chỗ ngồi của A. Malraux và chẳng bao lâu chỗ của André Gide trong văn học Pháp.. Ông đã tạo cho mình một chỗ đứng, một thế giới của riêng Sartre Univers Sartrien.. Rồi cứ thế không ngừng, Sartre cho ra đời Chemins de la liberté. Les mouches. 1943. Tác phẩm lớn L'être et le Néant, 1943. Huis clos 1944, Morts sans sépulture, 1946. La Putain respectueuse, cuốn sách gây xì căng đan ở nước Pháp năm 1946. Les mains sales, 1948, Le diable et le bon Dieu, 1951. Critique de la raison dialectique (1960 ).

Bên cạnh Sartre, một nhà văn trẻ hơn A. Camus sau này trở thành cặp Sartre-Camus. Họ là biểu tượng điển hình của trí thức Pháp. On cherche des modèles, des maitres à penser. Si L'essentiel de la philosophie existentialiste date d'avant guerre ( Voir période précedent), le succès de cette théorie et ses avantars populaires ( tout peut être existentialiste, une danse, un lieu..) se fait sentir dans les années d'après-guerre : Camus et surtout, Sartre restent les références de la génération dea années 1950.[1]

Cả hai đã ảnh hưởng trên giới trẻ và trí thức Pháp..mặc dầu A.Camus luôn luôn từ chối cái nhãn hiệu Hiện Sinh mà người ta đã gán cho ông

Sartre, người trí thức hàng đầu

Bernard-Henry Lévy, đã gọi thế kỷ 20 là thế kỷ của Sartre với nhan đề Le siècle de Sartre, Enquête philosophique..[2] Đó là một thời của hy vọng và những ảo tưởng mà Sartre là khuôn mặt nổi bật. Và làm thế nào, con người ấy, với cái hay nhất cũng như cái dở đã ảnh hưởng và chi phối tư tưởng thời đại của ông ?

___________________________________
[1] Trích trong Littérature Francaise. XXè siècle. Trang 204-205. nxb Classique Larousse.
[2] Trích Bernard-Henri Lévy trong Le siècle de Sartre., nxb Grasset. Paris

Annie Cohen-Solal với cuốn : Sartre 1905-1980 viết về: Les années de Sartre[3] . Một con người đã sáng tạo ra vô số thuật ngữ tạo thành thế giới ngữ của Sartre, vừa phong phú, vừa súc tích , nhưng cũng không dễ để nắm bắt được ( insaisissable). Trong những năm tháng của Satre và trong chương mở đầu, Annie Cohen-Solal đã viết : Paris . L'existentialisme est arrivé. Paris ơi.. Triết lý Hiện sinh đã đến. Người ta gọi ông là L'homme-siècle. Người của thế kỷ.. Chẳng hiểu còn có vinh dự nào hơn thế nữa không?

Qua Sartre và Camus, những vấn đề của con người như con người - hoàn cảnh, vấn đề trách nhiệm, dấn thân, nhập cuộc, hoài nghi, phủ nhận mọi chủ nghĩa, mọi giáo điều.. Rồi vấn đề hiện hữu và hư vô, hiện sinh tại thế, hiện hữu và yếu tính..Đời phi lý, buồn chán, thừa thãi, rồi con người nổi lọan.. Bấy nhiêu ý từ được ném ra, thể hiện vào văn chương tiểu thuyết gây không biết bao tranh luận từ nhiều phía, ngộ nhận, hiểu lầm từ nhiều phía trên đất Pháp.

Cho đến 1980. Sartre chết. Nước Pháp đã tiễn đưa một nhà trí thức sáng chói cuối cùng của nước họ như trước đó đúng 100 năm, nguời ta cũng đã dành cái vinh dự đó cho Victor Hugo.

Từ 1945-1955..đó là cái thời vàng son của Sartre và A. Camus. Nhưng họ đã chẳng có ảnh hưởng gì tới sinh hoạt văn học VN. Tình hình Việt Nam lúc đó rối như mớ bòng bong. Ai còn bận tâm tới những chuyện văn chương triết lý? Đó cũng là cái khoảng thời gian trống và nghèo nàn nhất của Văn Học Việt Nam, từ trong Nam ra ngoài Bắc. Các trào lưu văn học Tiền chiến hay TLVĐ đều tắt tiếng. Tiền chiến thay giọng, đổi chiều. TLVĐ tan tác, mỗi người một nơi, một chọn lựa. Kẻ tản cư trôi dạt xuống các vùng Hà Đông, Phủ lý Nam Định vào đến Thanh Hoá, rồi sau đó quay về dinh tề. Kẻ trôi dạt sang Tầu chờ thời. Kẻ khác tham gia kháng chiến. Mỗi người tứ tán mỗi nơi..

Triết Hiện sinh ở miền Nam

Nhưng kể từ sau Hiệp định Genève với cuộc di cư từ miền Bắc của một triệu người. Sartre và Camus có cơ hội có mặt ở miền Nam và ảnh hưởng của họ cứ thế kéo dài hơn một thập niên ở miền Nam.. Cũng cần phân biệt cái ảnh hưởng của họ nằm ở phần tiểu thuyết, phần văn chương, một thứ sản phẩm văn hoá nhằm đám đông, đại chúng.. Gọi là đám đông cũng chỉ có nghĩa gạn lọc ở các thành phần thanh niên, trí thức thành thị. Cho dù ít đi nữa, thành phần trí thức thành thị cũng là mặt nổi của một xã hội. Nói tới sinh hoạt văn học, nghệ thuật là nói tới họ.

Cái phần triết lý trường ốc thì nhìn lại thấy rằng quả thực quá ít người được biết tới. Thật vậy, ở vào thời kỳ từ cuối 50 đến 70, các đại học Văn Khoa Sàigòn, Huế, Đàlạt và sau này Vạn Hạnh.. Triết lý Hiện sinh của Sartre đã không chính thức được giảng dạy. Thản hoặc có dạy đi nữa trong các chứng chỉ Siêu Hình và Lịch sử Triết Học , các giáo sư thời bấy giờ cũng chọn Nietzsche, Kierkergaard, Merleau Ponty, và nhất là Heideigger.. Cùng lắm có đá động qua loa đến G.Marcel hay E. Mounier, những triết gia hữu thần trái ngược hẳn với trào lưu Hiện sinh của J.P. Sartre. Không được giảng dạy, Sartre vẫn nổi bật trong đám các đại triết gia vừa nêu trên.

______________________________
[3] Trích Annie Cohen-Solal với tác phẩm : Sartre. 1905-1980.. 1985. nxb Gallimard

Xét về mặt tài liệu nghiên cứu thì ngay như các đại học Huế, Sàigòn là những đại học Quốc Gia cũng không có điều kiện cung cấp đầy đủ tài liệu cho Sinh Viên xử dụng. Chỉ riêng có Viện Đại học Đàlạt, một đại học bán công mà thành phần ban Giảng huấn hầu hết là người ngoại quốc – các cha dòng tên -. Có thể nói là một hình thức Sinh viên du học tại chỗ. Nơi đây, có hơn 5000 ngàn sách đủ loại về văn chương và triết học bằng tiếng Pháp. Nhưng vì Sartre không có trong học trình, tôi không dám chắc rằng đã có bao nhiêu sinh viên đã có đủ điều kiện để miệt mài hết cuốn L'être et le Néant hay Critique de la raison dialectique? Cái sự không dám chắc đó, tôi đặt ngay cả vào bản thân thành phần Giáo sư trong ban giảng huấn nữa? Thật khó mà biết được có bao nhiêu người? Vì thế cái Triết học Hiện sinh ở chiều sâu, ở phần căn cốt sách vở của Sartre ,số người biết rành rõi có thể đếm trên đầu ngón tay[4]. Nếu chỉ căn cứ vào tác phẩm viết về triết thuyết đó và về số bài viết trên dưới 100 bài trên các báo trong suốt hơn 10 năm . Thật khó để nói ai có đủ chuyên sâu nghiên cứu về Triết Hiện Sinh của Sartre. Sau này có Trần Thái Đỉnh viết cuốn Triết học Hiện sinh tương đối gọn ghẽ, dễ hiểu, hệ thống và mạch lạc. Cuốn sách này đã đóng góp nhiều trong việc phổ biến triết Hiện Sinh trong giới sinh viên.

Nhưng những âm vang của những ngữ từ trong triết lý này nhưHư vô, Hữu thể, Tồn thể, vô thể, những xao xuyến siêu hình, dấn thân, nhập cuộc, trách nhiệm, người trong cái toàn thể, người trong hoàn cảnh, tha nhân, đời phi lý, con người phản kháng là những ngữ từ quyến rũ đến độ làm say mê giới trí thức trẻ, buộc họ phải suy nghĩ.. Nó quyến rũ như một thứ ma dược, lôi cuốn giới trẻ, sinh viên, trí thức. Những cuốn tiểu thuyết của họ, nhất là của A.Camus đặt tâm thức giới trẻ vào những suy nghĩ miên man về ý nghĩa cuộc đời, phi lý rồi đến phản kháng, đặt những nghi vấn về tất cả mọi vấn đề, vấn đề chính tự thân và của người khác mà thật sự đến cuối cùng rơi vào sự trống rỗng không lời giải đáp. Đến có thể nói, tâm trạng thanh niên trí thức lúc bấy giờ là thử tìm hiểu xem cuộc đời có đáng sống hay không đáng sống? Một câu hỏi căn cơ và triệt để mà đáng lý ra chẳng nên đặt ra cho một người trẻ tuổi sắp sửa bước vào đời. Cái để lại trong tâm thức người trẻ, sau khi nghi vấn, tra hỏi về đủ mọi vấn đề là cái tâm trạng trống rỗng, vô nghĩa như người khách lạ. Và có lẽ đó là điều ảnh hường lớn nhất mà triết lý này để lại.

______________________________
[4] Một số dữ kiện về tên các bài viết, về con số đã được trích dẫn ra từ bài viết công phu : Hiện sinh ở miền Nam 1955-1975, của Nguyễn văn Trung từ trang 346 đến 390, trong bộ sách : Nhìn lại những chặng đường đã qua 1955-1995. nxb Nam Sơn. Montréal 2000.

Cứ giả dụ rằng, nếu J.P. Sartre chỉ là một triết gia thuần túy và không bao giờ là nhà văn.. Cứ giả dụ rằng A. Camus là một nhà văn không mang trọng trách rao truyền một tư tưởng triết lý. Nếu họ không có chức năng đó, hoặc họ chỉ đảm nhiệm một vai trò, một chức năng nhất định như các triết gia khác như Nietzsche, Heidegger, Kierkergaard, Merleau Ponty. Triết lý hiện sinh chắc chắn đã không gây ồn ào, náo nhiệt như thế. Cái ồn ào với vô số thuật ngữ triết học mới và lạ lẫm mà tôi muốn nói ở đây là nó đã nảy sinh nhiều sản phẩm có thể là từ Sartre mà ra.

Cái Triết lý Hiện sinh ấy là bằng chứng của vô số những nhận định ngộ nhận, hiểu lầm và truy chụp, đẻ ra những đứa con hoang ngay tại Pháp mà chính J.P Sartre cũng chẳng bao giờ có thể nhìn thấy hết được. Bởi vì nó đã trở thành một sản phẩm xã hội và bất cứ một hiện tượng xã hội nào cũng có thể bị đưa lên dàn phóng để tra xét và nguyền rủa.

Sản phẩm Con Hoang của Sartre.

Cái triết lý Hiện sinh ấy qua F.Sagan đã trở thành sản phẩm tiêu thụ xã hội có tính cách thời thượng. Cứ giả sử có Sartre và Camus, cứ giả sử có những tiểu thuyết nổi tiếng của Camus mà thiếu Sagan. .Sinh hoạt văn học ở Việt Nam đã hẳn là khác.. Nay sản phẩm của đứa con hoang đó được du nhập vào Việt Nam và đã được đón tiếp ồn ào ở thành thị.

Từ một kiểu ăn mặc, đi đứng, kiểu lái xe, ngồi lên xe. Rồi âm nhạc, rồi điện ảnh với "nouvelle vague", với James Dean. Sagan một bên. James Dean một bên. Hai đứa con hoang của Sartre? Nó đã tạo ra một lối sống, một lối nghĩ, ngay cả lối làm tình đến cả lối chết nữa..Tại miền Nam, thi ca tiểu thuyết, báo chí, người ta cũng thấy bóng dáng của thứ triết lý này ẩn hiện.. Đến độ, người ta thấy rằng từ Mai Thảo đến Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền đều là những kẻ truyền thừa của thứ triết lý ấy. Khi mà Quách Thoại chẳng may mệnh yểu, Mai Thảo nói tới sự tự do chọn lựa cái chết ấy, tự nhiên bắt mọi người phải liên hệ tới sự tự do tuyệt đối của triết lý Hiện Sinh. Những hiện tượng hiện sinh thì có rất nhiều, ngay tờ Sáng Tạo, mang tiếng là cửa ngõ đi vào của Triết lý hiện sinh từ đầu tới cuối chỉ có năm bài viết về Hiện sinh trong khi tờ Đại Học ở Huế có 21 bài. Bách Khoa có 24 bài.

Và cứ như thế, một số nhà văn nữ thập niên 60, như Nguyễn thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn thị Thụy Vủ và các nhà văn Chu Tử, Nguyễn đình Toàn v.v .. ít nhiều cho thấy bóng dáng của Sagan hiện diện trong truyện của họ? Bảo rằng bắt chước thì không dám.. Sau này có nhiều người nói tới thứ triết lý thời thượng, theo đuôi hay làm dáng trí thức. Chuyện đó có chứ không phải là không có..

Trong giới giáo sư dạy triết thời đó, thế hệ thứ hai với những người như Đặng Phùng Quân, Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh, Trần Nhựt Tân, Trần Văn Nam.. Phải chăng họ cũng là những người mang những thông điệp của của triết lý Hiện sinh vào Việt Nam? Và kết quả họ đã đạt được gì?

Và hầu như tất cả các luận án cao học Triết thời đó đều đề cập đến các Triết gia Hiện sinh. Nhưng cũng đặc biệt không thấy một luận án Triết nào của những người trong số họ đề cập đến Triết Hiện Sinh của Sartre? Làm sao cắt nghĩa được điều này?

Sau đây là một số luận án :
- Mối liên hệ người với người trong triết học G. Marcel. Nguyễn văn Phiên. L'existence d'autrui et la fidélié dans l'oeuvre de G. Marcel.Đặng Phùng Quân. Từ Hiện tượng luận Husserl đến Hiện tượng luận Heidegger. Trần công Tiến. Vấn đề thân xác trong triết học Merleau Ponty. Nguyễn Học Sĩ.. v .v

Huỳnh Phan Anh viết Văn chương và kinh nghiệm hư vô. Nguyễn quốc Trụ viết Văn chương và sự khả hữu. Đã có bao nhiêu độc giả đã đọc họ và đã có bao nhiêu người hiểu họ? Tôi chỉ có thể hỏi mà không đủ tư cách để trả lời thay cho những người khác. Sự trình bầy khó hiểu và đôi khi khúc mắc đến tối tăm lại là dấu tỏ một sự hiểu biết ngoại hạng và một sự ưu vượt tài trí hơn người..Họ đẩy người đọc vào tâm trạng cảm thấy một mặc cảm thấp kém của mình khi đọc những bài viết như thế. Triết lý thực sự trở thành một món quà mà Thượng Đế dành cho một số người đã được lựa chọn. Không ai dám truy vấn chính mình đến ngọn nguồn về trình độ đọc sách và truy vấn người viết về khả năng hiểu biết và diễn đạt? Người đọc không lẽ mang cái dốt của mình làm thước đo người khác? Người viết tự đồng hóa mình vào sự hiểu biết mà không cần biết người đọc hiểu được bao nhiêu? Nếu người đọc không hiểu thì phần lỗi về họ, Phải chăng họ đúng là những kẻ truyền thừa của Sartre và cái triết lý ấy? Ngay từ thời đó, có nhiều người đã nói tới một hình thái theo đuôi, bắt chước, thời thượng? Phê phán như thế có oan cho họ không? Với thiện chí của người trẻ, người trí thức, cố gắng đeo đuổi nghiên cứu triết lý Hiện sinh, họ bị xếp ngang hàng với những cậu choai choai Hippie? Thế nào là thời thượng, thế nào là không thời thượng? Thế nào là theo đuôi, thế nào là học hỏi, cầu tiến? Phải nhìn nhận rằng, đã rơi vào thế giới Triết là rơi vào sự say mê, băn khoăn, tra hỏi không ngừng.. Đó là nét đẹp của nhưng người dạy Triết. Vấn đề gì cũng có thể trở thành vấn đề tra vấn, ngay cả những cái không có vấn đề, từ đó truy lùng đến nguyên ủy, ngọn nguồn.

Trong nghiên cứu văn chương, người ta cũng đọc thấy những đế tài như: Chinh phụ ngâm với tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đầy. Nguyễn công Trứ với cảm thức Hư vô. Tản Đà với khát vọng vĩnh Cửu. Thời gian Hiện Sinh trong Đọan Trường Tân Thanh. Tự nhiên mà Chinh phụ ngâm, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà trở thành những triết gia bất đắc dĩ. Điều mà trước đây không ai đã có cơ hội truy cứu xem Tản Đà chỉ khát rượu, khát bạn, khát làm thơ ngông nay có thêm khát vọng vĩnh cửu? Cái hư vô của Nguyễn Công Trứ là cái gì? Một cảm nghiệm siêu hình giữa hữu hạn và vô hạn? Giữa có và không? Giữa Hữu Thể và Tuyệt đối thể? Hay chỉ là một cảm giác chênh vênh bên bờ, một chân gác bên này của Hữu Thể, chân kia chạm phải Hư Vô? Hay chỉ là ý thức cái yếu đuối của cuộc nhân sinh, của tuổi xế chiều? Hay là một một xao xuyến trước cái mong manh của thời gian với cái Vĩnh Hằng? Có rất nhiều nhà văn ở tuổi già mơ hồ cảm được cõi người và cõi bên kia, cái hiện hữu khô trồi và cái mù khơi xa vời vợi ? Từ một lúc nào đó nhận thấy hình hài ta là cát bụi, ta là có đấy rồi không đấy, là thực thể đang đối đầu với cái vô minh hay cõi chân không? Không biết bao nhiêu ngữ từ và cách thế diễn đạt về vấn đề này. Có rất nhiều điều có thể là cả hai phía, Đông và Tây cùng một một cảm thức, nhưng ngôn từ diễn đạt làm ta có cảm tưởng họ khác biệt, xa nhau. Phải chăng vì thế, nay nó trở thành một khám phá trong văn học? Từ cảm thức người thiếu phụ ngồi bên song cửa chờ đợi trong sự bất lực trở thành người đàn bà mang cảm thức lưu đầy.. Tâm trạng đó có thực chứng được không? Có cái gì vượt quá nhận thức của người đàn bà? Có cái gì là gán ghép, ép uổng không? Hiện thực văn chương và phẩm bình văn chương có một chuẩn độ chung nào cho phép đi quá cái dự phóng của chính tác giả? Cứ như thế, các tác phẩm văn chương ở mức độ bình thường của người dân giả bỗng chốc mang vóc dáng người khổng lồ, được nâng cấp thành những tác phẩm lớn với tầm nhận thức và suy tưởng vượt xa tầm nhìn của chính tác giả. Phải chăng, phê bình trở thành một sự sáng tạo lần thứ hai ? Lại còn vấn đề phóng chiếu cái quan điểm, cái nhìn hiện sinh vào nhân vật truyện như thể triết thuyết Hiện Sinh đã có từ rất lâu trong Văn Học Việt Nam? Cách này cách khác , người ta có thể tìm thấy bóng dáng cái triết lý ấy trong Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Ôn Như Hầu và ngay cả Nguyễn Du nữa. Nếu cứ như thế thì tại sao người ta lại không thể tìm thấy triết lý đó nơi câu chuyện Thằng Cuội. Ai cấm chú Cuội một lúc nào đó tự hỏi tại sao mình lại ngồi gốc cây đa? Mà ngồi làm gì mới được chứ? Có phi lý không? Đến một lúc nào đó, Cuội sẽ đặt câu hỏi căn cơ và rốt ráo, câu hỏi cuối cùng của mọi câu hỏi là cuộc đời có đáng chán hay không đáng chán. Nếu cứ ngồi mãi ở gốc cây đa như thế này? Để chờ? Chờ cái gì mới được? Chờ bao lâu?.

Những bài viết này phóng chiếu cái nhìn Hiện sinh vào những cảnh đời thường đến làm chúng ta ngạc nhiên tự hỏi đó chỉ là sản phẩm từ J.P Sartre không ?

Đến Phật giáo, Lão giáo cũng nhập cuộc. Người ta đọc được khá nhiểu bài dùng kính chiếu Hiện sinh vào Phật Lão. Có những bài như Vào đạo Phật qua lối ngõ của J.P. Sartre hay : Từ lăng kính Nho, Phật, Lão đến lăng kính Hiện Tượng Luận. Phật Giáo và chủ nghĩa Hiện Sinh.. Từ Biện chứng Hiện sinh đến Biện chứng tương quan ( Tuệ Sĩ ). Vấn đề giải thoát con người trong Phật Giáo và tư tưởng J.P. Sartre. Heidegger, Jaspers và bối cảnh Phật Lão Trang. Tự Do hay Đau Khổ. Triết lý Ấn Độ dưới mắt các triết gia Hiện sinh. Tác phẩm La nausée dưới con mắt Phật Tử.

Với rất nhiều bài viết như thế, người ta nghĩ một cách nghiêm chỉnh phải chăng có một cái điểm Oméga, điểm hội tụ nào giữa Triết lý Hiện sinh và triết lý Phật, Lão Trang.. Những quan niệm về thời gian, về tự do, về đau khổ, về ý nghĩa cuộc đời có cái gì có thể chia sẻ được, so sánh được hoặc trùng hợp giữa hai triết thuyết? Những người viết về những vấn đề này đã hẳn có suy nghĩ cẩn trọng và đã tìm ra được yếu tính chung của hai phía. Điều này, nó nhắc nhở đến cái thời trục (Période axiale) mà triết gia Đức Karl Jaspers đã nói đến không? [5]

________________________
[5] Trích lại trong Karl Jaspers : The Great Philosophers ( Những Đại Triết Gia). Nguyễn Hữu Liêm điểm. Trong tập san Triết, từ trang 235-244 tập 1

Cái thời điểm mà từ muôn phương, không hẹn mà gặp bốn Đại Triết Gia là Socrate, Buddha, Confucius và jesus. Cả bốn người trên, trừ Khổng Tử, ba người còn lại là đại tư tưởng gia mà không viết một chữ nào.. Chỉ có Jésus viết ngoằng nghèo mấy chữ trên cát bằng ngón tay mấy chữ rồi xóa đi. Không ai thắc mắc hỏi xem, đó là thứ văn tự gì? Nhưng từ nơi họ mà tư tuởng được rao truyền qua các đồ đệ và các thế hệ. Socrate đã không viết, chỉ để lại những mẩu đối luận ( dialogues) về các vấn đề tri thức. Ông sống bằng ngôn từ và chết cũng vì ngôn từ của mình. Chủ thuyết của Buddha là sự cứu rỗi bằngtrí tuệ ( redemption by insight ). Khổng tử nhìn nơi con người với chữ nhân và cái đạo làm người xoay quanh cái chữ nhân đó với những đối đãi, truyền đạt và thông hiểu. Jesus đi đến nhân loại bằng một thông điệp về sự Cứu Rỗi với những lời cảnh giáo về một thế giới mà "mặt trời sẽ tối đi, mặt trăng sẽ không có ánh sáng và sao trên trời sẽ rơi xuống"..

Nói chung, họ đều kêu gọi nhân loại về một chuyển hoá chính mình. Socrate kêu gọi chuyển hóa về suy tưởng. Budha kêu gọi thiền định. Confucius nói tới giáo hoá và Jésus rao truyền vào niềm tin vào Thượng Đế.

Cuối cùng thì cả bốn đều đối diện với khổ đau và cái chết. Và mỗi cái chết của họ lại gửi đến nhân loại một sứ điệp khác nhau.. Cái thời trục là thời kỳ tươi dẹp nhất của tư tưỏng nhân loại, gửi đến một niềm tin, một sứ điệp, một lời giải đáp và từ đó đến nay, cái thời trục đó vẫn là cái thời để tư tưởng nhân loại phải quy chiếu vào.

Một dạo nét sơ thảo lịch sử tư tưởng con người cho thấy có thể có có những tiếp cận, những trao đổi giữa các triết thuyết. Sự tiếp cận của Phật Giáo đối với triết thuyết Hiện Sinh như bước thăm dò đã đi đến đâu? Đã đem lại được giải pháp hay tín hiệu gì? Không ai trả lời được câu hỏi đó. Chỉ biết sau này, ít còn ai đặt mối quan hệ giữa triết Hiện Sinh và Triết lý Phật giáo.

Đến công giáo thì lại khác hẳn. Tại Pháp, có các triết gia hửu thần như Mounier, G. Marcel, thuộc cánh hữu, lập ra một trường phái Hiện sinh Hữu Thần với tờ Esprit làm cơ sở hoạt động.. Thay vì chê trách, phê phán cánh tả hay triết lý hiện sinh vô thần, họ đề ra đường lối Hiện hữu với tha nhân, tương giao con người, huyền niệm, tình yêu và sự trung thành. Nhưng tiếng nói của họ không đủ mạnh và thuyế phục. Tại Việt Nam, công giáo cũng đi theo đường lối đó .Chủ nghĩa nhân vị ra đời mà mục đích là cho những mưu cầu chính trị không nhằm đối đầu với chủ nghĩa Hiện sinh vô thần mà để đối đầu với chủ nghĩa Cộng Sản miền Bắc. Còn đối với chủ nghĩa Hiện sinh ở trong miền Nam, họ phê phán , công kích thậm tệ nhóm Hiện sinh kiểu Sartre


Công giáo bảo thủ nhập cuộc bằng cách: hạ bệ và nguyền rủa thứ triết lý này. Đại loại như Chúng tôi tố cáo mầm phản loạn trong Văn Nghệ. Lại một trạng thái cuồng lọan phơi bầy trong tiểu thuyết. Chúng tôi cực lực phản đối cái thuyết dã thú hóa ra con người của ông Thạch Chương . Tiểu thuyết Nguyễn thị Hoàng, sự buôn lậu tư tưởng trong một con bịnh dân thành phố

Đấy là những bài viết nhằm phê phán triết học ấy ở bình diện luân lý. Họ không nhằm phê phán triết Hiện Sinh của Sartre, họ chỉ nhằm phê phán những sản phẩm xã hội mà họ nghi ngờ là từ Sartre mà ra.. Những sản phẩm được coi là những đứa con hoang của Sartre..Cho dù theo hay không theo, phải chăng cũng là sản phẩm của Sartre?

Hết văn chương, tôn giáo lại thêm chính trị nhập cuộc. Những người anh em theo phía bên kia nay chửi thứ triết ly Hiện sinh với ẩn ý chính trị với Lữ Phương, Khải Triều.. Chẳng hạn, Đọc các tác phẩm của Chu Tử. Hiện tượng dâm ô, đồi trụy trong Văn học hiện nay. Từ Văn Hóa cải lương đến văn chương đồi trụy và thứ cần sa của ngoại bang. Họ phê phán những sản phẩm xã hội đồi trụy cho những mưu cầu chính trị. Đã hẳn những bài viết như thế thì không cần đòi hỏi bất cứ một chút kiến thức nào về chủ nghĩa Hiện sinh cả.

Tưởng rằng những đứa con hoang của J.P Sartre sau 30-04-1975 đã tiêu tan sau cuộc cách mạng ấy. Không Sartre vẫn đội mồ sống dậy. Sách vở, văn chương, nhà văn miền Nam có thể bị dẹp bỏ và cấm lưu hành. Nhưng tác phẩm của triết Hiện Sinh một thời và bị coi là đồi trụy lại được dịch và tái bản nhiều lần.

Theo dịch giả nổi tiếng thời 60-70, Trần Thiện Đạo cho thấy cuốn L'étranger của Camus đã có 3 dịch giả dịch rồi. Chuyên gia dịch hằng đầu của miền Bắc , ông Dương Tường lại cất công dịch một lần thứ tư, 1995. Rồi Nguyễn văn Dân là người thứ 5 lại mới dịch lại vào năm 2002. Dịch lại như thế vì tác giả quá nổi tiếng? Vì tác phẩm quá hay? Vì người đọc ham chuộng? Vì người dịch trước dịch dở, tồi tệ? Vì có người dịch rồi thì dịch sau đỡ tốn công sức? Camus có bao nhiêu tác phẩm, lại cứ nhè cuốn đó mà dịch? Cái hiện tượng dịch lại sách đã dịch cũng thấy được ở cuốn Bác Sĩ Zivago, dịch lần thứ ba. Hay hơn thế nữa, lấy sách dịch in lại mà không cần đề tên dịch giả như trường hợp của Phùng Khánh?

Sự tụt hậu về sinh hoạt "dịch" ở Việt Nam hiện nay có đến 50 năm và một thế kỷ. Sách mới không dịch, cứ nhè sách cũ, sách đã dịch rồi dịch lại như một nhu cầu đọc giải trí, thay vì nhu cầu nghiên cứu. Một hiện tượng không hiểu được. Dịch lại những cuốn như vừa kể mà trước đây được xếp vào loại sách phản động, không phản động thì đồi trụy?

Những sản phẩm của triết Hiện Sinh vẫn tiếp tục hoành hành trên thị trường chữ nghĩa ở miền Nam?

Nhưng người vực Sartre và Camus dạy là giáo sư tiến sĩ Trần trọng Đăng Đàn. Đứa con hoang có thể là cuối cùng của Sartre? Đối với Văn học miền Nam nói chung, ông giáo sư là Kẻ chém treo ngành, chém, chặt, nhổ, bứng từ dây mơ rễ mái cái văn học, văn hoá đồi trụy ấy. Trong cuốn sách dầy hơn ngàn trang, cuốn Văn Hoá Văn Nghệ, Nam Việt Nam, 1954-1975 mà tôi phải bỏ ra 50 đô la để bê nó về. Sót ruột lắm. Gọi là nghiên cứu của một tiến sĩ giáo sư mà từ trang đầu đến trang cuối chỉ thấy chửi là chửi. Chửi bài bản, nhìn đâu cũng thấy đồi trụy, đĩ điếm, thấy nọc độc của chủ nghĩa thực dân. Chửi các nhà văn, nhà văn hoá miền Nam kể như không trừ một ai. Chửi tất cá các sách dịch bất kể tác giả, bất kể loại, trong đó có Camus. Sagan. Giáo sư đi theo vết chân của Lữ Phương, Khải Triều trước đây hơn 30 năm?


Thực ra mà nói, thời trước 75, cái triết thuyết đó chỉ quanh quẩn chung quang Sàigòn, cùng lắm nhảy tọt ra Huế. Ra khỏi khuôn viên đại học Văn Khoa đường Nguyễn Trung Trực, ra khỏi sàigòn, người dân miền Nam vẫn sống hiền hòa, vẫn chịu đựng chiến tranh, không có đến một ly ông cụ nào là Triết nọ, triết kia. Thần tượng của họ là Bà Tùng Long, cùng lắm là Lê Xuyên, là Bạch Tuyết, Hùng Cường, là Kim Dung. Đổ oan cho toàn miền Nam cái tiếng Văn Hoá đồi trụy, nọc độc chế độ thực dân mới thật là hồ đồ.

Nếu cho rằng cái văn chương ấy, cái nọc độc ấy, cái âm mưu ấy làm ung thối miền Nam đến toàn là đĩ điếm, đồi trụy thì phải cắt nghĩa thế nào về hiện trạng xã hội Việt Nam hiện giờ? Nó là do cái nọc độc nào, cái âm mưu nào đã đưa xã hội đất nước con người đến một tình trạng sa đọa được hợp lý hóa, được hợp pháp hóa và nhất là được bình thường hoá. Cái sa đọa đạo đức, xã hội trầm kha nhất của đất nước hiện nay là bình thường hoá sự sa đọa, mất ý thức về sa đọa. Chữ mà người ta dùng để chỉ về điều này được gọi là thời mạt. Phải chăng dây là cái thời mạt của Sartre còn sót lại ?
Nguyễn văn Lục ; 8-22-04