Thơ & Truyện
Nguyễn Văn Lục
>
cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
--- hiện định cư tại Montréal;Canada
|
Sông nước với con người
Nguyễn văn Lục
Nước, lửa, không khí vốn là những thứ thiết thân với con người. Trong ba thứ đó, không khí không tác dụng trên đời
sống văn hoá và người ta chỉ biết đến nó khi rơi vào tình trạng nguy kịch. Biết dùng lửa là mở đầu cho giai đoạn từ
hoang dã sang văn minh, tiến bộ. Và từ đó mở đầu cho không biết bao nhiêu thần thoại về lửa. Lịch sử con người
từ nay lấy lửa làm tiêu chí cho sức mạnh của vũ lực với thuốc súng, kim địa bàn và máy in.
Đến như nước thật ra chỉ là một khối chất lỏng. Vậy mà bằng cách nào, sự tụ hội của những giọt nước của trăm giọt,
của triệu triệu giọt đã làm nên sông , hồ, biển cả. Con người tựa vào nó mà sống, mà quần tụ. Nhỏ thì thành làng xã,
lớn thì quốc gia đến thế giới. Sông nước con người như cùng một bọc, chỗ để đến và chỗ để về.
Từ mỗi cá nhân, ai mà không có những cảm nghiệm sâu xa về thân xác khi tiếp xúc với nước.
Nước là cửa ngõ để ta tự khám phá ra chính mình, khám phá ra hiện hữu người tại thế,
tự thân của ta và phái tính của ta. Từ đó mà cắc cớ đẻ ra câu hỏi nước là đàn ông hay đàn bà?
Từ đó, thơ ca được khơi nguồn. Cũng từ đó nói đến phát tiển, tiến bộ. Sông nước con người đến
một lúc nào đó có thể gọi là có một nền văn minh dựa trên sông nước? Civilisation de l'eau?
Đã có câu hỏi đặt ra thì ắt có câu trả lời.
Người Pháp thời xưa có thói quen di chuyển bằng ngựa, tức là trên bộ. Các gia đình quý tộc thì dùng
xe có ngựa kéo với xe song mã hay tứ mã. Những buổi diễn hành của Hoàng gia Anh cho đến bây giờ
cũng vẫn dùng các xe tứ mã có rèm che, có trần thiết, có vải phủ trên mình ngựa. Đó là truyền thống là
biểu tượng nền văn minh của Âu Châu thời Trung cổ. Một nền văn minh không có nước. Từ đó, họ
đánh nhau cũng ngồi trên mình ngựa, dong ruổi cũng trên ngựa và liên lạc cũng bằng ngựa, chỉ vì một
lẽ đơn giản là họ thiếu nước.
Khi sang Việt Nam, họ cũng mang theo thói quen đó. Vào những năm 1862, người ta cũng thấy
những xe do bốn ngựa kéo ở Sàigòn mui trần mà hai bánh xe sau thường cao gần gấp đôi hai bánh xe trước .
Người ta cũng kể lại Michel de Montagne đã dong ruổi đi suốt nước Thụy Sĩ, nước Đức rồi Ý
trên mình ngựa. Vó ngựa của ông trải dài các nước Âu châu và đối với thời đó là một kỳ tích.
Hình ảnh những chàng kỵ mã là biểu tượng quen thuộc của người Pháp cũng như người Âu Châu.
Vì vậy, người Pháp sang chiếm nước ta ngạc nhiên khi thấy chúng ta di chuyển bằng thuyền.
Trong một bài viết của Louis Malleret trên tờ Indochine [1], ông ngạc nhiên khi thấy người Á Châu
di chuyển khắp nơi bằng thuyền . Đủ các loại thuyền như thuyền có mái che, thuyền có nhiều
người chèo ( Galère từ thế kỷ 17) , thuyền nan, thuyền buồm, rồi tam bản và thuyền thúng. Đặc biệt
ở Huế lại có loại thuyền rồng (galères du roi), sơn rất nhiểu mầu rực rỡ và trạm trổ đủ kiểu, như đầu
con rồng có vẩy cao, đầu ngổng lên, đằng sau thuyền cũng vậy. Chúng ta hãy đọc lại đọan viết của
Trung uý Richard thuộc đội pháo binh Hải Quân vi vào những năm ấy: * Ở Sàigòn, quang cảnh đi lại của
những loại thuyền buồm (Thời Trung Cổ ) không có gì là lạ.. Thật đến lạ mắt khi thỉnh thoảng trông
thấy những chiếc thuyền chở các quan chức đến thăm vị thống đốc. Hình như người ta tìm mọi cách
để biểu dương cái xa hoa của Đông Phương. Thật là vui mắt khi thấy các thuyền đó trang hoàng những
gậy đinh ba chạc (Tridents), những quạt bằng lông công to bản, đủ mầu sắc, những bảng hiệu[2]
Phương tiện di chuyển chính của người Âu Châu thời xưa là ngựa thì nước ta phương tiện di chuyển
chính là thuyền.
Đó là cái mốc đánh dấu hai nền văn minh, cũng là cái mốc khởi đầu của một nền văn minh dựa trên sông nước.
Đó là biểu tượng, cái dấu chỉ lằn ranh phân cách hai cách sống, hai cách suy nghĩ và làm việc của văn minh Âu Á.
Hay còn có thể so sánh bằng lối nhìn khác như Haudicourt gọi Á Châu như Việt Nam là cái nhìn thảo mộc
( La vision arborescente ) của xã hội nông nghiệp dựa trên sông nước với cái nhìn đoàn lũ ( La vision grégaire )
của xã hội chăn nuôi ở Tây Phương và Cận Đông[2]
Nước ta chỗ nào cũng là sông là nước, đất và nước đi đôi với nhau như một cặp :
Theo thói quen mà dụng ý đã là hay. Người ta nói đến Đất Nuớc tôi. Đất nước con người.
Phải chăng đó là cái may cho chúng ta, món quà Thượng Đế đã chia cho nước ta trong tổng
số 1.400 triệu kilômét khối nước trên toàn cầu mà có nhiều nơi như Éthiopie, luôn luôn bị hạn hán,
nước quý như dầu lửa. Chưa kể nước bị ô nhiễm, chỉ có một phần trăm nước trên toàn cầu được
coi là sạch. Ở Ả rập sô đi, người ta phải lọc nước biển để tưới cây mà công lọc cũng đắt chả kém giầu hỏa.
Nước sông Rhin cung cấp nước cho 30 triệu dân, được coi là nước ống cống ô nhiễm nhất Âu Châu..
______________________________
[1] Các số báo Indochine do GS Hồ Mạnh Trinh đã có nhã ý cho xử dụng. Xin thêm đôi dòng về người
chủ bút báo này. Nhà văn A. Malraux, tác giả La Condition humaine là chủ bút đầu tiên của tở báo.
Lúc 21 tuổi, vừa lấy vợ xong, hai vợ chồng sang Angkor khảo cổ. Ông đã mua lén những cổ vật chở
về Pháp. Bị khám xét, bị bắt tù 3 năm. Vợ ông về Pháp vận động xin các chữ ký của các nhà văn
A.Gide, Mauriac, Max Jacob, Aragon, Gaston Gallimard v v.. Được giảm án tù còn một năm, sau đó
ông trở lại Pháp thì biết vợ đã theo một người khác. Ông chán quay lại Đông Duơng và ra tờ Indochine.
Tờ báo mỗi kỳ lôi một hai công chức Pháp ra tố cáo tham nhũng như một cách trả thù đời.
Sau này, J. Lacouture viết hồi ký về ông cho rằng : Vào thời kỳ đó, khi viết La Condition humaine ,
ông có lấy bối cảnh bên Tầu làm nền cho cuốn chuyện nên nhiều người lầm tưởng , đối với Malraux ,
Á Châu là Tầu. Thực sự, Á Châu trước sau vẫn là những ngày đầu của ông ở Đông Dương.
[2] Comment le 1on voyageait dans L'Indochine ancienne, Louis Malleret.
[3] Chữ lấy lại trong bài Đặc tính của nền văn hóa truyền thống Việt Nam, của Phan tấn Lộc . Tập san Triết 1, trg 123.
Trong tương lai, nước sẽ là nguồn mạch chính cho sự lành mạnh và phát triền. Cho nên nói đến một
nền văn minh sông nước thì không phải là quá đáng. Sông nước con người như cùng một bọc, đâu có dòng sông
có nước, ở đó có con người.. Mảnh đất uốn cong trải dài từ Nam chí Bắc với những dòng sông như một
động mạch chính của một thân thể đã tạo ra nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tập quán, tiếng nói từng vùng.
Bài này rảo từ Bắc chí Nam , căn cứ vào các dòng sông, địa lý thiên nhiên ảnh hưởng tới con người,
địa lý nhân văn như thế nào?
Nước ta thời Pháp thuộc được gọi là bán đảo Đông Dương, tên được khai sinh bởi Conrad Malte-Brun .
Đông Dương nằm giữa hai khối dân Á Châu khổng lồ là Trung Quốc và Ấn Độ, từ đó mở đường cho hai
nền văn minh Trung hoa và Ấn Độ vào nước ta bằng những con đường khác nhau. Đất nước đó có những
dãy núi trải dài, rải rác từ Bắc vào Nam mà tầm cao không quá 1500 mét, thường vắng bóng người hay
nếu có chỉ là những sắc dân thiểu số mà người Pháp gọi bằng cái tên * Les peuples de l' Intérieur [4]
Bên cạnh những dãy núi đó là hai đồng bằng rộng lớn mà đất với nước trộn vào nhau với sông Hồng ở
ngoài Bắc và sông Cửu Long ở phía Nam. Biểu tượng bằng hai thúng thóc mà miền Trung là cái đòn gánh.
Hai vùng đồng bằng đó không chiếm toàn thể diện tích đất đai, nhưng như Pierre Gourou, tác giả cuốn
Les paysans du Delta Tonkinois, étude de géographie humaine nhận xét rất đúng : Đó là hai miền đất mầu mỡ,
nhưng cũng đầy bất trắc, rủi ro với sự có mặt đến như ám ảnh bởi nước với những kinh rạch tự nhiên hay
do người đào arroyos với ruộng lúa phì nhiêu.. Chỗ nào cũng nước là nước, lúc nhúc các thuyền đủ loại,
lúc nhúc con người với cá , tôm cua, với ruộng lúa, rau cỏ đủ loại.. Và như bà Marguerite Duras :
Vùng đất với nước như thế chỉ thật sự biến mất khi nó đổ vào nước của Đại Dương.
1.- Nền Văn Minh sông Hồng
Đất Bắc là một vùng đồng bằng với những dẫy núi đá vôi bị sói mòn bởi khí hậu nhiệt đới tạo thành
những đồng bằng với những lớp đất sét ( poljés . Đá vôi do mưa lũ sói mòn, hòa tan vào với Carbonate
de soude, tạo thành một lớp đất sét ở dưới mặt đất. Lớp đất sét này vì vậy có thể tạo ra những hang động,
những hành lang, những thung lũng khô v v..)
______________________________
[4] Cách gọi của người Pháp dựa trên
Yếu tố địa lý, vì họ gọi những rặng núi của VN là Les montagnes
de l'intérieur. Cách gọi đó đúng hơn là lối gọi là người mọi hay nguời thiểu số hoặc dân tộc ít người.
Có đôi chút khinh thị. Ít người hay nhiều người không diễn tả được sắc thái dân tộc như da mầu,
nguồn gốc v v…Trong Nam, thời ông Diệm gọi là người ở vùng cao hoặc người Thượng nghe ra còn được hơn .
Đất Bắc với núi non bao bọc, với đồng bằng sông Hồng nhìn
ra vịnh Hạ Long như chiếc cửa sổ chổ ra thiên nhiên : Rộng rãi bao la. Chỉ có nước với trời . Nhìn lên là trời,
nhìn xuống là nước. Đó là sân khấu thiên nhiên do trời đặt để. Thiên nhiên có cái kiên nhẫn đến lạ lùng.
Nó cắt , chạm trổ những ngọn núi bằng những giọt nước. Năm này qua tháng nọ, có khi kéo dài hằng
nhiều triệu năm. Chẳng hạn những động ở Carlsbad ở Nouveau-Mexique , có chỗ sâu đến 335 mét dưới mặt đất.
Phải mất 60 triệu năm mới đào xong. Hay là những ngọn đồi Guilin ở Tây Nam nước Tầu nhô ra từ
những cánh đồng giống như răng của những con rồng khổng lồ.
Vùng biển Hạ Long ngoài Bắc cũng vậy. Về hình thái chỉ là sự suy tàn của thiên nhiên do sói mòn
của biển cả còn sót lại những chỏm núi nhô lên từ mặt nước đến kỳ diệu. Con người như bị choáng
ngợp khi nhìn Hạ Long với những ảo giác mỗi khi mặt trời mọc hay khi mặt trời lặn.. Còn có chỗ nào đẹp hơn.
Có chỗ nào để so sánh nữa.
Đất Bắc về sinh thái là như thế. Đất Bắc với mầu nâu của đất sét. Chỗ nào cũng một mầu nâu.
Một thứ đất thịt, sắn được, trơn như mỡ mỗi khi trời mưa. Phải dùng ngón chân cái như hai gọng
kìm dấn vào đất thịt như điểm tựa, sau đó mới từ từ đặt cả bàn chân lên. Không làm thế là té cái đùng.
Quần áo người dân cũng uốn theo đồng hoá vào mầu đất. Chắc có phần đỡ phải giặt rũ, đỡ bẩn.
Nhưng dù thế nào đi nữa cũng thấy được sự liên hệ giữa mầu đất và mầu quần áo. Mầu nâu là mầu
của y phục miền Bắc, là sắc thái đặc biệt của nông thôn miền Bắc. ( Chẳng hiểu mầu nâu của các
sư cụ miền Bắc có mối liên quan gì đến sắc thái đặc biệt của nông thôn miền Bắc không ) Không có
mầu nào khác ngoài mầu nâu. Chiếc áo nâu sồng đã đi vào văn chương miền Bắc, đi vào tôn giáo
chẳng khác gì khi người ta nói tới mầu đen của dân quê miền Nam. Hai miền, hai mầu, hai sắc thái khác biệt.
Miền Bắc với Hànội mà thời xưa ta gọi là Kẻ Chợ, nơi mà mùa xuân năm ấy, Lý công Uẩn cùng với đại sư
Vạn Hạnh, vị cố vấn của vua đã tự tay viết chiếu dời đô, chọn thành Đại La Hà nội làm đô thành của nước ta,
chọn thành * Đại La như một trung tâm bờ cõi đất nước, ở cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn
phương Đông,
Tây, Nam, Bắc.. tiện hình thể núi sông sau trước. Ở địa thế rộng mà bằng phẳng, dân cư
không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú tốt tươi.. Thật là chỗ hội họp của bốn phương,
là nơi đô thành bậc nhất của Đế Vương…Bệ hạ vì thiên hạ lập kế lâu dài, trên cho nghiệp đế được
thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giầu có, điều lợi như thế ai dám không theo
* ( Đại Việt sử ký toàn thư ).
Bài chiếu dời đô ở thế kỷ thứ 11 nay nghe như còn vang vọng đâu đây. Cả cái nền văn minh sông Hồng
được dựng lên , được hình thành và phát triền cho đến nay dựa trên cái bài chiếu khôn ngoan, với cái nhìn
xa trông rộng của Lý Công Uẩn và vị cố vấn Đại sư Vạn Hạnh. Một quyết dịnh khôn ngoan , dựa trên cái
thế sông núi đã tạo dần ra cái cơ ngơi của nền Văn Minh sông Hồng. Thản hoặc không có quyết định đó thì
lịch sử miền đồng bằng sông Hồng đã hẳn là khác?
Thủ đô Hànội nằm gối đầu trên bờ đê sông Hồng, giắt ngang bằng một giải yếm là cầu Paul Doumer.
Sông đó, cầu đó, biểu tượng cho sức mạnh của người Pháp.Thời đó, người ta không khỏi thở
dài thán phục : Les Francais font tout ce qu'ils veulent ( Người Pháp làm được bất cứ cái gì họ muốn ).
Ai cũng nghĩ rằng, thật vô vọng để xây một cây cầu như vậy. Dòng sông Hồng, đúng như Pierre Gourou
nhận xét ở trên : Đó là dòng nước đầy bất trắc và rủi ro. Nhưng nói như Gourou còn có vẻ văn chương quá.
Thực tế, lòng sông Hồng về mùa khô, nước cạn, có nơi bề ngang chỉ còn 5,6 thước tây. Nhưng đến mùa
nước lũ, khoảng tháng bảy trở đi, nước dâng cao ngấp nghé bờ đê, diện tích lòng sông nay là 1980 thước.
Từ 5 thước đến gần 2000 thước.. Dòng sông hiền lành bỗng chốc trở thành hung hãn, hoang dữ.
Chỉ tưởng tượng ra thôi cũng thấy đáng sợ rồi. Đứng trên bờ đê mùa lũ, nhìn nước chảy phăng phăng ,
cuốn theo bất cứ cái gì : đất phù sa mầu đỏ gạch như hàng nghìn chiếc xe tải chở đất, cuốn theo nó nào
cành cây, củi khô, củi mục, rác rưởi, bè lục bình và nếu cần cả xác người trôi sông nữa vào thời Việt Minh
trước 1945. Nước sông mầu đỏ ngầu như đang say máu, phăng phăng như chạy giặc.[5]
Vậy mà P. Doumer đã khắc phục được tất cả, hoàn thành cây cầu sau 4 năm. Công của ông không nhỏ..
__________________________
[5] Thật vậy, Lòng sông Hồng Hà có thể ăn, ngoạm với một sự nhanh chóng đến lạ lùng. Thời xa xưa,
lòng sông đã sói mòn, sơi tuốt một phần tỉnh Hưng Yên và Sơn Tây. Cộng chung là hơn 5 cây số so với
dòng sông cũ.Paul Doumer bất chấp mọi chướng ngại thiên nhiên, bất chấp mọi lời can gián,. bất chấp
dư luận phản đối , ông xây cầu xong trong vòng 4 năm, chính xác hơn phải nói là ba năm bảy tháng.
Đặt viên đá đầu tiên vào ngày 12-9-1898 có đủ quan chức Tây , ta. : Tướng Bichot, Beaumont. Đại diện
xứ Bắc Kỳ Ourès, toàn quyền Annam ông Boulloche. Phía Việt Nam có các ông Nguyễn trọng Hiệp,
Nguyễn Thân và Tổng đốc Trần bá Lộc.. Về Kỹ thuật, cây cầu gồm 20 trụ, mỗi trụ dài 44 mét,
trong đó 30 mét chôn dưới lòng sông. Cầu dài 1682 mét.. Trị giá xây cầu là 6 triệu 200 ngàn
phật lăng. Chẳng biết tính ra tiền bây giờ là bao nhiêu. Có khoảng 3000 nghìn nhân công.
( Một chi tiết nhỏ, thoạt đầu thuê nhân công người Tầu, nhưng sau thấy người Việt khéo léo,
chịu khó hơn, người Pháp dần thay thế bằng người Việt Nam. Tài khéo của người mình đã đuợc
nhìn nhận từ thời Pháp vậy,) Phía người Pháp khoảng 40 người là giám đốc, kỹ sư. Dư luận
sau này cho rằng có nhiều tai nạn chết người Dư luận như vậy là không đúng. Chỉ có tai nạn
thường thôi, một điều không thể tránh đuợc ở một công trường như vậy. Lúc khánh thành, vào
lúc 8 giờ 30 sáng, xe lửa rời khỏi ga Hàng cỏ tiến về phía cây cầu mới xây với viên Thống đốc.
Phía Việt Nam dĩ nhiên có vua với một bà Hoàng Hậu chính thức và 6 bà nhỏ đại diện cho khoảng
gần 300 bà khác
..Đã hơn trăm năm , cây câu vẫn còn đó. Từ nay, Hà nội được nối liền với Hải Phòng..
Vinh dự cho Doumer, vì cây cầu được mang tên ông.. Nhưng nhiều lần, ông đã đùa giỡn nói :
từ hồi cây cầu mang tên ông, ông bị người ta chửi đù mẹ tối ngày.
Phải nhìn nhận rằng, dưới thời Paul Doumer, thành phố Hànội đã đổi mình .Cây cầu Paul Doumer
đã mở đường cho Hà nội bước vào thế giới văn minh.[6]
Cầu sông Hồng với lưu lượng nước thay đổi nhanh chóng, nhiều ghềnh thác từ thượng nguồn đổ về
nên không tiện cho việc giao thông đường thuỷ. Chỉ có thể di chuyển từng khúc sông một. Chỉ
cần đọc lại Anh Phải Sống của Khái Hưng có thể hình dung ra dòng sông này như thế nào.
Hai bờ đê sông, có những khúc, người dân đã biết dựng nhà trên bè nổi bồng bềnh lên xuống tuỳ
theo con nước. Những căn nhà nổi đó là nếp sống đặc biệt của một thiểu số dân miền Bắc.
Thật là kỳ diệu. Một thứ Population flottante, dịch văn chương là sống bồng bềnh trên sông nước.
Nhưng chữ đắt nhất, Cách gọi nguyên uỷ nhất là nếp sống Hạ Bạc. Một nếp sống văn hoá mà tất cả
dựa vào nước, vì nước đến cái độ ăn, ngủ, đụ , ỉa, làm ăn, sinh sống đều ở trên sông
Ngoài Bắc, sông ít, nhưng ao hồ thì nhiều. Hà nội có đến bảy hồ lớn nhỏ. Nhưng vì thiếu đường sông,
không có kinh rạch, không có kênh thiên nhiên hoặc kênh đào như miền Nam, Đồng bằng sông Hồng
thiếu hẳn mạch sống, thiếu năng động, như người bị bó cẳng. Văn minh sông Hồng bị kìm giữ lại chung
quanh ao hồ. Người dân ở đâu ở đấy, ít có sự di chuyển. Có người cả đời chưa ra đến tỉnh.
Đơn vị làng : Một xã hội đặc thù của văn hoá miền Bắc.
Làng xóm ở đất Bắc là một định chế xã hội đặc thù của miền Bắc. Cái mà ngay từ thời Mác
đã gọi làng là phương cách sản xuất Á Châu, khác hẳn với phương cách Âu Châu với xã hội chăn nuôi,
với từng miền, từng vùng. Điều nhận xét đó cũng không sai cho lắm. Bởi vì làng là một đơn vị kinh tế tự lập
về mọi mặt từ sản xuất đến tiêu dùng.
Về địa lý, mỗi làng mỗi xã có luỹ tre bao bọc, có cổng làng xây kiên cố đóng kín vào buổi tối không ai ra
vào được, lại có những con đường độc đạo dẫn vào làng phân chia địa lý rạch ròi. Đầu làng thường trồng
cây đa ở cổng làng như thể một biểu tượng của làng quê đất Bắc qua câu hát thông tục : Làng tôi có
cây đa cao ngất từng xanh .Trong mỗi nhà cũng có rào dậu, cổng ngõ cửa đóng then gài.
______________________________
[6] P.Doumer xuất thân cử nhân khoa học, giáo sư Toán ở Mende,
rồi Laon.Ông rời bỏ chân giáo sư đại học , ra làm báo rồi bộ trưỏng tài chánh.
Năm sau, ông được cử sang Đông Dương mà nền tài chính ở Bắc Kỳ đang bị thiếu hụt ,
thâm thủng.. Ông kiểm soát thuế lập lại quân bình tài chánh. Trong thời hạn 5 năm,
ông thiết lập trường Pháp Quốc Viễn đông, trường thuốc Hànội, Viện Pasteur Nhatrang,
Viện vi trùng học Sàigòn và Hànội ,đài khí tượng Phú Liên và nhất là Công trình xây cầu Doumer,
công thiết lập đường xe lửa nối liến Hà nội Hải Phòng, mạch máu chính kinh tế của thủ đô.
Ông về Pháp và đắc cử Tổng Thống năm 1931, một năm sau, ông bị ám sát chết.
Ông cũng đã hiến dân cho nước Pháp 4 người con trai chết trong trận đại chiến.
Sau này, dọc theo con đường cái quan hay dọc theo sông Hồng và sông Đáy chạy từ Bắc xuôi Nam,
từ Hà nội xuống Phủ Lý, đi xuôi nữa qua Phát Diệm đến Nga Sơn Thanh Hóa, người ta thấy rải rác
khoảng ngót nghét gần 50 chục tháp chuông nhà thờ bao trùm lên các làng xóm. Từ đây xen kẽ với
nếp sống văn hóa cũ pha trộn đã có sự đổi khác nơi một số thôn làng. Cạnh nhà xứ là trường học và
gần đó là chỗ chôn người chết gọi là Đất Thánh. Người chết không chôn rải rác như xưa nữa mà quây
tụ lại chung quanh Thánh giá. Nhà thờ, trường học, Đất thánh là ba diển hình cấu trúc xây dựng tổ chức
làng xóm Công giáo tại miền Bắc mà đôi khi không khỏi có những va chạm , xung đột vì tính cánh cá biệt của nó..
Đơn vị làng là một định chế đặc thù có tính cách xã hội, văn hóa. Trong làng , nhiều nơi, nhất là các vùng
xuôi được tổ chức thành những Giong. Giong là những dẫy nhà doi mặt vào nhau có quy mô tổ chức.
Về mặt tôn giáo, có đình chùa thờ Bụt Thần, đền thờ Thành Hoàng được vua sắc phong như đã ghi trong
Thực lục chính biên [7]: * Nhà vua quy định nhiệm vụ của Thần Nam Hải, thờ ở cửa Thuận An, là phù hộ cho các
thuyền lương đi về an tòan, hễ năm nào có an toàn thì Thần được tế rất hậu, năm nào ít an toàn thì tế đơn sơ,
năm nào thuyền lương bị chìm nhiều thì Thần Nam Hải Long Vương không được cúng tế, phải nhịn đói chờ năm sau.*
Ngoài ra còn có miếu mão thờ thần hay vật thần. Các thần làng này có thể là bề tôi lương đống đã lập
nên nhiều công trạng, có thể là những người đã có công đức với dân làng. Nhưng không nhất thiết phải là
những nhân vật hiển linh hay có công trạng gì. Đôi khi chỉ là những người chết thiêng..Chẳng hạn một người
chết trôi sông dạt vào cống làng, một tên ăn trộm chết bất đắc kỳ tử, một cô gái rửa nỗi oan tình bằng cách
tự tử treo cổ. Điều đó cho thấy nổi bật tinh thần sống khôn chết thiêng.. Chết là thiêng liêng, người chết
trong những tình huống càng bi kịch càng trở nên sức mạnh tinh thần bảo trợ cho người còn ở lại trên trần thế.
Nó chẳng khác gì ông bà tổ tiên chết đi phù trợ cho con cháu làm ăn phát đạt.. Vì vậy, cái ý thức tôn giáo đầu tiên,
sơ khởi nhất nơi người Việt là đạo thờ ông bà. Cái ý thức tôn giáo đó người Âu Châu gọi là đa thần giáo
để so với độc thần của họ. Sự phán đoán của họ còn đi xa hơn nữa gọi là phiếm thần hay dị giáo.
Điều phán đoán đó đã hẳn đi ngược với tâm thức người nông dân VN.
________________________
[7]Trích lại Phan Tấn Lộc trong bài Đặc tính của nền Văn hóa truyền thống Việt Nam. Tập San Triết trang 126.
Bên cạnh đó, còn có việc thờ vật thần như thờ thần bình vôi, thần hổ, thần cây đa, thần hà bá
như trong câu nói Thần cây đa, ma cây đề.. Hình thức thờ vật thần có thể hiểu là một giai đọan ở
thời kỳ bái vật chưa được nhân hóa.
Nói chung, thần trong quan niệm Việt là Nhân Thần, nghĩa là con người có thực, đã sống đã để lại
một gương sáng như một biểu tượng được tôn sùng, được phong thần khác hẳn linh thần trong các
thần thoại Hy Lạp vốn chỉ là những dự phóng tôn giáo của dân chúng mà thôi.
Nói như thế, thần Việt trong các làng quê miền Bắc có tính cách nhân bản , gắn liền với cuộc sống
con người của dân quê vậy. Các thần đó sống động, có một lịch sử, có cội nguồn gần gũi gắn bó với
đời sống người dân quê như một người bảo trợ, một chỗ nương tựa cho con người.
Về mặt kinh tế, Đơn vị làng là một tổ chức tự cung , tự cấp với một số ngành nghề cơ bản như
cầy cấy, đánh cá, nuôi tằm, dệt vải, xây cất, trồng trọt, chăn nuôi. Một đơn vị xã hội như vậy là ổn định,
định hình và khép kín. Tính chất một đơn vị xã hội đóng kín đã tạo cho mổi đơn vị làng xã một
sắc thái
riêng biệt với những nét đặc thù khác với làng khác. Mỗi làng có món nghề cha truyền con
nối được bảo
tồn và giữ bí mật từ đời này sang làng khác . Chẳng hạn người ta có cốm Vòng, gỏi Bằng, Tương bần,
Cá rô Đầm sét, bún Mọc vv..
Tổ chức đơn vị làng ở ngoài Bắc có cái lợi về một số mặt, nhưng hại cũng không ít. Lợi là tinh thần gia đình,
làng xóm, tính truyền thống kế thừa, tính cách tương trợ xã hội..Nó cũng là nơi mà một đứa trẻ được uôn đúc,
được đào tạo, được nuôi dưỡng trong tinh thần xã thôn mà những tình cảm đó trở thành máu mủ ruột thịt.
Cho nên sự trừng phạt nặng nề nhất đối với người dân làng có lẽ là phải bỏ làng mà đi . Ra khỏi làng
là rơi vào tình trạng tha phương cầu thực, không còn chỗ để tựa, để đi về. Ý nghĩa cuộc sống như thui chột ,
mất mát.[8]
Nhưng kể từ hậu bán thế kỷ 19, có rất nhiều những biến động chính trị đủ loại, từ chủ nghĩa thực dân thời
Pháp nhất là các các phong trào như Cộng sản đã thẩm nhập vào các xã thôn như các cuộc đấu tranh giai cấp,
cải cách ruộng đất, phong trào bình dân học vụ..Những phong trào cải cách ruộng đất đã xoá bỏ lằn ranh xã này,
xã kia thành những đơn vị hợp tác xã nông nghiệp. Kinh tế, sản xuất với những quy định chung
cho cả vùng đã phá vỡ những biên giới làng xã mở ra bên ngoài đến các làng khác. Những xâm nhập
và cải cách mọi mặt như thế đương nhiên đưa tới những thay đổi, những thẩm nhập văn hoá hoà trộn
với những gì có sẵn trong làng. Tính khép kín, đơn vị độc lập, tính tương trợ, tính truyền thồng, tín ngưởng
dân gian, tính kế thừa không còn nũa .Nó làm mất tính chất đơn vị của làng xã xét về mọi mặt.
___________________________
[8] Đơn vị làng xã ngoài Bắc chỉ thực sự bị phá nát khi có chính quyền Cộng Sản.
Về mọi mặt đã thay đổi : Trụ sở Ũy ban Nhân dân thay thế cho tổ chức ngôi đình thời xưa.
Cải cách nông nghiệp đã đánh thẳng vào tổ chức nông nghiệp phong kiến cũ với chủ điền và tá điền.
Nay tất cả đều là xã viên trong các hợp tác xã dưới quyền của cấp đảng trong xã.
Các hình thức phong tục, lễ bái, rước sách ở đình chùa, nhà thờ mang tính cách tôn giáo dần dần tan biết mất..
Nhưng cái hại của đơn vị làng xưa là tạo ra nạn cường hào ác bá, trên đè dưới mà nạn nhân là
thành phần xã hội thấp kém, nghèo túng hoặc đàn bà con gái. Tỉ dụ, chuyện Giông Tố của Vũ trong Phụng.
Cô Mịch là một nạn nhân của bọn có quyền, có thế trong làng. Hay chuyện Sống chết Mặc bay của
Phạm Duy Tốn cho thấy cái phong cách của bọn lý dịch chỉ biết vơ cho đầy túi tham. Việc làng việc
nước không lo : Sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi. Nó cũng tạo ra tính bảo thủ, bao biện, giữ dịt những
gì hiện có, thiếu mở ra bên ngoài nên ít thay đổi, thiếu năng động đôi khi trở thành chậm lụt . Đôi khi,
các họ trong làng, các chi nhánh trong làng hoặc với làng khác cũng tạo ra những mối thù truyền kiếp hết
đời này sang đời khác lôi kéo các gia đình vào các vụ kiện cáo hoặc đâm chét, trả thù không dứt ra được.
Gần đây có cuốn truyện của một nhà văn miền Bắc nhan đề : Mảnh đất lắm người nhiều ma đã mô tả sống
động sinh hoạt làng xóm với những cách trả thù khôn ngoan , mưu mẹo..đọc đến ngậm ngùi
Nhưng cũng từ những mảnh đời, cuộc sống lầm than, tủi nhục, áp bức xã hội trong làng xã ngoài
Bắc từ đó sản sinh ra nhiều tác phẩm văn chương, nhiều nhân tài xuất chúng. Đếm sao cho hết.
Miền Bắc là đất Văn học mà tỉ lệ người thi đỗ có nhiều thời kỳ cao nhất nước, nhất là 14 vùng chung
quanh Hà nội. Khi nói đến văn nghệ sĩ tiền chiến thì hầu như ám chỉ đất Bắc. Mặc dầu là cái nôi văn hoá
của cả nước, nhưng có điều nghịch lý là so về trình độ văn hoá nói chung, về tỷ lệ số báo chí xuất bản,
tỷ lệ người biết đọc thì thua xa đất Nam Kỳ. Một phần vì nghèo túng, một phần vì không có phương tiện
để di chuyển phổ biến như bằng đường sông, kênh rạch. Thư từ gửi đi có khi một hai tháng sau mới nhận được.
[9]
Cách sông, cách núi như thế, việc di chuyển khó khăn đã tạo ra những khoảng cách ngôn ngữ;
Có làng như Kẻ Non, ở cách Hà nội độ 15 phút xe hơi mà tiếng nói líu lo như chim từ cách phát âm ,
giọng đọc đến các từ ngữ. Thuở nhỏ, người viết có dịp về làng này, nghe tiếng họ líu lo như một
người ở tinh cầu khác lạc xuống. Cứ ngớ ra, chả hiểu gì, mặt thộn ra.. Giọng đọc kinh trong nhà thờ
cũng vậy. Như hát, như chim hót, như líu lo, như nói tiếng lạ, như chẳng hiểu họ đọc gì. Thật khó mà cắt
nghĩa tại sao như vậy..
__________________________
[9]Chính vì vậy khi Việt Minh nổi lên, họ chủ trương chống dốt mà nguời đứng đầu là
Nguyễn Hữu Đang với hội Truyền bá quốc ngữ. Mỗi làng , ngoài chuyện mở các lớp học tối,
còn dựng những rào cản để khảo hạch người dân. Thanh niên, thiếu nữ khảo sát từng người đi chợ,
không đánh vần được thì phải chui qua một cái cổng gọi là Cổng Dốt. Trong dân chúng, ai ai
chả thuộc mấy câu : I tờ có móc cả hai, I ngắn , có dấu, tờ thời có ngang .
Ở các vùng khác, có sự thay đổ nhẹ nhàng về phát âm và về một số chữ dùng cũng như một số
dị biệt về phát âm. Vì vậy người Hànội, tiếng nói , giọng nói không giống người ở Bùi Chu, không
giống giọng Bắc Ninh hay Sơn Tây.
Chẳng hạn , dân Hà Đông chuyển âm N thành L. Cái nồi, cái niêu đọc là cái lồi, cái liêu.
Dân Hànam, Phủ lý, các vần tr đổi thanh Ch. Chẳng hạn giá trị đọc thành giá chị. Tranh Chấp thành Chanh chấp.
Dân Ninh Bình trở xuôi như vùng Yên Mô, Phúc Nhạc chuyển dấu ngã thành dấu nặng, hoặc dấu hỏi.
Họ đọc Vũ thanh vủ ,
hoặc vụ.
Vùng Kim Sơn. Vần Tr thanh T, Vần L đổi thanh N. Tỉ dụ : Con trâu trắng thành con Tâu Tắng.
Làm lụng vất vả thanh Nàm Nụng vất vả.
Vùng Thanh Hoá. vần a đổi thành ô. Tỉ dụ Ba Làng đọc thành Ba Lồng.
Để cụ thể hơn, xin trích một đọan văn của nhà văn Tô Hoài, trong cuốn Chiều Chiều, một nhà văn thời
tiền chiến cho thấy những từ mà ông dùng lạ tai đối với nhiều người ở miền Nam như thế nào :
** Đặng Thái Sơn mua của nhà nước cho bố một căn hộ mười sáu thước vuông,
lại tậu cả điện thoại.
Ở tầng hai, trên lưng cửa hàng bách hoá nhà mậu Giảng Võ. Qua hai ba lần khoá dãy,
khóa cửa mới vào tới gian buồng tối âm thầm có một lỗ cửa sổ trổ xuống đường treo miếng mành mành,
tựa cái cửa ngăn ở khoang thuyền. ….Tôi nói :
- Cô để ông ấy đi chợ vác có mỗi mớ rau muống thế này. .
Cô cuời :
- Người khó tính lắm ạ. Đòi phải mua rau lấy người mới xơi được. Nhưng người khôn lắm, không đòi luộc lấy.
-Nhà nó chỉ biết mua rau muống lợn. Nhà mà luộc thì tôi cũng ăn chiếu cố.*
Trong đọan văn ngắn trích dẫn trên, đếm ra được 16 danh từ mà một người trong nam,
gốc Bắc đã không dùng nữa.. Sự cách ly về địa thế còn tạo ra những cách biệt trong các
ngày hội hè, đình đám, phong, tục, lễ nghi như cưới hỏi, ma chay. Thời tiết bốn mùa rõ rệt,
mưa nắng tuỳ theo mùa cũng làm cho người dân xứ Bắc phải thích nghi với thời tiết, với tục lệ.
Chẳng hạn, đám cưới, theo Toan Ánh, thường được cử hành vào tháng tám thay vì tháng năm ,
tháng sáu hay tháng bảy. Tháng hè còn bận việc đồng áng vả lại đó là mùa của cô hồn chúng sinh,
tháng bảy kiêng tháng ngâu.Việc trăm năm đâu phải việc một ngày, trước sau một tháng có đâu chậm trễ,
vội gì chẳng đợi tháng tốt, chọn ngày lành. Gió thu mát, trời thu trong, tiết thu êm dịu, cúc thu nở vàng khắp
vườn ngõ trong làng báo hiệu mùa cưới tới. [10]
Đồng bằng sông Hồng với Hànội, Hà Đông còn nổi tiếng qua mấy câu thơ của Nguyên Sa : Áo lụa Hà Đông.
Hà nội, Hà Đông quả thực có nổi tiếng về đũi, về tơ, về lụa. Quả thực là đẹp, là nõn nà, là kiêu xa, là hấp dẫn
với áo lụa thay vì áo nâu, áo đen. Nó tăng vẻ đẹp, sự mời gọi, sự quyến rũ đến lạ lùng..Nhìn lại lịch sử Con
Đường Tơ lụa [11] la route de la soie đã có từ rất lâu , kể từ thời Tibète . Lụa là là thứ hàng xa xỉ chỉ dành cho
bọn vua chúa, các mệnh phụ ở Rome, ớ Paris. Ở thời kỳ đó, người ta cấm đàn ông mặc lụa là, chỉ đàn bà được
phép mặc mà thôi. Con đường tơ lụa là con đường đã hấp dẫn bao nhiêu thương thuyền, không ngại nguy hiểm
ghé nước Tầu để mua. Nước Tầu là nước sản xuất tơ lụa nổi tiếng thế giới. Xưa kia, người ta biết đến nước
Tầu là vì tơ lụa và cũng từ đó có route de la soie. So với con đường tơ lụa của nước Tầu thì Lụa Hà Đông
chỉ là một ánh sao đêm. Dù sao đi nửa , nó vẫn là một vì sao trong cái đêm tối Á Châu huyền bí. Bằng chứng
cho thời kỳ buôn bán tơ lụa, giao thương với ngoại quốc của miền đồng bằng sông Hồng là việc tìm
ra đồng tiền đồng thời Théodore 2 ở Bắc Kỳ. Tơ lụa là vật chất , nhưng lại là biểu tượng nếp sống văn hóa
cao của giới trưởng giả thành thị miền Bắc.
Bên cạnh cái hay cái đẹp, cái tinh hoa làm nên Hà nội là Hà nội, Hà nội của một truyền thống Văn Hoá un
đúc từ bao nhiêu đời, kế thừa và truyền đạt tạo cho nó một vị trí vững vàng , một sắc thái văn hoá, một nếp sống,
một nếp nghĩ đã được tinh kết, chọn lọc và thải loại, trở thành tinh ròng trong sáng.. Bên cạnh đó, theo những
quy luật phát triển và suy thoái xã hội, nó để lại một vài hình thái xã hội thoái hóa và suy đồi mà ít được
ai nói tới kỹ càng và đầy đủ, hoặc không muốn nói tới.
Cái suy thoái thứ nhất là thói đam mê cờ bạc đến vô giới hạn, đến chỗ nợ nần, đến chỗ nhà tan cửa nát.
Ai cũng thuộc lòng câu :
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm.
Câu ca dao này xuất phát từ đất Bắc, ám chỉ người Bắc, muốn răn đe người bắc và chỉ người Bắc mà thôi.
Đủ thứ cờ bạc : Tổ tôm, sóc đĩa , tài bàn đến tam cúc, rút bất..chọi gà.. Cái gì cũng có thể cờ bạc được..
Hãy cùng nhau đọc lại hai câu sau đây :
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè.
___________________________
[10]Nếp Xưa của Toan Ánh, trang 67
[11] Nhà thám hiểm người Đức F. von Richtfolen là người đầu tiên ở thế kỷ 19 đặt ra cái tên Con Đường Tơ lụa.
Theo gót dấu chân Marco Polo, từ nhiều thế kỷ nay, người ta nối liền các nước bên bờ Địa Trung Hải với
các nưóc Á châu. đây là một hệ thống giao thông chuyên chở hàng hoá giữa Trung Hoa với bên ngoài.
Các nước phương Tây đến mua lụa, đồ xứ của Trung Hoa và nữ trang, đồ ngà của Ấn Độ.
Và cũng chính qua con đường tơ lụa này mà nhờ vậy, Đạo Phật mới có cơ được truyền từ Ấn Độ sangTrung Hoa.
Đúng ra tháng nào cũng là tháng cờ bạc cả. Cờ bạc quanh năm suốt tháng. Tháng giêng, tháng hai ngày tết
thì đổ bác nhiều hơn. Cái nết đánh bạc đó ra đến hải ngoại vẫn còn. Xin dẫn chứng bằng hai câu truyện
do người Pháp kể lại. Câu truyện thứ nhất kể rằng vào năm 1950, trên vùng mỏ, một kỹ sư mỏ đi xe hơi
vào một làng đã cán phải một người ăn mày ngồi bên vệ đường.. Đám đông dân chúng vây quanh ,
sì sào bàn tán to tiếng. Viên kỹ sư muốn chở người ăn mày vào chẩn y viện. Nhưng tài xế Annam
đã cản ông, khuyên cứ để nguyên chờ 5, 10 phút nữa. Viên kỹ sư không hiểu tại sao, đành nhẫn nại chờ.
Thật ra trong đám đông, họ đã cá với nhau xem 10 phút nữa người ăn mày sẽ còn sống hay chết.
Nếu ông chở người ăn mày đi, ông phá đám cuộc cá độ của họ, chắc là gây phiền toái.
Sau 10 phút, họ trao đổi tiền bạc và giải tán, ông kỹ sư mới chở người ăn mày vào chẩn y viện.
Việc thất trận Điện Biên Phủ là một nỗi đau cho nhiều người, người Pháp, người quốc gia..
Ở trong tình thế cực kỳ căng thẳng xao động như thế vẫn có dân cờ bạc cá với nhau ,
Điện Biên Phủ bao giờ mất.. Thật tàn nhẫn.. Bà Christiane d!Anival, tác giả Les belles heures de l' Indochine Francaise
đã kể lại các câu chuyện trên và đã phải thở dài nói : Cruauté Asiatique.
Bán vợ vì cờ bạc còn được thì bán nước cũng vậy thôi.
Cái suy thoái thứ hai của đất Bắc là nghiện thuốc phiện hay nha phiến. Thuốc phiện từ thời cổ đại
Trung Hoa đã dùng nó như một dược liệu , với một liều lượng vừa phải. Và nếu ở mức độ đó,
thuốc phiện không phải là một tai ách xã hội. Nó chỉ thực sự bộc phát sau con đường tơ lụa do người Anh.
Các đội thương thuyền Anh mở những thương điếm khắp nơi, nhất là ở Ấn Độ..Ấn Độ là nơi sản xuất thuốc phiện
nhiều nhất. Người Anh biến thuốc phiện thành một thương mại phát đạt 3 chiều.. Họ mua thuốc phiện của Ấn Độ,
bán cho Trung Quốc đổi lấy hàng tơ lụa, trà, hạt tiêu . Giá trị của một điếu thuốc phiện thì bằng một ly trà
cho thấy nó rẻ biết chừng nào. Việc hút thuốc phiện ở Tầu mới đầu còn ở nơi hàng dân giả,
có tiền, có của.. Sau tràn lan đến cả dân thường đến độ vào năm 1839, nhà vua ban hành lệnh cấm hút
thuốc phiện. Cấm thì cấm, bỏ tù, phạt tiền, người ta vẫn hút..Nội trong năm đó, nhà vua đã ra lệnh đổ 20291
rhùng thuốc phiện xuống biển.. Vì quyền lợi mà xảy ra chiến tranh Nha phiến giữa nước Anh, nước Tầu.
Và để kiểm soát, chính quyền độc quyền buôn bán nha Phiến..
Chuyện nước Tầu và nước ta là một liên hệ hữu cơ. Nước Tầu đau thì ta cảm cúm là chuyện đương nhiên.
Đường giây nha Phiến cũng chuyển sang Việt Nam. Nhưng cái kẻ gây ra trực tiếp hậu quả tai hại
này là dưới thời Toàn quyền Paul Bert, ông này cho tên Frédérick sang Bom bay lấy giống thuốc phiện,
cùng với 2 chuyên viên về trồng ở Bắc Kỳ.. Chẳng bao lâu từ đó tràn lan khắp nơi. Nhưng trồng nhiều nhất
là nơi các miền Thượng Du, nhất là người Mèo.. Chẳng biết thống kê có chính xác không,
nhưng người ta đưa ra con số là 30 phần trăm dân thiểu số hút thuốc phiện. Kinh khủng.
Nhưng Kinh khủng hơn nữa là nước Tầu có đến 70 phần trăm dân số nghiện.. Dân ta, nhất là dân Bắc Kỳ
( Trong Nam rất ít ) với khoảng 3 phần trăm..Chỉ với 3 phần trăm mà người ta đã có cảm tưởng là một tai
ách xã hộ rồi.
Nhìn lại đất Bắc, một cảm nghiệm đến chua xót, ngậm ngùi. Sao mà dân tộc, đất Bắc lao đao khốn khổ như vậy.
Lịch sử đất Bắc chỉ là những tiếng thở dài. Thở dài thời phong kiến, thở dài thời Tầu, thời Tây và thở dài
thời chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếng thở dài đó bao giờ mới hết. Đứa con đầu đàn , thằng anh đầu đứng mũi chịu
sào lãnh búa, lãnh thẹo đử thứ. Búa Phong kiến, triền miên cả hai ngàn năm, búa ngoại xâm nô lệ Tầu.
Cũng cả nghìn năm. Búa nội chiến. Búa thực dân trên dưới hơn trăm năm. Và cuối cùng,
cái búa báng bổ Cộng Sản., búa ân huệ, búa sát tử với hai cuộc chiến, với ít lắm 4 triệu người chết vô danh.
Đất nước, con người loang lổ, tàng tật. Vết thương vẫn chưa lành. Ngay những người ở Hải ngoại,
Hội chứng hậu Cộng Sản không bao giờ khuây khoả được. Vì nó mà còn cấu xé nhau dài dài. .
Cho đến bây giờ, Cộng Sản kể như cáo chung, nhưng cái đuôi Cộng Sản Việt Nam vẩn còn ngoe nguẩy.
2. Đồng bằng sông Cửu Long
Nếu miền Bắc là đất Văn Học thì miền Nam là miền đất Hứa. Nó hứa đủ thứ : Đất lành chim đậu,
khí hậu không khắc nghiệt như miền Bắc, đất trải dài mênh mông đến vô tận. Nó hứa giầu sang ,
thức ăn thức uống ê hề. Nó hứa cho một tương lai con người được giải thoát ra khỏi những ràng
buộc xã hội phong kiến của miền đất cũ. Nó hứa cho một mảnh đất tình nồng, đầm đà tình tự con
người, tình bà con xóm làng. Nó hứa cho một nền văn minh mới , văn minh đồng bằng sông Cửu Long
với những nét đặc thù, đặc sản từ tiếng nói, tâm tình, cách sống, cách ăn mặc, cách suy nghĩ nếp
sống tôn giáo. Nó tạo ra một bản sắc cá biệt mà tên gọi đúng nhất chỉ về nó là văn minh miệt vườn.
Cái văn minh miệt vườn đó trở thành lời mời gọi quyến rũ để đã biết bao thế hệ người, cách này cách
khác đã cuốn gói ra đi đi tìm một bình mới cho tương lai của mình và con cái mình.
_______________________
[12] Và có thể nói khác mọi người là cuộc xâm chiếm miền Nam, ngoài lý do chính trị,
Bắc bộ phủ còn nghĩ tới hạt gạo miền Nam. Không có miền Nam, Miền Bắc không có
Nhớ lại Nguyễn Ánh lúc còn lận đận ở miệt Sài gòn [13] đã gọi miền lục châu là Cái miền Nam xa xôi ấy.
Tâm tình đó cho thấy, ông chỉ nhìn thấy miền Nam như một mảnh đất tạm dung. Miền Nam đã không
có trong mắt của Nguyễn Ánh ngay từ lúc chưa dựng nên sự nghiệp. Trong cái tầm nhìn của ông về một
đế nghiệp trong tương lai, cái mà ông ấp ủ đã hẳn là đất Phú Xuân .
Đó là nơi quang cảnh quen thuộc, cơ ngơi đã có sẵn so với cái phần đất còn hoang dã với dân tứ
chiếng không phép tắc, không luật lệ như một thứ giang hồ , thảo khấu.
Câu nói miền Nam xa xôi gói ghém tất cả dự định của ông rồi [14]
Người Pháp lúc đầu cũng chả hơn gì Nguyễn Ánh . Thiếu cái nhìn viễn kiến. Thiếu cái nhìn của một
Lý công Uẩn, của Đại Sư Vạn Hạnh. Bá Tước Montmorin đòi Nguyễn Ánh cho bằng được Côn đảo,
cửa biển Đànẵng như một đầu cầu giao thông hàng hải. Sè gòn lúc đó chỉ là một bãi lầy cho lau sậy,
cho thú hoang, cho bọn thảo khấu, cho dân tứ chiếng giang hồ, nằm sâu trong đất liền, cách xa bờ
biển đến cả trăm cây số.
__________________________
điều kiện cơm no áo ấm được. Chính vì vậy mà nay hạt gạo miền Nam phải cắn đôi,
cắn ba. Miếng để ăn, miếng chia cho người. Dĩ nhiên, cùng một đất nước, nhường cơm sẻ áo
là chuyện thường tình, nhưng o ép lại là chuyện khác.
[13] Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu tên Sàigòn là gì. Tại sao gọi như vậy.
Họ đưa ra ít lắm dến 4,5 giả thuyết dựa trên thói quen, về địa lý, về xã hội, ngôn ngữ chính trị..
Những học giả như Huỳnh Tịnh Của, Francis Garnier, Cụ Vương hồng Sển và mới đây nhất trong
Kỷ niệm 300 năm Sài gòn và cuối cùng ông Đoàn văn Phi Long đã để tâm tìm hiểu vấn đề này.
Sài gòn có phải là Sì Củn, Prei Nokor, Prei Nagara hay Preah Ko. Nhưng chung cục vẫn không có
một văn bản nào xác định chắc chắn tên Sài gòn, Sề gòong là gì. Thôi hãy cứ để các học giả
làm công việc của họ. Theo thiển ý người viết, có một nguyên tắc đơn giản là khi người di dân đi
tới đâu thì ở đó thường đã có tên gọi của địa phương ấy rồi. Chẳng ai tốn hao công sức
thì giờ đặt ra một tên mới.. Vì thế, hầu hết các tên gọi trong miền Nam đều xuất phát từ những
thổ ngữ đã có sẵn và sau này dân cứ thế mà gọi. Bà Điểm,Bà Quẹo, Rạch Cát, Hóc Môn. Đa kao,
Long Xuyên v v.. Có thể Sài gòn cũng vậy.. Quy luật đó cũng đúng cho dân Mỹ, cũng như
Canada với các tên địa phương có âm hưởng của các giống dân da đỏ..
[14] Cũng vì vậy, ông đã chọn Huế làm Kinh Đô. Sự chọn lựa này đã đưa xứ Huế trở thành một
Trung tâm quyền lực mới và còn là Trung Tâm Văn hoá thay thế thủ đô Hà nội.
Lý do gì đã thúc đẩy Nguyễn Ánh đến chọn lựa đó. Phải chăng Huế là Trung tâm đất nước
giữa Hà nội và miền Nam xa xôi. Huế là miền đất ổn định có cơ ngơi sẵn rồi. Huế xa cái đe dọa phương Bắc..
Nhưng cái gì là Trung Tâm. Paris là trung tâm của cái gì. Rồi còn Hoa Thịnh Đốn, Rome .
Ngoài những lý do chính trị, người ta chỉ biết rằng vị vua cuối cùng của triều đại này đã bỏ Huế lên
Đàlạt. Huế là chuyện đã rồi, nhưng Đà lạt là một chọn lựa khó hiểu. Một Quốc Trưởng ở Đà lạt cho
thấy quyền bính của ông nằm ở chỗ nào.
Phải đợi đến Lyautey mới có cái nhìn viễn kiến về Sàigòn. Nó không phải chỉ là nơi buôn bán giao thông
mà trong tương lai còn là tiền đồn của miền Viễn Đông nữa.
Nhưng cái công dựng lập lên một Sàigòn với bến cảng trù phú, sầm uất là công của Lê văn Duyệt.
Lại một lần nữa, Nguyễn Ánh đổi " Gia Định Kinh" thành lỵ sở của thành Gia Định.
Đó là tinh thần nghi kỵ, trung ương tập quyền. Thật là chuyện đáng tiếc. Nếu không với đường lối
của Lê văn Duyệt mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài, cho giáo sỉ tự do truyền đạo
được coi là thích hợp lúc bấy giờ, có thể đưa đất nước ra khỏi can qua , biến động trong suốt hơn thế kỷ.
Có những quyết định có tầm vóc lịch sử, hậu quả kéo dài cả trăm năm .
Hậu thế học ở đó bài học gì ?
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới mà nếu không có những biến động chính trị đủ loại thì ngày nay
đất nước đâu có trải rộng như ngày nay. Việc đến Thuận Hoá thoạt đầu chỉ là cái kế sách tạm thời lại là
nguyên do mở đường cho cuộc Nam Tiến. Thuận Hoá chỉ là trạm nghỉ, dừng chân . Con đường Nam tiến
còn dài. Trạng Trình với câu Sấm : Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân đã mở một con đường tương lai
cho Nguyễn Hoàng, từ đó mở ra con đường Nam tiến . Con đường Nam Tiến có tính cách định mệnh
lịch sử cho cả dân tộc đi khai hoang, mở mang bờ cõi. Không có cái mốc Thuận Hoá , chưa biết chung
cục lịch sử Nam tiến sẽ đi về đâu. Nếu không có cuộc Nam Tiến, chúng ta tất cả đều ngồi bó gối,
chen chúc nhau trên mảnh đất chật hẹp của đồng bằng sông Hồng và một eo đất chật hẹp miền
Trung giới hạn cuối cùng là vùng Hà Tĩnh mà đất cầy lên sỏi đá, nơi mà nguời ta dễ dàng trở thành
một nhà văn , nhà thơ, nhất là nhà chính trị hơn là một điền chủ.
Vậy mà sử sách gần như ít lưu tâm tới cuộc Nam Tiến này. Các sách sử nói nhiều tới những
chiến thắng lẫy lừng của Lê Lợi, Trần Hưng Đạo,Tây Sơn. Nhưng đó chỉ là công giử nước, bảo
vệ bờ cõi. Nhưng công mở mang bờ cõi là công cuộc Nam Tiến thì ít ai nói tới. Và nó cần được nói tới theo
cái kiểu một bản anh hùng ca, hay ít ra như mẫu thức cuộc viễn chinh miền Tây của nước Mỹ.
Ta thiếu cái hào khí đó trong lịch sử và nhất là trong những sáng tác văn học..Đồng bằng Nam Bộ
sẽ không như ngày nay nếu không có cuộc Nam tiến.. Nó là một cuộc chinh phục lâu dài, trường kỳ,
hằng vài thế kỷ, nhiều giai đọan đầy cam go và thử thách. Nó là một thứ chinh phục miền Viễn Tây kiểu
Việt Nam. Người Mỹ đề cao giai đọan phát triển đó như một biểu tượng cho óc phiêu lưu, lòng can đảm,
sự tự hào của tổ tiên họ. Họ hướng về miền Tây trên những xe có mui do ngựa kéo, chiến đấu với dân da đỏ,
với thiên nhiên. Còn chúng ta vào miền Nam trên những thuyền lớn nhỏ , đi đến đâu đồng hoá tới đó từ
người Xiêm, người Chàm và người Cambốt..Tổ tiên người miền Nam chẳng ai khác là dân miền Trung ,
hay xác định rõ hơn là dân Ngũ Quảng gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức , ( Thừa Thiên )
Quảng Nam, Quảng Ngãi đã một thời đến Đồng Nai, Bến Nghé. Họ Nam Tiến vì kinh tế, nhưng cũng không
ít vì lý do chính trị và sau này lý do cấm đạo. Họ đi tìm một miền Đất Hứa. Miền đất hứa cho tự do, cho cơm
no áo ấm, cho khỏi những áp bức xã hội, cho lòng người phơi phới mở rộng, cho tình người nở hoa .
Hãy nghe Sơn Nam rao giảng về miền đất đó : Thiên nhiên ưu đãi, lương thực và thực phẩm có thừa,
công việc nhàn rỗi, nhà cửa, chữ nghĩa còn thiếu, nhưng so sánh với một số địa phương khác thì đồng
bằng sông Cửu long quả là nơi Lạc Thổ…Nhiều đìa cá ở xa đường giao thông, cá nổi đầu lên như "mù u chín rụng",
nhưng chẳng ai khai thác, gặp năm cá sụt giá..[15]
.
Nhưng đã hẳn, thiên nhiên không ưu đãi đến mức độ ngồi không mà hưởng. Vớùi tính tận tụy từ gốc rễ,
cánh dân miền xứ Quảng đã thuần hoá và nhân hóa thiên nhiên. Phải đối phó với bệnh tật, thời tiết, thú dữ,
sình lầy, cá sấu như người ta thường nói :"Nhất phá sơn lâm , nhì đâm Hà Bá".
Những người di dân Ngũ Quảng, vì những điều kiện địa lý như miền Bắc nên tiếng nói ngôn ngữ có dị biệt.
Có nơi tiếng nói nặng nhẹ khác nhau. Dân Nghệ, dân Quảng Ngãi không giống giọng Huế nhẹ và thanh thót,
trầm bổng nghe đến chết lịm đi. Thanh niên nào ra đến Huế mà không bị ngã gục vì giọng gái Huế.
Từ Huế vào ĐàNẵng, Nhatrang v v, tiếng nói mỗi vùng mỗi khác..Mỗi chữ không có nhiều điệu ngân,
nhạc tính như tiếng Huế nữa.
Nhưng có một điều chắc chắn là dù họ khác nhau trong giọng đọc, trong cách phát âm lúc ra đi, nay họ
nói chung một tiếng nói, phát âm cùng một giọng đọc mà ta chỉ có thể gọi Đó là giọng Nam Kỳ, giọng
dân Sàigòn..Không còn ai có thể phân biệt được giọng Sài gòn xứ Huế, xứ Quảng Nam hoặc Quảng Ngãi nữa.
Sự pha trộn các sắc thái địa phương , hoà lẫn vào nhau như một thứ Melting pot để đi tới một cái chung,
cái duy nhất , không giống với cái ban đầu nữa. Đã có một mẫu số chung trong tiếng nói, trong nếp sống,
trong nếp nghĩ, nếp làm, trong sinh hoạt giải trí . Tất cả đều dựa vào yếu tố sông nước dễ di chuyển,
tiện lợi từ nơi này sang nơi kia. Qua những tiếp xúc, trao đổi, tiếp cận, gần gũi đó nên tạo ra được sắc
thái chung. Thật vậy, tiếng nói người Sàigòn và người ở lục tỉnh chỉ là một. Từ đó dần rõ nét tạo thành
một nếp sống Văn hoá mà ta gọi ngày nay là Văn minh miệt vườn.
( Chữ miệt vườn xin đùng hiểu là chỉ gồm các tỉnh miền đông với vườn tược hoa trái, mà chỉ chung
cả miền lục châu gồm các tỉnh phía Nam)
_____________________
[15} Sơn Nam : Đồng bằng sông Cửu Long trang 36-37
Văn minh miệt vườn là đặc sản của miền Nam . Nó bắt nguồn từ những sông, rạch luờn lọt chỗ nào
cũng có nước. Ngoài những mỏm đất để ở, để trồng trọt, quanh năm mùa nắng không hạn, mùa mưa
không úng.. Cây trái nhú lên, đâm chồi từ lòng đất được vun bồi bởi phù sa nên tươi mát quanh năm,
hoa quả bốn mùa. Có đủ cả, tôm cá, lúa, hoa mầu phụ dừa, trái cây chả thiếu thứ gì.[16]
Văn minh miệt vườn có sắc thái riêng của nó, có tiếng nói, có ngôn ngữ, có nếp sống sinh hoạt làm ăn
và giải trí, tôn giáo với các đạo Hoà Hảo, Cao Đài, các ông Đạo Dừa vv..vàụ đặc biệt là vọng cổ. Nó như
cây có cội, nước có nguồn. Nó có những nhân vật đã đóng góp cách này cách kia như Trương Vĩnh Ký,
Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn đình Chiểu, như Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, Hồ văn Ngà, Trần văn Thạch,
Trần chánh Chiếu. Những nhà văn thuở đầu như Hồ Biểu Chánh đến lớp sau như Vi huyền Đắc,
Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vương Hồng Sển, Lê Xuyên . Những nhà chính trị, những nhà trí thức,
những nhà văn , nhà báo đã lớn lên đã để lại những di sản tinh thần được đa số dân chúng
quý mến và trân trọng.[17]
Nhờ sự di chuyển dễ dàng trên hệ thống kinh rạch mà thuyền bè đi lại tấp nập như lá tre.
Hàng hoá, gạo thóc được bán tận nơi mua tận gốc . Từ đó thúc đẩy sinh hoạt kinh tế đã
có dấu hiệu kinh tế thị trường. Có nhiều người đã làm giầu nhờ thương mại, nhờ mua đi bán lại.
Nhất là vào thời Pháp đã chiếm đóng Sàigòn, nơi đây mở ra thị trường buôn bán,
xuất nhập cảng với ngoại quốc .[18]
Đã đến lúc phải xác định lại một cách công khai và phục hoạt lại vai trò văn minh miệt vườn trong
sự hình thành và xây dựng miền Nam. Không có văn minh miệt vườn kể như không có miền Nam nữa.
______________________
[16] Hiện nay , mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long xuất khẩu gần 2 tỉ dollars các
hải sản đủ loại, nhất là tôm đông lạnh. Trong tương lai, con số dự trù là 3 tỉ dollars so
với toàn thể trị giá hàng xuất khẩu bây giờ là 10 tỉ dollars.
[17] Nhiều nhà văn hoá lớp sau khi nói về cái văn minh miệt vườn này thường chỉ coi như một sinh hoạt
văn hóa bên lề, dành cho một số những người dân ít học, nhà quê. Và chỉ được gọi là văn hoá những
nhà văn nào là đại biểu,tiếng nói của lớp dân thành thị, có học như nhóm Sáng Tạo, nhóm
Bách Khoa. Hiểu như thế là không hiểu gì về sắc thái , bản chất về văn hóa miền Nam.
Chính cái cơ ngơi gia tài văn hoá miệt vườn mới đại diện cho miền Nam. Đã đến lúc phải
xác định lại vai trò của nó trong công trình xây dựng, hình thành và phát triển miền Đồng bằng sông Cửu long.
[18] Thêm ngạc nhiên nữa, • trang 781 của t báo, xin trích ra một thống kê kinh tế trong
một tháng về số hàng hố xuất nhập khẩu • cảng Sài gòn. Chỉ trong tháng 9 ,1909 , có tất cả 97 tầu
chở hàng với số lượng hàng hóa nhập là 85.476tấn. Trong đó có
72 tầu tây, 7 tầu ĐĐc,3 tầu Mỹ, 11 chiếc tầu Hồng Mao. Điều đó cho thấy, trong thời kỳ đó,
ta đã giao thiệp buôn bán với nhiều nước, dĩ nhiên Pháp là nhiều hơn cả. Còn tầu ra là 99
chiếc với trọng tải 98.467 tấn. Như vậy xuất nhiều hơn nhập. Dĩ nhiên, chúng ta không đến
nỗi ngây thơ tin rằng trọng lượng là yếu tố quyết định của cán cân thương mại. Một chi tiết
như là số tầu ra chỉ nhiều hơn tầu vô vì chỉ thêm 3 chiếc tầu Hollandais, 2 chiếc Norwégiens.
CĐ nhìn vào nhỉng con số trên, chúng ta cũng mường tượng ra sinh hoạt kinh tế trong Nam ,
dưới thời Pháp chắc là phồn thịnh náo nhiệt, bước đầu của con đường thương mại, giao thương
với ngoại quốc, cửa ngõ mở ra của Việt Nam. Chỉ rất tiếc ta khơng được rõ loại hàng nào được
nhập cảng và loại hàng nào được xuất cảng.
Tài liệu trích dẫn trong tờ báo Nam Kỳ địa phận của G.S Nguyễn Văn Trung
*Sinh họat kinh tế đã ** có vẻ thị trưng ** rồi. Đã hết đâu, còn giá bạc trên thị trường nữaa. Giá Bạc : Hãng Đông
Sơn Nam gọi là Văn Minh Sông Rạch để nói lên tính chất cá biệt của sông nước miền Nam.
Chỗ nào cũng sông, cũng rạch, nhiều nhánh mà muốn qua phải đi cầu khỉ lắt léo, gập ghềnh.
Gọi là cầu khỉ vì phải lanh tay, lẹ chân bò như con khỉ, nếu không thì ngã xuống rạch..
Cầu khỉ là một biểu tượng nữa của đồng bằng sông Cửu long trở thành nét cảnh quang của
nông thôn miền nam.
Một bằng chứng nữa được trích trong tờ báo Nam Kỳ do A.Schreiner làm chủ
nhiệm cho thấy sự giao thông đi lại giữa các nơi đã có thủy trình , theo giờ giấc quy định rõ rệt.[19]
_________________________
[19]dương , tiền Fr là 2.20. Hãng Hồng Kông là 2.95, nhưng kho nhà nước lại là 2.30.
Đọc đến đây, khơng th khơng ngạc nhiên bất ng và lý thú lắm. Giá trị tiền, hối xuất đồng bạc
Đơng Dương lệ thuộc vào giá thị trưng của đồng Fr. Những truyện coi ra cỏn con, tầm thường,
nhưng nhờ đó, ngày nay, ta biết được nếp sống sinh họat làm ăn của 100 năm trước như thế nào.
Nam Kỳ Lục Tỉnh, Hoả Luân thuyền công ty. Thủ Trình của đường đi các hạt bên phía Tây. ( Tài liệu của G S NVT)
Ở Sàigòn đi Mỹ Tho, ngày thứ hai, thứ tư, từ 8 giờ chiều cho đến 10 giờ, tùy theo con nước. Ở Mỹ Tho đi Cái Bè,Vĩnh Long,
Sađéc, Cù Lao Gien ( chỗ này tự tiện tùy theo mùa), Châu Đốc, Long Xuyên,,Cần Thơ, Trà Ôn ,Sóc Trăng, ngày thứ ba,
thứ năm và thứ bảy – Trở về Mỹ Tho, ngày thứ năm, thứ bảy, thứ hai, cùng trở về Sàigon thời ngày chủ nhật, thứ ba…
Sau đó còn có vô số các thuỷ trình khác như lên Biển Hồ, lên Nam Vang, lên Bassac, đường sông lớn đi lên Lào vv…
Châu Đốc, Long Xuyên, Lái vùng ,Cần Thơ, Trà Ôn,Sóc Trăng, ngày thứ ba, thứ năm và thứ bảy – Trở về Mỹ Tho,
ngày thứ năm, thứ bảy, thứ hai, cùng trở về Sàigon thời ngày chủ nhật, thứ ba… Sau đó còn có vô số các thuỷ trình
khác như lên Biển Hồ, lên Nam Vang, lên Bassac, đường sông lớn đi lên Lào vv…
Trở về Mỹ Tho, ngày thứ năm, thứ bảy, thứ hai, cùng trở về Sàigon thời ngày chủ nhật, thứ ba…
Sau đó còn có vô số các thuỷ trình khác như lên Biển Hồ, lên Nam Vang, lên Bassac, đường sông lớn đi lên Lào vv…
Nếp sống Hạ bạc, một đặc trưng của đồng bằng sông Cửu Long.
Những người lưu dân đầu tiên đến đồng bằng sông Cửu Long đi từng nhóm từ miền Ngũ Quảng
không thể trong chốc lát an cư , lạc nghiệp, có nề nếp, có nếp sống văn hoá phong tục ổn định.
Có nhiều người trong bọn họ có nếp sống ổn định, đã an cư, đã lạc nghiệp. Nhưng không thiếu
những người trong bọn họ là lớp lưu dân giang hồ, không nơi ở cố định : Có thể làm ăn không khấm
khá đành đi nơi khác, có thể làm ăn phất lúc đầu sau đó phá sản lên voi xuống chó, có thể là bọn
" Gia Long tẩu quốc", có thể là bọn giặc theo Lê văn Khôi thời Minh Mạng bỏ trốn, hay bọn con cháu
Tây Sơn còn rơi rớt lại, hoặc có những rắc rối với luật pháp do nạn cường hào ác bá khiến
họ đi giang hồ, hoặc va chạm luân lý đến độ phải cuốn gói mà đi. Từng ấy thứ người trở thành lớp
lưu dân lang bạt trên sông nước ( Population flottante ). Người ta gọi họ bằng đủ thứ mỹ từ như bọn
"Trốn xâu, lậu thuế",. bọn * Trôi sông lạc chợ*, bọn * Cùng căn mạt kiếp* Người Pháp lại có lối gọi của họ .
Đó là bọn du côn, giới anh chị. Với lớp người lưu dân này, đâu cũng là bến nước, đâu cũng là nhà, nhưng
đâu cũng là chốn tạm dung mà viễn tượng tương lai là nếp sống rầy đây mai đó.
Đơn vị làng xã như một đơn vị kinh tế xã hội khép kín ở miền Bắc không còn nữa ở miền Nam.
Không có lũy tre làng, không có cổng làng phân chia địa giới làng này với làng kia. Làng xóm nổi lên
rải rác từ những u đất rồi lặn chìm trong sông nước mênh mông . Các làng trong nam nếu có cũng
là loại đơn vị làng mở . Mở theo mọi nghĩa. Chỉ cần nước lũ dâng lên rồi rút đi có thể xoá tan làn ranh
giữa xã này , xã khác. Đường sông đường biển, kinh rạch lau lách vào mọi chốn cũng làm cho
ý nghĩa làng xã mất đi tính cá biệt.
Vì thế P.Gourou trong La terre et l'homme en Extrême-Orient đã gọi nước là con đường đã biến
con người thành kẻ du mục.( L'eau est un chemin qui fit de l!homme un nomade )..Và con người
sống trong những khu vực biến động ( quartier mouvant ) không còn phân biệt vùng nào với vùng nào nữa
Đường sông, kênh đào, rạch là mạch máu chính nối liền những lưu dân lại. Nay U minh Thượng, tháng sau
đã ở U Minh hạ. Lúc ở sông Tiền , lúc sông Hậu, lúc ẩn nấp vào lung, vào láng hoặc len lỏi vào chi chít con
rạch nào đó. Chả ai biết đâu mà tìm, mà tìm đâu cho thấy. Họ là lớp dân sống bên lề xã hội, không luật pháp
hay nếu có là luật giang hồ, không có luân lý nếu không là đạo lý làm người lấy lời nói làm cẩn trọng. Họ
không có nghề nghiệp nhất định, nếu không nói là làm đủ thứ nghề như làm thuê, làm mướn,
bắt cá đồng, cá biển, ăn ong, đi buôn, câu sấu, đốn củi hoặc làm thầy trị rắn.
Cái luật pháp giang hồ đó trọng nghĩa khí, giữ chữ tín làm đầu nào xá gì lý thuyết xuông hoặc thứ luân lý
cầu lợi cho bản thân mình của xã hội cũ. Cũng không thiếu những kẻ anh hùng lương sơn bạc, trọng điệu
nghệ giang hồ, hào hiệp bốc trời dựa trên một thứ luật lệ bất thành văn. Chẳng hạn đi biển, đi sông gặp
người kêu cứu thì giá nào cũng xông vào giúp đỡ. Làm mà chẳng kêu cầu ơn nghĩa, trả tiền thì không
ai chịu nhận "có chi mà gọi rằng ơn". ( Chữ của Sơn Nam ). Hoạn nạn thì tương cứu đùm bọc,
sống chết có nhau, chia xẻ miếng bùi miếng ngọt, miếng đắng cay.Trọng bạn bè, tình nghĩa xóm làng,
giúp đở kẻ xa cơ thất thế . Khinh miệt bọn lòng lang dạ sói, thay lòng đổi dạ, bọn xu nịnh, bọn phù thịnh.
Nếp sống hải hồ ngang dọc nào biết trên đầu có ai, sống cho có khí phách của lớp người anh hùng hảo
hán thương người cô thế, ghét bọn quyền chức tham lam vô độ. Tánh nết cương trực bảo có là có,
bảo không là không..Chữ nghĩa thánh hiền không đầy cái lá me, nhưng biết trọng nghĩa không mánh mung
gian xảo. Có cái thật thà chất phác, có cái ngôn ngữ dung dị, một chữ một nghĩa. Những mặt tích
cực đó làm gì có trong cái thứ luân lý giáo điều cứng nhắc của nếp sống làng mạc đã ổn định,
đã có cơ ngơi. Đó là một thứ Bohémiens Việt Nam đầy phiêu lưu mạo hiểm, đầy những bất trắc.
Nhưng chính chỗ đó làm cho đám lưu dân này tựa vào nhau mà sống.
Trên bước đường lưu lạc của kẻ lưu dân . Tình bạn là cao quý nhất, tình nghĩa bà con xóm làng trên cả
liên hệ họ hàng ruột thịt nên * Ở đâu có nhiều bạn là quê hương ta ở đó* Thứ tình bạn đó tạo ra một nếp
sống luân lý chỉ có ở trong đám lưu dân đã giải phóng con người ra khỏi ràng buộc lễ giáo thủ cựu cầu an,
bo bo, ích kỷ, vị mình thay vì vị người. Nếp sống đó; lối sống điệu nghệ đó giới nào ra giới đó, có cái điệu nghệ
theo lối đi buôn, giới ăn mày, giới làm thuê làm mướn. Nghề nào thì có luật giang hồ của giới ấy, theo tinh thần cái bang.
Nói chừng đó chẳng biết đã đủ chưa, hay nói hết sao cho vừa đến càng nói càng thấy thiếu.
Về ngôn ngữ, tiếng nói của người dân đồng bằng sông Cửu Long.
Người lưu dân mang theo theo tiếng nói bản địa của mình, như hành trang lúc lên đường đi vào miền đất hứa.
Nhưng qua những cọ xát thực tế, những đụng chạm với người mới, đất mới, môi trường mới.. Tiếng nói dần
mất đi cái vẻ chau chuốt hào nhoáng bên ngoài, cái mỹ miều tinh tế, cái dụng ý hàm ẩn..Nó tự lột xác biến tiếng
nói chữ nghĩa quay trở về với cái hình hài nguyên thủy, cái sơ khai, cái bộc trực đơn giản trơn đuột ,
cái một chữ một nghĩa, cái hiểu sao nói vậy của thuở bình minh sơ khai, của đứa trẻ bập bẹ tiếng nói vào đời.
Cái thứ tiếng nói và viết như một, nói sao viết vậy. Tiếng nói, chữ nghĩa không phải vì thế mà xa đà, sút giảm.
Nhưng chỉ là sự trở về cái thuở ban đầu và trả lại vai trò của tiếng nói là giao cảm. Thật vậy,
Số mệnh của tiếng nói như số phận con người, càng đi sâu vào những cơ cấu trí thức, quyền lực chính trị,
xã hội, càng bóng bảy tế vi càng dễ xa đà vào vong thân bại hoại. Ngôn ngữ thay vì chuyên chở ý tưởng trở
thành công cụ cho những mục đích, những ý đồ của người xử dụng nó.[20]
________________________________
[20] Đây là mối đe dọa sống còn của ngôn ngữ thời đại. Trong chế độ CS, ngôn ngữ như một
công cụ tuyên truyền cho những thể chế chính trị, bất chấp sự thật, dối trá che đậy. Nhà văn trở thành
thợ viết như thợ cưa , thợ đục. Ngược lại trong các chế độ tư bản, ngôn ngữ là công cụ cho
những quảng cáo thông tin bạo lực.
Ngôn ngữ, tiếng nói con người thực sự đã chết khi rơi vào hai hố thẳm trên.
Vì vậy tiếng nói chữ viết bình dân, hồn nhiên, trái quy tắc văn phạm lại là thứ tiếng nói của người Việt cao quý .
Tiếng nói trở về nguồn. Vì vậy, có nhiều khi gìn giữ tiếng Việt đôi khi không phải là tạo ra chữ mới, mà trở về nguồn,
trở về quê hương của ngôn ngữ, của con nguời Việt chân chính, của thứ tiếng nói chưa bị nhiễm trùng
chính trị đãtrở thành những hoa từ trống rỗng. Mà đọc đến mệt mỏi, đến chán chường..
Cho nên khi mà nhà văn Lê Xuyên [21] viết phơi ơ tông truyện Chú Tư Cầu trên nhật báo Dân Chúng là một
cuộc hành hương chữ nghĩa về chốn cũ, về cái văn minh miệt vườn, về cái mà trào lưu văn minh xã hội
sắp bỏ quên. Đã trên 40 năm rồi, chữ nghĩa Lê Xuyên vẫn còn đó kêu gọi chúng ta cùng nhau thưởng thức
lại cái ngôn ngữ của một thời, tiếng nói đầy sức sống, đầy sức quyến rũ và mê hoặc của lớp di dân đầu tiên
để lại. Xin cùng nhau thưởng thức lại một đọan văn của nhà văn sắp quã vãng Lê Xuyên :
Tư Cầu vội bước nhanh về phía chòi, rồi ngồi xuống chiếc băng cây, chậm rãi móc thuốc ra vấn hút .
-Con Thắm đến nơi hấp tấp hỏi một hơi :
-Chèn đét ơi, chắc anh đợi tui dữ lắm phải hông anh Tư. Chắc anh đói bụng anh rủa tui..
tan nát hết phải hông. Anh mong tui lắm phải hông anh Tư.
-Ý cô đừng nói vậy.. Tui mong cơm thì có chớ mong cô Hai thì.. cái đó để hỏi lại coi.
Con Thắm làm mặt nghiêm :
-Tui nói thiệt mà anh lại giỡn hoài.
-Coi, sao cô biết tui nói giỡn[22]
.Sân khấu cải lương miền Nam : Đặc tính dân gian.
Nhà bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định , Đồng Nai thì về
Người lưu dân đi vào miền Nam không mang theo được gì thì tối thiểu trong bộ nhớ của họ theo
Trương Vĩnh Ký cũng có : Nam lý, Bắc Thơ, Huế hò. Người miền Trung, nhất là dân Ngũ Quảng
đã hẳn đã du nhập vào miền Nam không biết Bao nhiêu loại hò.[23]
_________________________
[21] Người viết chỉ xin giới thiệu một nhà văn Lê Xuyên mà không đi vào việc phân tích
các nhà văn kỳ cựu nữa ở trong Nam như Nguyển Liên Phong với Nam Kỳ lục tỉnh Nhơn vật diễn Ca,
Nguyễn Chánh Sắt với Chăng cà mun, Bác sĩ Nguyễn Bính với Kim thời dị sử,
Thơ Thầy Thông Chánh , Sáu Trọng Hai Miêng, Hồ biểu Chánh với Con nhà nghèo,
hoặc xa hơn nữa Sấm truyền ca của Lữ Y Đoàn, Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn trọng Quản
và truyện của gần 20 nhà văn nữ trong Nam, thời của báo Phụ nữ Tân Văn
[22] Trich trong truyện Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, quyển 2, trg 818
[23] Về phần này, xin xem thêm Địa chí Văn hoá thành phố Hồ chí Minh, phần 111,
Nghệ Thuật của Trần văn Giầu, Trần Bạch Đằng, chủ biên. Hoặc Đồng Bằng Sông Cửu Long,
Nét sinh hoạt xưa của Sơn Nam
Tuỳ theo sinh hoạt mà trong Nam có hò huê tình, xay lúa, hò mái cụt…Trong Nam có rất nhiều điệu
lý như lý trèo lên cây ổi, lý con sáo, lý, con két, lý con cua, lý bờ đăp, lý con cá ly ngư, lý vọng phu,
lý ngựa ô, lý con quạ..
Cao hơn một bực có hát bội. Hát Bội ảnh hưởng tuồng tích Trung Quốc và Chiêm Thành theo nghĩa giao
lưu văn hóa khi lưu dân sống chung đụng với người Tầu và dân bản địa.. Hát bội hiểu theo nghĩa đơn giản
nhất là hát có nhiều người, phát triển mạnh dưới thời Tổng trấn Lê văn Duyệt và bị cấm dưới thời Minh Mạng.
( Chẳng hiểu lý do gì, ông vua này lại cấm như thế. Phải chăng nó là tồn tích sót lại thời Lê văn Duyệt)
.Nhưng từ đầu thế kỷ 20 , Hát Bội dần dần tụt dốc đến gần như tan rã. Lý do thì như ông Trần Thiện Thành
vào những năm 1932 trong một buổi diễn thuyết đã nói như thế này : Hát bội quá cổ lỗ, kèn trống inh ỏi,
nhức tai, hát không ai nghe được, hoá trang xùng xình khó coi. Người viết, lúc nhỏ có đi coi Hát Bội ở
mấy cái đình Hoà Hưng, Đình Cầu Muối quả thực không nghe được, không hiểu gì, đúng như nhận xét
của ông Trần Thiện Thành vậy.
Chính từ chỗ bế tắc của Hát Bội mà cải lương ra đời. Cải lương có nghĩa là thay đổi toàn diện từ
tuồng tích đến nghệ thuật biểu diễn, đến sân khấu. Nhưng nói cho cùng , Cải lương vẫn dựa vào
hai dòng chính là tuồng Tầu và các tuồng xã hội để trình diễn. Chỉ dần sau này, khuynh hướng tuồng Xã
hội đã được nhiều người ưa thích hơn. Theo cụ Vương Hồng Sển , trong Hồi ký 50 năm mê hát viết :
Các điệu ca ra bộ, hát bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng các buổi hát những kỳ bãi trường
do các trường Trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng dưới thời ông Đốc Tây Francois Gros
dạy và tập hát theo kiểu hát Tây Phương, sau người mình áp dụng qua điệu hát mới, trước khi đặt
tên đó là hát cải lương .[24]
Vì thế, có thể gọi đoàn hát ca ra bộ của thầy Thuận đến đoàn hát Tân Thinh đã mở đầu cho
cải lương ra đời kể từ đầu 1917..
______________________________
[24] Vương Hồng Sển. Hồi ký 50 năm mê hát.Phạm quang Khai xuất bản. Sàigòn, 1968. trg. 49.
Trong những nghệ sĩ nổi tiếng ban đầu của cải lương phải kể đến nữ nghệ sĩ Năm Phỉ. Hồi đó,
nghệ sĩ Năm Phỉ là người độc nhất không biết chữ, nên mỗi buổi sáng , vào khoảng 9 giờ
cô học vở. Một người đọc vở và cô nghe đến đâu nhớ đến đấy.
Sau nghệ sĩ Năm Phỉ là Phùng Há đa tài đa năng, nổi tiếng trong các tuồng tích Tầu và vô số tài danh
khác của sân khấu Cải lương đã một thời được độc giả thương mến . Như soạn giả Năm Châu,
nghệ sĩ Ba Vân, Tám Danh, các nghệ sĩ khác như Út Trà Ôn, Thành Được, Hùng Cường, Thanh Nga,
Bích Sơn, Ngọc giầu, Thanh thanh Hoa, Ánh Hồng, Bạch Tuyết, Kim Loan, Trương ánh Loan,
Thanh Sang, Phượng Liên, Bảo Quốc, Phương Bình….
Từ đây, sân khấu cải lương dần thay thế các câu hò, điệu lý..Những câu hò, điệu lý nào hay
cũng đuợc đem vô cải lương hết nên dân chúng nghe được thỏa mãn mọi bề. Lại nữa nhờ các
buổi cải lương sau này được thu vào đĩa hát nên trong các buổi tiệc cưới, hiếu hỉ đều đặt máy hát
cho mọi người nghe. Thậm chí đặt máy hát ngay đầu ghe để nghe cho đã. Những câu hò, điệu hát nào hay
, dân chúng ghi lại rồi đem hát cho nhau nghe.. Dăm ba thanh niên, thiếu nữ tụ họp lại, gẩy đờn,
rồi người nào có giọng tốt bắt chước các cô đào ca lại nhửng đọan nào "Mùi nhất".. Từ đây, sân khấu
cải lương, các nghệ sĩ đã đi vào lòng dân tộc, là tiếng hát dân gian đi vào tận hang cùng ngõ hẻm,
từ tỉnh đến chợ quận, chợ làng..
Kịp khi có ra dô bán thả dàn , một lần nữa mỗi nhà cũng ráng mua được cái ra dô để nghe
những chương trình cải lương được phát trên đài. Sân khấu cải lương là đặc sản của miền Nam
và phát triển ở cao độ thời đệ nhị cộng hoà đến độ bất kể giờ giấc đêm hay ngày, tiếng hát cải lương
phát ra từ mỗi gia đình từ sáng tới tối nghe không biết chán.
Nhưng như định luật của thời gian của mỗi người, mổi sự việc có cái thời của nó. Có cái thời đã qua
và cái thời sắp tới. Chẳng hiểu nay Cải lương có còn chỗ đứng như cách đây 3,4 chục năm không. ..
Đó là câu hỏi mà người viết chưa có câu trả lời.
Viết lại nơi đây những nét chính của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
như một hoài niệm quá khứ của tuổi trẻ mà người viết có được may mắn sống ở hai miền đất nước đó.
Viết cũng để thú nhận một điều là không viết sao cho đủ, viết mấy cũng không vừa. Vì thế, người viết đã
chọn ghi lại một vài nét đặc trưng của hai miền không với tư cách người nghiên cứu mà với tư cách người
dân đã sống ở hai miền để ghi lại một vài cảm nghiệm, suy nghĩ riêng tư của mình. Vì thế, trong phần viết về
văn minh đồng bằng sông Cửu Long, người viết đã cố tình bỏ quên phần tìm hiểu về sắc thái tôn giáo của miền
này vốn là một sắc thái cá biệt, một đặc sản tinh thần của miền Nam mà người viết hẹn vào một dịp khác
Xin lấy lại câu nói của Nguyễn Ánh khi nói về miền Nam trong bối cảnh của một người Việt lưu dân ở xứ người
:
Ôi cái miền Nam xa xôi ấy. Nói mà xót xa, day dứt. Nói để chẳng bao giờ có thể quên được mảnh đất
quê hương đó đã một thời nuôi dưỡng, ấp ủ suốt thời tuổi trẻ của người viết như phần đông hai triệu
người Việt Hải Ngọai. Ôi đất nước con người, từ mảnh đất tạm dung ngoái nhìn lại quê hương cũ
mà bùi ngùi ngấn lệ.
|