Thơ & Truyện
Nguyễn Văn Lục
>
cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
--- hiện định cư tại Montréal;Canada
Cái Nghiên Mực

|
Trường hợp ông Nguyễn Đắc Xuân
Nguyễn văn Lục
Mới đây, tôi có nhận được một tác phẩm nhan đề : Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn,
do tác giả Nguyễn Thanh Ty gửi tặng. Nội dung sách khác hẳn một vài cuốn mà tôi đã có dịp đọc
viết về TCS. Ít ra thì nó cũng hé mở thêm một góc cạnh nào đó về con người nhạc sĩ tài danh ấy.
Nhưng hình như, chủ đích cuốn sách là đặt vấn đề với tác giả Nguyễn đắc Xuân. Tác giả NTT
đặt vấn đề về một bài viết của ông NĐX được hiểu là lấy lại tài liệu đã viết của anh Nguyễn Thanh Ty.
Tôi không đi vào chi tiết nội dung cuốn sách, vì bạn đọc tự mình có thể đưa ra một kết luận thích đáng.
Đọc là rõ. Tôi chỉ tiếc một điều giá ông Nguyễn đắc Xuân khi đọc được bài viết của ông NTT nói về mình..
Chỉ cần liên lạc trực tiếp với tác giả, nói " phải quấy" đôi ba điều.. Câu chuyện đáng nhẽ đã khác.
Nay thì nó trở thành lớn ngoài tầm tay của ông rồi.
Từ câu chuyện trên mà tôi muốn đặt trở lại về một bài viết của ông NĐX trên Giao Điểm, số tháng 3-2003,
với nhan đề : Nhớ thầy Vương Hồng Sển, đi tìm nơi ẩn náu của chiếc nghiên mực Tức Mặc Hầu của
Vua Tự Đức. Bài viết bầy tỏ tâm sự của tác giả, lòng khao khát muốn đi tìm lại chiếc nghiên mực vô giá ấy.
Tuy nhiên, đọc toàn bài, người viết có ý nhằm đến một nhân vật chính trị, đặc biệt là ông Ngô đình Diệm
mà trong đoạn chót của bài viết, ông Xuân có ý ám chỉ ông Diệm là nguyên nhân của sự mất mát này :
Ông Diệm hiểu câu này hơn ai hết. Thế mà cuối cùng lại chính ông đã để mất cái của báu vô giá ấy.
Ngoài thầy Vương Hồng Sển, tôi chưa nghe ai nói đến trách nhiệm của "cụ Ngô" về sự thất lạc của
chiếc nghiên lịch sử tức Mặc Hầu.
Bài viết của ông Nguyễn Đắc Xuân, ngoài tính cách muốn truy nguyên một cổ vật đã bị mất, còn muốn
ám chỉ gián tiếp ông Diệm ăn cắp báu vật đó, đồng thời chịu trách nhiệm về sự mất mát này.
Người viết xin trình bầy theo những gì biết được, theo những tài liệu có được nhờ đó làm sáng tỏ thêm
những nghi án do cụ VHS và ông NĐX đặt ra.
Để cho độc giả nắm được rõ ràng câu truyện đầy đủ từ đầu tới cuối về chiếc nghiên mực này,
xin bắt đầu trình bầy từng đề mục một.
Về nguồn gốc nghiên mực.
Trong một bài dịch của ông Ngô đình Diệm đăng trong tập san Đô thành hiếu cổ, Bulletin des amis du vieux Huế
( BDADVH), tập 4, năm 1917, từ trang 209 đến trang 212 ), trong đó, ông Diệm có ghi rõ
"Traduction des Inscriptions". Ghi chú đó cho thấy ông Diệm chỉ làm công việc dịch bản văn của Tự Đức.
Trong một bài viết khác của ông Diệm, lúc ông còn là học sinh trường Hậu Bổ, ông cũng đã dịch một bài
về sứ bộ Phan Thanh Giản gồm ba quyển với nhan đề "Như Tây Sử Trình Nhật ký " vào năm 1863..
Điều đó cũng có thể cắt nghĩa ở vào tuổi 18, ông Diệm chưa đủ tầm vóc để nghiên cứu một nghiên mực cổ.
Trong toàn cảnh bản văn, vua Tự Đức luôn luôn dùng đại danh từ "Nous". Do đó hiểu theo văn tiếng Pháp,
chữ Nous đó chỉ có thể hiểu là Trẫm , nghĩa là do chính tay vua Tự Đức viết. Trong nội dung bản văn cho thấy
khi mô tả về nguồn gốc nghiên mực có viết " Đột nhiên , từ phía vừng đông đỏ thắm, giữa những áng mây bay
tiến về hướng chúng ta, một sứ giả khoác áo vân cầm..Đó là niềm hân hoan của chúng ta
khi được thưởng thức và nhận lãnh bảo vật ấy " Qua nội dung câu trên, đã hẳn là vua Tự Đức mới
là người trực tiếp nhận báu vật chứ không thể là ông Diệm được.
Đã thế, khi chấm dứt bài văn đã ghi "Niên hiệu Tự Đức , thế thứ Mậu Thìn Cát Nhật". Đọc bản văn cho
thấy vua là người say mê đồ cổ, người sành điệu, biết từng loại nghiên mực xưa, đánh giá được cái tốt
cái dở. Để so sánh nghiên mực này với những nghiên mực cổ xưa từng nổi tiếng, Vua Tự Đức viết :
" Les encriers Hông Ti et Thanh Thiết, jadis si réputés, ne pourraient être que ses esclaves, pas plus
qu'eux, ceux appelés Đồng Ngõa et Phần Nê ne sauraient être mis en parallèle avec lui.
Il parait être unique au monde, dans sa perfectiom. Quel précieux honneur."
Về nguồn gốc nghiên mực, nội dung bài viết của vua Tự Đức diễn tả một cách văn chương, bóng bảy
đầy tính chất lãng mạn gần như huyễn hoặc như một báu vật trời cho . " Soudain, du côté de l'aurore pourpre,
une nuée s'avance vers nous : un messager, habillé de nuages, enveloppés de brouillards irrisés,
resplendissant de beauté, nous remet un objet de pierre La- Văn, en fortifiant nos pensées pour développer
notré génie littéraire. Ce fut un plaisir pour nous de le contempler en l'emportant chez nous".
Đoạn văn trên đẩy người viết đến những câu hỏi khó có câu trả lời. Vua Tự Đức muốn dùng lối văn ẩn dụ
để nói về người đã mang đến cho ông nghiên mực đó. Lối viết đó, hay thì có hay, nhưng ngày nay gây khó khăn
không ít cho người muốn truy tìm gốc tích chiếc nghiên mực. Vì vậy, ngày nay khó mà biết được ai là người
đã dâng hiến nghiên mực đó cho vua Tự Đức. Lại nữa, trong trường hợp nào và bao giờ nghiên mực của Tự Đức
đã được đưa ra Bảo tàng viện. Có vẻ như nó có một số phận mơ hồ như thế trong suốt mấy chục năm sau
khi Tự Đức đã mất.
Kể từ lúc vua Tự Đức băng hà đến năm 1917, năm mà ông Diệm dịch bài này đã mấy chục năm có lẻ,
mấy chục năm đầy những biến cố xảy ra trong chốn cung đình. Chủ của chiếc nghiên mực không còn nữa,
số phận chiếc nghiên mực theo đó trôi nổi không biết đã vào tay ai? Nhìn lại, từ khi Tự Đức lên ngôi 1848-1883,
sau đó tiếp nối ngôi vị với Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân rồi Khải Định.
Dòng dã 34 năm trải qua nhiều biến động, ai còn nghĩ tới số phận của chiếc nghiên đó nữa?
Và như nội dung đọan văn vừa nêu trên, một sứ giả từ đâu đó đã trao vào tay vua Tự Đức. Ông chiêm
ngắm nó rồi đem về nhà. Sau đó, có nghiên mực trong tay, ông xem xét, đo đạc, tìm hiểu nó thuộc loại nghiên nào,
sự cao quý của nó rồi chính tay vua ghi vào đáy nghiên mực. Nhưng tất cả câu hỏi trên chưa có câu trả lời
về cái nguồn gốc lênh đênh trôi nổi của nghiên mực trước khi rơi vào tay Tự Đức và sau khi Tự Đức đã mất..
Lúc nào và tại sao nghiên mực được trao trả cho Tàng cổ viện để cụ Sển có dịp nói về nó.
Cụ Nguyễn Thiệu Lâu, ( tài liệu trích dẫn của cụ Sển trong Nửa Đời Hư, trang 501) một trí thức khoa bảng
xuất thân trường Sorbonne cũng đã có dịp được xem cái nghiên này và cụ đã dựa vào một tài liệu sử
cho rằng vào năm thứ hai thời Thiệu Trị, năm 1842, tháng 10 có người dâng cái nghiên xưa lên Thiệu Trị.
Cũng theo cụ Lâu, đầu nghiên có khắc một bài Minh ( Theo cụ, Minh là một bài thơ theo cổ văn ).
Người viết tự hỏi, nếu cái nghiên là của vua Thiệu Trị, tại sao người đời cứ gán cho Nghiên của Tự Đức?
Phải chăng có hai nghiên và có thể có nhiều nghiên, nghiên của vua Thiệu Trị và một nghiên của vua Tự Đức..
Điểm thứ hai, người viết đếm bài Minh đến 32 chữ, trong khi đó, chữ viết trên nghiên mực được vẽ lại bởi cụ
Tôn Thất Sa không có đủ số chữ như thế. Vả lại dù cho đủ số chữ thì đã chắc gì nội dung của các chữ
trong bài Minh của cụ Nguyễn Thiệu Lâu có cùng nội dung với chữ khắc trên mặt nghiên mực của vua
Tự Đức? ( Xin xem thêm tranh vẽ của cụ Tôn Thất Sa do E. Gras sưu tầm ).
Thêm một bằng chứng rõ rệt nghiên mực thời Thiệu Trị không phải là nghiên mực của Tự Đức,
vì trên bản khắc nghiên của Tự Đức có ghi rõ :" Fait un jour faste de l'an Mậu Thìn (1868) de la période de Tự Đức"
Riêng cụ Vương Hồng Sển đã không nhắc gì đến nguồc gốc chiếc nghiên này. Bài của ông Nguyễn đắc Xuân
phần lớn nội dung lại dựa vào ý của cụ Vương Hồng Sển, nhưng ông đã đưa ra một chi tiết đến ngạc nhiên,
ông viết : Với sự giúp đỡ của cụ Thượng Nguyễn đình Hòe, Ngô đình Diệm mượn được cái nghiên Tức Mặc Hầu
( mượn ở đâu ông không nói đến) đem về nhà nghiên cứu và dịch sang tiếng Pháp bài văn ngự chế
của vua Tự Đức chạm nổi trên mặt bề đáy cái nghiên.
Có thể đồng ý một phần với ông Nguyễn đắc Xuân ở một điểm là khi ông Diệm là học sinh trường Hậu Bổ
thì ông Hòe là Hiệu trưởng trường đó. ( Theo ông Nguyễn Cúc cho biết, cụ Nguyễn Đình Hòe thuờng được
gọi là cụ Thượng Hòe, sinh năm 1886, Hiệu trưởng trường Hậu Bổ từ 1911-1917 và Thượng thư bộ Lễ 1923
và về hưu năm 1935) Cho dù như vậy, đã chắc gì ông Hòe đã lấy nghiên mực cho ông Diệm mượn.
Mặt khác, ông Diệm chỉ là người dịch bản văn của Tự Đức nên có cần thiết chăng phải có nghiên mực mới
viết được bài này? Theo văn từ của cụ Sển và của ông NĐX thì hình như vì có cơ may được trực tiếp
với nghiên mực, rồi đem nghiên về nhà nghiên cứu nên ông Diệm mới có bài viết trên BDADVH.
Xin ghi lại ý của cụ Sển :" Lúc nhỏ, ông học trường Hậu bổ ở Huế, và để cho người biết danh, ông viết bài
văn Tây này, ông dịch lại những bài thi chạm trên hộp đựng và trên nghiên mực, và kê khai rành rọt những
loại đá quý mà người Trung Hoa dùng... Đối với những ai có tánh hiếu kỳ, muốn biết thêm về nghiên mực này,
tôi xin khuyên nên đọc bài khảo cứu công phu của ông.."
Như thế, rõ ràng là cụ Sển cũng như ông NĐX qua văn mạch bài văn coi toàn bộ nội dung bài văn là công trình
nghiên cứu công phu của ông Diệm, không phải của Tự Đức. Phải chăng cụ Sển khi đưa ra kết luận coi
bài nghiên cứu nghiên mực của Tự Đức gán cho ông Diệm là tác giả có phần vội vã chăng? Không lẽ một
người học theo xưa lại không thể hiểu được văn mạch một bài văn tiếng Pháp? Ông NĐX thì dựa trên bằng
cớ nào để quyết đoán ông Diệm đã mượn về nhà, rồi xem xét, nghiên cứu viết ra bài khảo cứu vốn thực
sự là của Tự Đức. Ông là người nghiên cứu sử, nhất là được coi như Huế học lại quyết đoán một điều thiếu
cơ sở như thế?
Trở lại việc cụ Hoè cho ông Diệm mượn nghiên mực về nhà coi, tôi chỉ xin trích dẫn một số luật lệ về các đồ dùng
của vua trong "là những đồ vật của vua dùng" để thấy rằng đồ dùng trong cung không phải ai cũng có quyền mang
ra mang vào như trò đùa đâu. Trong Khâm định đại nam hội điển sự lệ đã quy định như sau ** Phàm các đồ vật
của vua dùng ( người có trách nhiệm coi giữ) mà chứa cất, sửa chữa không đúng phép, phải phạt 60 trượng.
Dâng lên vua dùng sai lầm ( dâng thứ không đúng dâng), phải phạt suy 40 roi…Nếu người chủ thủ lấy những đồ vật
của vua dùng về nhà dùng hoặc cho người khác mượn, cùng là những người mượn những đồ vật ấy,
đều phải phạt 100 trượng, đồ 3 năm**. ( Hội điển sự lệ, trang 381, tập 11).
Người viết tự hỏi không biết ông Nguyễn đắc Xuân căn cứ vào tài liệu nào để xác quyết ông Diệm đã được
cụ Nguyễn đình Hòe cho mượn về nhà nghiên cứu. Xin ghi nhận một điều : Nếu cái nghiên để trong điện Càn Thành
hay Cẩn Chánh để các vua kế vị dùng thì cụ ngay cụ Thượng cũng không dám lấy về cho ông Diệm mang về
nhà nghiên cứu. Như thế, chỉ có thể là cái nghiên chắc đã được chuyển ra Bảo Tàng Viện Huế. Ngay cả trường hợp
này, vị tất ông Diệm đã có thể mang về nhà như của riêng?
Như vậy, về nguồn gốc nghiên này vẫn còn có những điểm tồn nghi, chưa rõ ràng. Về nội dung bài viết,
cụ Sển và ông NĐX ngả theo hướng là ông Diệm đã nghiên cứu và đã viết bài. Phải chăng đây là một nhận xét cần
xem lại. Ông Diệm không có điều kiện cũng như chưa đủ kiến thức để có thể viết một bài khảo cứu về nghiên mực.
Xét văn bản tiếng Pháp, từ cách xử dụng chữ Nous, từ văn mạch cho thấy ông chỉ có công dịch thuật lại điều
mà Tự Đức đã viết, đã bỏ công nghiên cứu vì có sẵn trong tay nghiên mực.
Về tước Tức mặc Hầu của nghiên mực.
Đây là chỗ để ta bàn cãi thêm, vì còn có những điểm tồn nghi. Trong bài viết của Tự Đức có ghi như sau "
Dans notre admiration, nous l'anoblissons du titre marquis de Tức Mặc
( Tự Đức chú thích thêm Le Thạch hư Trung était un encrier dont la surface se présentait parfaitement plane.
Il fut élevé à la dignité de Tức mặc Hầu ( Marquis de Tức Mặc )". Câu đó có nghĩa cho thấy Vua Tự Đức đã đặt tên
Tức mặc Hầu cho nghiên mực, chứ không thể là ông Diệm. Ông Diệm không có tư cách và thế giá gì
để đặt tước hiệu cho nghiên mực.. Chỉ có vua mới có cái quyền ấy và phải đi đến kết luận,
chính tay vua đã viết bài văn ấy. Giải thích và gán cho cụ Diệm viết bài nghiên cứu trên như cụ Sển
là không đúng. Hơn nữa, trong một chú thích về nghiên mực đọc được trong BDADVH có ghi rõ Vua Tự Đức
đặt tên Tức mạc Hầu cho nghiên mực, đồng thời chính tay ghi chữ vàng vào đáy nghiên mực.
Cho dầu vậy, việc đặt tên cũng chỉ dựa trên một thói quen, dựa trên điển cố của Tầu đã có sẵn,
không phải điều gì mới mẻ. Thấy cái nghiên quý thì theo thói quen dùng một diển cố có sẵn để gọi.
Tức mặc Hầu như thế rất có thể chỉ là một tước hiệu theo thói quen đã được nhiều người quen dùng đặt
cho một nghiên mực quý.
Trong bài viết của ông Nguyễn thiệu Lâu cũng cho rằng Tức mặc Hầu có sẵn trong điển tích " Có một điển tích, ấy
là thời xưa phong cái nghiên là tức mặc hầu.. Nghiên tức là Tức M ặc Hầu "( Trích dẫn Hơn nửa đời hư.
Vương hồng Sển, trang 502 ).
Như vậy, theo vua Tự Đức và theo cụ Nguyễn Thiệu Lâu, cái nghiên được gọi là Tức mặc Hầu chỉ là dựa trên
một điển cố đã có sẵn của Tầu để chỉ thị một cái nghiên quý.
Nhưng trong bài viết của cụ Vương Hồng Sển, mặc dầu cụ là bậc cao vọng, nhưng theo thói quen của cụ ưa
tán rộng bàn thêm, đôi lúc viết cương nên có thể đi xa sự thực. Đọc thì vui lấy làm thích thú, nhưng xét lại
thấy thiếu sự chính xác, sự chín chắn của một người viết khảo cổ mà từng chi tiết cần được cân nhắc,
so sánh, suy nghĩ cẩn thận. Xin bắt buộc có đôi lời nhận xét có vẻ thô kệch và lỗ mãng như vậy đối với
một vị tiền bối, một học giả mà dưới mắt ông Nguyễn đắc Xuân là bậc thầy khả kính. Nhưng theo dõi cách
trình bầy của người viết, bạn đọc sẽ thấy điều nhận xét của người viết không phải là ngoa ngôn, cuồng vọng đâu.
Theo cụ Sển, cái nghiên có nhiều đặc điểm quí hóa quá đôi lúc ông gọi là " nghiên mực tiên", lạ lùng quá
sức tưởng tượng nên mới được vua Tự Đức nhân cách hoá phong tước Tức mặc Hầu. Xin trích dẫn bài
của cụ VHS với những câu văn viết mâu thuẫn:" Tôi cầm nghiên mực mà suy nghĩ mông lung,
ban đầu tôi lật bề trái xem trước, và đây cũng là méo mó nghề nghiệp, thuở nay nghề chơi đĩa xưa dạy
hễ gặp thứ gì hay thì " lật đít" xem trước, đọc ký hiệu nếu là đồ cổ, hoặc tìm gì nếu đó là thiên kim giai nhân.
Dưới đáy nghiên là một bài văn ngự chế của đức Dực tôn, đề cao đặc tính của nghiên tức mặc hầu.
Chữ khắc nổi, mạ vàng lên mặt chữ, sắc sảo không thể tả, tiếc vì tôi chỉ biết mò bằng tay và khen tấm tắc,
chớ không biết khen bằng mắt vì mắt không đọc được chữ nào. Lúc đó, có thâu vào máy ảnh, chữ tế vi quá
nên không đọc được chữ nào, vả lại ngày nay ảnh cũng mất, khen cũng như không."
Bạn đọc câu trích dẫn trên thấy có sự mâu thuẫn của cụ Sển. Khen thay cho cái tài dí dỏm của cụ.
Cụ không đọc được vì chữ nhỏ quá, chỉ dờ bằng tay, chụp ảnh cũng không đọc được vì chữ tế vi quá.
Nhưng cụ lại biết được nội dung bài ngự chế ở đáy nghiên. Nội dung bài chế ngự là đề cao đặc tính
của nghiên.Vậy là cụ đã biết trước đáy nghiên viết gì rồi. Chỉ có điều đặc tính của nghiên mực lại khắc
ở mặt ngang nghiên mực như ông Diệm đã dịch chứ không phải đáy nghiên. Cho nên lời phát biểu chữ
khắc sắc sảo không thể tả được của cụ Sển cuối cùng chỉ là hoa từ, tán rộng..Một bằng cớ hiển nhiên
là trước đó vài trang, chính cụ thú nhận không biết chữ Nho , vì ông cụ thân sinh không cho học.
" Dạ thưa Tổng Thống, đó là tôi thuộc lòng vì quá quen mặt với tô này, chớ về chữ Nho, tôi vẫn dốt,
vì cha tôi không cho tôi học chữ ấy từ lúc nhỏ " ( Trích Nửa đời hư, trang 459).
Vì thế cụ mù tịt chữ Nho. Dù có sáng mắt, cụ cũng không hiểu bài ngự chế viết gì?
Tất cả đọan văn nội dung đã được viết phóng mà thôi.
Kể ra cụ đến là tắc trách. Đi xem một cổ vật mà một tay nhà nghề như cụ ít ra cũng phải mang theo dụng cụ
tối thiểu như thước đo cự ly, cân tiểu ly, kính lúp, máy ảnh vv.. Cụ không có kính lúp, không đọc được,
nhưng cụ lại biết nội dung bài chế ngự. Thật sự nội dung đặc tính nghiên mực không nằm ở đáy như cụ
xác nhận, nhưng khắc nổi ở mặt ngang. Xin trích dẫn đọan tả chữ khắc của vua Tự Đức " Sur les faces latérales
de l'encrier sont gravés en lettres D1or ces deux phrases :Il ne présente aucune défectuosité, ni la médisance,
ni la perversité ne pourront l!entamer.".Mặt đáy và mặt ngang khác hẳn nhau. Làm sao cụ có thể nhầm lẫn như thế được?
Riêng bài ngự chế, khắc dưới đít nghiên mực trong đó nhà vua tiên đoán nghiên mực là đem lại sự tiến bộ
cho văn chương, tiên đoán sự lớn mạnh của xã tắc, sự thịnh vượng của chính chính quyền..
Nó sẽ đem lại một sự nâng đỡ hữu hiệu cho việc giáo dục dân chúng. Nó là di sản mà thế hệ sau chúng ta
có bổn phận phải bảo tồn mãi mãi.
Trước khi kết luận tại sao khiên mực được phong tước hầu, cụ Sển còn tiếp tục phô trương đặc tính của
nó đến độ dù có dễ tính lắm cũng khó mà chấp nhận được. Cụ viết :Vua Tự Đức là ông vua hay chữ nên
những gì thuộc văn phòng tứ bảo, ông hết sức tâng tiu… Ông có nghiên mực làm bằng đá Đoan Khê,
ông rất ưng ý đến nỗi phong nghiên mực chức là Tức mặc Hầu.. Một cục đá mài mực, vì biết dâng mực
cho ông cấp kỳ theo ý ông muốn. Cụ Sển theo hứng phóng bút viết tiếp : Tôi vừa định hoàn lại ông Đào
( Cụ Tôn thất Đào ), nhưng ông biết ý nói nhỏ vào tai tôi "Đâu cụ thổi mạnh một hơi vào, coi nào".
Tôi vâng lời, nâng nghiên mực lên gần sát mặt, và thổi một hơi dài lên chỗ mài mực. Thổi rồi, tôi giật mình,
hết sức ngạc nhiên, vì dưới ánh sáng mặt trời rọi vào chỗ tôi đứng, tôi thấy hơi thở trên nghiên mực đã thành
một lằn mống ngũ sắc, đang từ từ chạy lên xuống trên mặt nghiên, rồi vụt biến mất.. Ông Đào cười,
bảo tôi lấy ngón tay quệt thử trên nghiên, quả đầu ngón tay tôi ướt đẫm những mực, không khác tôi
đã nhúng tay vào mực do ai mài sẵn hồi nào không hay…. Đằng này, trước khi tôi hà hơi vào thì rõ ràng
cục đá vẫn khô ráo cho nên tôi cầm nó mà không bẩn tay, thế mà tại sao khi có chút hơi " cầm thực"
thổi vào để mượn sức thì tức khắc bảy tám chỗ " cù dục nhãn" kia bèn thi hành phận sự và nương đà
hơi thở của tôi mà tiết ra đủ số nước cần thiết để làm cho có mực… Ô, sướng quá, thần bí quá, và quí hoá quá..
Phong tức mặc hầu thật đáng.
Trong bài viết của vua Tự Đức cũng nêu lên đặc tính ẩm của nghiên mực, nhưng trong một chừng mực
chấp nhận được : "On tente de faire de la littérature, la moindre haleine caressant sa surface suffit à l'humecter.
Từ humecter trong tự điển dịch là mouiller légèrement như humecter ses doights, chỉ nghiên mực tạo ra hơi ẩm.
Nhưng từ chỗ đó cung cấp mực cấp kỳ theo ý muốn, làm ướt đẫm tay. Đã thế các chỗ túi mực được thể theo
đà hơi của ông tiết ra đủ số mực cần thiết. Xin độc giả ghi nhớ một điều, nghiên mực lúc vua Tự Đức hà hơi
vào có thể vẫn được dùng mỗi ngày. Còn nghiên mực lúc cụ Sển hà hơi có thể năm này qua năm khác chưa
được xử dụng một lần nào. Vậy mà nước ở đâu ra đẫm cả tay. Chính cụ cầm nghiên mực thấy khô queo.
Một chi tiết nữa là những chỗ túi mực, vua Tự Đức nêu ra có 5 điểm trông giống mắt chim cù dục.
Trên bản vẽ của cụ Tôn thất Sa, người viết đếm được 4 điểm, có thể một điểm không thấy rõ.
Theo cụ Vương Hồng Sển , có đến 7,8 điểm túi mực, nước theo đà cứ thế chảy ra. Chả thế mà cụ phải kêu lên :
Ô sướng quá, thần bí quá và quí hoá quá. Chẳng hiểu bằng cách nào cụ đếm dư ra như thế?
Viết quá tải như thế thì làm sao tin được?
Trong bài viết của ông Nguyễn đắc Xuân, dựa theo ý thầy của ông, thầy nào trò đó, ông còn tưởng tượng đi đâu
nghiên mực này cũng được Tự Đức mang theo. Rồi khi thi hứng đến, vội vã đến không kịp sai thị nữ mài mực,
ngài chỉ việc hà hơi vào nghiên mực thì mớ mực cũ còn lại ướt lên và ươm ra óng mướt đủ cho ngài dùng
để ghi chép ý thơ và tạo ra những sáng tác đủ lại. Cuối cùng , ông Nguyễn đắc Xuân kết luận :" chiếc nghiên
đã gắn liền với hơi thở của con người văn nhân Dực Tôn, với lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ 19.
Chẳng hiểu một chiếc nghiên mực đã gắn liền với lịch sử đất nước về điểm nào, lúc nào, gắn với cái gì.
Ông viết tiếp : Nó biết dâng mực cấp kỳ theo ý muốn của vua nên được vua Dực Tôn phong quan với tước Hầu.
Tất cả ý kiến của hai người, theo người viết chỉ là câu chuyện tán dông dài, không chuẩn mực, không cân nhắc
và thiếu hẳn ý thức trách nhiệm về điều mình viết.
Và nếu dựa theo cụ Sển thì phải đánh giá cái được gọi là sưu tầm đồ cổ của cụ ở tầm mức nào? Có vẻ,
cụ chỉ là tay chơi đồ cổ rất tài tử, rất phóng khoáng, soi mói tìm tòi kể lại, huyễn hoặc câu truyện cho thêm đậm đà.
Vì thế, đọc cụ cần tỉnh táo để phân biệt cái nào là thực, cái nào là hư. Cái hư thực như chính những món cổ vật vậy.
Về bức tranh mầu nước Aquarelle của cụ Tôn thất Sa
Bài viết của vua về nghiên mực đã được ông Diệm dịch ra vào năm 1917 đã kèm trước đó như một bổ
túc là bài của E.Gras tựa đề : Sur un encrier de Tự Dức. Bài viết của E. Gras nhằm mô tả hình dáng cũng
như cái hộp bên ngoài đựng nghiên mực. Và phần quan trọng nhất là có cho in bức hình vẽ mầu nước
của cụ Tôn Thất Sa. Nhờ hình vẽ nầy và rất nhiều hình vẽ khác đã giúp người tìm hiểu cổ vật có một
số ý niệm căn bản về một cổ vật. Cụ Sa là người vẽ các bức trướng, các cửa cung điện, các vạc,
các đỉnh, các súc vật như sư tử ngồi chầu, các bộ mũ áo dùng trong cung đình. Công của cụ về vấn đề này
không phải là nhỏ.
Phần cụ Sển đã để thất lạc bức vẽ này nên lúng túng không ít trong việc viết bài về nghiên mực của Tự Đức.
Riêng Ông Nguyễn đắc Xuân đã ra công, truy cứu, để tâm sức gần như hai chục năm trời mới kiếm ra
được cuốn sách của Thái văn Kiểm cũng như bức hình vẻ của cụ Tôn thất Sa. Công kiếm tìm của ông
đáng là vất vả. Hãy đọc đọan văn kể cái sung sướng của ông Nguyễn đắc Xuân : Cũng có nhiều lúc tôi cầu
nguyện hương hồn thầy tôi : Bây giờ thầy đã về cõi vĩnh hằng, thầy có thể gặp được hương hồn vua Dục Tông,
thầy biết được ai đang giữ viên ngọc Tức Mặc, thầy hãy báo mộng để con đi tìm. Tôi cầu hoài mà chưa thấy mộng.
Rồi không hiểu sao, có một anh bạn họ Lê ( dân An Cựu chính cống ) ở Paris gửi cho tôi một cái đĩa
CD-Rom tài liệu lịch sử Việt Nam, trong ấy có một tấm tranh mầu nước, của cụ Tôn thất Sa về cái nghiên
Tức Mặc Hầu vào năm 1917. Tấm tranh hiện ra trước mặt tôi kỳ diệu làm sao. Những gì thầy Vương kể
cho tôi nghe bấy lâu về chiếc Tức mặc Hầu gần giống với hiện thực bức tranh.. Trí nhớ của ông cụ trên dưới
chín mươi tuổi thật quá tuyệt vời…
Đọc đọan văn trên, người ta có cảm tưởng đây là niềm linh ứng giữa thế giới bên này bên kia, tạo ra những
cơ duyên hãn hữu để một lúc nào đó, những gì ông ao ước, cầu mong trong suốt mấy chục năm trời thì
nó sẽ đến, đến một cách quá đẹp đến như huyễn hoặc. Sau bao năm trông chờ, mong đợi đi tìm một báu vật
đã mất vào tay một kẻ vô trách nhiệm, nay ít ra thấy được dung nhan cái nghiên mực ông không thể không
thốt lên hai tiếng Kỳ diệu.
Trớ trêu thay, cái ảnh của cụ Tôn thất Sa nay có những người không trông chờ, người nào muốn có cũng
có thể có được. Chính bản thân tôi đả in đi in lại bức ảnh đó cho bạn bè tứ tung. Tôi cũng chẳng phải cầu mong,
khấn vái vong linh ai cả. Sự đời ít thì quí hoá lắm, trân trọng nâng niu, nay ai cũng có thể có,
muốn đọc có ngay. Hiểu biết về Huế nay ở tầm tay mọi người, chẳng cần phải là học giả nữa.
Bức ảnh củacụ Tôn thất Sa đối với ông như thứ hạnh phúc bắt được của trời, còn đối với nhiều người nay
chỉ là truyện thường. Theo người viết, nay có hàng trăm người có bức hình đó của cụ Tôn thất Sa.
Bạn đọc nào muốn có, tôi xin gửi biếu, chỉ xin tiền cước phí bưu điện. Bức ảnh đó chẳng thêm được gì,
chẳng nói được gì. Trớ trêu là người ở hải ngoại đã nhận được từ Viện đại học Huế, ngay cạnh ông
mà ông không biết để công truy cứu, rồi từ Huế, bức vẽ ra hải ngoại quay trở về trở thành tài liệu quý giá
cho ông nguyễn Đắc Xuân.
Chỉ được nhìn cái ảnh vẽ, ông Nguyễn đắc Xuân đã tưởng tượng ra cái hộp đựng nghiên mực như sau :
"Nghiên lại được đặt trong chiếc hộp bằng đồi mồi Hà Tiên vàng rực, được chế tác cực kỳ tinh xảo.
Trên nắp hộp và mặt dưới hộp cũng có thêm hai bài văn"
Bạn đọc nghĩ xem, chỉ coi bức ảnh vẽ nhoè nhoẹt mà ông Xuân dám viết phóng đại như trên. Xin trích
dẫn đọan văn mô tả chiếc hộp của E. Gras viết vào năm 1917 để so sánh hai đọan văn :
"L'écrin, dès l'abord, retient l'oeil. La nacre de caractères, soigneusement incrustés, s'irise comme des fragments
de prisme sur le fond brillant de laque noir. L'or ciselé des coins, comme celui des fleurettes et des
attributs délicatement sertis dans le fond rouge mat des bords – qui dira de quoi est fait ce rouge idéal –
est émaillé de quelques touches légères de bleu du plus heureux effet. Et le lourd et précieux coffret
semble posé sans effort sur la dentelle de quatre pieds d!ivoires ouvrés à jour"
( Trích BDADVH, tập 4, năm 1917, trang 213 )
Bản văn của E. Gras được tả rất chi tiết với những mầu sắc hoàn toàn trái ngược với những gì ông Nguyễn Đắc
Xuân viết. Nếu chỉ bằng vào việc nhìn những hình vẽ và chụp của cụ Tôn Thất Sa và cụ Thái văn Kiểm,
ông Nguyễn đắc Xuân đã viết hoàn toàn do trí tưởng tượng mà thôi. Được chế tác cực kỳ tinh xảo,
cực kỳ tinh xảo ở chỗ nào, như thế nào, ông không nói, không mô tả kỹ càng.
Làm sao mô tả được, vì chỉ là một hình vẽ.
Về nghi án, ông Diệm là người trực tiếp trách nhiệm về sự mất tích bức nghiên mực của vua Tự Đức.
Ông Diệm là người say mê đồ cổ, trong đó có nghiên mực cổ. Điều đó không thể phủ nhận.
Hơn nửa thế kỷ trước đây, lúc còn là thư sinh chưa quá tuổi 18 đã say mê dịch bài nghiên cứu về cái nghiên
của Tự Đức. Phải chăng cái say mê đó là cái cớ quấy rầy ông và vì đó thêm một cái cớ để cuộc
đời làm chính trị của ông thêm vấy bẩn?
Theo ông Nguyễn đắc Xuân thì chỉ có hai người là ông và cụ Sển lên án ông Diệm đã chiếm công vi tư,
đã tham lam nhận cái nghiên mực về làm của riêng cho mình. Theo sự giải thích của Cụ Sển :"
Khi ông lên tột phẩm nấc thang danh vọng, thì có người ở Huế biết chỗ nhược của ông và để củng
cố địa vị cho mình, bèn ôm nghiên mực vào Sàigòn tấn cống. Tôi biết chắc việc ấy vì từ năm 1959 dến năm
1962 mấy lần ra Huế, tôi hỏi thăm thì ngoài ấy nói với tôi Tức mặc Hầu đã vào Nam"
Người đó là người nào ông không nói. Biết chắc là đã vào Nam, người đọc phải hiểu ngầm là chiếc nghiên
phải tìm đường đến đường Gia Long, qua lính gác, vào trong dinh, vào phòng ông Diệm. Bài viết của cụ,
nhất là sách in lại sau 75, có lý do gì cụ không xác định rõ tên người biếu nghiên mực.
Cụ lại là người từng được ông Diệm mời vào dinh Gia Long kiểm tra chất lượng, giá trị thực hư của
những món đồ cổ, lẽ nào cụ lại không có dịp được biết đến món báu vật đó có thực nằm trong dinh
Gia Long hay không? Sau đoạn văn đó, Cụ Sển còn tỏ ý trách ông Diệm tham lam.
" Đến đây tôi trở lại chuyện một người mê cái nghiên Tức Mặc hầu hơn tôi bá bội. Mê đến bất chấp lương tâm.
Người đó khi đã chết, người ta lập biên bản thống kê tài sản mới biết y muốn lưu di 50 kí lô vàng
( theo công báo của chính phủ Sàigòn trước ) thế mà thuở sanh tiền, ông có tiếng là thanh liêm số dách.
Đã ham hai chữ thanh liêm, lại ham chi cái Nghiên Tức mặc Hầu.. Người đó đã đem nghiên mực về Sàigòn
làm chủ riêng một mình" Hiểu sát nghĩa câu này thì ông Diệm đã mò ra Huế ôm cái nghiên mang về Sàigòn
chứ không phải có người ôm nghiên vào tiến cống như cụ Sển nói đến ở đọan trên.
Ông Nguyễn đắc Xuân cũng lập lại ý của cụa Sển như sau :"Khoảng trước năm 1958,( Trước năm 1958
có nghĩa là năm 1957, sao không nói là 1957 cho rồi chuyện) anh cửu phẩm tân thơ Viện ngày xưa đã bước
lên tột đỉnh danh vọng là TTVNCH, một vị tai mắt của ngành Văn Hoá ở Huế, muốn củng cố địa vị
của mình bèn cách khai thác cái nhược của ông Diệm là thích dùng đồ của vua Chúa, đã ôm cái nghiên mực
Tức Mặc Hầu vào Sàigón tấn cống cho TT. Ông TT thường ngụy trang cho cái nhân cách của mình bằng hai
chữ " thanh liêm", bỗng trong phút chốc tạm dẹp lớp ngụy trang qua một bên để nhận cái nghiên
lịch sử vô giá đã thu hút tâm trí ông từ lúc mới vào đời. (chữ dùng không chỉnh).
Từ đó, cái nghiên Tức Mặc Hầu trở thành tài sản vô giá của người đứng đầu Ngô Triều tại dinh Độc lập,
rồi dinh gia Long. Ông cũng không quên đưa ra luật nhân quả khi viết : Người Huế tin rằng, những ai ăn cắp
vật dụng của nhà vua đem về nhà làm của riêng, nếu không bị bắt xử theo luật nhà Nguyễn thì gia đình
đó cũng tàn mạt, không chết thì cũng không ngóc đầu lên không nổi.
Phải chăng TT Ngô đình Diệm nhận cái của cắp nghiên mực của vua Tự Đức là điềm báo trưóc dinh
Gia Long sẽ bị tấn công, anh em nhà họ Ngô sẽ bị giết sau vụ CM tháng 11-63.
Ông Diệm có thể thích đồ cổ, sưu tầm đồ cổ rồi cất một chỗ, lâu lâu dở ra coi. Nhưng nói như ông Xuân
có chỗ không được đúng. Thích dùng đồ cổ của vua chúa có nghĩa sưu tập các đồ dùng đó mang
ra dùng chúng hằng ngày như tự coi mình là vua chúa. Ông Diệm đã là một thứ vua rồi, cần chi đến những
thứ đồ cổ đó như để nghiên mực trên bàn để dùng. Đã vậy có muốn dùng cũng không được vì là bút lông.
Nhiều người đã từng vào văn phòng làm việc của ông Diệm như các cụ Đoàn Thêm, Quách Tòng Đức,
B.S Trần kim Tuyến, ngay cả cụ VHS đều cho thấy văn phòng bầy biện sơ sài đến nghèo nàn đến
không xứng cho một Tổng Thống. Vậy, ông Diệm đã thích dùng đồ của vua chúa là những đồ gì?
Cụ Sển đã thế, ông lại đi theo vết chân thầy thì coi sao được.Đọc đoạn văn trên, phải đánh giá ông là người thế nào?
Lời kết án của cụ Sển về việc ông Diệm nhận cái nghiên mực ăn cắp của vua Tự Đức là một nghi án
quan trọng. Phải được coi là một lời kết án có suy nghĩ chín chắn, nếu không thì cả cái sự nghiệp đi
săn đồ cổ với cái cao ngạo " lấy mắt xanh biết vật hay cái thần nhãn thì mới là tay chơi " của cụ dám không còn nữa.
"Cái thú chơi cổ ngoạn là có mắt hơn người, chớ dùng máy đo và dùng mãi khoa học Carbone 14 thì chết
mất thú chơi cổ ngọan. Đó chỉ là một cách giỡm tiền hoặc khoe của của các nhà trọc phú ".
Ngày nay mà viết như thế chắc hẳn người ta sẽ dị nghị. Nếu lời kết án có sơ hở thì tiếng tăm của cụ còn gì nữa?
Nay cụ đã quá vãng , chỉ còn ông Nguyễn Đắc Xuân được coi như kẻ kế thừa sự nghiệp với những lời trối trăn
của người chết là phải truy tầm ra cái nghiên mực đó ở đâu? Như lời của cụ Sển phát biểu nghe đến lạ
" ai lo mất nước, mất nhà, tôi lo mất nghiên mực " .
Nhưng trước khi có thể truy lùng ra được ai là người giữ nghiên mực, xin ông Nguyễn đắc Xuân một lần nữa
làm sáng tỏ thêm về nghi án Ngô đình Diệm. Cả cụ và ông Xuân đều nói úp mở là có một người ở Huế,
còn ông Xuân nói rõ hơn một vị tai mắt làm văn hóa ở Huế. Hài danh kẻ nhận của ăn cắp mà không hài
danh kẻ cắp là không ổn? Có cái gì bắt ông phải che dấu tên kẻ ăn trộm mà kẻ đó là chứng nhân quan
trọng hàng đầu của lời kết án này? Bao lâu ông chưa đưa tên kẻ ăn trộm với bằng chứng cụ thể thì việc
kết án của ông chỉ là truy chụp bôi bẩn. Kẻ viết mong là khi đọc được bài này, ông Xuân sẽ thỏa mản nguyện vọng
bình thường của một người đọc. Ai ăn cắp, ai nhận của ăn cắp cũng vậy thôi. Kẻ đó là Tổng Thống hay thứ dân
thì cũng cùng một tội. Và nếu đúng như lòng mong đợi của ông là ăn trộm của triều đình thì tán gia bại sản
thì có lẽ dân Huế là nạn nhân đầu tiên của lời nguyền rủa đó trong vụ tết Mậu Thân. Ông viết hồ đồ như thế,
cho dù ông Diệm có ăn cắp đi nữa thì có liên quan gì đến cái chết của ông ấy?
Đọc đọan văn chót của cụ Sển có câu sau đây "Trước năm 1975, có một người trẻ, xưng là học trò cũ của tôi,
nói nửa úp nửa mở rằng nghiên mực Tức Mặc Hầu chưa ra ngoại quốc, vẫn còn luẩn quẩn đâu đây hoặc
vùng Sàigòn, hoặc còn trong nước không xa, và ở trong tay một người nọ, và nghèo lắm, túng lắm,
chức vị nhỏ lắm, nhưng va không khứng lìa ngọc Tức mặc hầu. Tôi đã ráng hết sức hỏi, hỏi thêm gì người ấy
cũng không nói nữa, nên hôm nay đành nói tách bạch ra đây " Đành nói tách bạch ra đây mà thực sự
chẳng nói được gì, chỉ thêm rối rắm. Làm sao trước 75, chiếc nghiên mực lại có cánh bò ra khỏi dinh Gia Long,
rơi vào tay một kẻ nhọ đít, khố rách áo ôm. Đã thế chức vị nhỏ lắm, tầm kiến thức hiểu biết đuợc bao nhiêu
để có thể đánh giá được sự vô giá của một viên đá mài mực? Vì thế chắc là trả giá bao nhiêu y cũng không
chịu bán. Hỏi người học trò rán hết sức y cũng không chịu nói.
Đọc đọan văn trên cho thấy tính cách hoang đường, gán cho nó một mầu sắc phiêu lưu, tính cách đạo lý
của kẻ biết của biết người, thà chịu đói đến chết cũng giữ vật gia bảo. Còn cái anh học trò không nói,
chỉ vì một lý do dễ hiểu vì câu truyện anh kể chỉ là chuyện hoang đường. Cụ VHS vẫn có cái tài kể
những câu chuyện hoang đường như thế, đọc thì thấy rất hấp dẫn, đưa người đọc đến chỗ ngỡ ngàng,
nuối tiếc. Cứ theo giả thuyết trên thì trước 1975, nghiên mực không thuộc quyền ông Diệm nữa,
nó đã cao chạy xa bay rồi, oái ăm là lần này nó tơi vào tay một kẻ nghèo kiết xác, nhưng lại biết được
giá trị vô giá của nghiên mực..Đọc cụ rồi, còn đôi chút kính trọng nó cũng bay di theo nốt với cái nghiên mực.
Mất mát một cái nghiên mực, dù cho là vật gia bảo, quý giá, rồi mơ hồ nói bóng gió nó được đưa ra
ngoại quốc bằng những giả thuyết vô bằng như bà Nhu bí mật mang sang Vatican, ông Diệm đem theo
xuống nhà Mã Tuyên. Chẳng nên viết như thế làm gì, nhất là một người như cụ Sển, ông Nguyễn đắc Xuân.
Có thì nói có, không thì nói không. Nếu ông Diệm ăn cắp thì nói ăn cắp, nếu bà Nhu ăn cắp một lần nữa,
vì là vật vô giá hằng mấy trăm triệu thì cứ nói huỵch tẹt ra. Còn nếu không mà đổ oan cho người ta thì chẳng nên.
Cũng đã rất nhiều người đổ oan cho ông, còn tôi thì không bao giờ. Vâng không bao giờ.
Trong một thư gửi cho người viết, Ông Nguyễn Cúc, chủ bút Tiếng Sông Hương, trong phần ghi chú đã đưa
ra một chi tiết tối quan trọng về tư cách của ông Diệm như sau. " Cụ Tùng Chi Võ như Nguyện, nguyên Viện
trưởng Viện Hán Học Huế, vào những năm 61-62 có mở một cuộc triển lãm tài liệu, sách sử Viện Hán học.
Ông Diệm ra dự cuộc triển lảm nên nhân đó cụ Nguyện đã kể truyện có một nghiên mực cổ tên Vệ Ương Cung..
Ông Diệm rất vui thích, ngỏ ý muốn xem và mua lại tặng Viện Hán Học."
Bằng vào những điều kể lại của cụ Nguyện mà người viết trân trọng tin là cụ Võ như Nguyện đã nói thật
thì tư cách của ông Diệm trong trường hợp này có thể phản bác, đánh đổ tất cả những lời vu cáo của cụ
Sển và ông NĐX. Không dễ gì bôi nhọ ông Diệm trong trường hợp này. Thích đồ cổ là một chuyện,
nhưng không giữ làm của riêng, mua là để cho hậu thế, cho Viện Hán Học. Cái thích đó vượt lên trên những
tham lam, nhỏ nhen tầm thường. Quả thực, nếu đúng là như vậy, ông NĐX cần minh định lại rõ ràng những
lời kết tội của ông đối với ông Diệm. Ông mong cái nghiên mực thế nào thì phần tôi mong ông công bố bằng
bài viết rõ ràng và minh bạch về những lời kết tội ông Diệm.. Mong thì mong vậy thôi, vì tôi biết chắc, ông không
bao giờ làm đươc điều đó.
Xin đưa thêm ý kiến vủa ông Vĩnh Phúc trong cuốn "Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm",
từ trang 440 đến 454, Ông Vĩnh Phúc, người đã ghi lại những xác nhận của ông BS Tuyến để phản bác
những dư luận đồn đãi về việc ông Diệm chiếm công vi tư bằng cách nêu ra " có những người như Quách Tòng Đức,
Cao xuân Vỹ và nhất là Hoàng bá Vinh đều quả quyết chẳng bao giờ nhìn thấy nghiên mực nào cả.
Trong dinh lại có ba nguời thường ra vào thường xuyên phòng ông Diệm là bí thư Võ văn Hải,
Đại úy Bằng hầu cận và ông già An, người bỏ già. Trừ ông Hải, hai người kia thường có dịp trò truyện,
kể cho ông Tuyến nghe. Nhưng tuyệt nhiên, không có ai nói về nghiên mực đó cả. Chính cụ Sển cũng đã dò
hỏi ông Giá là người chịu trách nhiệm bảo quản các vật dụng trong Dinh, nhưng ông bảo không bao
giờ trông thấy nghiên mực." ( trg 457 ).
Viết như trên, bằng một số luận cứ hợp lý, chẳng hiểu đã rõ ràng minh bạch trắng đen chưa?
Đã thế, nói về cái mất cái còn của triều đình Huế mà chỉ coi cái nghiên mực như vốn liếng vô giá của triều đình
nhà Nguyễn tỏ ra hẹp hòi, nếu không nói là thiển cận. Triều đình nhà Nguyễn đã có cả trăm năm.
Vật quý giá có cả trăm, cả nghìn, nay còn đâu. Chỉ vì một cái nghiên mực mất trong một tình trạng còn mơ hồ
mà như thể có chủ đích một lần nữa bôi nhọ một người đã chết. Việc làm đó, tình cảm đó, lối suy nghĩ
đó có nên chăng? Dùng cái nghiên mực như một viên đá một công đôi ba việc để hạ một người thật
chẳng đáng. Người viết xin đưa ra một chút tư liệu về tài sản của triều đình nhà Nguyễn để nếu có xót thương,
nếu có tiếc thì tiếc những gì đã mất, đã bị ăn cắp, đã bị chiếm công vi tư gấp trăm, gấp ngàn viên đá nghiên mực.
Chẳng hiểu, ông Nguyễn đắc Xuân, một người nghiên cứu, sưu tập sách cổ, đồ cổ có biết không,
hay biếtụ mà không nói.
Thứ nhất : Về tài liệu sách vở của triều đình : Ngoài những sách như Đại Nam thục lục,
Đại Nam nhất thống chí, Việt sử thông giám cương mục, Khâm định đại Nam Hội điển sử lệ cũng
như Đại Nam Nhất thống Chí. Chúng ta còn vô số các tài liệu tại điện Đông Các, Càn Thành.
Ai có bảo đảm cho biết hiện nay tại điệỉn Đông Các, các hiệp ước, các văn kiện trao đổi với ngoại quốc,
các văn sách ngự chế, các địa đồ, các sách quý thời Minh Mạng, các châu bản tức là các tấu chương
được bút son của vua ngự phê.. Cái nào còn, cái nào mất? Rồi còn các ấn tỷ của vua bằng vàng bằng ngọc,
có bao nhiêu cái?
Theo ông Laborde, các quyển kim sách là những văn kiện tấn phong của các vua, sắc phong hoàng hậu và
đông cung. Các sách này toàn bằng vàng mà chiều cao là 24 cm, ngang 13cm, khoen đóng bằng vàng,
cân nặng 37 lạng vàng ròng (vàng ròng nặng khoảng một kí lô 400). Mỗi quyển Kim sách nặng
hơn một kílô vàng, có bao nhiêu vua chúa, có bao nhiêu hoàng hậu, đông cung thì có bấy nhiêu quyển.
Nay còn đâu? Rồi những quyển ngân sách, tức những văn kiện tấn phong hoàng thân quốc thích,
hay cho các cung phi, cung nữ bằng bạc được khắc trên lá bạc nay cũng ở đâu?
Trong bài Văn Khố Triều Đình Huế của cụ Nguyễn hùng Cường đăng trên Tiếng sông Hương, trang 67 cụ viết :
Không có người coi sóc, không có người chuyên môn trông coi, chung quanh không có cửa, phần thì bị
mưa dột, các châu bản tàng trữ bị hư hỏng nên đã đồng ý với ông Ngô đình Nhu tìm cách cứu vãn các châu bản.
Nỗi lo sợ khí hậu Huế ẩm ướt đã đi đến quyết định vào năm 1961 di chuyển một phần lớn lên Đàlạt.
Vào những năm 1959, Viện Đại học Huế giao cho giáo sư Trần kinh Hòa tổng kết, đóng bìa, phân loại các
châu bản đó cho đến 1963. Ngoài ra Uỷ Ban này nhờ cơ quan Văn Hóa A Châu đã xuất bản Mục lục châu bản
triều Nguyễn… Rồi được thành vi phim hiện đang được tàng trữ tại thư viện Harvard-Yenching và thư viện đại học
Cornel ở Ithaca. Newyork.
Cụ đi đến kết luận : " Vì vậy một phần lớn châu bản đã mất tích, hiện giờ không có cách nào tìm
lại hoặc bổ túc được.. Năm 1950, phúc trình của Ferrréol de Ferry, nguyên Giám đốc sở Văn khố và
thư viện Phủ Cao ũy Pháp tạ Đông Dương, cho biết chứng tích cuối cùng còn lại của văn khố triều đình
Huế tức văn khố Hoàng Triều, chính là cuốn "Lea Archives des Empereurs d'Annam et l'histoire Annamite" của Paul Boudet'.
Thứ hai : những mất mát về tài sản triều đình Huế kể sao cho xuể. Hãy kể một trường hợp thôi,
khi vua Bảo Đại thoái vị, chính quyền Cách Mạng mà ông Nguyễn đắc Xuân đã đi theo đã tiếp thu tài sản triều đình
Huế. Phải mất ba tháng mới kiểm kê xong. Có bao nhiêu tài sản đã lọt vào tay chính quyền kháng chiến thời đó,
nay ở đâu? lọt vào tay ai? cất dấu hay bảo quản ở đâu? Có lẽ, đây là vấn đề đáng quan tâm nếu ông
Nguyễn đắc Xuân thực sự có lòng, thực sự muốn thu hồi lại những gia sản đó. Xin trích dẫn lại về bản
kiểm kê của chính quyền nhân dân cách mạng qua cuốn sách của Phạm khắc Hòe :
" Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc ". Ông Hòe là ngự tiền văn phòng cho Bảo Đại, theo VM phản chủ :
" Chiều ngày 27 và buổi sáng 28, tôi ( tức Phạm khắc Hoè) cho kiểm điểm lại các thứ tài sản trong Đại nội
để trao cho chính quyền Cách mạng. Nói đến của công trong Đại Nội lúc bấy giờ thì quí giá nhất là các
đồ vật bằng vàng bạc, ngọc ngà, các châu báu có tính chất lịch sử của các đời vua nhà Nguyễn,
cất trong một cái hầm lớn dưới mái sau của điện Cần Chánh". Sở Tài chánh trong ũy ban Nhân dân
Trung bộ của ông Trần hữu Dục đã phụ trách tiếp thu những món báu vật của Triều đình Huế.
Sở tài chánh trước ngày 19-12-1946 đã chuyển tất cả di sản quý báu này ra Vinh, chứa cất tại nhà lầu
của ông Hoàng Cao Khải và con là Hoàng mạnh Trí. ( Tài liệu trích lại của Lê văn Lân trong cuốn Chiếc bảo ấn
cuối cùng, trang 49-50).
Trong " Chuyện Cung đình nghe kể lại " của Võ Hương An, con cụ Võ văn Lang có viết như sau :
" Khi nghe kể việc bàn giao cho Việt Minh tất cả kim sách ( Sách bằng vàng ), ngân sách
( Sách bằng bạc ) và các loại ấn, tôi ngạc nhiên hỏi : Theo con thì vua bàn giao ấn kiếm,
tượng trưng vương quyền cho chính phủ Việt Minh như vậy là đủ rồi, còn kim sách, ngân sách
và các thứ ấn khác thì coi như của riêng của vua, việc chi phải giao cho họ. Thầy tôi trả lời :
Khi nói tới bàn giao những gì, thầy cũng đem ý đó ra tâu với Ngài, nhưng Ngài dạy rằng :
nếu những thứ đó bằng sắt hay bằng đồng thì không nói làm gì, ở đây nó bằng vàng.
Nếu giữ làm kỷ niệm, người ta sẽ nghĩ rằng ta còn tham. Cả cái ngai vàng ta còn chưa tiếc,
tiếc chi mấy thứ đó " ( trích lại của Ô. Lê văn Lân, Chiếc Bảo ấùn, trang 51).
Xét như vậy, ông Nguyễn đắc Xuân nên đặt vấn đề với chính quyền đương đại về tài sản mất còn
của triều đình Huế mà họ đã tiếp quản…Người viết còn nhớ đọc đâu đây câu nói của Trần Huy Liệu
xác nhận đã nhận đầy đủ tài sản và có làm giấy tờ hẳn hoi do hai bên cùng ký nhận. Giấy tờ đó bây giờ ở đâu?
Tưởng rằng bài viết đến đây đã tạm đủ. Nếu có cần nói chi thêm chỉ xin nói một câu như cựu hoàng Bảo Đại
đã từng nói : tiếc chi nữa, cái ngai vàng còn chả tiếc, tiếc chi ba thứ lặt vặt khác.
Ông Nguyễn đắc Xuân nay vẫn ngồi ôm mộng thu hồi lại di sản chiếc nghiên mực của Tự Dức do lời trối trăn
của cụ Sển, thầy ông. Đó là việc của ông, nhưng trước sau nghiên mực cũng chỉ là một viên đá, dù là đá quý,
còn mất có nghĩa gì so với mất mát của triều đình và mất mát của cả miền Nam. Quên đi có lẽ là hay nhất
để ít nhất cũng khỏi làm phiền lòng nhiều người. Phải không ông?
Trường hợp của ông, việc viết lách của ông quả thực là có vấn đề đấy. Hẳn là ông biết rõ điều ấy?

Bức họa mầu nước do cụ Tôn Thất Sa vẽ Và E. Gras đã dùng bức họa này để mô tả nghiên mực.
|