free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ & Truyện

Nguyễn Văn Lục

   > cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
    --- hiện định cư tại         Montréal;Canada

...đọc thêm :

    ---Tệ nạn mãi dâm tại Việt Nam!     của Hà Ngọc Báu

 

Báo động về việc buôn bán tình dục ở Việt Nam
Nguyễn văn Lục

Đôi lời ngỏ. Người ta có thể chia rẽ, có thể đối đầu về những bất đồng chính trị. Cái điều mà người ta thường thấy trong sinh hoạt chính trị trong và ngoài nước. Nhưng trong những vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, vấn dề nhân sinh, vấn đề xã hội, vấn đề đạo lý con người. Sự chọn lựa đã hẳn không phải là dễ. Người ta dễ có thói quen trọn gói ”, thu tóm và giản lược. Tất cả cái gì phía bên kia, bất kể nguồn gốc đạo lý, xã hội, con người đều giản lược vào chính trị, tạo ra cơ hội để bôi đen đến độ hả hê, cười cợt trên những khốn khổ bất kể từ đâu tới. Đó là một thứ Sa-đích chính trị đến độ đánh mất đi cái lòng nhân ái, cái tình nghĩa con người. Phải chăng, đã đến lúc phải đánh thức tiềm lực tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của lòng nhân ái, biết xót xa, biết rung cảm, biết chia xẻ cái bất hạnh xảy đến cho đồng loại mình. Mất cái đó, còn có gì để gọi nhau là người Việt Nam nữa. Và sau đây là câu chuyện về người phụ nữ Việt Nam, bài học lương tâm của tất cả mọi người Việt Nam.

1.-Bức thông điệp của những người phụ nữ bất hạnh.

Con người là vốn quý. Người ta nói với nhau như thế. Nhưng ở đâu thì không rõ, nhưng riêng ở Việt Nam, con người là cái vốn rẻ nhất, càng rẻ hơn nữa là người phụ nữ. Đọc báo trong nước mỗi ngày, đọc một tờ, đọc 4,5 tờ, nhiều lúc lòng chùng xuống vì những tin tức, nhất là những phóng sự. Không ở đâu nhiều bài phóng sự như ở Việt Nam mà tự nó những phóng sự phơi bầy một bức tranh xã hội nhìn từ bên trong. Một nền đạo đức ở mức xa đọa nhất không phải vì trộm cướp, giết người, không phải chỉ từ tham nhũng hối lộ, cũng không phải tại ăn gian nói dối. Ở đâu chả có, ở đâu cũng thế. Ở Mỹ, cứ 8 giây, có một phụ nữ bị ngược đãi và 6 phút có một phụ nữ bị cưỡng dâm. Vậy thì nó là cái gì.
Thưa ở chỗ nó khinh miệt phẩm giá con người, khinh miệt người phụ nữ.

Một số các phóng sự viết ra từ trong nước với dụng ý câu khách nằm ở diện trên : Khinh miệt con người. Từ những cách chọn đặt tiêu đề bài báo, chọn những hình ảnh phụ nữ hở hang dùng đi dùng lại trong mỗi bài. Tỉ dụ, một cô gái ngồi hở hai cái đùi, tấm áo mỏng che ở giữa nhìn thấy cô ở nhiều bài. “Bia ôm” cũng cô đó, “ngủ trưa ôm” cũng cô đó, “gái xịn Daylan” cũng cô đó. Điều đó chứng tỏ những bài phóng sự đó có nhiều phần phóng tác. Cách xử dụng từ ngữ và văn phong với giọng mỉa mai, chế diễu, gợi dục. Xin mời đọc một đoạn văn : “... đã có ba khách trung niên bệ vệ mặt đỏ bừng vì tuần bia trưa đang hôn hít, cấu véo mấy người mẫu. Lên đến tầng ba, nghe tiếng rên thoát ra qua lớp cửa kính lờ mờ. Tầng bốn, nằm la liệt những thân hình béo núc mặc độc chiếc quần cộc, bám dính bên cạnh là những người mẫu.”. Dụng ý thương mại đã lấn lướt ý thức tôn trọng phẩm cách con người. Bài phóng sự của họ vô tình coi nhẹ tính nhân bản, mất ý thức xã hội.

Người đọc trong nước và ngoài nước cũng vô tình rơi vào cái bãy của trò chơi chữ nghĩa đó. Họ đọc những phóng sự đó một cách vô tình, dửng dưng như một giải trí, tỏ ra khoái trá, tò mò, khích dục, khích bản năng trước những thảm trạng xã hội như một người ngoài cuộc. Họ không nhận thức ra rằng chữ nghĩa làm đau con người, làm thương tổn phẩm giá người phụ nữ. Đọc như thế là đồng lõa, tự hạ chính mình xuống. Đã đến lúc xin ngừng viết như thế và cũng ngừng đọc. Chúng ta cần một trái tim theo cái tinh thần “một con ngựa đau cả tầu không ăn cỏ”. Trừ những báo lá cải, tôi không thấy như thế trong những bài phóng sự của các nhà báo ngoại quốc. Xin lại mời đọc : “In 20 years as a cop, he says, he’s never seen anything like this. Bob Mosier” You have an 8-year-old or 9-year-old little girl you know just looking at you smiling, realizing that you're going to in just a few moments possibly, probably going to engage in a sexual act they're going to get money for, and they’re smiling about it. I mean I see I smile like that on my kid's face when they're finding out they're going to go to Disney world or something like that” ( Trích trong bài phóng sự của ký giả Chris Hansen ). Nhân cách họ ở chỗ đó. Họ viết với dụng ý tố cáo, thức tỉnh, lay động lương tâm con người, khích động các người cầm quyền phải hành động, phải lên tiếng, nhờ đó bài viết của họ mang giá trị nhân bản. Cách nhìn, chỗ đứng của người viết phóng sự với tầm nhìn ở góc độ đạo đức lương thiện làm cho bài phóng sự trở thành một nhân chứng tố cáo khác hẳn một phóng sự rẻ tiền.

Sự việc xảy ra là cho đến lúc này, Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài khoảng 5 chục ngàn lao động mỗi năm và tổng số lao động được xuất khẩu cho đến nay khoảng 3 trăm ngàn người làm việc tại 40 quốc gia. Việc xuất cảng lao động này đem lại cho nhà nước gần 2 tỉ đô la mỗi năm. Lợi nhuận kinh tế không chối cãi được, vừa có tiền, vừa giải quyết nạn thất nghiệp. Nhưng biết bao vấn đề xã hội đã đặt ra cho ba bốn phía. Phía xuất khẩu lao động, phía nhập khẩu lao động và hơn hết và đáng nói hơn cả là người lao động. Hàng hóa xuất khẩu ở đây là con người. Chưa bao giờ người ta nghe nói như thế, nhưng lại là điều có thật. Nhưng mẫu hàng hóa đó mang nhãn hiệu Việt Nam không phải là con cá, con tôm đông lạnh. Có thể cũng là một thứ cá tôm đây, chỉ khác nó biết nói tiếng người, biết kêu đau, biết phản đối.

Vì thế, mọi chuyện đều có thể xảy ra từ lô hàng xuất khẩu đó. Từ trộm cắp, giết người, bỏ trốn, bị hãm hiếp, bị hăm dọa, bị cô lập, bị làm điếm không công do giấy giả hôn nhân, bị bóc lột lao động, bị xỉ nhục, bị hành hung, bị lừa đảo. Những câu chuyện đó, giấy mực nào nói cho hết.

Câu chuyện về những người phụ nữ bất hạnh được kể sau đây là một lời cảnh thức nghiêm trọng đối với tất cả chúng ta, chính quyền trong nước cũng như người Việt Hải ngoại. Phải nói như thế, bởi vì một số báo chí hải ngoại cũng tiếp tay đã dùng những bài phóng sự trong nước như món hàng câu khách, câu độc giả bất kể đến sự tôn trọng tối thiểu nhân phẩm người phụ nữ. Từ những hình ảnh phơi bầy thân thể người phụ nữ quá lố, từ những ngôn ngữ xàm tục, từ những manh mún biến những tệ nạn xã hội trong nước cho những mưu cầu chính trị hải ngoại. Người nào theo dõi báo chí thường xuyên giữa trong và ngoài nước sẽ nhận ra điều này : Họ đôi khi giống nhau như hai giọt nước, như chị em sinh đôi. Càng chống, càng giống đến như đúc. Dĩ nhiên cảnh giới khác nhau, một bên chỉ trích, một bên bôi nhọ. Xin đã đến lúc cảnh thức và ngừng lại.. Không có gì có thể bào chữa cho thái độ dùng những bất hạnh của người phụ nữ cho bất cứ một nhu cầu đọc nào.

Đối với chính quyền trong nước, thời mở cửa trong nước nay đi đến giai đọan tạo một bùng nổ về phát triển kinh tế đáng ngạc nhiên và khích lệ. Nhưng trong bất cứ xứ nào, những cải tiến xã hội đã không phát triển đồng bộ với nhịp tăng trưởng kinh tế. Chẳng những vậy, còn có thể tạo ra những hố sâu phân cách giầu nghèo. Giầu càng giầu thêm, nghèo càng đụt đi. Tình trạng đó tạo ra những tệ đoan xã hội mà những thành phần phụ nữ là nạn nhân thứ nhất và không phải là nạn nhân cuối cùng. Chúng ta đang tiến nhanh với nhịp độ cấp số nhân về tăng trưởng kinh tế, nhưng cấp số lùi về cải tiến xã hội. Điện, nước, điện thoại về đến nông thôn, đi vào các vùng sâu, vùng xa. Mỗi lần đọc tin tức về kinh tế bên nhà, phải thú thực lòng mình, khó mà dấu nổi niềm vui và phấn khởi. Đèo Hải Vân thông nguồn, xa lộ đông tây chuẩn bị lên đường, 6 tuyến xe điện ngầm trị giá hàng tỷ đôla với liên xô. Xe hỏa cầu nổi dự án 700 triệu đô la ở Hànội. Thêm giếng dầu, thêm khí đốt. Con số tỉ mét. Nhà cửa, xe cộ, khu doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch mọc lên như nấm đến độ giá đất ở VN được kể là đắt nhất thế giới. Có nơi như ở Hànội lên đến 3 chục ngàn mỷ kim, một mét vuông. Sài gòn cũng không dưới 2 chục ngàn, mét vuông. Thật là ngạc nhiên. Mức lợi nhuận cả nước hoặc tính theo đầu người đã hẳn hơn VNCH trước 1975, ít lắm là 3 đến 4 lần, nơi mà trước đây những người đi giải phóng có ước mơ cũng không thể tin được. Nhưng có một tỉ lệ đảo ngược con số mức tội phạm như trộm cướp, tham nhũng, lừa đảo, lạm dụng tính dục. Trước đây, Sài gòn được coi là ổ điếm thì nay phải gọi bằng tên gì? Không ai tính được bằng những con số, nhưng người ta dễ dàng nhận ra điều ấy khi đặt chân về Việt Nam.


2.- Những thực chứng về số phận người phụ nữ Việt Nam

Chẳng biết có nên tin vào câu chuyện Bà Eve ăn quả táo cấm hay không? Chỉ biết rằng từ đó đến nay, thân phận người phụ nữ cứ bị quả táo đó đeo đuổi mãi. mãi. Con đường mà phụ nữ VN dong ruổi cùng với số phận đất nước chỉ có những tiếng thở dài. Thời nào cũng vậy.Trước 75, nhà văn Thảo Trường với chuyện : Nguời đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp ( được dịch ra La femme enceinte du canal de Đồng Tháp, nhà xuất bản Nam Sơn) là biểu tượng chua xót cho số phận người phụ nữ. Chị Tư , người trong chuyện ở vùng xôi đậu trong xóm Cây-Gò-Đen, quận Mỹ An. Ban ngày, để có miếng ăn chị ngủ với lính Quốc Gia, ban đêm để yên thân chị chứa du kích. Thân xác chị là chỗ đi về giữa hai lằn đạn . Đã có lần , chị hỏi anh du kích : “Đứa con thuộc về ai” Chị được nghe trả lời : Nó thuộc về đảng . Lúc sinh đẻ, chị được một sĩ quan quân đội VNCH đã giúp chị sinh đẻ và giúp đi làm giấy khai sinh cho đứa bé. Người ta hỏi tên cha nó. Chị lắc đầu : Nó không có cha. Cuối cùng thì người sĩ quan đã nhận đứng tên là cha đứa nhỏ. Câu chuyện kết thúc bằng một lá thư của người cha hờ cho đứa bé, gửi cho nó khi nó 20 tuổi với lời nhắn nhủ : Truớc khi tranh đấu, trước khi biểu tình, trước khi đảo chánh, trước khi đi hành quân, trước khi thuyết pháp, trước khi cầu nguyện, trước khi hội thảo, trước khi thụt két, trước khi hành lạc, trước khi đập phá, trước khi hy sinh nghĩa là trước khi quyết định làm gì, bố xin con, Hãy nghĩ đến người đàn bà khốn khổ đã mang thai con trên Kinh Đồng Tháp. ( trích lại trong Le Crépuscule de la Violence, bản dịch của Nguyễn ngọc Lan và Lê Hảo)

Lời nhắn nhủ gửi cho người thanh niên mà thực sự cũng là gửi cho mọi người.

** Những tin vặt đánh thức lương tri.

-- Theo báo Lao Động, sinh viên học sinh chiếm 81,5% số người nạo phá thai. Theo Bác sĩ Nguyễn thị ngọc Phượng, Giám đốc BV phụ sản Từ Dũ, thành phố HCM hiện là địa phương NPT (nạo phá thai) cao nhất nước. Cứ hai ca nạo phá thai mới có một ca sinh. Cả nước vào năm 2000, có gần 100.000 vụ ly hôn và mức trung bình hằng năm tăng từ 15 đến 20 %. Đó là những con số biết nói.
-- Gái gọi Dylan – hàng một triệu. Đó là nhan đề một bài báo của tờ Tuổi Trẻ, số ra ngày thứ hai 15.12.2003 . Các thiếu nữ lái xe Dylan, tên gọi để chỉ các cô gái trẻ, tuổi 16-17 phần lớn là các em học sinh thủ đô xinh đẹp bỏ học chơi bời, thuộc “loại hàng một triệu”. Các em tập trung ở phố ẩm thực Cẩm Chi, Tống Duy Tân ăn đêm, tới vũ trường New Century hay các khách sạn, hoặc ở bar Space Night phố Phan phù Tiên. Đây là lời nhận xét của tác giả bài Phóng sự : “Chẳng ai nghĩ các nàng là “hàng” cho đến khi các nàng vào khách sạn, gọi nước La Vie, bia Heinecken và bao cao su.” Chúng tôi xót xa khi rõ chuyện của Hà, một cô gái Hànội xinh đẹp phải trở thành gái gọi. Nhà Hà giầu, bố mẹ làm viên chức nhà nước, nhưng lục đục phải bỏ nhau. Đời Hà rẽ hẳn vào lối đi tăm tối khi cô vô tình lọt vào mắt xanh “đội chăn gái mất dạy nhất Hànội” của T. già, tại sàn nhảy M..Và tác giả kết luận “Tuổi thanh xuân tươi đẹp không trở lại lần thứ hai trong cuộc đời”.

-- Cũng báo Tuổi Trẻ, số thứ hai 10-11- 2003 với nhan đề : Chợ Tình trên Internet với những tựa đề : Lên mạng rao tình, Xem bản tin mua bán với cái Nickname khá ấn tượng : "gaiansuong". Lời rao, hẹn hò như “em rất buồn và cô đơn, anh đi chơi qua đêm với em được không”. Cuối cùng là nhận xét của của ông chủ quán net trên đường Lương thế Vinh Hànội : “Bọn trẻ giờ sống gấp thật. Đấy, cứ nườm nượp vào ra, chát chít, bán rao, hò hẹn qua đêm, quan hệ tình cảm được được ngã giá thanh toán sòng phẳng”.
Cuối bài phóng sự, người viết đặt một câu hỏi bâng quơ “Làm cách nào để khai tử nó đây”.

-- “Hết Đát” về quê
Theo báo Giáo dục & Thời đại, số ra ngày thứ ba, 09-12-2003. Lần này thì không phải các cô nữ sinh Hànội mà là các cô sơn nữ hiền lành, thuần phác, vì nhiều lý do đã làm cái nghề này. Liên, một cô gái sống trong cảnh làm vợ khắp người ta. Sau một thời gian chinh chiến với nghề, Liên xuống “Mã”, bị đào thải. Đây là mơ ước của Liên : “Trong sâu thẳm tận đáy lòng, Liên luôn có một ý nghĩ, làm thế nào đó, gom góp, tiết kiệm, dắt lưng một chút vốn kha khá về quê kiếm tìm một điều gì khác để thay đổi số phận”.
Nhưng nẻo về có lắm niềm vui nỗi buồn. Và nguời viết khẩn khỏan : Họ cần lắm sự bao dung.

** Đằng sau những cuộc xuất ngoại lấy chồng.

Cho đến nay, đã có khoảng 65.000 phụ nữ Việt Nam được cấp giất phép để lấy chồng Đài Loan, gấp đôi số lao động Việt Nam sang làm việc ở xứ này. (Khoảng 30 chục ngàn). Những phụ nữ này phần đông sống ở nông thôn, ít học. Những người Đài Loan lấy vợ Việt cũng thuộc thành phần có thu nhập ít và trình độ học vấn không cao. Nói là những cuộc hôn nhân, thật ra chỉ là một kỹ nghệ buôn người, buôn bán tình dục mà hậu quả không lường được, gây ra biết bao đau khổ cho những phụ nữ này.

Những cuộc xuất khẩu lao động chẳng bao lâu lòi cái mặt trái của nó ra, trá hình có thể là cuộc buôn người, lấy người nước ngoài như Trung Quốc và nhất là Đài Loan. Đây là vấn đề xã hội có tầm lớn mà nhà nước không thể tiếp tục để như vậy được. Theo báo Lao Động, số ra ngày thứ bảy, mồng 7-2-2004, tại khu chợ người Việt ở Hà Khẩu, ở một khu nhà 3 tầng, có đến hằng trăm phòng với khoảng vài trăm cô nữ tiếp viên.
Khu chợ người như thế, ra vào như thế, các cô được tân trang, được rao bán như một món hàng tuỳ theo “độ din chân kính” của từng cô, mỗi cô một giá. Với các cô “hạng nhất” (tức là các cô trẻ đẹp và trinh nguyên), bọn chúng đưa vào phục vụ ở tầng 2 và tầng 3 của tòa nhà. Người ta tự hỏi chính quyền ở đâu nhỉ? Mọi chuyện nó sờ sờ ra đấy, đập vào mắt mọi người. Cảm giác của ngưởi viết là chính quyền làm lơ. Chỉ cần câu nói vớ vẩn của một anh trí thức, anh luật sư, anh bác sĩ, ông linh mục. Nhà nước đã sợ cuống cuồng lên đòi còng tay, bịt mồm. Cứ để bọn họ nói xem nào, có sao đâu..?
Ở Cửa khẩu Lào Cay, các cô gái được dẫn vượt sông Ngâu bằng thuyền độc mộc ở một nơi khuất nhất để tránh sự kiểm soát của lực lượng an ninh. Thế là chừng nửa giờ sau, các cô đã được đưa tới thị trấn Hà Khẩu ( huyện Kim Bình, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc).
Theo thống kê chưa chính thức, có gần 1000 phụ nữ sang “lấy chồng” Trung Quốc như thế, nhiều nhất là ở huyện Phong Thổ với 674 chị em. Nhưng hầu hết đều là những cuộc hôn nhân lừa gạt, cưỡng bức, lợi dụng sự nhẹ dạ của các cô gái vùng sâu ít học và nông nổi. Gần đây nhất, cuối năm 2003, tại 6 xã phía Nam lòng chảo Mường Thanh ( huyện Điện Biên), một thanh niên đã lừa hàng chục cô gái dân tộc Thái “xuất khẩu” sang Trung Quốc với giá mỗi cô vài trăm ngàn nhân dân Tệ.
Trong một vụ việc mới đây, cũng xảy ra ở huyện Điện Biên, thủ phạm là Lù văn Dũng, dân tộc Nhằng, người huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.. Dũng đã lần lượt bẻ gãy mấy chục cánh phù dung, tại 6 xã phía Nam lòng chảo Mường Thanh.( Báo Lao Động đã dẫn ở trên ).

Kết quả là những bi kịch :
Đinh thị Mậu ở tỉnh Nghệ An đi làm thuê ở xã Hợp Thành. Vậy mà bảy ngày sau, mất tích không thấy về. Chị đã bị bán sang Trung Quốc. Ba năm sau, bà mẹ ở nhà nhận được một lá thư với hình ảnh đứa con trai của chị như sau : “Đời con như thân bèo giữa dòng nước lũ, không biết rồi sẽ giạt vào đâu, khi phải tha hương sống với một ông già 60 tuổi”. Nhà nước ơi, ông có nghe thấy gì không ?
Nguyễn thị Soa mới là học sinh lớp 11 bỗng dưng cũng mất tích sau một buổi đi học. Gia đình bặt tin, bốn năm sau gia đình mới nhận được thư Soa gửi về cho bố mẹ. Lúc bấy giờ bố mẹ mới biết con mình đã lấy chồng, có hai mặt con, nay ở đảo Hải Nam. Thư Soa có đoạn viết như sau : “Trưa hôm ấy, chị Hồng đến trường rủ con đi chơi rồi chở con xuống cầu Bùng, bắt con ra Hànội. Chị đưa con đi cả đêm, sáng hôm sau tỉnh dạy đã ở bên Trung Quốc. Một người đàn ông đến dẫn con đi. Con đang ngỡ ngàng thì ông ta bảo ‘Tao đã mua mày với giá 8 triệu đồng tiền Việt . Từ đó con làm vợ một người thợ xây.” Vào một đêm mưa gió, người chồng giật mình tỉnh giấc trong tiếng khóc ngằn ngặt của đứa con khát sữa. Nhiều tuần sau, cực chẳng đã, anh đành nhờ ông bà nhạc trông giúp căn nhà tranh, gửi 2 đứa con, rồi gạt nước mắt bán nốt con lợn giống để lao vào cuộc kiếm tìm tung tích người vợ. Người chồng bị phản bội và những đứa con bỗng dưng đọan tình mẫu tử ấy là một ví dụ trong số rất nhiều trường hợp đã và đang xảy ra trên địa bàn tỉnh Lai Châu cũ , nhất là các xã biên giới Việt-Trung. ( Trích báo Lao Động, ra ngày 7-2-2004 ). Xin miễn lời bàn.

Trong số 4 đại họa của con người là thủy- hỏa- đạo- tặc thì hiện nay đạo tức dịch bệnh đang trở thành mối băn khoăn lớn cho nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền đã từng ngày, từng giờ thông tin về bệnh cúm gà. WHO, tổ chức y tế thế giới đã triệu tập ngay một hội nghị quốc tế ở Bangkok, lên tiếng bằng mọi giá để diệt cho bằng được dịch cúm gà. Bệnh gà và bệnh người, tình hình bệnh cúm gà coi như khẩn cấp lắm rồi. Bệnh người thì cứ tà tà đi đâu mà vội.

Ai bảo bệnh người không nằm trong danh sách 4 đại họa trên. Quả thực, phẩm giá người phụ nữ bị coi nhẹ hơn mấy con gà.

** Child Slavery hay Children for sale

Dưới đây là hai bài phóng sự điều tra của hai tập đoàn ký giả. Bài Child Slavery do Alex Perry và Jason Tedjasukumana, với sự hợp tác của phóng viên nhiếp ảnh Jonathan. Nội dung bài này tiết lộ cho thấy trẻ con Miến Điện đã bị buôn sang Thái Lan làm gái mãi dâm mà tuổi của các em này từ 9 đến 13, 14 tuổi. Bài này cũng đã được Nguyễn Thanh trích dịch vào 11-6-2003 với nhan đề phóng sự : Nô lệ tý hon trên mạng Calitoday.com. Xin giới thiệu cùng bạn đọc. Thái Lan đã nổi tiếng với kỹ nghệ du lịch tính dục mà con số ước lượng lên đến ba trăm ngàn người, hay hơn thế nữa.
Nhưng câu chuyện mà tôi muốn trình bày cùng quý bạn đọc là nay kỹ nghệ du lịch tình dục- trẻ con ở ngay sát ngưỡng cửa Việt Nam, bên Cam Bốt. Và theo những tiết lộ được biết thì nhiều trẻ em Việt Nam từ 5, 6 tuổi đã được bán sang Cam Bốt. Câu chuyện dưới đây thật là đau thương ngoài trí tưởng tượng của nhiều người và là sự tủi nhục cho người Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Bạn đọc muốn biết rõ hơn có thể vào địa chỉ của hệ thống truyền hình NBC là: msnbc.com. Sau đó, nhìn bên trái, bạn đọc bấm vào Dateline và nhìn bên phải, nhấn vào phóng sự Children for sale.
Bài phóng sự của ký giả Chris Hansen cho thấy hiện nay ở Cam Bốt trẻ con nữ bị bán làm nô lệ tình dục có em mới 5 tuổi. Bởi vì, 12 tuổi có thể bị khách hàng kêu là “già rồi”. Các em còn đang tuổi mẫu giáo đã bị bắt buộc bán dâm bằng mồm. Mỗi em phục vụ khách bằng mồm như thế giá cả là 30 đôla, hai em là 60 đôla. Tiền này vào tay chủ chứa. Dĩ nhiên là thế rồi, người ta dự đoán số tiền lên tới hàng tỉ đô la cho dịch vụ du lich-tình dục. Người ta cũng ước tính khoảng một trăm ngàn các em bị mua, bị bán hay bị bắt cóc như thế rồi bị ép buộc “have sex” với người lớn tuổi. Mổi năm, Cam Bốt có ba trăm ngàn khách du lịch, trong đó có nhiều người đến đây chỉ để mua dâm. Trong số đó có người Mỹ là bác sĩ chuyên khoa quang tuyến Jerry Albom, ở Oklahoma . Ông này và hơn một chục người Mỹ khác về Mỹ sẽ phải đối diện với cuộc điều tra của Department of Homeland Security về tội phạm tính dục đối với trẻ con. Trong phóng sự của C. Hansen, người ta thấy các gái điếm tý hon này nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Và sau khi chính quyền Cam Bốt phối hợp với tòa đại sứ Hoa Kỳ, người ta bắt được những tang chứng là những sổ chấm công có dán hình mỗi em và tên tuổi tiếng Việt như Tuyết, Hồng v.v... Bà con Việt kiều ở Cam Bốt cũng cho biết rằng tệ nạn thiếu nhi VN bị bắt bán dâm ở Svay Pak không phải là điều bí mật gì “Bà con cũng thấy nóng lòng, thấy trái với lương tâm. Nói chung thì bà con mình không muốn như vậy”.. ( audio club, trích lại từ RFA ngày 09-02-2004 của Từ Nguyên ).

Cũng xin trích dẫn lời khai của em bé gái 14 tuổi của chương trình Dateline như sau : Em thuộc một gia đình cực nghèo khó ở một xứ sở bên cạnh. Việt Nam. Em cho biết em đang đi bộ từ trường về nhà. Có một người đàn bà dụ dỗ em một công việc trong quán càphê. Nhưng thật sự quán cà phê chỉ là một nhà chứa. Không có tiền và không có phương tiện trốn thoát, em chẳng có con đường nào khác là bị cưỡng bách làm gái điếm với những người lớn tuổi, nhiều người trong bọn họ là người Mỹ.”

Bà con người Việt ở Cam Bốt đều biết, thế giới biết, chả lẽ sứ quán VN ở Phnom Penh không biết sao? Họ truy nã tóm gọn trọn ổ đám người Thượng trốn chạy sang Cam Bốt, nhưng lại bó tay trước nạn buôn bán tình dục- trẻ con Việt Nam. Đành phải chờ, phải chờ mà chưa thấy động tĩnh gì, dù là một lời tuyên bố.

Câu chuyện đau lòng vừa kể nay có tầm vóc quốc tế như qua lời phát biểu của ngoại trưởng Colin Powell : “Because, It's the worst kind of human exploitation imaginable. Can you imagine young children, learning their ABCs or whatever the equivalent is in their language, being used as sexual slaves for predators. It is a sign against humanity, and it is horrendous crime”.

Chính quyền Mỹ qua lời tuyên bố của ông ngoại trưởng đã rõ ràng . Chính quyền Mỹ đã hành động. Một triệu đôla đã được bỏ ra cho những tổ chức nhân quyền như Internationel Justice Mission để mở một trận chiến chống lại bọn buôn bán nô lệ tình dục.Tổ chức International Justice Mission với nhóm của ông Gary Haugen này đến tại chỗ điều tra, đưa hồ sơ với bằng chứng rõ ràng cho chính quyền địa phưong, thuyết phục họ hành động. Ở Cam Bốt, một bà chứa tên Lang đã dẫn họ đến đám các cô gái, thật trẻ đến không thể nào tưởng tượng ra nổi. Rồi bằng một thuyết phục cực kỳ hấp dẫn, Bà Lang nói : Cô ấy hãy con trinh. Một cô gái như thế phải trả 600 đồng và với giá đó có thể dẫn cô gái về khách sạn trong ba ngày. Phần cô gái 15 tuổi, mặt cô tái mét vì sơ hãi !.

Có lẽ bài viết của tôi chưa đủ có giá trị thuyết phục. (Xin quý vị nhìn bức hình bên cạnh đây). Hãy tưởng tượng những đứa trẻ đó là con những người bạn mình, con cháu của anh em nhà mình, nguời quen của mình. Hãy tưởng tượng hơn nữa nó là con của chính mình của cháu mình. Tại sao lại không có thể là như vậy. Chỉ cần một con bé sang đây hát nhi nhô dăm ba bài kiếm tiền, ta hô hoán ầm ĩ lên. Lúc này tại sao ta im lặng?

3.- Báo động và cảnh tỉnh mọi phía.

Có một bài toán lương tâm, nó bắt mọi người trong cuộc phải suy nghĩ, tìm ra giải pháp. Cái nguyên nhân chính là sự nghèo đói và chậm tiến, theo một chu kỳ khép kín : Nghèo đói- tham nhũng- tệ trạng xã hội.

Nào có phải chỉ có mình nước ta gặp phải.Gần ta có Cam-bốt, Lào, rồi Trung Hoa, Miến điện, Thái Lan, Mã Lai, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Afganistan.. cứ thế lan tràn sang đến hầu hết các nước Phi Châu, một phần Châu Mỹ La Tinh.. Thế giới đã làm nhưng chưa đủ, chưa bao giờ đủ. Có một câu hỏi đặt ra là Đại Hàn, Đài Loan và nhất là Singapore đã từng là những nước chậm tiến, nghèo đói cách đây 50 năm. Tại sao họ đã vượt tránh được những vấn đề tham nhũng, nghèo đói, tệ nạn xã hội. Chúng ta chẳng những nên học Singapore về bài học phát triển, làm giầu đất nước mà còn bài toán xã hội nữa. Tại sao mẫu hình một xã hội giầu mạnh, phát triển đồng bộ như Singapore đã bị bỏ quên từ những lúc đầu sau 1975, mặc dầu đã có mời Thủ tướng Lý quang Diệu làm cố vấn.

Cho nên, không nhất thiết phải phát triển kinh tế là điều kiện đủ để giải quyết những vấn nạn xã hội.
Riêng vấn đề người phụ nữ và nữ quyền, LHQ đã tổ chức từ năm 1975 bốn Hội nghị quốc tế về phụ nữ. 1975 ở Mexico với 6000 ngàn người tham dự. 1980 ở Copenhague có 8000 người.1985 ở Nairobi, có 15000 người và gần đây 1995, ở Bắc-kinh có 30000 người tham dự. Trong kỳ hội nghị ở Bắc Kinh có sự tham dự của bà TT Bill Clinton và các tôn giáo lớn như Hồi giáo, Công giáo.

Cương lĩnh chính được đề ra là quyền của người phụ nữ về tính dục và cái quyền tự do quyết định muốn sinh con hay không. Có một khối lượng lớn về những nữ quyền được ban hành. Nhưng con đường từ những nguyên tắc từ bản cương lĩnh đến thực tế còn rất xa vời. Với cương vị là một người đàn ông, người viết cảm nghiệm rằng, bao lâu người phụ nữ còn dùng thân xác, sắc đẹp như một cứu cánh cho sự bình đẳng phái tính, bấy lâu còn lệ thuộc, còn mất bình đẳng giữa nam nữ.

Nhưng cũng phải nhận với nhau về nhiều bước tiến như về mặt giáo dục, về mức sống vật chất về mặt nghề nghiệp, về mặt sức khỏe. Theo ông Nguyễn văn Trần trong bài viết Người Phụ nữ và Nữ quyền ( Trung tâm Nguyễn Trường Tộ với chủ đề Văn hóa và thăng tiến gia đình ). Theo báo cáo của Unesco, Về giáo dục, trong một phần tư thế giới không biết đọc, biết viết, có 65% là phụ nữ. Năm 1960, cứ 100 con trai đi học tiểu học. Nay có 85 em . Tại nhiều quốc gia, mãi đến thập niên 60 mới bắt đầu nhận nữ sinh viên. Như đại học Harvard ra đời cách đây 250 năm, Cambridge mở cửa cách đây 589 năm và Oxford, cách đây 711 năm.

Về lương bổng: lương phụ nữ kém hơn đàn ông là 23% ở Pháp, Hòa Lan 29%, Anh 26%.
Về mặt tham chánh : Thụy Điển có 42% đàn bà tham chánh, Anh18%, Hoa Kỳ12%. Pháp chỉ có 10%.
Con đường đi tới kể là còn dài.

Riêng ở Việt Nam, không có tài liệu thống kê rõ rệt, nhưng người ta phải nhận rằng phụ nữ VN có đủ các thứ quyền trong gia đình. Ngay cả những quyền không tên. Sắc thái văn hóa và xã hội VN đặc thù với chế độ mẫu hệ, truyền thống Nho học đã tạo cho người phụ nữ VN một vai trò và bản sắc khá đặc biệt so với các dân tộc khác như nhận xét của William S. Turley : “Vai trò của phụ nữ trong xã hội VN truyền thống được xác định bởi một sự pha trộn phức tạp mà hấp dẫn giữa đạo đức nho giáo và các đặc thù văn hóa dân tộc mang theo dấu vết của chế độ mẫu hệ, và các đạo luật chánh thống đầy mâu thuẫn.”.

Hiện nay, ở Việt Nam phụ nữ có trình độ trung cấp chiếm 56%, đại học 37% , cao hơn nữa chỉ còn 7%. Phụ nữ tham chánh 20%, 35% nắm chức vụ trong Hội đồng nhân dân, và 155 cấp thứ trưởng, bộ trưởng. ( trích lại của Nguyễn văn Trần ).

Đấy là nói chuyện con số. Nhưng riêng cảm nghiệm của người viết thì thấy rằng phụ nữ VN là giường cột của đời sống gia đình. Các bà mẹ VN nói chung đã là những người mẹ đảm đang, bên ngoài cũng như trong gia đình. Không có họ, xã hội VN sẽ đi về đâu. Thật khó mà lường được. Lòng nhân ái, sư tận tụy, ẩn nhẫn, chịu đựng, đảm đang . Đó là những điều mà mỗi ngày mỗi mai một đi. Sự hiểu biết giúp người phụ nữ nắm rõ vai trò của họ trong gia đình và xã hội giúp họ hiểu được những quyền lợi và trách nhiệm của họ trong đời sống thế kỷ 21.

Nhìn vào đó mà chúng ta tin tưởng chứ không phải nhìn vào những con số. Mong rằng bài viết này cảnh thức mọi người bất kể từ trong hay ngoài nước, từ góc độ nhìn chính trị khác biệt có được tiếng nói chung bảo vệ nhân phẩm người phụ nữ và tin tưởng vào tương lai thế hệ những người em, người chị, người mẹ của chúng ta. Sau đây, xin đưa ra một vài điển hình những người phụ nữ từ mọi giới để chúng ta cùng trân trọng.

Mặc dầu vậy, trước hiện trạng buôn bán tình dục tràn lan mà nguy cơ còn ở mức độ báo động hơn nữa. Người ta vẫn cảm thấy chính quyền VN đương đại, các cơ quan truyền thông như báo chí cả trong nước và ngoài nước, người Việt trong và ngoài nước vẫn *ngoảnh mặt làm ngơ*. Có thể nào như thế được không.

Tâm trạng ngoài nước thì bình chân như vại, coi như việc của chính quyền trong nước. Có những chuyện không đâu, những chuyện chẳng đáng nói thì ồn ào, xách động ầm ỉ, tuyên bố, tuyên cáo với danh sách các nhân vật dài cả trang. Hơi một tý thì lo đụng chạm đến danh dự người Việt như thể có hai thứ người Việt. Họ đặt ra những lằn ranh Quốc Cộng, phân biệt hai bên, mặc dầu bức tường ô nhục đã xập từ lâu. Khó nhất vẫn là những bức tường được xây từ cái đầu của mỗi người. Người ta đôi khi nghi ngờ tự hỏi có còn là người Việt với nhau không nữa?

Truyền thông báo chí đôi khi lợi dụng những tình trạng xã hội đến thê thảm , đến đau xót như một dịp trả thù. Thế là từ những vấn đề xã hội, nó biến thành những chiêu bài chính trị lúc nào không hay.

Xin đã đến lúc cảnh thức và ngừng lại. Không có gì có thể bào chữa cho thái độ dùng những bất hạnh của người phụ nữ cho bất cứ một nhu cầu đọc nào. Trong nước thì do nạn tham nhũng tràn lan, chính quyền bất lực trước những nan đề xã hội. Không một lời tuyên bố chính thức nào. Im lặng là vàng. Bệnh khoe khoang thành tích làm họ ngọng miệng.

Chính quyền tỏ ra bất lực trong hai lãnh vực : tệ nạn tham nhũng và tệ nạn xã hội. Câu trả lời tùy thuộc vào nhà cầm quyền trong nước. Hãy chỉ hướng cho thấy đất nước đi về đâu. Cái bảng chỉ đường đất nước nay cắm ở chỗ nào và chỉ hướng nào ?.