free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ & Truyện


Nguyễn Văn Lục

   > cựu giáo sư Võ Tánh 63-70
    --- hiện định cư tại         Montréal;Canada


Về Jacques Derrida

Nguyễn văn Lục

      Chỉ trong vòng không đầy một tháng, nước Pháp mất đi hai "đứa con phung phá" trong văn học. Sagan, nhà văn nữ đã một thời nổi tiếng vì những xì căng đan trong tiểu thuyết Bonjour Tristesse. Jacques Derrida, một triết gia Pháp đã gây ra những tranh biện đối đầu với tư tưởng "déconstruction" của ông.

Hai cái chết. Hai ý nghĩa. Cái chết của Sagan được giới truyền thông báo chí Pháp và các nhân vật lãnh đạo Pháp nhắc nhở . Từ TT Chirac, thủ tướng Jean-Pierre Raffarin, bộ trưởng văn hoá Renaud Donnedieu de Vabres. Rồi Paris- Match, l!Express, le Monde, le Figaro, Le Parisien, Libération và Ouest—France. Trong bấy nhiêu nhận xét những lới tán tụng quả là không thiếu, hoài niệm tiếc thương cũng không ít. Chỉ xin giữ lại một hình tượng biểu trưng nhất : một nhà văn phóng đãng ( ecrivain bohémien), nhưng rất Mignonne. Một ngữ từ không đâu có và không dễ có như một đặc sủng chỉ dành cho phái nữ ở Pháp. Vì không ai lại gọi một anh chàng đực rựa là Mignon được. Khó nghe quá. Như Anthony Darlic đã nhận xét dí dỏm, để dịch từ Mignonne, tiếng Anh đã phải vận dụng đến 7, 8 từ mới lột được ý nghĩa từ Mignonne.

Nào là Pretty, tiny, pet, sweet, dainty, darling, delicate, favorite.. và ông kết luận :"Sagan không còn nữa như một ráng chiều lịm tắt. Thị phi, tốt xấu, đúng sai gửi lại cho đời tiếp tục nhớ, tiếp tục quên. Nhưng một điều chắc là Sagan đã dám sống và đã sống như chính những nhân vật Sagan tạo ra để mua vui cho đời." (Trích trong trang nhà Chuyển Luận., tháng 10-2004..)

. Jacques Derrida có vẻ kém may mắn hơn. Dĩ nhiên cũng có đôi lời của Jacques Chirac, Reanaud Donnedic de Vabres, Jean Pierre Raffarin, Francois Fillon và nhất là của cựu bộ trưởng văn hoá Jacques Lang. Nhưng so ra vẫn không đủ bề thế và trân trọng. So ra với những bài viết của giới truyền thông tại Mỹ viết về ông thì ở Pháp tỏ ra ít ỏi và bất công quá. Dến có thể nói, ông trở thành đứa con phung phá bị thất sủng và lưu vong ra khỏi đất nước mình về phương diện tư tưởng học thuật.

Ông sinh năm 1930, tại Algéria. Năm 19 Derrida sang Paris hoc ngành sư phạm, ban Triết. Học Sư Phạm 4 năm, sau đó đư0c một học bổng sang Harvard name 1956. Năm 1960, về nước và dạy đại học Sorbonne.




Trong vô số tác phẩm của ông, hãy chỉ kể đến một vài công trình nhất : L'écriture et la différence, la Dissémination, Marges de la philosophie, Glas, La vérité en peinture, de l'esprit, Heidegger et la question, Inventions de l'autre, Du droit à la philosophie, Spectres de Marx..Trong đó L'écriture et la différence là tác phẩm được coi là quan trọng nhất.. Qua những tác phẩm trên, từ những văn bản triết lý cổ điển Âu Châu, ông muốn đề nghị một từ tưởng chủ đạo : "déconstrcution".

Ý niệm " Déconstruction" chỉ ra những điều sau đây :
- Nó không phải một triết thuyết, một isme, một duy nọ duy kia, một hệ thống tư tưởng, hoặc một phương pháp. Gọi nó là một triết thuyết là phản lại tinh thần của tư tưởng J.Derrida luôn luôn chống lại những cơ chế, những chủ thuyết hoàn chỉnh, những truyền thống tư tưởng từ trước đến nay. Vì thế, bài viết của tiến sĩ J. Carrigan : J.Derrida, Deconstructionisme and Postmedernism tỏ ra không thích hợp.

- Chính Derrida trong một lá thư gửi một người bạn Nhật Bản, vào năm 1985 đã phủ nhận dứt khoát tất cả mọi tham vọng muốn đi đến một định nghĩa về từ "déconstruction". Ngay cả khi muốn định nghĩa từ đó thì tự nó đã hàm chứa ý niệm " déconstruction" rồi. Phải chăng đó là một thứ biện chứng phủ định, hay phủ định hàm chứa phủ định.

- Cho nên, nói cho cùng chỉ có thể nói về "déconstruction" là một tư tuởng khác với những tư tưởng khác, hay chống lại những tư tưởng khác. Nó chống lại thuyết cơ cấu, của Claude Lévy- Strauss vốn được nhìn nhận sâu rộng ở nước Pháp. Nó là thứ hậu cơ cấu, hậu hiện đại ( Post-structuralisme và Post-modernisme ). Nó giải thể để tái tạo lại, nó đặt lại không ngừng những điều đã được nhìn nhận.. Tư tưởng của ông vì thề đã làm lung lay, đã xô đẩy những nguyên tắc, những định đề trong triết lý cổ điển Tây Phương.

Chuyển ngữ “khái niệm” Desconstruction sang tiếng Việt gần đây đã gây nên cuộc góp ý của nhiều thức giả trên các diễn đàn websites Việt nam. Trước đó HNN, trong bản dịch đăng trên HL “The three Ages of J. Derrida”, đã dùng từ “giải cấu luận” để dịch thuật ngữ “Deconstruction”. Cuộc góp ý trên Talawas không kém lý thú cho thấy một lần nữa “tính gần đúng” nhưng “chưa đúng hẳn” của công việc chuyển đạt ý niệm “deconstruction” của Derrida. Ngô văn Tạo dịch là “giải cấu” (deconstruction). Lê Tuấn Huy dịch “Hủy cấu trúc” (deconstructionisme). Ngô Tự Lập đề nghị dịch là “giải kiến tạo” (deconstruction). Bùi thị Trạc Tuyền dịch là “giài cấu trúc” (deconstruktion). Và người cuối cùng, anh Đặng Phùng Quân dịch là “giải giới kiến tạo” và “Hủy tạo” (deconstruction). Qua đó ta thấy hình như mỗi thuật ngữ tiếng Việt đề nghị đều muốn nhấn mạnh khía cạnh nội dung hay mục đích của “khái niệm deconstruction Ừ (tôi tạm dụng chữ “khái niệm với một dấu hỏi kèm theo, mong Derrida sẽ không phản đối ). Theo Thái Kim Lan [1],- người tiếp theo tôi tham khảo ý kiến trong tương quan này,- khi Derrida dùng chữ “deconstruction”, ông muốn nhắm đến hai yếu tố đã tạo nên truyền thống triết học Tây phương trước hậu tân tiến vẫn còn tồn đọng bàng bạc trong các triết thuyết hậu tân tiến: “construct” (cơ sở, kiến tạo) và cơ cấu (structure). Derrida nằm trong truyền thống của post-structuralism với Foucault, chịu ảnh hưởng của Heidegger, Nietzsche, cho nên có lẽ trước tiên điều mà ông muốn phá vỡ là toà kiến trúc khái niệm “Architektonik” đã đưọc xi măng hóa bằng những bước duy lý và ngôn ngữ bê tông (theo Derrida). “Architektonik” [2] là thuật ngữ Kant dùng để chỉ nghệ thuật kiến trúc khái niệm và ý niệm làm thành tòa nhà hệ thống của lý trí. Từ đó có ẩn dụ “cơ sở, construct”). Triết học của Derrida nhằm phá vỡ trước tiên hệ thống kiến trúc này gồm cả hai ý niệm cơ sở cơ cấu.




Thái Kim Lan hóm hĩnh thêm, mỗi thuật ngữ chỉ là một ngón tay trỏ để hướng về điều mà thuật ngữ muốn nói lên, nhất là trong tư tưởng của Derrida, nỗi bật vẫn là “DE”, hủy, phá, khả năng có thể dịch “hủy kiến trúc”nhưng kèm theo nguyên ngữ ề descontruction Ừ trong dấu ngoặc. Nếu ý hướng của ông là “kiến tạo” trong “deconstruction” thì chính sự kiến tạo này sẽ HỦY ngay cả nền triết thuyết mệnh danh “deconstruction” của ông. Đó là sự mâu thuẫn của phá vỡ có tính hư vô (Paradoxie des Nihilismus) mà nhóm chống Derrida – có thể hiểu lầm hay hiểu sai hay hiểu đúng Derrida - thường đưa ra để bác bỏ “giải cấu luận” Derrida.

Anh Hoàng nguyên Nhuận đã đi xa hơn bằng cách giả định có sự trùng lập nào không giữa giữa truyền thống tam giáo với tư tưởng Hủy cấu trúc của J.Derrida. Chẳng hạn với Lão giáo coi ngôn ngữ là bất khả thi đối với chân lý theo tinh thần " Dạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh". Hay với Nho giáo là "Tận tín thư bất như vô thư ". Hay đối với Phật giáo thì lời dạy chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng. Ngôn từ chỉ là thuyền chuyên chở, là phương tiện đưa ngưới qua sông. Dấy dù sao cũng chỉ là những dọ dẫm, những giả định những hướng nhìn có thể chưa đủ căn cơ đòi hỏi công phu sưu khảo và so sánh nhiều hơn thế nữa.

Hãy tạm thời để trong ngoặc những thuật ngữ vốn được coi là khó hiểu và gây tranh biện trong tư tưởng của J.Derrida Và nếu chỉ nhìn vào những ảnh hưởng của tư tưởng này để lại thì thật là lớn lao

Nó ảnh hưởng, tác động trên ngôn ngữ là chính yếu vốn. Ngôn từ vốn tự nó thường gây ra những lầm lẫn và mâu thuẫn. Công việc đầu tiên là phải tháo gỡ các cấu trúc của ngôn từ ra từng mảnh và tìm ra được những hàm ngụ được che đậy trong ngôn từ ấy, lôi nó ra ánh sáng ý thức. Cho nên, công việc đầu tiên của " hủy cấu trúc" là phê bình ngay chính những tiền giả định của ngôn từ. Từ đó đặt vấn đề của ngôn ngữ đối với văn chương, nghệ thuật, triết học và nhất là siêu hình học cũng như tôn giáo.

Hủy cấu trúc còn tác động trên cả những lãnh vực như pháp luật ( vế án tử hình ), chính trị, xã hội, ( vấn đề hôn nhân và gia đình ) chiến tranh và ngay cả những vấn đề về nữ quyền. Dến có thể nói rằng không có lĩnh vực nào mà tư tưởng Hủy cấu trúc của Derrida không đụng tới.

Những kẻ ủng hộ ông thì coi tư tưởng của ông như một thứ giải phóng tâm thức con người ra khỏi những trì trệ, ngưng đọng, tiền giả định cứng nhắc của ngôn ngử, của hệ tư duy, của lịch sử, của tôn giáo chính trị, của những thảm họa mà lịch sử đã để lại của tội ác mà cả thế giới đang được " toàn cầu hoá" hiện nay. Nhưng những kẻ cảm thấy bị xô ngã trong những định kiến của mình thì tố cáo ông như một thứ triết gia " hư vô chủ nghiã" , hoặc bi quan yếm thế có tính phá đổ triệt để.. Sự ngộ nhận đó đã kéo dài suốt hơn một phần tư thế kỷ mà chính J.Derridan cho rằng không dễ gì cải sưả được những ngộ nhận đó về tư tưởng của ông.

Bởi vì, dù cho Derrida là ai, là người trừ tà, người hủy tạo hay Derrida nghệ sĩ “ à la mode” hay là nhân vật chính trong phim “Derrida” khác với những triết gia lếch thếch đối nghịch (phim “Derrida”, 2002 của Kirby Dick va Amy Zierung Kofman) , cũng như người trở lại sau cơn khủng bố 11. 9 với khoan dung và dấn thân chính trị, dù là ai đi nữa thì sự ngộ nhận đã nằm ngay chính trong trung tâm (Zentrum, centre) của lời minh giải Derrida, trong nghệ thuật “grammatologie [3] của ông.

Giã từ cõi tạm, sự ngộ nhận này bỗng trở nên như một ủy thác (Vermaechtnis), hay một chúc thư tinh thần của ông cho những kẻ kế thừa tư tưởng của ông luôn mãi ở trên đường “giải cấu tương phùng” để chứng ngộ “lời vàng vâng lĩnh ý cao ” [4] của “l' écriture et la difference” à la Derrida.

-------------------------------------------------------------

[1} Thai Kim Lan hiện giảng dạy triết học so sánh tại Đại học Munich, Đức.
[2] “Tơi gọi kiến trúc học là nghệ thuật xây dựng các hệ thống. Bởi vì sự thống nhất hệ thống là điều trước nhất có thể biến nhận thức thông thường trở nên khoa học”…Sự thống nhất hệ thống khoa học không có tính “kỹ thuật” mà có “tính kiến trúc” cĩ nghĩa là nội tại, cơ cấu (organisch) và hữu cơ (articulo), I. Kant, “Phê phán lý tínht thuần túy, B 860, B 861. Ghi chú của Thái Kim Lan. Và Bùi Văn nam Sơn, PPLTTT, Văn học 2004, tr. 1169 ff. Derrida, Jacques: Grammatologie. ỵbers. v. H.-J. Rheinberger
[3] Derrida, Jacques: Grammatologie. Übers. v. H.-J. Rheinberger u. H. Zischler. Frankfurt/M. 1974.
[4] Nguyễn Du, Truyện Kiều