( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.) --------------------------------------------------------------------------------------- Về các học giả, nhà văn viết bằng tiếng Pháp từ xưa tới nay. ! Nguyễn Văn Lục Như trong một bài viết : Hiện trạng lão hoá nơi các nhà văn ở Hải ngoại.. Người viết đã tiên đoán trong một tương lai gần, sẽ chỉ còn hai thứ sinh hoạt văn học ở Hải ngoại : Đó là hình thức báo chợ và các sách của người gốc Việt viết bằng ngoại ngữ. Để cho thấy điều đó là một sự thực không tránh được, người viết nhằm giới thiệu các nhà văn gốc Việt viết truyện bằng ngoại ngữ như Anh Pháp. Nhưng trước đó, sẽ sơ lược về một số học giả, trí thức viết tiếng Pháp từ thời Pháp thuộc đến sau này. Thật ra, việc người Việt viết truyện bằng Pháp ngữ cũng không phải mới mẻ và xa lạ gì. Dưới thời cai trị của người Pháp, đã có một số trí thức Việt Nam viết tiếng Tây như Tây. Ảnh hưởng văn hoá Pháp thật đậm nét nơi một số trí thức Việt trong suốt thời gian dưới sự cai trị của người Pháp.. Nhiều người yêu vắn hoá pháp, phục thứ văn hóa của kẻ thống trị đến độ nhiều khi đến không nhìn thấy được bản chất bóc lột của chế độ ấy. 1.-Các học giả Việt Nam cộng tác với tập san Bulletin des Amis du vieux Huế (BAVH) . Số trí thức, học giả ( Không kể những người làm báo, hay viết báo) chỉ thực sự có cơ hội viết những bài khảo cứu bằng tiếng Pháp khi Linh Mục L. Cadière, cho xuất bản tờ BAVH . Tập san BAVH đã liên tục có mặt kể từ năm 1914 đến năm 1941, kéo dài tất cả 27 năm.. Trong suốt 27 năm đó, không biết bao nhiêu công trình nghiên cứu của các Học giả Pháp và Việt đã đóng góp công sức vào tập san này. Công của Cadière đối với Văn Hoá Việt Nam không phải là nhỏ. Người Việt cộng tác sớm nhất ngay từ đầu cho tập san này ngay từ khi thành lập là ông Đào thái Hành và ông Nguyễn đình Hòe vào năm 1914. Cả hai ông đều cộng tác khá đều với tập san, sau vài năm mới thôi hẳn. Các ông Nguyễn Đôn, Ưng Trình, Đặng ngọc Oánh, Hồ phú Viên bắt đầu viết năm 1915. Một năm sau khi tập san ra đời. Năm 1916 có quý ông sau đây cộng tác với tập san là: Tôn Thất Quảng, Ngô đình Khôi, Nguyễn văn Trình, Ngô đình Khả và ông Hồ đắc Hàm. Năm 1917 có ông Ngô đình Diệm với bản dịch về nguồn gốc Nghiên mực của Vua Tự Đức. Đặc biệt người viết đã có bài viết bàn về nghiên mực này và đặt vấn đề với cụ Vương Hồng Sển và ông Nguyễn đắc Xuân. Người cộng tác cuối cùng là ông Phạm việt Thương vào năm 1941. Trong số quý vị kể trên, có một sốn viết đều và khá chuyên nghiệp như quý ông Nguyễn văn Trình, Hồ đắc Hàm, Nguyễn đình Hoè và Ưng Trình.. Các đề tài khảo cứu cuả quý vị trên hầu hết đều liên quan đến triều đình Huế như viết về các nhân vật nổi tiếng trong triều đình, về việc phong quan chức, về thơ văn của các vua triều Nguyễn..hoặc về các nghi lễ trong triều đình Huế. Sau đây là danh sách các tác giả và những công trình nghiên cứu của họ để tiện cho việc nghiên cứu. Phạm việt Thương : La princesse Ngọc Duệ, soeur de Gia Long. BAVH, 1941, trg 209-213. Les caprices du génie des Mariages, ou l'extraordinaire destinée de la Princesse Ngoc- Hân., 1941. trg 369-373. Phạm Quỳnh : Deux oraisons funèbres de l'évêqua d'Adran BAVH, 1936, trg 107-119. Lê quang Phước : La signification de la cérémonie du Phần Huỳnh et la faveur du Phong Tặng. BAVH, 1939 trg 43-49. Ưng Hạng : Le Plateau de cuivre à double paroi. BAVH, 1928, trg 167-170. Nguyễn tiến Lãng : Quelques Mandarins d'hier. Gồm rất nhiều quan chức triều Nguyễn như Trần Trạm.. BAVH, 1939, trg158-162. Les beautés du "Hoa Tiên", poèm annamite. BAVH, 1938, trg 1-25. Nguyễn Thiệu Lâu : La formation et l'évolution du village de Minh Hương ( Faifoo). BAVH, 1941, trg 359-367. Đặng Ngọc Oánh : Le sacrifice au drapeau Đạo. BAVH, 1915, trg 371-375. Les distinctions honorifiques annamites. BAVH, 1915, trg 391-406. L'intronisation de l'Empereur Khải Định. BAVH, 1916, trg 391-406. La collation des Titres nobiliaires à la cour d'Annam. BAVH, 1918, trg 79-98. Lettre aux Amis du Vieux Hué. BAVH, 1918, trg 79-98. Tôn thất Quảng : Les sachets à bétel et à tabac dans le Vieux Huế. BAVH, 1916, trg 337-338. Lê khắc Thử : Le "thuyền nghiền" ou broyeur pharmaceutique. BAVH, 1920, trg 463. Renseignements sur le Temple de "l'iIllustre Fidélité" Hiền Trung Từ. BAVH, 1927, trg 211-223. Bửu Trưng : L'Inauguration de Hiển Trung. BAVH, trg 163-172. Ngô đình Khôi : Notes à L'ambassade chinoise qui conféra l'investiture à Tự Đức BAVH, 1916, trg 309-314 Nguyễn văn Trình : Une nuit d'hiver sur le fleuve des Parfums ( Poésie de S. M Tự Đức traduite). BAVH, 1916, trg 37-53. ( Cùng viết với Ưng Trình). Une stèle de Gia Long relative au Văn Miếu. BAVH, 1917, trg 259-262( Viết chung với Ưng Trình). La stèle de Quốc tử Giám BAVH, 1917, trg269-279 ( Viết chung với Ưng Trình). Ưng Gia : Le Tôn Nhơn Phủ BAVH, 1918, trg 99-105. Le Temple des Parents illustres. BAVH, 1928, trg 167-170. Tôn thất Quảng : Note complémentaire à les sachets à bétel et à tabac dans le vieux Huê. BAVH, 1916, trg 338-339. Nguyễn đình Hoè : Quelques coins de la Citadelle de Huế. BAVH, 1922, trg 189-203. Note sur les pins du Nam Giao ( Esplanade des sacrifices )BAVH, 1914, trg 73-74. La pagode de l'éléphant qui barrit, Miếu Voi Ré. BAVH, 1914, trg 77-79.. Énumération des pagodes et lieux de culte de Huế. BAVH, 1914, trg 81-85.. ( cộng tác với Bác sĩ A. Sallet). Notes sur les cendres des Tây Sơn dans la prison du Khám Đường. Quelques renseignements sur les familles de Chaigneau et de Vanier BAVH, 1916, trg 273-275.. Les Barques royales et mandarinales dans le vieux Huế. BAVH 1916, trg 289-295.. La pagode de Diệu Đế BAVH, 1916, trg 395-400.. La Berge de la chute de Cheval. BAVH, 1916, trg 450. L'ambassade Phan Thanh Giản . ( Viết chung với Ngô đình Diệm, rồi viết chung với Trần Xuân Toản). 1919, trg 161-216., rồi 147-187, 243-281. Ngô đình Khả : Une Ascension sur l'écran du Roi ( Poésie de S, M. Tự Đức, traduite). BAVH, 1916, trg 223-227. Bùi văn Cung : Journal du Secrétaire de l'ambassade annamite sur le Père Thơ. BAVH, 1920. trg 365-366. Le traité du 1874 : Journal de secrétaire de l!ambassade annamite. BAVH, 1920, trg 365-384. Journal de l'ambassade envoyée en France et en Espagne par S.M Tự Đức ( Aout 1877 à septembre 1878. BAVH, 1920, trg 407-443 ( viết chung với H. Peyssonnaux). Notice sur une urne du Musée Khải Định . BAVH, 1924. trg 297-300. ( viết chung với L.Sogny ) Lê thanh Cảnh : Notes pour servir à l'histoire de l'établissement du Protectorat francais en Annam BAVH. 1928, 1929, 1932, 1937.... Hồ đắc Hàm : Les grandes figures de l'empire d'Annam : Võ Tánh . BAVH, 1923, trg 229-25. Le port de Thuận An ( Poésie de S, M, Thiệu Trị traduite BAVH, 1916. trg 159. Le Fleuve des Parfums ( Poésie de S, M Thiệu trị traduite) BAVH, 1916, trg 167. Le Nón Thượng, chapeau des femmes d'Annamites BAVH, 1918, trg 21-23. Ephémérides annamites BAVH. 1925, trg 189-204. Un résumé de l'histoire d'Annam BAVH, 1933, trg 283-288. Ngô đình Diệm và Nguyễn Đình Hoè : L'encrier de S.M Tự Đức : traduction des inscriptions . BAVH, 1917, trg 209-212. L'ambassade de Phan thanh Giản ( 1863-1864). BAVH, 1919. trg 161-216 Nguyễn Đôn : La Princesse Ngọc Tú. BAVH, 1915, trg 425-428. Costumes de cour des mandarins civils et militaires et costumes des gradués. BAVH, 1916, trg315-331. La stèle de Thiệu Trị BAVH, 1918, trg 1-13. Tôn thất Hàn : Généalogie des Nguyễn avant Gia Long. BAVH, 1920. trg 295-328.( Viết chung với Bùi thanh Vân BAVH, 1927, trg 211-223. Đào thái Hành : Histoire de la déesse Thiên-y-a-na. BAVH, 1914, trg 163-166. La déesse Liễu Hạnh, BAVH, 1914, trg167-181. Histoire de la déesse Thái Dương Phu Nhơn. BAVH, 1914, pp, 243-249. Son Excellence Phan thanh Giản, Ministre de l!Annam. ( 1796-1867). BAVH, 1915, trg 211-224. Histoire de la déesse Kỳ Thạch Phù Nhơn. BAVH, 1915. trg453-455 Nguyễn văn Hiền : Le Pavillon des Edits. BAVH, 1915, trg 377-384. Hồ đắc Khải : Thuận An ( Poésie de S.M Minh Mạng, traduite BAVH, 1916, trg 141-142. Les concours littéraires de Hué. BAVH, 1916, trg 333-336. S.E Thân Trọng Huề. BAVH, 1925, trg 209-210. Ưng Trình : Stèles concernant le Canal Impérial. BAVH, 1915, trg 15-17. Hommage à M.Regnault de la Susse. BAVH, 1915, trg 350-351. Note nécrologique : S.E Trần tiến Hội. BAVH, 1919, trg 541-544 Bùi thanh Vân : Généologie des Nguyễn avant Gia Long. BAVH, 1920, trg 295-328 ( Viết chung với Tôn Thất Hân et Trần đình Nghi). Hồ phú Viên : Le brevet de J.B Chaigneau BAVH, 1915. trg 44-45. ( Viết chung với L.Sogny). Đào đăng Vỹ : Promenade-conférence du 18 Septembre 1938. BAVH, trg 423-425. Hoàng Yến : Minh Mạng va recevoir l'investiture à Hànội. BAVH, 1917, trg 89-101. La promulgation des nouveaux Code tonkinois. BAVH, 1917, trg 243-258 ( Viết chung với R. Orband). La musique à Huế đờn nguyệt et đờn tranh. BAVH, 1919, trg 233. Les stores de Hué. BAVH, trg 481-494. Viết chung với Tôn Thất Sa). 2.- Các trí thức cộng tác viết cho tờ Indochine Bên cạnh một số học giả viết cho tập san BAVH, ngưới viết xin ghi thêm một số các trí thức và học giả thời trước 1945 đã viết tiếng Pháp trên tờ báo Indochine, một tờ báo lúc đầu do nhà văn Pháp A. Malraux làm chủ bút. Vì thế, những bài viết và các tác giả đều rút ra từ bộ báo này trước thời điểm Việt Minh lên nắm chính quyền. Chỉ xin trích đăng một số tên tuổi của họ.. Điều này chứng tỏ Văn Hoá Pháp đã ảnh hưởng khá mạnh nơi các học giả và trí thức Việt Nam trong suốt 100 đô hộ của Pháp. Phạm Quỳnh : Réflexion sur la langue Francaise. IND. Số 230. La doctrine des lettres dans l'ancien Annam. Số Ind. 194, ngày 18-5-1944. Un héros de l'aviation Francaise : le capitaine Đỗ hữu Vị. Nguyễn văn Vĩnh : Jour de l!an Annamite. Ind. 177. 20-4-1944. Nguyễn văn Tố : Autour du tet. Les rites de passage. IND.230. Quelques remarques sur les derniers concours littéraires. De l'Association Alexandre de Rhodes ( Assiatant à l!école Francaise d!extrême-Orient). IND.số 178. 27 janvier, 1944. Evêque d'Adran et l'Empereur Gia Long Mạnh Quỳnh : Origines et significations des estampes populaires du Tet. Ind. 230. Le Tet vu par un Annamite moyen. Ind.230. Mạnh Qùynh còn là một họa sĩ chuyên vẽ hí họa các nhân vật Lý Toét Xã Xệ cho các báo Pháp và Việt Nam. Ông đã cho xuất bản Croquis Tonkinois. Nguyễn xuân chữ : Moeurs et coutumes du Viet Nam. La chique de bétel. Ind. Số 184. 9-3-1944. Devins et sorciers du Viet Nam. L'astrologue ou tireur d'horoscope. Ind. 210. 7-9-1944. Trần văn Giáp : Origines des Tam Da "Trois Abondances" Nguyễn tiến Lãng : Narcisse du tet. Ind. 230. Retour au Cambodge. Ind.140. 6-5-1943. Révolution nationale et culture Indochinoise . số ngày 20-05-1943. La famille impériale d'Annam. NTL còn có tác phẩm Indochine, la douce. 1945 2è. Eùdition ( tài liệu do giáo sư Hồng Ngọc cung cấp). Nguyễn phan Long : La citoyenneté Indochinoise ( un des fruits du fédéralisme Indochinois.). Ind. 175. 1944. En marge de la fête nationale Annamite Ind. 199. 22-6-1944. Cannibales par persuasion . Paris. Plo. ( tác phẩm này của Đỗ phan Long do Giáo sư Hồng ngọc cung cấp tư liệu). Đỗ xuân Hợp và giáo sư P. Huard : Les Lolos. Ind.214.5-10-1944. Les Giao Chi. Ind.181.23-9-43. Importance actuelle du stock et ethnique eurasien en Indochine. Nguyễn văn Huyến : Les miracles des immortelles dans le Sud. Ind.217. le peuple Thổ. Ind.9-1943. Ung Qua : Les statistiques balnéaires de l'Indochine- Sam Sơn. Ind. 190.20-4-1944. Nguyễn hữu Túc : la fête de la pagode dite "Chùa Thầy", province de Sơn Tây. Ind. 138.22-4-1943. Ngô quy Sơn : Jeux et ris des enfants annamites. Ind.181.1944. Phạm duy Khiêm : Quelques souvenirs sur Normale supérieure. Ind. 173. tháng 12-1943. Nguyễn Triệu : Les Francais au service de Gia Long. Giám mục Nguyễn Bá Tòng, giám mục Phát Diệm : L'inscription gravée sur le tombeau de l'Evêque d'Adran. Bài báo được in trong Bulletin de la Société D!enseignement Mutuel du Tonkin, en 1936. Trần Đăng : Vạn Thọ 1942. Lê thành Khôi: một nhà thơ với Le crépuscule. Poème des Quatres Saison 3.- Các nhà văn viết truyện bằng tiếng Pháp từ 1945-1975 : Nay thì các nhà trí thức không hẳn chỉ viết khảo cứu mà bắt đầu đi vào lãnh vực viết tiểu thuyết. Giáo sư Bùi xuân Bào, trong phần giới thiệu các người Việt Nam viết bằng tiếng Pháp, trong cuốn Littérature de langue francaise hors de France, đã nêu tên những người như ông Cung giữ Nguyên, Nhatrang. Ông CGN đã đăng bài thơ Le Mot lần đầu tiên trong tạp chí France-Asie, Sàigòn. Sau đó, ông có cho xuất bản Volontés d'existence, éditions France-Asie, 1954. Cuốn sách thành công của ông là cuốn Le fils de la baleine. Éditions Arthène Fayard, 1956. Và sau đó cuốn Le domaine maudit. Éditions Arthème Fayard, Paris 1961. (1) Nhưng người có tiếng tăm hơn cả là Giáo sư thạc sĩ Phạm duy Khiêm ( sinh năm 1908) với cuốn truyện cổ tích Việt Nam Légendes Des Terres Sereines, được giải Prix littéraire d'Indochine. Cuốn sách được viết với một lối văn trong sáng, cổ điển và Tây hơn Tây của ông. Cuốn thứ hai là Nam et Sylvie (1957), giải thưởng Louis Barthose. Cuốn truyện mô tả lại mối tình tuyệt vọng giữa một sinh viên VN với người tình là một cô gái Pháp xinh đẹp. Vì những ngăn trở về chủng tộc mà họ đành đoạn phải xa nhau. .Ông cũng có một vài cuốn khác không mấy quan trọng như De Hanoi à la Courtine, La Place d'un homme. Sau đó, do gặp nhiều bất hạnh, cũng như túng thiếu tiền bạc, ông đã tự sát vào năm 1974.(2) Người thứ ba là Lý thu Hồ, sinh trưởng ở Việt Nam, nhưng sống ở Paris. Bà được coi như phụ nữ VN đầu tiên viết văn bằng tiếng Pháp. Bà có bộ tiểu thuyết ba tập gồm Printemps inachevé ( 1962), Au milieu du Carrefour ( 1969) và Le Mirage de la paix (1986). Tác giả đã viết lại gương mặt những người phụ nữ VN trong chiến tranh. Họ phải đối đầu trước cuộc sống đầy khó khăn và tủi nhục với tư cách là những phụ nữ trong gia đình. Ngoài ra còn có Phạm văn Kỳ với tác phẩm Frères de sang được viết ở thời kỳ đất nước bị chia đôi. Một thanh niên đã trở về nước và đụng phải sự khác biệt, đối đầu, chia rẽ giữa hai anh em ruột. Vào năm 1961, ông đã lãnh được giải thưởng Grand Prix du Roman de l'académie Francaise. Cuốn sách thứ sáu của ông được xuất bản là Des femmes assises ca et là . Cuốn truyện nói đến tính cách hàm hồ mâu thuẫn của một người đàn ông giữa hai nền văn hoá mà không có cách chi giải quyết được cũng như không tìm được câu trả lời. Rồi Trương đình Trí và Albert de Teneuille với tác phẩm Madame, viết lại sự giao thoa văn hóa giữa một người đàn ông Việt và người đàn bà Pháp.(3) Đặc biệt có Trần đức Thảo . Ông không phải nhà văn, nhưng là một triết gia ký tài của VN với khá nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Pháp.. chỉ xin liệt kê một vài tác phẩm tiêu biểu : Phénoménologie et Matérialisme Dialectique. Paris. Minh Tân Đối với những nhà văn viết trong thời kỳ đô hộ Pháp, có vấn đề đặt ra là : tại sao cần viết truyện bằng tiếng Pháp? Viết như thế với mục đích gì ? Riêng trường hợp Phạm duy Khiêm, ông còn đăng lính vào Lục Quân Thuộc địa Pháp và phục vụ quân ngũ cho đến ngày đình chiến, rồi lại trở về dạy học.. Để trả lời cho vấn nạn này, vào tháng 10, năm 1939.. Phạm Duy Khiêm đã trả lời :"Chúng ta có thể bất mãn, nhưng vẫn chiến đấu cho nước Pháp khi nước ấy bị nguy hiểm. Người Việt Nam nào lại không hiểu thứ ngôn ngữ đó. Trong chúng ta, ai quên được truyền thống hào hùng và ý niệm xưa về quân tử, con người có lòng cao cả".(4) Điều đó chứng tỏ rằng việc viết văn bằng tiếng tây có thể được coi như việc đương nhiên chẳng khác gì việc đi lính cho Tây? Ngoài ông Phạm duy Khiêm ra, giáo sư Tiến sĩ Nguyễn mạnh Tường viết tiếng Tây hoa mỹ, ngắn gọn và sáng sủa hơn cả PDK nữa. Dù các nhà văn trên có chủ đích gì đi nữa trong việc xử dụng tiếng Pháp như giới thiệu văn hoá Việt, hoặc muốn chứng tỏ khả năng diễn đạt bằng tiếng Pháp như người Pháp..thì đối với dân chúng VN. Việc viết văn bằng tiếng Tây ở thời kỳ đó được dân chúng thán phục, ngưỡng mộ. Họ được coi như những phần tử trí thức, thượng lưu trong xã hội VN. Dân chúng kính nể họ, hãnh diện về họ, phục tài họ? Cái thời thuộc địa là như vậy. Do cái mặc cảm yếu kém, thua sút của người bản xứ so với kẻ cai trị đã nẩy sinh ra tâm trạng nể phục đó. Tâm trạng đó cũng cho thấy từ một nô lệ chính trị đến nô lệ tinh thần. Người ta mạnh, người ta lớn cũng bởi vì chúng ta quỳ xuống. Từ chỗ đó, ta bị lệ thuộc về mọi thứ như đoạn trích như một lời cảnh báo sau đây trong : Một thời đại mới trong thi ca VN, lời tựa cho cuốn thi nhân VN. " Chúng ta ở nhà Tây, đội mũ Tây, mặc áo Tây, chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp.. Còn gì nữa ... Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi vật chất đã đưa tới giữa chúng ta, cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm., cuộc sống không còn giữ nguyên hình thời trước. Nào dầu tây, điện tây,nào vải, nào chỉ tây, kim tây, đinh tây. Đừng tưởng tôi ngụy biện. Một cái đinh cũng đem theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về vũ trụ, và có ngày sẽ thấy thay đổi cả quan niệm về phương Đông. Những đồ dùng kiểu mới, chính là dẫn đường cho tư tưởng mới". Dù sao thì số người Việt viết văn bằng tiếng Pháp cũng không có là bao nhiêu. Ảnh hưởng trên văn học Việt hay Pháp kể như không đáng kể. Nó chỉ đánh dấu một giai đọan văn học thời thuộc địa nay đã không còn nữa. Cũng ít ai thực sự đã có dịp đọc những tác phẩm trên của những nhà văn gốc Việt, viết tiếng Pháp. Nhưng trong tình hình sinh hoạt văn học hiện nay ở Hải Ngoại, việc người Việt viết bằng tiếng ngoại quốc có một ý nghĩa khác hẳn : Đó là sự hội nhập của người di dân vào một xã hội mới với nhiều sắc thái dị biệt. 4.- Những nhà văn viết truyện bằng tiếng Pháp sau 1975 Thời điểm đánh dấu giai đọan này là sau 1975. Họ là những nhà văn trẻ được hấp thụ ngay từ nhỏ văn hóa Pháp ngay tại nước Pháp. Thường họ có học vị, có vốn văn hóa cao, có nghề nghiệp vững vàng. 1.- Phạm trường Thiên. Phạm trường Thiên sinh ra ở Sàigòn và học Đại học Sorbone ở Pháp. Ông đã đi nhiều nới như toàn thể Âu Châu, Phi Châu và Bắc Mỹ , sau đó định cư ở Canada. Ông đã cho xuất bản một tập thơ Dialogue, New York, Carlton Press, 1975. Nội dung nói lên tâm trạng một người dời bỏ quê hương xứ sở đang chiến tranh đi tìm một cuộc sống thanh bình nơi xứ người. 2.-Thương Vượng –Riddick. sinh tại Hànội, 1940.. Vào Sàigòn, sau đó di cư sang Paris và có bằng tiến sĩ. Năm 1969, bà sang định cư ở Canada, dạy văn chương tại đại học Montréal và Mc Gill, sau đó vào năm 1981, dạy đại học Victoria tại Victoria, British Columbia. Năm 1995, bà cho xuất bản tập thơ : Deux rives ( two Shores). Ronsdale Press, 1995. Trong đó bà mô tả đời sống bên Việt Nam dưới sự cai trị của người Nhật, người Tầu, Việt Minh, người Pháp và người Mỹ. Bà viết lại cuộc tranh đấu với chính bản thân bà như thế nào ở thế giới Tây Phương. Cả hai người, viết chỉ là nghiệp dư khi rảnh rỗi.. Vì vậy không có gì để nói thêm. 3.- Jean-Michel Trương Jean Michel-Truong, 48 tuổi là người đầu tiên sáng lập ra ở Âu Châu công ty về Intelligence artificelle. Từ năm 1991, ông sang sống tại Trung Hoa trong vai trò cố vấn về những Haute technologie cho những xí nghiệp. Cuốn truyện đầu tiên của ông, cuốn Reproduction interdite (Prix Mannesman Tally) (5). Cuốn truyện cũng đã được dịch ra tiếng Tây Ban Nha, Nhật Bản và Bồ đào Nha. Jean Jacques Beineix đã mua bản quyền cuốn truyện này để quay thành phim. Có lẽ đây là cuốn truyện đạt thành công lớn nhất của ông. Cuốn truyện đề cập đến một vụ nổi loạn tiếp theo một vụ hỏa hoạn trong một nhà tù ờ Borbert Rettinger, vào 25 tháng 3 năm 2037 ở Strasbourg.. Ông toà khám phá ra ba nạn nhân trong vụ hỏa hoạn giữa đám tù nhân là 3 người có dính líu trong vụ Boeuf rouge là bọn trùm trong băng đảng trong vấn đề Clones. 3 ngày sau, giáo sư Hugues Ballin, giáo sư chuyên khoa về clonage, giải thưởng Nobel về y khoa tự tử trong một khách sạn thành phố. Được sự hỗ trợ của cảnh sát trưởng Simonot , nhưng quan trọng hơn cả là có một logiciel tuyệt hảo Agatha. Logiciel này có khả năng giúp việc điều tra đến tận nơi, tận gốc một cách khủng khiếp.. Nhờ đó, Rettinger nhận thấy có hàng lọat những cái chết rất lạ lùng trong giới thượng lưu trí thức trong Liên Đoàn Châu âu, sau đó , ông toà nhận ra tất cả những cái chết này đều liên hệ với nhau một cách chặt chẽ. Cứ bề ngoài cho thấy hãng sản xuất hàng đầu về Clones của thế giới do Ballin sáng lập đang tìm cách phá vỡ vụ điều tra của ông toà. Trong khi ông toà đang tiếp tục điều tra như thế thì có hai cơ quan mật vụ đối lập nhau, nhưng lại liên kết với nhau chống lại Khối Hồi Giáo.. Từ đó nảy sinh ra những vụ khủng bố, ám toán, âm mưu, giả mạo tài liệu, tạo dư luận để ngăn cản vụ điều tra của quan toà Rettinger. Trong khi đó, những ông trùm trong Liên Đoàn Âu Châu đã hỗ trợ tài chánh cho việc clonage thì nay đang run sợ trước một hiểm họa một Virus đáng sợ, giống như vụ đại dịch hạch ở thế kỷ 20… JMT đã tạo dựng ra một hồ sơ vụ án gián điệp thuộc loại tối mật với 144 hồ sơ cả thảy tạo thành cái cốt của cuốn truyện.. Cứ như thế, âm mưu, thủ đọan dần dần được lôi ra ánh sáng cho thấy một hậu quả đáng ghê sợ : người ta đã tạo dựng ra một người từ chính những tế bào của người ấy và khai thác những con người mới được tái tạo trong những điều kiện tồi tệ nhất.. Cuốn truyện muốn nói lên một điều qua nhân vật truyện giáo sư Hugues Ballin phải chăng con người có thể nghĩ tưởng ra điều gì thì anh phải thực hiện bằng được nó : If you can dream it, you must do it . JMT đã dặt ra vấn đề đức lý, vấn đề Thượng Đế bằng cách viện dẫn một số những tư tuởng gia để nhắc nhở con người phải tôn trọng một số những giá trị và địa vị của con người trong hoàn cảnh và trong môi trường. Người ta tự hỏi những quan niệm mà JMT đặt ra , phải chăng có thể là tiếng nói tiên tri về thời đại của con người hiện nay mà nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời. Le successeur de pierre ( Grand prix de l'Imaginaire 2000)..(6) JMT đưa người đọc trở về nguồn cội của THỜI GIAN, thời mà đấng KiTô đã nói với các môn đệ của Ngài, những điều phát lộ ra như một lời tiên tri có thể làm đảo lộn toàn thể cộng đồng công giáo. Rồi tác giả dẫn đưa người đọc đi từ nước Trung Hoa sang Âu Châu, nói tới số phận của các đế quốc thời xưa. JMT đã đọc lại Thánh Kinh để chứng tỏ rằng nhân loại đang đi vào một ngõ cụt về sự tiến hóa ( Impasse évolutive), bởi vì con người bị đóng khung và kềm kẹp, trở thành những con tin bởi chính những phương tiện mà con người xử dụng ( tỉ dụ mạng lưới Web). Và sự hủy diệt con người đã không còn xa nữa. JMT cho thấy một xã hội con nguời đến ghê tởm và khủng khiếp có thể là xã hội của chúng ta trong một vài năm sắp tới. Đây chẳng khác gì một thứ bài giảng cảnh giới nhân loại. Sự tiêu diệt đã thực sự được hoạch định rồi. ( Programmé ). Dù là một đề tài khô khan, nhưng JMT không thiếu tài kể truyện, cũng không thiếu cái chủ động dẫn dắt câu truyện một cách khéo léo. Jean Michel- Truong đã bàn tới vấn đề tương lai nhân loại. Một tướng lai con người dính chặt vào những phát minh tân kỳ nhất là mạng lưới Web. JMT đã phân tích, mổ xẻ, lột trần cái chủ nghĩa néo-libéralisme . Và để củng cố thêm quan điểm của mình, JMT đã dựa theo quan điểm của Teilhard de Chardin để nói về số phận nhân lọai. JMT đã cho thấy cái khủng khiếp về guồng máy kinh tế thế giới nhân đôi với sự khủng khiếp của vũ trụ ( Horreur cosmique). Đây là một cuốn truyện khoa học giả tưởng điển hình đụng chạm trực tiếp đến những điểm nóng của thời đại mình bằng một thứ phân tích bằng bản năng. Điều mà Nietzsche gọi là lối phân tích bằng những nhát búa. Đụng thẳng vào vấn đề chẳng khác gì dùng cái chày đánh thẳng vào chuông để xem nó kêu như thế nào. Một cuốn truyện dày đặc những ý tưởng, những biến cố, những phân tích. Rồi kế tiếp đến Totalement inhumaine (7). Ác mộng đang bắt đầu. Trận chiến cá ngôi sao, vấn đề toàn cầu hóa, hệ thống Net, điện thoại di động.. tác giả muốn cho thấy rằng trí thông minh con nguời trên hành tinh đang trên đà của cuộc phiêu lưu kỳ thú, tách dời khỏi chính con người, tách dời khỏi chúng ta.. Phải chăng nay đã là quá muộn ? Rồi đến Eternity Express . Có lẽ ông là nhà văn duy nhất viết truyện dựa trên những kiến thức khoa học, khoa học giả tưởng và đặt ra những vấn đề nhức nhối của thời đại như : Clonage thérapeutique hay clonage reproductif. Vấn đề Intelligence artificielle, vấn đề la mort programmée, vấn đề Euthanasie, vấn đề lão hoá của người già, vấn đề tương lai nhân loại nằm trong bối cảnh của Web. Ông cũng không ngại trích dẫn những nhà tư tưởng lớn thời đại trước những vấn đề khúc mắc liên quan đến tôn giáo, chính trị, xã hội như các trích dẫn của Linh Mục dòng tên Teilhard de Chardin, Simone Weil, E.J Hobbawn, R. Dawkins, Hayek, Turing và cả Nietzsche nữa. Những đề tài trong truyện của Jean Michel- Trường có tầm mức thời đại, đánh thức lương tâm con người. Có bề dầy của kiến thức, của thông minh, của cấu trúc tư tưởng trải dài những ý tưởng thời đại, những phân tích, những trao đổi giữa các luồng tư tưởng .Những tác phẩm của Jean- Michel Truong cho thấy nhà văn này đã dứt bỏ hẳn những đề tài quen thuộc của phần đông các nhà văn Việt Nam trước đây. (8) 4.- Kim Lefèvre. Kim Lefèvre sinh ra ở Hànội vào những năm đầu thế chiến thứ hai. Cha của bà là một sĩ quan quân đội Pháp, mẹ của bà là một phụ nữ Việt Nam. Bà sinh ra đời mang theo ba thứ tội, ba thứ mặc cảm : Bà là một phụ nữ, một đứa con ngoại hôn không có cha và một đứa trẻ lai, mang hai dòng máu . Cuốn truyện đầu tiên của bà xuất hiện rất muộn vào năm 1989 Métisse blanche. Tuổi thơ của bà chỉ là đêm tối, bị chối bỏ, bị vứt từ nơi này sang nơi khác. Trước hết là bố của bà. Bà chưa bao giờ biết cha của mình là ai. Bà viết lại cảnh bị gia đình bên mẹ của ba chối bỏ, coi như một thứ con lạc giống, một thứ con hoang đáng nguyền rủa, rồi sau đó chính mẹ bà đã gửi bà vào trại trẻ mồ côi lúc bà 6 tuổi với một danh số là 238. Cuộc đời của Kim Lefèvre là cuộc đời của đứa trẻ lai tây trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, có chiến tranh, có cuộc tranh đấu giải thực và cuối cùng là cuộc di cư. Mẹ bà không thể nuôi bà vì bị mọi nguời sẽ khinh bỉ gọi là Me Tây. Bà sẽ không bao giờ quên cái danh số 238 lúc ở trong trại trẻ mồ côi. Cuốn sách kể lại những năm tháng gian lao và khó khăn với nhiều tình tiết thời thơ ấu và thời tuổi trẻ của bà ở Việt Nam. Sau đó bà đã dời Việt Nam năm 1960, sáu năm sau ngày chấm dứt chế độ thuộc địa Pháp ở Việt Nam. Lúc đó bà đã 25 tuổi. Sau đó bà cho xuất bản cuốn Retour à la saison des pluies (1990). Đây là cuốn sách mô tả lại cuộc trở về của bà, về mảnh đất quê hương, nơi bà đã sinh ra và đã bỏ đi 30 năm về trước. Bà tìm lại những kỷ niệm thời trẻ, viếng thăm những thành phố, nay trở thành nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là một hành trình đầy khổ lụy, khám phá ra người mẹ và mảnh đất quê hương. Bà đã kể lại cuộc đời của mẹ bà, đầy gian lao khốn khổ để sống còn, để đối đầu với bao khó khăn của đời sống. Nay bà nhìn nhận lại mẹ mình, bố dượng và các em cùng mẹ khác cha với mình. Bà đi tìm lại cái thẻ căn cước ( identité) của chính mình với cái tên Lâm kim Thu. Và sau cuộc hôn nhân năm 1962 trở thành Kim Lefèvre. Tiếng nói của Lefèvre là tiếng nói lạ của một người phụ nữ lai. Bà muốn cho mọi người nghe và hiểu số phận của những đứa con lai như bà, bị ruồng bỏ khinh miệt từ hai phía : người Pháp lẫn người Việt Nam . Những suy nghĩ về số phận đửa trẻ lai hai dòng máu bắt ta liên tưởng tới trường hợp truyện The Unwanted của Nguyễn Kiên bên Mỹ sau này. 5.- Kim Doan Kim Doan viết cuốn Sur Place. Cuốn sách mô tả lại quyết định của bà trở về VN sau 20 năm xa cách.(9) Bà cảm thấy lạc lõng giữa Sàigòn, nơi mà từ đấy bà đã ra đi. Quá khứ quay quắt trở về và để lại dư vị nơi cổ họng chút gì như vết thương chưa lành, như một chiếc gương đã bị dập vỡ. Đây là cuốn sách thứ hai của bà, không phải cuốn đầu như nhiều nhà xuất bản bên Pháp viết như vậy.. Thật ra, khi mới đinh cư ở Montréal, Québec, bà được một gia đinh người Québecois bão lãnh cùng với em trai của bà theo diện con nuôi.. Họ đã giúp Kim Doan hoàn thành cuốn sách đầu tay của bà lúc còn đang theo học ở đây.. Vì thế cuốn Sur place phải đuợc kể là cuốn thứ hai. Đây là một cuốn sách dày về số trang ( 308 trang ) cũng dày về tư liệu. Cũng rất có thể, chính tác giả không muốn nhắc đến cuốn sach đầu tay này khi còn định cư ở tỉnh Québec. 6.- ANNA MOI Anna Moi tên thật là Thiên Nga. (10) Từ nhỏ, cô theo học chương trình Pháp. Tiểu học ở Chợ Lớn, Trung học tại trường Marie-Curie.. Lúc lên Đại học, cô theo học đdại học Nanterre với ý định theo ngành báo chí.. Sau dó, có thời kỳ cô theo ngành biểu diễn thời trang trước khi chính thức trở thành nhà văn. Thoạt đầu cô viết những bài thời sự, sau đó tập trung lại cho in cuốn tuyển tập đầu tiên : l'écho des rizières . Tuyển tập này thành hình là do những chuyến đi giữa nước Pháp, Mỹ , Nhật và nhất là thành phố HCM (Sài Gòn) .. Cô viết lại những gì cô cảm nghĩ, rồi gửi cho một tờ báo địa phương. Từ đó cô trở thành phóng viên chính thức của tờ báo.. Ngày nay, Anna Moi thường sống ở Sàigòn trong căn nhà riêng của cô, hoặc bên Mỹ, nơi gia đình cô hoặc cửa tiệm quần áo thời trang của cô ở Paris và một cửa tiện khác ở vùng Tây Nam nước Pháp. Cho đến nay, ngoài écho des rizières, parfum de pagode, cô mới cho xuất bản gần đây cuốn " Riz noir ". nxb Gallimard 6.- Linda Lê Linda Lê sinh năm 1963, tại Đàlạt. Theo cô, đó là một thành phố "la seule ville froide du pays". Bố là kỹ sư, làm việc cho người Mỹ ở Việt nam. Mẹ là người Pháp, con một gia đình thế giá và hai người có 4 cô con gái. Chẳng bao lâu gia đình rơi vào chỗ bất hoà. Ta hãy nghe cô kể lại trong cuốn Les Dits d' un idiot :" Ma mère a vécu ce mariage comme une déchéance. Sa famille ne faisait pas partie de l'aristocratie lettrée. Elle aimait la présence des Francais et, ensuite, des Américains. Mon père était très renfermé. On ne recevait que des amis de ma mère, on ne parlait que de ce qui venait des États-Unis ou de France... " Cô viết thêm về mẹ mình :" Ma mère elle, est issue d'une famille importante. Ils n'auraient pas du se rencontrer". Khi cô 6 tuổi, gia đình dọn về ở Sàigòn. Sau khi miền Nam mất, lúc đó cô 14 tuổi đã cùng mẹ trở về Pháp, ở Havre để lại người cha bất hạnh. Ông chết năm 1997 mà không được gặp mặt con gái. Cái chết của người cha đã để lại một ấn tượng rất lớn nơi Linda Lê như ta sẽ thấy sau này trong các truyện của Linda Lê. Cô cho biết, cô bị rơi vào tình trạng những ảo giác, ám ảnh muốn tự tử, những cử chỉ mê sảng. Có một sự đồng cảm sâu xa giữa hai bố con như cô viết : "Mon père me considérait comme une sorte de disciple. Il n'avait aucun instinct de propriété ni de conservation". Năm 1981, cô vào học trường Lýcée Hnrei 1V ở Paris. Cô thi rớt vào trường Normale. Việc thi rớt sau này cô gọi là một điều may như cô viết :" J'avais envie d!écrire , mais je n'étais pas sure d!en avoir l'audace. Un moment j'ai eu la tentation de me consacrer aux études, mais heuresement j'ai raté Normal Sup. Cet échec a été vraiment salutaire : Je me suis sentie libre comme lorsque, le bac en poche, j'ai pu quitter ma famille.. Durant un an, J'ai érit Un si tendre Vampire, J'ai envoyé le manuscrità plusieurs maisons d'édition. La Table Ronde fut la première à répondre, voilà."(11) Năm 23 tuổi, cô xuất bản cuốn sách đầu tiên. Khi đã bắt đầu viết văn rồi, cô xông xáo, say mê vào việc viết như thể người ta nhảy xuống biển. Và biết rằng với khả năng , có thể bơi xa. Với vị trí và tư cách của một nhà văn trẻ, Cô làm việc cho nhà xuất bản nổi tiếng Hachette.. Hai năm sau, cô thực sự chỉ sống nhờ vào tiền của tác quyền.. Lúc đó, một ngày của cô chỉ thu tóm vào có ba việc như sau : buổi sáng cô ngồi viết. Sau buổi trưa đi ciné và buổi chiều đọc sách. Các tác phẩm của cô lần luợt được xuất bản như sau : Un si tendre Vampire. ( 1987 ) Fuir ( 1988) Rồi Solo (1989). Les évangiles du crime ( 1992 ) Calomnies (1993) Les dits d!un idiot. ( 1995) Les trois Barques (1997) Voix (1998 ) Lettre Morte ( 1999 ) Tu écriras sur le bonheur ( 1999 ) Les Aubes ( 2000 ) Marina Tsvetaieva ( 2002) Autres jeux avec le feu. ( 2002) Personne ( 2003 ) Kriss suivi de l'homme de Porlock. 2004. Nhìn toàn bộ văn nghiệp của cô, Linda Lê đã xây dựng một thế giới tiểu thuyết trong dó đầy tính chất bi thảm, chen lẫn số mệnh tàn bạo của con người. Ngòi viết của cô sắc và mạnh, lạnh, luôn luôn ám ảnh bởi sự điên dại.. Ngay trong tiểu thuyết đầu tay Un si tendre Vampire, nguời đọc đã thấy dấu vết của loại đề tài ám ảnh bởi điều xấu . Một đề tài như thể gắn liền vào chính bản thân cô và len lỏi vào trong các tác phẩm. Le thème de l'attirance pour le mal. Tuy nhiên, cô không hài lòng về hai tác phẩm đầu tay của cô, vì cô cho rằng nó quá giả tạo, bắt chước cho bằng được các nhà văn khác. Nó cầu kỳ, kiểu cách và vì thế, cô tự gạch rút bỏ ra khỏi thư mục sách của cô. (12) Mỗi khi Linda Lê phát biểu, chữ nghĩa như khó khăn lăm mới nói ra được. Cô chọn từng câu chữ cho thích hợp với những cảm nghiệm của cô.. Chữ ngưng ngập không nói ra được, rơi vào thinh lặng, rồi như dặn mãi mới đưa ra được một từ thích hợp nhất cho những cảm nghiệm của cô. Gần như thể cả thân xác, con người cô tham dự vào việc phát biểu đó. Với mái tóc dài đong đưa, hất từ vai bên nọ sang vai bên kia theo nhịp suy nghĩ, đầu cúi xuống như đi tìm một động từ đã biến mất.. Đôi mắt nhăn gấp lại và mỗi câu hỏi kéo theo một sự căng thẳng đến cực độ. Cô thường hối tiếc về việc viết và việc cho xuất bản cuốn sách đầu tay này. Hình ảnh ngưới cha cô lúc mất đi đã để lại dấu ấn khá mảnh liệt nơi cô. Mỗi khi cô nói về người cha của mình, cô không che dấu được vẻ mặt đượm một nỗi buồn. Cô thừa hưởng những bất hạnh của cha cô như một gia tài cha cô để lại với những dằn vặt, bất lực, trách móc và oán giận, uy quyền và bất lực. Cô cho biết, trong hai năm trời kể từ khi cha cô mất vào năm 1995, cô đã sống trong sự vây khổ tột cùng, trải qua nhiều cơn ác mộng, ám ảnh hoang tưởng. Đã có lần cô tưởng tượng ra hình ảnh cha cô mặc một áo choàng dính đầy lửa đến cạnh giường cô và nói : "Tại sao, con đã không cứu cha" Pourquoi, ne m!as tu pas sauvé... Những tâm trạng đó được cô viết trong Voix và trong Lettre morte, như một lời kinh cầu hồn requiem cho cha mình. Như đã có lần cô phát biểu. "J'avais deux passions : mon père et la ville. J'aimais pouvoir me débrouiller dans une ville réputée dure, il ya du défi là". Và đối với Linda Lê. Viết là trên hết như một nỗi khát khao không dời. Có lúc cô viết, nỗi bất hạnh của dân tộc Việt Nam như một xác chết nằm trong bụng mà cô phải gánh chịu. She had also stated that she feels that Viet Nam itself is like a dead body inside (13). Viễn ảnh về cái chết và những thân xác đang chết dần ám ảnh cô khi viết như Jack A. Year nhận xét. Nó gắn liền vào đời sống của cô.. Nó tra tấn, thúc bách và dằn vặt trong những suy nghĩ và việc viết của cô Đến nỗi có thể nói : Tout doit être sacrifié pour l'écriture(14) . Khi viết Les trois Parques, cô rơi vào tình trạng cô đơn tuyệt đối.. Cô chỉ tìm thấy sự cao quý trong ngôn từ của những kẻ lang bạt hay người nghiện rượu.. Còn ngoài ra đều là giả tạo.. Trong nhiều tuần, cô đã sống im lặng, không nói gì. Vì thế, không lạ gì, cô bị ám ảnh bởi những nhà thơ điên như thơ của Hoelderlin, Byron, Artaud.. Và cô cho rằng, chính ở trong vực thẳm của đêm tối, ta mới đụng chạm tới chân lý.. Và chỉ trong những cơn điên loạn, ta mới ghi nhận được ánh sáng của sáng tạo trong một khoảnh khắc nào đó. Đã có những nhà phê bình văn học như Nancy Marion Milner Kelly so sánh Linda Lê và Marguerite Duras .(15) Sự so sánh này làm nổi bật giá trị của Linda Lê. Marguerite Duras là một trong những nhà văn sáng giá của Pháp thập niên 60-70. Nhưng hiện nay, giới văn học Pháp nhìn Linda Lê là một trong ba nhà văn nữ đứng hàng đầu của Pháp. Đó là Alice Ferney, Marie Darrieussecq và Linda Lê.. Đó là ba nhà văn tiêu biểu của nước Pháp hiện nay trong văn chương Pháp. Trung bình mỗi năm, nước Pháp có hàng mấy trăm đầu sách mới xuất hiện. Năm 1993, chỉ có 326. Năm 2000, có 557. Năm 2002, có 663. Năm 2003, có 691.. Chừng đó đầu sách xuất hiện, vậy mà sách của Linda Lê trội vượt lên hàng đầu ? Đã hẳn không phải là dễ trong một không khí văn chương có truyền thống cạnh tranh ráo riết và khắc nghiệt như ở nước Pháp. Đấy là chưa kể một số các nhà văn gốc Tầu luôn luôn có thế mạnh trong thị trường sách báo hiện nay trên thế giới.. Ha Jin, Gishgen ( Viết truyện bằng anh ngữ) hay Gao Xingjian ( Giải văn chương Nobel năm 2000). Chẳng hạn cuốn Impératrice của Shansa,(16) xb năm 2003. Cuốn sách đã được quảng cáo quá mức trông đợi của người đọc. Truyện kể là hay. Nhưng vì đó là đề tài quen thuộc đối với độc giả Tầu cũng như VN nên tôi đọc và thấy không có gì là lạ. Nội dung cuốn truyện, dựa trên lịch sử nước Tầu vào thế kỷ thứ 7, kể lại câu truyện của một người con gái xinh đẹp, thông minh khôn ngoan và nhiều tham vọng. Được tuyển vào cung, từ nàng hầu, trở thành người tình của Thái tử, rồi thành Hoàng Hậu. Những câu truyện trong hoàng cung, thuộc loại thâm cung bí sử, những câu chuyện tình lọan luân vừa hấp dẫn, vừa thơ mộng nên đã gây được sự chú ý nơi người đọc Pháp. Hay là cuốn Balzac et la petite Tailleuse chinoise của Dai Sije.xb năm 2000. Tôi đọc cuốn này chỉ thấy là câu chuyện của hai thanh niên Luo và Ma bị đưa đi cải tạo lao động vào những năm 70 ở các nông trường. Họ đã khám phá ra một va li sách viết bằng tiếng ngoại quốc được dấu trong một hang động. Họ đã ăn cắp và ngấu nghiến đọc các tác giả ấy, trong đó có Balzac.. Đó là những câu chuyện bình thường xảy ra trong các chế độ Cộng Sản. Dĩ nhiên, câu truyện được mô tả một cách rất bình dị, đơn giản, dễ đọc và dí dỏm. Nhờ vậy, cuốn truyện đã nhận lãnh được 5 giải thưởng, trở thành best-seller, được quay thành phim và được dịch ra hơn 20 thứ tiếng. Nhưng tác phẩm Personne của Linda Lê cũng xuất hiện cùng thời điểm đã tạo một sức vang dội không nhỏ trong văn giới Pháp. Hy vọng rằng trong tương lai, những nhà văn trẻ Việt viết bằng tiếng Pháp như Jean Michel Truong, Linda Lê sẽ đoạt được giải văn chương của Pháp như các giải Femina, Goncourt.. vv Và phải chăng đây là hướng viết mới bắt buộc phải hội nhập vào xã hội nước mà họ đang sinh sống? Và đó là tương lai của thế hệ các nhà văn trẻ gốc Việt ? ________________________________________________ (1)Trích dẫn theo tư liêu của Nhatrang Website. (2) Để tưởng nhớ GS thạc sĩ Phạm duy Khiêm. GS Nguyễn đình Hoà. (3) Xin xem thêm Phạm trọng Luật với đầy đủ thư mục của tác giả trong Hợp Lưu số 79, trang 21. (4) Trích lá thư Lettre d!un engagé volontaire trong sách De Hanoi à la Courtine, đăng lại trên tạp chí Indochine, số 58 ngày 9 tháng 10, năm 1941, trang 7-8. (5)Lươc trích Parution.Com L'actualité du livre et du DVD http://www.parutions.com/pages/1-1-374-1092.html (6)Tóm theo http:/arcanesfantasy.free.fr/truong.htm (7)Tóm Amazon.fr : livres :totalement inhumaine. (8)Trích tài liệuwww.mauvaisgenrescom/truong.htm (9)Trích Le nouvel Observateur. Semaine du jeudi 30 octobre 2003- N% 2034-livres. (10)Trích trong clubifnbabela/com.tbd.o4ANNA Moi.htm. (11)Trích lelibraire/com.dossier.AR1304.html (12)Trích Lire : le magazine littéraire. L!actualité de la littérature francaise et de la littérature étrangère (13)Trích Contemporary Women!s Writing in French . Linda Lê. (14)Tóm lại vài ý trong Matricule des Anges, số 13, thang 9-10, 1995 (15)Trích The Saigon-Paris connection : Marguerite Duras and Linda Le. Exile and colonialisme ( Viet Nam, France ) (16) sách dày 440 trang. nxb Albin Michel Cuốn sách này gây náo động vì có vụ kiện ra toà giữa nhà Grasset và nhà Albin Michel. Shansa, 17 tuổi dời Bắc Kinh sang Pháp, 10 năm sau đã viết cuốn này. Tác phẩm của bà còn có Porte de la paix céleste. Les quatre vies du saule..