( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.) --------------------------------------------------------------------------------------- Lên tiếng thay cho người làm thinh ! Nguyễn Văn Lục On admettra qu' il aurait été imprudent de décrire la Révolution Francaise vers 1793 en se contentant d!écouter les émigrés de Coblence de Londres ou de Gand. Jean Lacouture Hệ lụy của lịch sử thật là buồn. Năm 1867, Cụ Phan [1] đã giao 3 tỉnh miền Tây nộp cho Pháp. Sau đó cụ đã sai người về Kinh đô giao nạp áo mão và dâng sớ tâu lên vua Tự Đức rằng cụ không cản nổi thế giặc “Bổn chức đáng tội chết“. Sau đó, cụ đã uống thuốc độc tự vẫn. Mới mất có ba tỉnh chưa hẳn là mất nước. Thế giặc lại mạnh. Sức một nhà nho làm được gì. Vậy mà cụ đã lấy cái chết để tạ tội. Người đời sau đọc đến đây chỉ thấy buồn và dấy lên một niềm kính trọng. Đối với lịch sử dài vài ngàn năm, 100 năm hay nói đúng hơn 108 năm có là bao. Hết Pháp đến Mỹ để rồi cuối cùng để rơi vào tay người Cộng Sản. Nhưng người trực tiếp ở vào cái thời điểm lịch sử đó, 1975, là một viên tướng đã từng được mệnh danh là "anh hùng rừng Sát” đã phải nhận lãnh trách nhiệm bội bạc: Tổng Thống 48 giờ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà. Ngày nay, có người cho ông là một “hàng Tướng”, dĩ chí còn cho ông là người có trách nhiệm trực tiếp làm mất miền Nam Việt Nam. Một cuộc đầu hàng không điều kiện (unconditional surrender. Stephan Young trong Wall street journal 02-08-1995 ). Thật ra, cái mất phải kể từ khi người Mỹ buộc VNCH phải ngồi vào bàn Hội Nghị Paris từ mấy năm trước. Cái lỗ kim hy vọng của miền Nam đã nhỏ từ lúc ký Hiệp Định Ba Lê lại càng nhỏ thêm . Cái mất thì quá lớn, nặng quá đút mãi cũng không vừa qua lỗ kim nhỏ. Cái còn lại là sự tuyệt vọng, là sự hoảng sợ của một cuộc tháo chạy đến kẻ thắng trận cũng sửng sốt ngạc nhiên [2]. Cuộc tháo chạy [3] về tâm lý hẳn có hai mặt : bôi xấu hoặc tô hồng, hoặc đổ lên đầu một người chịu hết trách nhiệm cho việc ra đi của mình- con dê tế thần [4]. Cái mà người viết gọi chung là “những Huyền thoại về người di tản” trong đó lẫn lộn cuộc sống giả và thực. Lấy cái thực, cái có, cái được làm như là giả và lấy cái đã mất, cái chỉ còn là hoài niệm quá khứ làm như là thật bằng cách tô vẽ nó. Cuộc sống có hai mặt như trong một trò chơi bạc giả. Như Jean Baubrillard viết: “When the real is no longer What is used to be, nostalgia assume its full meaning. There is a proliferation of myth of origin and sign of reality, of second-hand truth. And there is a panic-striken production of the real and the referential”. Và đến chỗ có thể nói được rằng chính hoài niệm quá khứ đã được tô hồng là cái căn cước của người Việt di tản. Cái đã làm nên chúng ta và giúp nhận ra mình giống và khác người khác. Đó là hội chứng sau 1975 với những vết thương chưa lành mà chính người viết cũng đã trải qua. Không có nó, chúng ta còn là gì nữa [5]. Xin dẫn một ý của Karnow: “Ký ức về chiến tranh đã đưa những buổi kỷ niệm như thể như một chiến thuật vận động cho một tương lai người Việt. Nhưng thực ra chỉ để bày tỏ một cảm thức sâu xa về một cái gì đó đã không còn nữa, được huyễn hoặc về cội nguồn của mình, nhằm xoa dịu những oán hận đã qua. Buổi lễ chìm đắm trong khung cảnh quá khứ xa xưa được khơi dạy trở về muốn được nhìn nhận ở hiện tại.” Trong một chừng mực nào đó, những cảm nhận trên cần được nâng niu giữ lại như gia tài của mỗi người. Một cá nhân, một hoàn cảnh, một quá khứ đau thương đã phải trả bằng nước mắt về một sự chia lìa, về một sự tù đầy kìm kẹp, về nỗi thống khổ sống trong lo sợ. Chúng ta không thể quên và có lẽ chẳng bao giờ quên .Tất cả những tâm tình đó, những đau thương đó, những hoài niệm về một quá khứ quay quắt cần được ghi nhận. Vì thế đã có không biết bao nhiêu hồi ký về vấn đề này mà người viết chỉ nêu những sách in mới đây thôi. Có cuốn bút ký Tôi phải sống của Nguyễn Hữu Lễ [6]. Cuốn Ước Mơ chưa đạt của Nguyễn văn Minh. Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô đình Diệm của Trung Tá Nguyễn hữu Duệ . Buddha!s child của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Điều đó chứng tỏ rằng quá khứ của lớp tuổi những người trên 60 không bao giờ có thể quên được [7]. Nhưng xin đừng vì bất cứ lý do gì đánh rơi chính mình, biến những đau thương đó thành vũ khí chính trị, thành bạo lực đàn áp, thành một soif d’holocauste nhắm vào những nguời cùng thân phận, những người cũng từ đó mà ra. Những năm tù cải tạo không phải là một bảo chứng hay một thứ văn bằng cho phép mình độc quyền tư tưởng và khống chế những người di tản khác. Cũng đừng vì lý do gì mà phải hạ thấp mình, nấp sau những khẩu hiệu, những lý tưởng đã cùn đã rỉ để chụp mũ bôi nhọ vô bằng. Mỗi một lời chụp mũ vô bằng cớ là những viên đạn tự giết chính mình. Cả hai chữ Cộng Sản và Quốc gia đều đã bị xài mòn cả rồi. Đó là những món hàng ế ẩm đã mât giá. Người Mỹ, cha đẻ sản xuất ra những món hàng đó đã quên và đã bán những món hàng mới mẻ khác rồi. Có ai còn nghe đâu đây tiếng rao hàng của Người Mỹ Về thế giới Tự Do nữa không. Chỉ có đất nước và con người. Chỉ có dân tộc và quê hướng xứ sở. Chỉ có tình đất nước và tình người. Chỉ có lịch sử và giống nòi. Chỉ có tôi và anh nói cùng thứ tiếng, cùng cội nguồn. Chỉ có đất nước Việt Nam và con người Việt Nam dù ở đâu, dù ở trong hay ở ngoài. Chủ nghĩa gì đi nữa cũng chỉ là cái áo mặc ngoài. Bẩn thì giặt, cũ thì vất. Đối với người Việt trong cũng như ngoài đều là dân tộc Việt Nam. Nó không là “chiếc áo” để có thể dễ dàng thay hay vứt bỏ, chỉ vì nó chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ bẩn trong mỗi một con người còn nhận mình là người Việt Nam. Sau 1975, cộng đồng người Việt di tản ra nước ngoài với nước mắt và nỗi lo âu trước một tương lai vô định. Rồi sau đến lượt các thuyền nhân phải ra đi vì chính sách hà khắc và sai lầm của chế độ mới. Thế giới đã xúc động và đã dang tay đón tiếp những người tỵ nạn. Đã có ít nhất hai triệu người được đón nhận và ổn định nay trở thành một cộng đồng người Việt lớn mạnh ở hải ngoại. Từ đó, cũng nên chân thành nhận với nhau một vài điều sau đây, không thể nói quanh, trốn tránh sự thật: Nhờ biến cố tháng Tư 75. Đất nước, sau bao năm chia rẽ và chiến tranh nội thuộc, đã được thống nhất, có chủ quyền, đã đang trên đà phát triển, có cải thiện, đang mở cửa, hội nhập vào khu vực và toàn cầu. Cái giá của sự thống nhất là vô giá mà một sự mất mát của một chế độ, cách này cách khác không thể so sánh được [8]. Sau gần 30 năm, thế giới đã thay đổi mà những chiêu bài chính trị 30 năm về trước kể cả hai phía chỉ là những ‘thiên đường mù. hay ‘bên bờ ảo vọng’ ( DTH). Chủ nghĩa, chiêu bài ý thức hệ không có tương lai. Tương lai nằm nơi con người. Nếu còn nhiều ý kiến khác biệt, đối chọi thì phải ngồi lại chọn lựa một nguyên tắc AGREE to DISAGREE. Trận đấu ý thức hệ trên sân cỏ đã xong, trọng tài đã thổi còi tan trận đấu, không lẽ chúng ta cứ đá tiếp một mình. Nhờ biến cố tháng Tư đã biến một điều bất hạnh thành đại hạnh cho người di tản, cho họ và cho con cháu họ, cho người ở đây và cho người ở bên nhà. Hãy nhìn mặt tích cực của nó. Hãy nhìn lại mình, nhìn con cháu mình, nhìn tương lai trước mặt. Dừng nhìn thành Sodome đang bị đốt cháy, hãy ra khỏi nhà và đừng ngoái lại [9]. Vì thế, vẫn phải nhìn nhận Việt Nam hiện nay là quê hương và cũng chẳng nên vô tình đến bội bạc nói mảnh đất chúng ta đang sống ở Hải ngoại là mảnh đất tạm dung; rồi thân phận lưu vong, lưu đầy mà là mảnh đất lành, miền đất hứa [11]. Đây là cuộc sống thực, đầy hứa hẹn, đầy tương lai mà khi ra đi không ai dám mơ tưởng tới. Nó có đủ các thứ tự do nhét đầy hai túi, túi áo trên, áo dưới cũng không hết. Chỉ sợ không biết dùng mà một số người Việt di tản xài thỏa thích ngay cả chửi bới, chụp mũ vô bằng, vô tội vạ [12]. Một chứng từ: Nói thay cho người làm thinh ( Loi d’ Holocauste) Trong sách Levy có kể về luật Hiến tế (loi d’ Holocauste) cho Yahweh như sau: Yahweh đã gọi Moisen và chỉ dạy cho ông cách hiến tế Ngài. Hãy lấy một con chiên đực, cắt cổ nó, rồi rẩy máu chung quanh bàn thờ. Hãy xẻ thịt nó ra từng khúc rồi đốt nó thành tro. Khói bay lên như vật lễ hy sinh, gánh tội cho dân và mùi thịt khét sẽ làm cho Yahweh dễ chịu, cảm khoái. Huyền thoại vừa thuật lại ở trên ứng với tâm trạng người di tản. Việc mất miền Nam vào tay Cộng Sản như trên cuối cùng rồi cũng phải tìm ra được một con chiên đực lãnh trách nhiệm cho mọi người. Đọc các hồi ký của người di tản, nhất là các tướng lãnh [12], người viết không thấy bất cứ tác giả nào nhận cái trách nhiệm bội bạc đó. Cũng như chẳng có ai thẳng thắn quy trách nhiệm cho người Mỹ. Đổ hết trách nhiệm việc mất miền Nam vào những giờ phút cuối cùng cho Đại tướng Dương văn Minh là một điều bất công. Người Việt Nam, theo thói quen thường có chính kiến khác nhau đi đến chỗ chia rẽ bất đồng, đố kỵ, có khi đến chỗ loại trừ nhau. Hoặc chia rẽ về tôn giáo, về địa phương, về ý thức hệ. Hoặc chia rẽ về phương cách hành động, về đường lối do tinh thần bè phái, tự tôn. Vậy mà điều đến ngạc nhiên, khi cần một con chiên đực tế thần, họ gần như đồng thuận, hoặc gián tiếp chấp nhận bằng cách im lặng. Người theo đạo Ki tô có lý do riêng để ghét ông Dương văn Minh, Cao Đài Hoà Hảo cũng vậy. Tướng lãnh, quân đội, chính quyền thì tìm được người đội nón cối thay cho mình, Con chiên đực có tên là Đại Tướng Dương văn Minh [13]. Nay con chiên đực đó quân không có, chức không có, từ lâu gác kiếm giang hồ, một lần nữa dơ lưng ra gánh cái gánh nợ chồng chất của một quá khứ mấy chục năm dài bị đục đẽo, xói mòn, thủng đầu này đầu nọ, như căn nhà tróc nóc. Chỉ có ngu dại mới lãnh nợ “cầm buồi cho kẻ khác chơi”. Việc mất miền Nam không phải câu chuyện của 40 tiếng đồng hồ còn lại. Nó dây dưa lần theo những chuỗi sự cố từ các tướng lãnh, từ ông Thiệu, từ phía quân đội, và cuối cùng đến ông Diệm và người Mỹ. Việc mất thế nào thì việc được miền Nam nó ngược lại như thế. Họ có kỷ luật, họ hy sinh, tướng tài, mà trên hết là họ có được lòng dân (“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”). Lẽ được thua nằm ở chỗ đó. Việc mất miền Nam nhẽ ra mọi người từ dân đến quân, từ lớn đến nhỏ phải chìa vai, chung sức mà gánh cái mất mát và tất cả những hệ lụy từ đó mà ra. Nhưng đã hẳn, chúng ta từ chối gánh trên vai những thù hận, xuyên tạc bất cứ từ đâu tới đổ thêm lên đầu chúng ta. Ai là người có bàn tay sạch đây. Chỉ nhìn những ngày cuối cùng của miền Nam, nhìn cảnh những người cầm quyền thi nhau bỏ chạy, chuyện mất miền Nam là chuyện chẳng đặng đừng. Đừng ai nói hay, kẻ đáng nói lại không nói. Kẻ nên im lặng thì lại mạnh miệng nói tràn lan. Dư luận một lần nữa lại bị đầu độc. Sàigòn 30 tháng tư, bề ngoài cũng như một Bagdad ngày nay. Người đi bỏ của chạy lấy người, kẻ ở lại lợi dụng cơ hội vơ vét. Cứ nhìn xem những người ra đi đủ để bắt mạch được miền Nam đang hấp hối [14]. Sàigòn lúc ấy là một bãi rác đủ thứ vô thừa nhận. “Sao, Mai”, quân trang, quân dụng, giầy bốt, mũ sắt, huân chương, tài liệu sách vở vứt tung toé, sắc đeo lưng, lựu đạn, súng ống. Dọc theo đường Công Lý ra đến Tân sơn Nhứt…Người ta vứt đủ thứ ra đường. Sự hỗn loạn, sự sợ hãi trên mỗi khuôn mặt và trên bằng chứng là những món đồ vứt lại. Chưa kể đến xe díp, xe tải và cả xe tăng nữa. Chỉ có máy bay và tầu bè là phương tiện dùng để di tản là không còn để lại. Cũng không dám kể đến các hồ sơ mật đủ loại, hồ sơ nhân viên. Theo Trung Tá Nguyễn Tuệ, điều hành văn phòng Trung Tướng Đổng văn Khuyên, Tham mưu Trưởng Bộ Tổng Tham mưu với bài viết: Ngày tháng cũ (tiếng sông Hương 2000) trước đó một tháng, Mỹ đã lo ngại và đề nghị Tổng cục tiếp vận nên đem toàn bộ hồ sơ tại Trung Tâm quản trị gửi sang căn cứ Utapao của không quân Mỹ. Phía VN, hình như không quan tâm đến vấn đề này. Nói chung toàn bộ tài sản của chính quyền và quân đội VNCH để rơi vào tay Cộng sàn. Về phần CIA, họ đã chuyển hồ sơ mật đi trước. Cái gì không chuyển được đã kịp thời đốt. Theo Frank Snepp, họ đã tiêu hủy 14 tấn hồ sơ liên quan đến hoạt động tình báo và hồ sơ nhân viên. Phía tòa Khâm sứ ở Sàigòn, họ đã chuyển về Vatican 24 thùng liên quan đến tình hình VN và 3 thùng liên quan đến Hội đồng Giám Mục VN.( chứng từ của LM Thụ, thư ký toà Khâm sứ). Toàn bộ hồ sơ từ miền Trung đến Sàigòn xuống lục tỉnh, chính quyền VNCH chuyển đi được mấy thùng. Toàn bộ hồ sơ của Bộ quốc Phòng, của quân đội nói chung được mấy thùng. Toàn bộ hồ sơ của các bộ, văn phòng Thủ Tướng, văn phòng Tổng Thống chuyển đi được mấy thùng. Hay ít lắm cũng đốt đi được mấy thùng. Xin Đại tướng Cao văn Viên, tướng Trần thiện Khiêm lên tiếng. Xin các tướng lãnh, các cựu bộ trưởng lên tiếng. Về phía dân chúng, Cảnh xô bồ náo lọan như đến ngày tận thế. Người người hốt hoảng, chạy xuôi chạy ngược. Thật khác xa với hình ảnh ra đi vĩ đại, thong thả như đi du lịch, đi tắm biển. Taxi, xe nhà, xe gắn máy chở đầy người, chất đầy của phóng như lao trên đường phố. Bàn ghế, giấy tờ, xe cộ ngổn ngang vứt bừa bãi dọc đường. Vợ con sĩ quan công chức lạc nhau, chồng, vợ, con bị bỏ lại. Xô nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Ai là người còn có can đảm, có lòng ở lại đương đầu với tình thế. Ai là người lúc bấy giờ dám làm kẻ hốt rác miền Nam. Kẻ ra đi hay kẻ quyết tâm ở lại. Tướng Dương văn Minh là người cuối cùng còn ở lại cúi người xuống đất nhặt một một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam (chữ của Vân Xưa, bút hiệu của cụ Hồ sĩ Khuê ). Từ mấy chục năm nay Đại tướng Dương văn Minh đã không lên tiếng. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, không. Thủ Tướng Trần thiện Khiêm, không. Đại tướng Cao văn Viên cũng không lên tiếng. Nhưng mổi sự im lặng thì đều có ý nghĩa riêng của nó. Những điều họ lên tiếng lại là những điều chúng ta không cần nghe. Những điều cần nói nếu họ muốn nói thì đã nói rồi. Điều mà người ta muốn biết là những thứ Non-dits thì chả có bao giờ hy vọng được biết. Sự đời là vậy, xấu che đi, tốt phô ra. Huyền thoại về người di tản cũng từ chỗ đó mà ra. Chỉ có những người như Đại Tướng Dương văn Minh quyết tâm ở lại vào cái giờ thứ 25 của tình hình đất nước bên bờ vực của tuyệt vọng ở lại với đồng đội, với người dân thường mới có đủ tư cách cất tiếng nói. Nhưng đại tướng Dương văn Minh đã làm thinh. Giải trừ huyền thoại về người di tản là giải trừ một quá khứ đã được tô hồng và lên tiếng nói thay cho người đã làm thinh, trả lại công đạo cho Đại tướng Dương văn Minh. Trong trường hợp này, im lặng đồng nghĩa với liêm sỉ. N.V.L. Ghi chú: [1] Theo Quốc Triều Hương Khoa Lục, của cụ Cao xuân Dục, trang 150, cụ Phan thanh Giản đậu tiến sĩ khoa Bính Tuất 1826, là người đỗ đầu khoa đầu tiên của Nam Kỳ. Làm quan đến chức thượng thư bộ Hình, bộ Lễ, rồi Chánh sứ sang Pháp. Năm Nhâm Tuất Tự Dức 1862 cùng với Lâm Duy Nghĩa cùng đi đều bị giáng chức, sau lại bị đoạt hết quan tước, đục bỏ tên trong bia Tiến sĩ. Ông Ngô đinh Diệm hồi là học sinh trường Hậu Bổ lúc 18 tuổi đã dịch ba bộ” Như Tây Sử Trình nhật Ký” của cụ Phan lúc đi sứ vào năm 1863.Theo Việt sữ toàn thư của Phạm văn Sơn, trang 447. Pháp mang 1000 quân và 4000 lính tập chiếm Vĩnh Long. Cụ Phan đầu hàng, tuyệt thực trong 7 ngày, rồi uống thuốc độc chết. Cụ mặc phẩm phục, day mặt về hướng Bắc, lạy vọng 5 lậy rồi chết, thọ 71 tuổi. [2] Đầu năm 1975, không một ai trong chúng tôi, kể cả người lạc quan nhất, nghĩ rằng chiến sự sẽ kết thúc trong năm 1975 với toàn thắng của chúng tôi. Trích trong Mây mù thế kỷ. Bùi Tín, trg 140. Những hồi ký của các Tưóng lãnh của Cộng Sản như Phạm văn Trà, Văn Tiến Dũng cũng đều xác nhận rất bất ngờ về sự rã ngũ của quân đội VNCH. [3] Cụm từ này đã được tô hồng tùy theo người dùng. Có cụm từ tạm chấp nhận được, có cụm từ tỏ ra xa lìa thực tế đến trở thành tuyên truyền. Đại loại văn vẻ như “ bầy chim bỏ xứ” của Phạm Duy.” Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngọai vĩ đại nhất trong lịch sử VN từ khi lập quốc cho đến nay” (TGP). Cuộc ra đi vĩ đại của hai triệu người. Có lẽ chữ “ Di Tản” dùng cho cuộc tháo chạy ngày 30 tháng tư và chữ “ Thuyền nhân” dùng cho các người vượt biển sau 1975, lần đầu tiên được ký giả Henry Kamm đăng trên tờ New York Times tỏ ra dung dị và thích hợp hơn cả. Dựa trên chữ Thuyền Nhân, Ký giả Michel Tauriac trong Viet Nam: le dossier noir du Communisme gọi thuyền nhân Là “ Những con bò sữa” của Cộng Sản lúc ra đi cũng như lúc đã ổn định ở xứ người là mỉa mai hơn cả. [4] Bài của Tâm Chính đăng trên báo Tuổi Trẻ chủ nhật ở Sàigòn viết rằng :” Ông Dương văn Minh đã có liên lạc với chính quyền miền Bắc, ít nhiều cộng tác với họ từ lâu. Nay xin về Việt Nam”. Ông Bùi Tín đã phi bác điều bịa đặt trên như sau:”Điều đó là bịa đặt, gây hỏa mù, thổi phồng thành tích của cánh địch vận trong thời chiến tranh “ ( Bùi Tín . Mây mù thế kỷ, trang 97. ) [5] Trong một dịp đến Boston thấy nơi nhà một người quen có để một bức hình duy nhất đóng khung một Trung Tá quân đội VNCH đang đi duyệt hàng quân với một cố vấn Mỹ. Có lẽ , đây là một biểu tượng duy nhất về cái quá khứ huy hoàng của vị Trung Tá còn muốn giữ lại. Bạn bè, đồng đội có thể đã quên. Nhưng cố vấn Mỹ thì không.. Trong 4 năm ở lại với chế độ Cộng Sản, chưa bao giờ người viết trông thấy bóng dáng cố vấn Tầu, cố vấn Nga trên báo chí hay sách vở, cũng như ngoài đường phố, hoặc trong những ngày lễ lớn. Chưa hề gặp một lần, dù một cố vấn thôi. Điều đó làm người viết bâng khuâng, suy nghĩ không ít về hai mặt của cuộc chiến, về cái khôn khéo che đậy của người Cộng sản ăn vụng biết chùi mép và về cái huyênh hoang đến ngờ ngệch của người Quốc Gia. [6] Cuốn sách này thật ra cũng như hằng trăm cuốn hồi ký khác. Nhưng đặc điểm của cuốn sách là nêu ra trường hợp một bạn tù là ông Bùi đình Thi, về những việc đáng tiếc mà ông đã làm hại đến bạn tù, ngay cả cái chết của một hai người như dân biểu Tiết hay cho cá nhân cha Lễ. Mọi người từ cha Lễ đến người chủ bút báo Thế kỷ 21 cũng là bạn tù thời đó đều đã tha thứ, đều đã quên. Người viết quý câu nói của anh Minh:” Tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một hoàn cảnh đặc biệt” Nhưng có một số người chống Cộng không quên đưa anh ra toà và có thể đưa đến việc trục xuất ra khỏi Hoa Kỳ. Cha Lễ đã đủ đức độ để tha thứ, đủ đức độ để bán bản quyền cuốn sách này để giúp gia đình anh Thi. Nhưng Cha đã viết lại việc này thì chẳng khác gì cứu một đầu, giết đầu kia. Thật tai hại [7] Phan trần Hiếu, một thanh niên trẻ, một người tỵ nạn đến Hoa Kỳ đã viết cuốn Roots of unrest ( Cội nguồn bất an) trong đó có câu “ Shouting and inflamed emotions can!t alter the past” ( La hét và xúc động giận dữ không thể thay đổi được quá khứ), trg119. Khi chúng tôi lắng nghe chuyện của các gia đình phân ly bởi những thế hệ cay đắng, chúng tôi phát giác những cảm xúc đặt không đúng chỗ giữa Bắc và Nam, kẻ thắng , người bại… trang 13 [8] Nhiều người có thói quen đồng hóa sự sụp đổ một chế độ hay nói đúng ra mất miền Nam là mất nước. Dúng ra, nước vẫn còn đó và nó sẽ mãi mãi còn đó. Nói ra thì phủ phàng, nhưng cần xác định lại như vậy. Lịch sử cho thấy triều chính đổi ngôi, nay Lê mai Trịnh, rồi Nguyễn. Nhưng đất nước Việt nam vẫn là một. Người Việt Nam ba miền vẫn là một. Nước không của riêng ai, nhưng của mọi người. Cũng vì vậy , cần đánh đổ cho bằng được cái tham vọng bá quyền của người Cộng Sản đồng hoá chủ nghĩa Xã Hội vào dân tộc. Sự phân biệt chủ nghĩa xã hội và dân tộc nhằm loại trừ độc tài đảng trị. Tranh đầu chống Cộng Sản là tranh đấu đòi hòi thực thi dân chủ chứ không phải là tham vọng lật đổ nó. [9] Huyền thoại trong cựu ước nói về thành Sodome , phía Nam biển chết , cùng với một số thành khác bị hủy diệt . Có người đàn bà, vợ của Lot đã tiếc của thay vì nghĩ tới sự cứu rỗi, mặc dầu đã được dặn kỹ càng là khi ra khỏi thành thì đừng ngoái lại. Bà đã quên lời dặn ngoái lại nên biến thành tượng muối. [10] Năm1976, tôi đi học tập. Mười năm sau trở về thì nhà đã là nhà của cán bộ, vợ đã là vợ của cán bộ, con cũng là con của cán bộ. Hoàn cảnh tôi chẳng phải duy nhất. Có hằng trăm, hằng nghìn trường hợp như thế. Mất nhà, mất vợ, mất con, lưu lạc dở ông, dở thằng. Nỗi đau này tại đâu mà ra. Nỗi đau này nào phải một sớm một chiều quên được. Trích trong Hợp Lưu, thư của Một Thiếu Tá quân đội VNCH, số 12-1993. ( Đọc đọan thư trên của vị cựu Thiếu Tá thấy ngậm ngùi, thương cảm. Nhà nào cũng có anh em là sĩ quan, là công chức là nạn nhân của một chế độ hà khắc đã sai lầm trong chính sách Học Tập Cải Tạo. Nhất là câu hỏi nỗi đau này ở đâu mà ra và không thể một sớm một chiều quên được. Nhiệm vụ của Cựu Thiếu Tá bây giờ là tìm ra nguyên ủy nỗi đau đó để biết mình chỉ là nạn nhân, đồng thời vươn lên mà sống, đừng than thở mình lưu lạc dở ông, dở thằng nữa. Mong là vị Thiếu Tá này đã tìm được câu trả lời và xây dựng được một cuộc sống mới quên đi những ngày tháng khốn khổ sau 10 năm ở xứ người. [11] Hãy lấy một tỉ dụ. Trong tờ Quốc Gia, số 91 ở Montréal, Canada mới đây có bài của ông Nguyễn Hữu Luyện vỏn vẹn trong mấy trang giấy, người viết nhặt ra được 85 chữ có tính cách bạo lực như chửi bới, chụp mũ vô bằng như chữ lừa bịp, lường gạt được nhắc đi nhắc lại đến 8 lần, ngu dốt 4 lần. Ngay sau đó có bài của ông Tôn thất Tuệ còn khủng khiếp hơn nữa. Người viết nhặt được ra vung vãi trong nửa trang báo có 45 chữ hoặc đao to búa lớn, hoặc chửi bới. Nghĩa là mỗi dòng có 3 chữ đại diện. Khi nói về phía mình thì có những chữ : dấn thân, tích cực, xả thân, tâm huyết, nam tử hán, đại trượng phu, chính nghĩa, hiên ngang, niềm tin, tổ quốc ghi công ( Tổ quốc nào đây), tầm vóc, quyết tâm, liêm sỉ, khí tiết, đại khối dân tộc ( Chắc có cả Cộng sản ). Khi chửi người ta thì cũng không thiếu lời : Tiểu nhân, tay sai, nô bộc, phù thịnh, trở giáo xoay cờ, mèo gào, chó sủa, bọn chuột nhắt. ( không biết chửi như thế có giống tiếng chó sủa mèo kêu không ). Có cần trả lời nội dung hai bài viết không. Không, trả lời làm gì. Đếm số những câu chửi đủ rồi nhân đó đánh giá luôn tờ báo, đánh giá tất cả. Ôi,” Những cái lưỡi gỗ “ Chửi là vũ khí của kẻ yếu lý, kẻ thua cuộc, của kẻ không dám đối đầu với sự thật. [12] Xin tạm nêu ra một số Hồi ký của các tướng, Tất cả các cuốn hồi ký , không trừ đều tìm cách đánh bóng mình tuỳ mức độ. Không vị nào đề cập và nói đến hai điều sau đây : Phân tích, trình bày về các chiến lược, các trận đánh lớn nhỏ, diễn tiến các mặt trận, phân tích về nguyên nhân thua được của các trận đó. Cũng như vai trò của họ, của người Mỹ và của các chính quyền VN với tư cách một vị tướng mà có người đã từng là tướng sư đoàn , đến quân đoàn. Không ai nói đến vai trò chỉ huy của mình một cách đầy đủ trong đời binh nghiệp của họ, họï đã có bao giờ chỉ huy từ cấp Tiểu đoàn Trưởng, Trung đoàn Trưởng , Sư đoàn trưởng và quân đoàn, rồi lên lon trong trường hợp nào. Thứ đến, không vị tướng nào đã kể lại bằng cách nào họ đã di tản, ngày giờ họ dời khỏi VN. Ngược lại, đọc hồi ký của ba tướng Cộng sản là Võ nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà, họ chỉ tường thuật lại các trận đánh, các chiến dịch, phân tích ưu thế hay khuyết điểm thành bại của mỗi chiến dịch. Nhất là trường hợp tướng Giáp đã viết đến 13 cuốn sách mà hầu hết kể lại các trận đánh mà ông đã tham dự như Chiến đấu trong vòng vây, Những năm tháng quyết định, Điện Biên Phủ- chiến dịch lịch sử v..v... Tuy nhiên, cũng đáng tiếc thay , hầu hết các Hồi ký này đều có tính cách Tuyên Truyền ( chữ của tác giả ) và tranh công (Chữ của Bùi Tín), đôi khi thổi phồng, sai sự thật. Trường Chinh đã phàn nàn về cái lối viết thổi phồng , sai sự thật về Hồi ký của Văn Tiến Dũng. [13] Người viết xin ghi lại đây một câu chuyện có thật nói ra từ những người quen biết đại tướng Dương văn Minh chứng tỏ ông là một người có lòng, có tư cách, có đức độ đáng kính nể. Sau giải phóng, ông đau bệnh, chính quyền Cộng Sản có hảo ý đưa ông vào bệnh viện Thống Nhất (Vì Dân cũ, chỉ dành cho cán bộ cao cấp của chính quyền). Ông từ chối lấy lý do sĩ quan đồng đội ông giờ này còn đang giam trong các trại tù , cải tạo. Ông có lòng nào mà quên được đồng đội của mình. Một điều đó thôi cũng đủ kính nể ông rồi ) [14] Truớc đó một tháng, Ông Thiệu đã gửi tài sản gia đình của ông bằng đường tầu thủy sang Đài Loan và Canada, gửi vàng sang Paris trị gía 5 triệu đô la.. Tối 25 tháng tư, Polgar ra lệnh cho mật vụ đi ba xe đến đón ông Khiêm ở Bộ tổng Tư lệnh đi TSN. Ít phút sau, ông Thiệu tới trên một xe Mercedès. Timmes ngồi cạnh ông Thiệu và yêu cầu ông ngồi thụp xuống sàn xe, vì sợ lính nổ súng. Timmes hỏi xã giao ông Thiệu : Phu nhân và tiểu thư khỏe không ạ. Ông Thiệu trả lời” Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ “ ( Trích Frank Snepp. Decent interval. Trg167) Nhớ lại, trước đó gần một tháng Thủ Tướng Hoàng thân Sirik Matak biên một thư từ chối tỵ nạn, nay bức thư còn lưu trữ trong văn khố Thượng Viện Hoa Kỳ. Sau đó HT Sirik Matak đã hy sinh cùng với phó thủ tướng Long Beret . (Trích bài viết của Trung Tá Nguyễn Tuệ trên tiếng sông Hương 2000). Lá thư của Hoàng thân Sirik Matak có đọan viết như sau:” Rất tiếc là trong hoàn cảnh này, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như vậy. Riêng với Ngài và đặc biệt quý quốc, tôi không bao giờ nghi ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do “ ( Trích Tiền Phong, số 658, trang 20. ) Chẳng biết , người Mỹ có nhận đuợc một lá thư nào của các chính khách và các tướng lãnh VN không. Ngày 20 tháng 3, tướng Lâm quang Thi, tư lệnh phó quân đòan 1 đã rời bỏ thành nội Huế, di tản chiến thuật. Bộ TTM mất liên lạc.. Ngày 29 tháng 3, Tướng Trưởng, chuẩn tướng Nguyễn Đức Khánh, Đại tá Duệ, đại tá Kỳ và các sĩ quan bộ tham mưu đã lên tầu Hải quân 404, rời Đànẵng vào Cam Ranh. Đà nẵng bị bỏ ngỏ để mặc quân lính mạnh ai nấy chạy. Đến Cam Ranh, Các tướng lãnh giữ kín việc về Sàigòn. Chuẩn tướng Bùi thế Lân lên bong tầu ra lệnh cho TQLC dời tầu, nói dối là chiến hạm sẽ quay lại vùng 1 chiến thuật. Khi người lính cuối cùng rời khỏi tầu xuống Cam Ranh thì chiến hạm vội chặt neo chạy về Sàigòn vào lúc 7 giờ 30 tối ngày 31-03-1975. TQLC đã bị lừa phản bội vào phút chót . Ngày 27-04, Đại tướng Cao văn Viên bỏ chạy, chỉ để lại một thư từ chức trên bàn làm việc và đề nghị tướng Đổng văn Khuyên thay thế ông ( Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ, Tiếng sông Hương 2000 ). Ngày 28-04, tấ cả những vị tướng sau đây đã bỏ trốn. TT Nguyễn văn Minh, biệt khu thủ đô. TT Nguyễn văn Toàn, tư lệnh quân đoàn 3. TT Trần văn Minh, tư lệnh không quân. Chuẩn tướng Trần đình Thọ, đại tá Nguyễn văn Lung.. Sàigòn bị bỏ ngỏ trước khi Cộng quân vào ngày 30 tháng tư. Ông Thiệu bỏ đi đẩu tiên và cứ thế tùy theo cấp bậc lớn nhỏ chuồn theo. Trong khi đó, theo lệnh Tòa nhà trắng bắt buộc đại sứ Martin phải lên máy bay. ông là một trong những người Mỹ cuối cùng đã lên máy bay vào lúc 5 giờ sáng , ngày 30-04. !0 giờ 30, ngày 30-04, Cộng sản vào chiếm dinh độc lập. Cuộc chiến kết thúc.