( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.) --------------------------------------------------------------------------------------- L'odeur de la gloire. Nguyễn văn Lục Khi biết mình ngu dại Tóc trên đầu bạc phơ NNT, phó TCT, tổng cục du lịch Việt Nam Năm nay các giải thưởng đủ loại như được mùa. Nào là giải thưởng Hội Nhà Văn VN 2006, huy hiệu thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), giải thưởng Văn học HCM, giải Dịch thuật… Nổi nhất “ăn khách” nhất, “thời thượng” nhất là giải Vinh Danh Nước Việt. Từ những giải này toát ra mùi vị của danh vọng (Odeur de la gloire). Mùi như thế nào thì tùy thuộc vào mỗi giải, vào người nhận giải và người phát giải. Có thể có người nhận giải ngửi thấy khác, thấy thơm nức. Người ngoài cuộc ngửi lại thấy nó thum thủm. Thế thì tại cái mũi hay tại cái giải? 1. Giải Vinh Danh Nước Việt với 17 kiều bào được bình chọn. Vinh danh Nước Việt và bay lên VN. Đó là tựa đề của tờ Người Viễn xứ khi viết về giải này. Bay lên? Nhưng bay bằng gì? Bao nhiêu người muốn bay? Nay thì không còn chỗ cho những cậu Trỗi, cậu Giót quê mùa ngô nghê nữa. Mà là những ông, những bà trí thức hải ngoại thành danh như bác sĩ Hoàng Anh Dũng, Việt kiều Bỉ, Huỳnh Hữu Tuệ, Việt kiều Canada... Trước đó thì có màn tập dượt khá là chu đáo. Phan Đình Giót mà đội mồ sống dậy, nhìn cảnh này chắc không khỏi buồn? Hồi xưa làm gì có cảnh đón rước, hội hè màu sắc như bây giờ? Giải này mang đậm nét chính trị và nằm trong khuôn khổ nghị quyết 36-NQ/TW được ban hành từ ngày 26/3/2004 về chính sách đối với người Việt ở nước ngoài. Nó cũng nằm trong tinh thần Đại Hội lần thứ II, Hội Liên Lạc Người VN Ở Nước Ngoài mới tiến hành đại hội ngày 24/2 vừa qua. Thật ra nghị quyết 36, trên thực tế cũng vẫn chỉ nằm trên giấy tờ (sur papier), còn chính thức đã thực hiện được điều gì cụ thể? Cũng vẫn đúng cái tinh thần chủ trương thì có, thực hiện thì khó. Ông Vũ Mão, chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc Hội, kiêm thi sĩ phát biểu: “NQ 36 thể hiện tinh thần nhân đạo của Đảng ta, đã đến lúc các cấp các ngành cần nhanh chóng thể hiện...”. Các bà Văn Dương Thành (Sweden), Đỗ Anh Thư (USA), Thái Kim Lan (Germany), và Quỳnh Kiều (USA) – “vinh danh nước Việt” (?) Nguồn: DCVOnline (2) Việt Kiều về nước phục vụ, nhất là những người trong số 17 người: 13 ông và 4 bà, người được giải nên đọc nhiều lần, đọc cho kỹ câu phát biểu của thi sĩ Vũ Mão. Dưới mắt ông Vũ Mão thì đảng thi ân cho quý vị đấy... thể hiện đúng tinh thần nhân đạo. Nay thì hỏi xem đã có bao nhiêu người đã về làm việc cho VN trong số 300000 chuyên viên hải ngoại? Và nhất là đã được trọng dụng như thế nào? Theo ông Nguyễn Lương Dũng, Việt kiều Đức được vinh danh năm 2005 cho biết: để đào tạo một kỹ sư ở Mỹ tốn 100.000 Mỹ Kim. 300.000 kỹ sư thì tốn bao nhiêu? Nếu chỉ 1% số chuyên viên đó chịu nhận về VN làm việc cũng là quý rồi. Nhưng thực tế có được bao nhiêu người? 100 người, ngàn người? Việt Kiều về vẫn cần Visa, trong khi 6 nước Á Châu nay ra vào VN tự do, khỏi visa. Vẫn phải bẩm báo phường khóm? Hàng 100000 Việt Kiều muốn mua nhà mới thì chỉ có khoảng 100 người mua được. Riêng tôi, biết có 2 người mua được nhà, thủ tục cũng phải chật vật lắm. Cũng trần ai lắm. Về được trọng dụng như thế nào? Xin dựa trên nhận xét của ông Nguyễn Ngọc Giao với tư cách người trong cuộc cho rõ hơn. Theo ông Giao, quyết định của Bộ chính trị ĐCSVN do ông Lê Đức Thọ phổ biến năm 1973 cho ban Thường Vụ, nhóm Việt Ngữ ở Paris như sau: “Nhóm Việt ngữ là nhóm những người cảm tình của Đảng Lao động Việt Nam. Sau này khi về nước, nhóm viên được xét chuyển thành Đảng viên đảng Lao Động Việt Nam hoặc được ưu tiên kết nạp vào đảng Lao động Việt Nam (Võ Văn Sung)”. Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, ngoại trừ một vài biệt lệ đếm trên một bàn tay, những người trong nhóm này về nước chẳng mấy ai được kết nạp. Thực chất chính sách là như thế, cho nên người ta nghĩ rằng sự vinh danh như thế mang nhiều tính tuyên truyền, tính bánh vẽ, tính thoa dầu mỡ, tính sơn phết. Có thể từ người tổ chức đến người nhận đều nhận thức được điều đó, nhưng vẫn làm ra như thể là thật, là vinh hạnh. Cá nhân quý vị, tư cách quí vị hơn bao giờ hết được để lên bàn cân trong việc quyết định về nước phục vụ. Phục vụ với thiện ý cần được tôn trọng. Nhưng bị lợi dụng dể tuyên truyền thì không nên. Nhiều vị, nhất là giới trẻ về VN với quyết tâm phục vụ xứ sở, trong đầu họ có thể không màng đến những vinh danh, khen thưởng. Việc vinh danh này đôi khi làm họ bẽ bàng và khó xử như thể việc làm thiện nguyện của họ nay có tì vểt? Sượng sùng vì họ nghĩ rằng việc làm của họ có đáng gì đâu dể vinh danh? Nhưng cũng không thiếu những quý vị lấy làm hãnh diện thật, mang con cái, anh em về dự. Tôi đưa ra một trường hợp cụ thể. Năm ngoái có ông bác sĩ Bùi Minh Đức, chẳng biết ông có công trạng gì? Phải chăng một cuốn từ điển về phương ngữ Huế? Nhưng chính nhiều người Huế đã phải lên tiếng về nhiều sai lạc trong quyển sách này khi nó ra mắt ở Cali. Những bài viết này chắc chắn là ông Bùi Minh Đức đã đọc rồi. Trước khi ra Hà nội lĩnh giải, hai vợ chồng ông đã bày tiệc ở căn nhà mới mua ở khu Phu Mỹ Hưng để ăn khao. Ra Hà nội lĩnh giải xong về, lại một bữa tiệc nữa. Người Việt sống ở Nam Cali khi nhắc đến ông Việt kiều được vinh danh này thường cười với nhau như nhắc đến một anh hề già, diễu dỡ. Trường hợp nữ bác sĩ Quỳnh Kiều tại Cali cũng để lại nhiều tiếng vang không tốt về những chuyến đi về VN của bà. Đã có nhiều bài viết lên tiếng về những công tác nhân đạo của bà tại Việt Nam mà gần đây nhất, ồn ào nhất là việc bà và những ông bác sĩ trong nhóm của bà yêu cầu Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ đổi nội quy, trong đó, điều đầu tiên qui định hội này là hội của những người y sĩ Việt Nam tị nạn cộng sản và chống cộng. Bác sĩ Đoàn Yến, vị cựu chủ tịch của Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ đã lên tiếng đề nghị thay đổi nội quy này. Lý do được nhóm của bà Quỳnh Kiều đưa ra là sự kiện này sẽ giúp cho những y sĩ hải ngoại dễ dàng hơn với chính quyền cộng sản khi muốn thi hành những công tác cứu trợ đồng bào trong nước. Nhiều y sĩ khác như bác sĩ Võ Văn Hưởng đã lên tiếng về kinh nghiệm của ông khi mang thuốc và dụng cụ y khoa về Việt Nam để chữa bệnh miễn phí cho đồng bào và những khó khăn gặp phải và đặt vấn đề về sự dễ dàng thuận lợi của bà Quỳnh Kiều với chính quyền cộng sản. Nói về chuyện lợi dụng, nhiều khi đến bỉ ổi, tôi xin nêu một trường hợp cụ thể, có thực được nghe kể lại. Một Việt kiều ở Pháp cùng với một phái đoàn 5 người, có cả người ngoại quốc về Việt Nam toan tính chuyện làm ăn. Bữa tiệc đầu tiên do ông bộ trưởng khoãn đãi, mỗi ông khách có một cô gái “chiêu đãi”. Tiệc tàn, ông bộ trưởng đứng lên ra về sau khi nhắn nhủ các cô “trợ lý” lo cho các quan khách. Khi vào đến khách sạn, các cô gái trẻ này đã mở va ly, sắp quần áo vào tủ như một người vợ. Khi ông Việt kiều cám ơn và tưởng rằng như thế thì đã xong thì cô gái cho biết đêm đó cô có bổn phận phải ở lại và “hầu hạ” ông Việt kiều này. Sáng ra, hai ông Tây trong phái đoàn cho biết vì không “chuẩn bị” trường hợp được lo lắng chu đáo như thế xãy ra trong chuyến đi thăm dò để “đầu tư” này nên họ phải xua đuổi các cô gái này đi vì sợ bị lây bệnh AIDS. Nêu ra trường hợp trên, tôi hy vọng là một câu chuyện như thế chỉ là trường hợp đặc biệt và đã không thể xảy ra trong các Việt kiều về VN giúp nước và có tên trong số 17 người. Chính sách chiêu dụ này chẳng xa lạ gì, nó có cái chân rết ngay từ những thập niên 1940 đến nay, thông qua cuốn sách: Kiều bào và quê hương, nhà xuất bản Trẻ, Tp HCM, 2006. Về điểm này, có lẽ không thể bỏ qua mà không đọc bài viết của ông Nguyễn Ngọc Giao: Quan Hệ Về Tổ Chức Giữa Phong Trào Việt Kiều và Đảng Cộng Sản Việt Nam, đăng trong Thời Đại Mới, số tháng 9-11/ 2006.(1) Một màn trình diễn trong lễ trao giải Ảnh/Nguồn: vietnamnet.vn Tính chất của những cuộc vinh danh này là màn trình diễn quen thuộc của chính quyền Hà nội từ thời hồng hoang chế độ trải qua các thời kỳ, các chiến dịch đủ loại. Khi cần thì chính quyền Hà nội vinh danh, tâng bốc. Khi không cần thì nhổ cỏ, trù dập tận gốc đến nơi đến chốn. Về điểm này thì một lần nữa ông Nguyễn Ngọc Giao đã phanh phui ra những điều tồi tệ ở bên trong như sau. Ngày 22/1/1990, một số Việi kiều thân Hà nội, chủ yếu ở Paris đã gửi một tâm thư gửi lãnh đạo VN đòi cải tổ chính trị trong tinh thần đa nguyên. Thư gồm có 34 chữ ký. Chỉ trong vòng 3 tháng đã được sự hưởng ứng của 700 người khác. Nhà cầm quyền Hà nội bèn tìm cách trấn áp, đe dọa, cô lập những người họ. Sau hết thì nhà cầm quyền Hà nội đã đưa tên họ vào danh sách đen ở Nhà trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy trong suốt hơn 10 năm trời. Những Việt kiều như ông Giao có tội tình gì mà bị có tên trong danh sách trong Nhà trưng bày tội ác Mỹ - Ngụy? Bài học đó hình như cũng chưa đủ để sáng mắt những người tham dự Hội Thảo Hè Đà Nẵng? Họ vẫn ảo tưởng thảo luận trên mây về đủ thứ, trong dó có vấn đề giáo dục. Điểm chốt họ phải đòi hỏi cho bằng được là có thể nào có một triết lý giáo dục khác hơn là triết học Mác xít không? Nhưng dù sao, chính sách vinh danh vẫn là chủ yếu. Mỗi một thời, tùy theo nhu cầu của mỗi giai đoạn có những đợt vinh danh khác nhau cho phù hợp. Theo kiểu thời nào anh hùng nấy. Thời bom đạn Mỹ trải thảm ngoài Bắc, lính cao xạ trực diện bắn máy bay nên dễ chết lắm. Vậy thì cần vinh danh, cần những loại anh hùng cao xạ để làm gương.Thế là ta có anh hùng Nguyễn Viết Xuân : Nhằm thẳng quân thù mà bắn : Cao xạ pháo VN Mang truyền thống Điện Biên anh hùng ngày xưa Nay chôn xác máy bay giặc Mỹ Chiến công càng thắm tô mầu cờ.... Và một Lê Mã Lương : Vinh quang tuổi thanh xuân Trên tuyến đầu chống Mỹ Mẹ Suốt lái đò, cũng phụ nữ anh hùng: .... Một tay lái chiếc đò ngang, Bến sông Nhật Lệ, quân sang đêm ngày. Sợ chi sóng gió, tàu bay Tây kia ta thắng, Mỹ này phải thua. Sờn chi tuổi tác, già nua, Chống chèo xin gắng thi đua đến cùng. Ngẩng đầu, mái tóc mẹ rung, Gió lay như sóng biển tung trắng bờ. Gan chi, gan rứa, mẹ nờ... (Tố Hữu) Và quên sao được những anh hùng thời kháng Pháp: Phan đình Giót, La văn Cầu, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện... Nay thì thứ anh hùng đó lỗi thời rồi, dành chỗ cho 17 vị trí thức. Có điều gì giống nhau và khác nhau giữa hai thứ vinh danh trên không? Nguyễn Văn Trỗi có điểm gì chung với Huỳnh Hữu Tuệ? Có người so sánh khuôn mặt chính quyền CS Hà nội chẳng khác gì cái vú người phụ nữ: 20 tuổi - nó hứa hẹn, phô bầy, quyến rũ, mình chỉ mong ước được sờ một lần. 30 tuổi - nó nuôi dưỡng mình. 40 tuổi - đùng một cái, nó phản bội bằng lát dao đâm sau lưng: ung thư rình rập. Cho nên giao tiếp thì phải hết sức cẩn thận, phải làm auto-examen luôn, phải dòm chừng ngó trước ngó sau, phải cẩn thận lời ăn tiếng nói, rồi lâu lâu phải đi làm mammographies. Lúc nào cũng phải để cao cảnh giác, chỉ sợ phát giác ra bệnh thì quá trễ. Như khi đã bị ung thư rồi, phải chịu hóa trị rồi giống như bả vinh danh nuốt vào rồi thì phải coi chừng. Có thể tuyến nước bọt sẽ hư, ăn không còn biết ngon nữa. Đời như vứt, như rác phế thải. Thanh quản mọc bướu, giọng nói phát âm thành ú ớ, ngô nghê. Tay chân có thể bắt đầu run lẩy bẩy, định gõ trên dàn máy computer chữ thương, nó nhầm ra chữ ghét và tệ hại hơn nữa, gõ loạn trở thành vô nghĩa. Trí nhớ trì trệ, ngày tháng lê thê trầm uất, mòn mỏi. Đó là những tâm trạng và căn bệnh của những Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Ngọc Lan. Về Trần Đức Thảo, ông bị chấn thương não với những bài viết phê bình ông như: Quét sạch những nọc độc của Trần Đức Thảo trong việc giảng dạy triết. Tố Hữu gọi ông là “những con buôn Mác xít, cách mạng đầu lưỡi như Trương Tửu, Trần Đức Thảo mà thực chất là những tên tơ-rốt-skit vô tổ quốc.” Sau này, ông trở thành người ngớ ngẩn. Nhưng ngớ ngẩn là lối thoát duy nhất cho ông khi còn sống. Trớ trêu thay, không biết nên khóc hay nên cười, khi chết rồi, bây giờ ông được vinh danh. Nguyễn Hữu Đang, người đã được Hồ Chí Minh trao trọng trách dựng lễ đài tuyên ngôn Độc Lập ngày 2/9/1945, ông Hồ nói: “Việc khó mới trao cho chú.” Vậy mà sau này cả đời “chú” là một bi lụy, lao đao, khốn khổ không hơn súc vật. Ông bị ung thư não vì những bài viết như: Con đường phản cách mạng của Nguyễn Hữu Đang. Tố Hữu gọi ông là tên “đầu cơ cách mạng” và nguyền rủa kẻ gieo gió phải gặt bão. Lúc ông chết, cũng có kèn đám ma thổi tò te tí te xôm lắm, tổ chức đám ma tại nhà lễ tang Quân đội, số 5 Trần Nhân Tông, có đại diện là ông Quang Quý, đại diện bộ giáo dục đọc diễn văn. Nhưng thật sự không ai biết gì cuộc đời tối tăm, cô đơn của ông Nguyễn Hữu Đang cho đến khi nhà văn Phùng Quán, 1992 về thăm ông, ngày 26 tết tại quê Thái Bình của ông. Bài viết đã gây chấn động và lòng thương cảm của mọi người. Thương cho thân phận một Nguyễn Hữu Đang. Cho đến năm 1995, Phùng Quán bệnh nặng, phải nằm mà viết rồi qua đời. Di cảo này đã được bà Vũ Thị Bội Trâm, vợ nhà văn Phùng Quán phổ biến với nhan đề Ba Phút Sự Thật. Cái nỗi lo duy nhất của ông NHĐ là không biết chết ở đâu. Hãy đọc Phùng Quán viết về ông Nguyễn Hữu Đang: “Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được... Ở đây, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chêt. Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy. Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phiền ai. Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay.” Trong một lá thư gửi cho thi sĩ Hoàng Hưng, ông Nguyễn Hữu Đang cũng viết: “Chỉ mong có nhà riêng trước khi chết.” Chỗ khác: “Tiền nhuận bút chưa dám tiêu, cứ còn phải gửi ngân hàng phòng xa rồi đây có thể phải làm túp lều để có chỗ chết như tôi đã nói với anh.” Không còn có thể có nỗi cô đơn nào hơn và bi kịch sống làm người nào bi thảm hơn. Nguyễn Ngọc Lan khi chết được Trần Bạch Đằng viết bài: Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan. Trước khi chết, ông chỉ có dặn con gái Nguyễn Ngọc Lan Chi một điều: Ba không có cái gì để lại cho con, chỉ có cái tên. Đó là vật di bảo duy nhất mà ông có thể để lại cho con gái mình. Nguyễn Đình Thi thì nay gần đất xa trời, có tên trong danh sách 17 vị được vinh danh. Chết rồi mới được ra lời và được vinh danh một lần nữa. Đúng như lời Thượng Tọa Thích Trí Quang đã có dịp nói: “Hôm nay nó giết mình, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu.” Hầu hết kẻ thù cũ của chính quyền Hà nội, khi chết, đều nhận được những vòng hoa phúng điếu như thế. Theo nhà văn nữ Trần Thị Trường viết lại, trong đám ma ông Nguyễn Hữu Đang, có vòng hoa của Hoàng Tùng, tổng biên tập báo Nhân Dân và ông Vũ Đình Hòe (có đề rõ nguyên phó chủ tịch Hội Truyền Bá Quốc Ngữ . Nên nhớ, ông Nguyễn Hữu Đang là chủ tịch hội này). Nhà văn Trần Thị Trường đưa ra nhận xét: Đó là Chu Du khóc Gia Cát. Đó cũng là điều mà George Orwell viết trong tiểu luận Politics and the English Language, biến những điều láo khoét, không thật ra ánh sáng sự thật. Trước đây, chính quyền Hà nội không thiếu những từ ngữ xỏ lá và đểu cáng nhất để nói về người Việt di tản. Nay gió đã đổi chiều, ngôn ngữ đổi giọng, từ đểu cáng sang tử tế. Và cũng đúng như câu tôi trích dẫn một bài thơ của một cựu đảng viên cao cấp đảng CS, khi về hưu đã não nề than thở: Khi biết mình ngu dại Thì tóc trên đầu bạc phơ Đời người ta lúc ấy như một củ hành, cứ bóc, bóc lớp nữa, còn bóc được, bóc tiếp, bóc cho đến nhánh cuối cùng đến cay xè mắt. Càng bóc càng chảy nước mắt. 2. Giải thưởng Hồ Chí Minh Vào cuối tháng 2/2007, có buổi họp báo để quyết định chung trao giải thưởng cho các nhà văn, nghệ sĩ. Nhưng nổi bật nhất của giải này là 4 quyết định đọc riêng trao cho 4 nhà văn từng là nạn nhân trong vụ Nhân Văn giai phẩm. Đó là 4 nhà thơ Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm. Vào thời ấy, 1958, mặc dù họ chỉ bị ghi kỷ luật chừng hai ba năm, nhưng trên thực tế, đa số bị treo bút, cô lập đến 30 năm. Và mãi cho đến năm 1986, khi có chính sách đổi mới, họ mới có cơ hội cầm bút trở lại. Theo nhà thơ Hoàng Cầm, 86 tuổi, một trong những người còn sống sót cuộc đời vô vị, hoen rỉ (chữ dùng của Hoàng Cầm) cho biết là nguyện vọng của nhóm NVGP thời đó là mong muốn được Tự Do sáng tác chứ không hề có ý muốn chống Đảng. Nhưng dù thế nào thì vẫn làm việc. Bây giờ mới làm tuy có chậm, nhưng vẫn tốt đẹp, chậm còn hơn không. Nhưng bây giờ nói cám ơn Đảng, cám ơn chính phủ thì tôi e nó hơi khách sáo. Nhà thơ Lê Đạt thì có vẻ bằng lòng với số phận khi phát biểu: Nói không vui là nói dối. Bà Vũ Thị Bội Trâm, vợ tác giả Phùng Quán, trả lời rất bài bản: Mừng cho mình một thì mừng cho đất nước 10 lần, như vậy là đã có sự cải tiến trong cách nhìn, cách đánh giá của nhà nước. Gía bà có thể nói được như nhà văn Trang Thế Hy thì hay biết mấy : Ở nơi nào mà mọi con đường vạch sẵn Tôi đi lạc. Nhà văn Đỗ Chu, thành viên Hội Đồng Văn học đã nói rằng việc trao giải thưởng cho nhóm Nhân Văn Giai phẩm là “một lời xin lỗi của anh em với các anh”. Như thế có nghĩa là nhà nước, chính quyền Hà nội phủi tay không dính dáng gì đến việc này? Nhà thơ Hữu Loan (1916 -) Ảnh/Nguồn: tuoitre.com.vn Trong số 5 nhà văn thuộc nhóm Nhân Văn giai phẩm, có 4 người được vinh danh, bỏ sót nhà thơ Hữu Loan. Chắc chỉ vì cái tội bướng, tội bất khuất thôi. Theo ông nhà văn Thanh Thảo, ông có tham gia trong Hội đồng xét duyệt và ông nhớ rằng cả 5 người đều được sự đồng thuận rất cao của Hội Đồng này. Nay thì người thứ 5, Hữu Loan đã bị gạt tên bởi Hội Đồng Quốc Gia. Lý do không được công bố và người ta chỉ đoán thế này thế kia... Trong giải thưởng Hồ Chí Minh, tôi cũng nhận ra một điều là họ đã dành chỗ khá rộng rãi cho những người đã chết. Trong số 47 người được nhận giải ở phía Bắc, có đến 23 người đã chết, nhất là những người như Phùng Quán, Trần Dần... vinh danh hay không vinh danh thì nay còn có nghĩa lý gì đối với họ? Trong số những tác giả vừa kể trên, hầu như vắng mặt toàn bộ các nhà văn miền Nam trước 1975. Hầu như không có ai. Nếu có ai thì người đó phải đã theo cộng sản hoặc là người của cộng sản rồi ... Đó là trường hợp ông Vũ Hạnh, Lâm Thị Mỹ Dạ và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Cả hai vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường đều được vinh danh trong kỳ này, mặc dầu văn nghiệp của họ cũng mỏng lắm. Thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ có gì đáng để được vinh danh? Điều này cho thấy còn lâu lắm chính quyền Hà nội, Hội nhà văn VN mới có thể nhìn nhận ra rằng có một thực thể văn chương miền Nam, một mảng văn học miền Nam trước 1975 là đa dạng, phong phú và phẩm chất rất cao, trong đó tinh thần tự do sáng tác là điểm mạnh của nền văn học ấy mà không cho phép bất cứ ai có thể bỏ qua, bỏ quên và cố tình muốn xóa bỏ. Và nói như Thanh Thảo, cái còn lại là văn học và con người của nền văn học ấy. Bao giờ ở VN mới có thể làm được công việc duyệt xét khách quan các nhà văn, nhà thơ có tác phẩm hay nhẩt? Như mới đây, 126 trí thức trên thế giới đã họp nhau lại và bình chọn 20 tác phẩm hay nhất của mọi thời đại, với sựng góp ý tham khảo của công luận. Chảng hạn các tác phẩm Bà Bovary, Đi tìm thời gian đã mất, Moby Dick, Trường ca Odyssey v.v... Để chấm dứt bài viết này, tôi có một ý nghĩ chua chát là phải bao lâu nữa, chính quyền cộng sản Hà nội mới thực sự là một nhà nước dân chủ, biết tôn trọng tự do con người, nhất là trong phạm vi phát biểu ý kiến và sáng tác trong văn học? Còn bây giờ thì chấp nhận cái cảnh “những điều trông thấy mà đau đớn lòng.” Ở nơi đó, với những con đường đã vạch sẵn, chính sách gò bó, chỉ huy... Tôi thà làm người đi lạc. Nguyễn Văn Lục (Trích đăng từ © DCVOnline) ---------------------------------------------------------------------------- DCVOnline : (1) Quan hệ về tổ chức giữa phong trào Việt kiều và Đảng Cộng sản Việt Nam (1945-1990), Nguyễn Ngọc Giao (2) Văn Dương Thành: hoạ sĩ tại Thụy Điển (Sweeden); Đỗ Anh Thư: chuyên viên vi tính (đã ngưng làm việc kỹ thuật từ 2005) sáng lập viên và đang điều hành VNHELP; Thái Kim Lan: tốt nghiệp Triết ở ĐH Huế (1964), học hậu đại học và làm lecturer (giảng viên) tại Munich University; Quỳnh Kiều (tên khai sinh là Đinh Xuân Quỳnh): trưởng dự án “Project Vietnam”, qua dự án này bà Quỳnh và 3 bs khác đã nhận giải Medical Honour năm 2004 của American Medical Society vì các hoạt đông nhân đạo. Không có mặt ở buổi lễ vì bận công tác tại xã hội tại miền Trung. Nguồn: english.vietnamnet.vn
( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.)