PhongThủy KINH THÀNH HUẾ, SAIGON, HÀ NỘI
và những sai lầm lịch sử?
PhongThủy KINH THÀNH HUẾ
Thưa các bạn, các bạn là người từng thương
Huế mến Huế, hay các bạn là người xa Huế với nỗi ngậm ngùi
tiếc nhớ, thậm chí các bạn là nạn nhân của Huế, dù các bạn
ở trong tâm trạng nào đi nữa, các bạn cũng không thể nào phủ
nhận rằng Huế là nơi thơ mộng và không ai là không liên
tưởng đến sông Hương, núi Ngự cùng kinh thành Huế với lăng
tẩm của một triều đình phủ kính rêu phong tạo cho Huế một
vẽ đẹp quyến rủ làm cho người xa Huế không khỏi ray rứt
thương nhớ.
Ngoài ra Huế cũng là nơi cho chúng ta một niềm
hãnh diện có được những thắng cảnh ở tầm mức quốc tế,
đã được ủy ban Văn Hóa UNESCO của Liên Hiệp Quốc
công nhận như là một di sản văn hóa chung cho nhân loại. Về phương
diện phong thủy đã có nhiều người viết sách và ca tụng kinh thành
Huế như là một biểu tượng chuẩn mực về khoa phong Thủy có
đầy đủ Thanh Long, Bạch Hổ, và núi Ngự Bình như là mộtMinh
đường tốt đẹp bảo vệ triều đình.
Thưa các bạn một căn
nhà tốt đẹp về phong thủy thì những người trong căn nhà đó
được thành công và hạnh phúc, vậy một kinh thành tốt đẹp về
mặt phong thủy như trên thì hẳn rằng triều đại nhà Nguyễn phải
trường tồn thịnh vượng và người dân phải hưởng được
thái bình an lạc. Thế nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược lại,
triều đại nhà Nguyễn tính theo chủ quyền đất nước thì tồn
vong không nhiều mà người dân luôn sống trong lầm than đói nghèo.
Phải chăng khoa phong thủy sai lầm hay là kinh thành Huế có nhiều bí
ẩn chưa được phát hiện ra ?
Để trả lời vấn đề này xin mời các bạn
cùng chúng tôi trở về quá khứ lật lại trang sử của thời Chúa
Nguyễn Hoàng.
LỊCH SỬ KINH THÀNH HUẾ
Khởi đi từ năm 1558 (năm Mậu Ngọ)
lúc Nguyễn Hoàng 34 tuổi được tin anh là Nguyễn Uông bị Trịnh
Kiểm giết, Nguyễn Hoàng một mặt lo ngại đến sự an nguy của
mình, mặt khác muốn xây hoài vọng làm nên cơ nghiệp lớn cũng như
báo thù cho gia đình, vì thế Nguyễn Hoàng đã sai người tâm
phúc đến tham vấn ý kiến cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc
đó cụ Trạng Trình đã gần 70t qui ẩn ở Bạch Vân Am ở
Hải Dương đang rảo chơi trong vườn trước hòn non bộ, cụ đã
không trả lời trực tiếp mà nhìn bâng quơ và chỉ vào đàn kiến
đang bò quanh hòn giả sơn nói rằng :"Hoành Sơn nhất đái, vạn
đại dung thân" (Hoành Sơn một dãi, muôn đời dung thân) rồi
cho người tiển khách.Nguyễn Hoàng nghe vậy đã hiểu được
thâm ý của cụ Trạng Trình nên đã nhờ người chị gái của mình
là Ngọc Bảo tức vợ Trịnh Kiểm xin với đức vua cho trấn
đóng phương nam từ Thuận Hóa trở vào. Nể tình vợ Trịnh Kiểm
đã tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đóng phương nam.
Năm 1558 Nguyễn Hoàng vượt đèo Ngang
đến Thuận Hóa, tại xã Aùi Tử huyện Đảng Xương (tức là
Triệu Phong Quảng trị bây giờ) bắt đầu khởi công xây dựng kinh
thành cho mình trước là phòng thủ sau là thực hiện ý đồ lâu
dài là xưng vương lập quốc, nhưng theo thế sự thăng trầm kinh
thành này đã phải dời đi dời lại đến 7 lần mới ổn định đó
là Phúc Yên, Kim Long, Phú Xuấn , Bác Vọng sau cùng đến Phú Xuân
trở lại
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh thắng
Tây Sơn lấy lại thành Phú Xuân và tự mình xưng vương tại đây
mở đầu cho triều đại nhà Nguyễn với tên hiệu Gia Long
Năm 1805 bắt đầu khởi công xây
dựng kinh đô Huế
Năm 1824 Hoàn thành việc xây cất
dưới thời Minh mạng.(Tổng cọng tất cả là 19 năm xây dựng)
Như vậy tính từ thời chúa Nguyễn
Hoàng vào phương nam lập nghiệp 1558 đến năm 1805 là sau 247
năm Chúa Nguyễn vào nam lập quốc, kinh thành Huế mới
được chính thức khởi công xây dựng và tồn tại cho đến ngày
hôm nay.
MÔ TẢ KINH THÀNH HUẾ
Tính từ thời vua Gia Long kinh thành
Huế tọa lạc trên một lô đất thuộc địa phận của 8 làng đó
là làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế
Lại và An Bửu và làng Phú Xuân là mất nhiều đất hơn cả. Khởi
đầu kinh thành được xây bằng đất trong 4 tháng thì xong, và mãi
đến năm 1818 kinh thành bắt đầu xây lại bằng gạch từ hai mặt nam
và tây trước và công việc kéo dài từ cuối thời Gia Long
đến thời Minh Mạng năm 1824 mới hoàn tất việc xây thành
bằng gạch, đặc biệt trong thời gian xây dựng kinh thành đã hai lần
bị mưa lớn làm sụp đổ một phần kinh thành đó là năm 1820 và
năm 1822.
Kinh thành Huế được xây dựng theo
dạng tứ giác lồi các cạnh không bằng nhau (sẽ đi sâu vào chi
tiết ở phần sau). Bờ thành cao 6m, dày 20m toàn bằng gạch.
Kinh thành Huế có tất cả là 10
cửa cao khoảng 16m, mỗi cửa có ba tầng đó là :
1)- Cửa chánh Bắc còn gọi là cửa
Hậu.
2)- Cửa Tây Bắc gọi là cửa An Hòa.
3)- Cửa chánh Tây.
4)- Cửa Tây Nam gọi là cửa Hữu.
5)- Cửa chánh Nam còn gọi là cửa Nhà Đồ.
6)- Cửa Quảng Đức năm 1953 đã bị sập; do bảo lụt nên
thường được gọi là cửa sập.
7)- Cửa Thể Nhơn còn gọi là cửa Ngăn.
8)- Cửa Đông Nam còn gọi là cửa Thượng Tứ.
9)- Cửa chánh Đông còn gọi là cửa Đông Ba.
10)- Cửa Đông Bắc còn gọi là cửa Kẻ Trài,thông với Trấn
Bình Đài còn gọi là cửa Mang Cá.
Tại phía nam kinh thành có một kỳ
đài lớn (còn gọi là cột cờ), kỳ đài gồm có 3 tầng (tính từ
dưới đất lên tầng thứ nhất cao 5m60, tầng thứ 2 cao 5m80 và tầng
thứ ba cao 6m như vậy tổng cọng kỳ đài cao: 17m 40. Cột cờ
đầu tiên cao 29m 52, đã nhiều lần bị hư hại do gió bảo, chiến tranh
được dựng lại nhiều lần,lần sau cùng năm 1948 đúc bê
tông cốt sắt cao 37m.
Bố trí về phong thủy phía trái từ
hướng đường Huỳnh Thúc kháng đi xuống Bao Vinh có một cầu
hay còn gọi là cống vì rất nhỏ dùng để thoát nước từ bờ hồ
thành nội ra sông Đông ba có tên là THANH LONG.
Và từ đường
Trần Hưng Đạo chạy thẳng qua Phu Văn Lâu về phía bên phải kinh
thành có một cầu nhỏ bắt qua một nhánh sông Hương chảy về An
Hòa có tên là cầu Bạch Hổ cầu này hướng lên Kim Long và chùa
Linh Mụ. Trước mặt hướng nam kinh thành Huế là giòng sông Hương
phía xa cách kinh thành khoảng 3Km có núi Ngự Bình độ cao khoảng
100m. Đây là một ngọn núi có đỉnh bằng phẳng nên còn gọi
là Bằng sơn, đầu núi lởm chởm, đã được nhà vua cho lệnh
đắp đất phía trước; tròn trở lại giống như một tiền
án bảo vệ đức vua.
Núi Ngự Bình trước tròn sau
méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong.
Với sự bố trí như trên cho
nên từ vua quan đến các nhà phong thủy, các nhà viết sách về
phong thủy, về cố đô Huế đều cho rằng kinh thành Huế như là
một biểu tượng hoàn chỉnh về phong thủy như là có Thanh Long Bạch
Hổ đầy đủ trước có núi Ngự Bình như là tiền án bảo vệ vua
và giòng sông Hương chảy qua kinh thành tạo nên Minh
đường thủy tụ rất tốt đẹp. Về mặt lý thuyết phong thủy
thì đúng nhưng thực tế có phải vậy không?
Xin mời các
bạn đi vào chi tiết cụ thể như sau.
PHÂN TÍCH PHONG THỦY:
1)- HÌNH DẠNG:
Kinh thành Huế có
hình dạng là một tứ giác lồi và lệch bốn cạnh không đều nhau.
Mặt tiền kinh thành quay về hướng nam có kích thước 2.564m và mặt
sau quay về hướng bắc có độ dài 2.446m như vậy là mặt trước
lớn hơn mặt sau 117m theo phong thủy đây là dạng đầu to đít teo đưa
đến hậu vận không mấy sáng sủa. Chiều dài bên phải tức
là Bạch hổ 2.503m trong khi chiều dài bên trái là Thanh long chỉ có
2.435m cách biệt nhau 68m40 đây là dấu hiệu bất tương xưng không
thuận lợi cho nam giới sau này. (Trích số liệu từ sách
Cố Đô Huế của Thái Vân Kiểm, đã được kiểm duyệt chính thức
của Bộ Quốc Gia Giáo dục thời đệ nhất Cọng Hòa)
2)- THANH LONG VÀ BẠCH HỔ
a)- THẾ ĐẤT: Kinh thành Huế
nằm về phía tả ngạn sông Hương giang thoai thoải từ hướng tây nam
xuôi về hướng đông bắc có nghĩa là thế đất về phía Bạch
Hổ cao hơn thế đất phía Thanh Long. Một bằng chứng rõ ràng hằng
năm bảo lụt nước sông Hương chảy qua cồn Giả Viên và cầu Bạch
Hổ xuống sông Đông Ba cầu Thanh Long thì bờ sông Đông Ba
và vùng đất xung quanh cầu Thanh Long, Bao Vinh luôn luôn bị lụt trước
và vùng đất cầu Bạch Hổ ít khi bị lụt trừ khi những năm lụt
lớn, và những vùng Kim Long và Thiên Mụ phía Bạch Hổ lại càng cao
hơn nữa. Như vậy theo lý thuyết phong thủy đây là thế đất cọp
nhai không thuận lợi vượng phát cho nam giới (nhất là giòng
trưởng).
b)- KÍCH THƯỚC:
Xét thực
tế cầu Bạch Hổ bắt qua một nhánh của sông Hương chảy ra An Hòa
thế nhưng đầu cầu Bạch Hổ cũng là điểm xuất phát của cầu Giả
Viên một cây cầu lớn gồm 2 đoạn bắt ngang qua 2 nhánh sông Hương
và cồn Giả Viên, dùng để lưu thông đường xe lửa như vậy nhìn
từ trên cao xuống ta sẽ thấy Bạch Hổ như là một bàn tay hai
nhánh vây bọc kinh thành, trong khi đó Thanh Long chỉ là một nhánh cầu
nhỏ nói đúng hơn chỉ là một cống thoát nước từ hào sâu quanh
kinh thành ra sông Đông Ba. Điều này cho thấy Bạch Hổ vượng phát
hơn Thanh Long
Tóm lại với một kinh thành mà có
Bạch Hổ dài hơn, lớn hơn, cao hơn Thanh long như đã trình bày
ở trên sẽ đưa đến hai hệ quả như sau:
* Thứ nhất là nam giới ứng với
Thanh Long dễ bị suy thoái và Bạch Hổ ứng với nữ giới được
thịnh phát. Dưới thời Phong Kiến có quan niệm nữ sinh ngoại tộc, do
đó Bạch hổ được ưu thế thì giới ngoại tộc cũng có cơ hội
vẩy vùng.
* Thứ hai là giòng thứ ứng vào Bạch Hổ ưu thế dễ lấn
quyền giòng trưởng ứng với Thanh Long, và giòng trưởng dễ bị suy
vong.
c)- NÚI NGỰ BÌNH CÓ PHẢI LÀ
MINH ĐƯỜNG TỐT KHÔNG?
Theo lý thuyết, Minh đường được
coi là tốt đẹp khi nó hội đủ những tiêu chuẩn như sau :
Minh Đường phải ngay ngắn, trủng hay
bằng và nhất là độ cao không được cao, to lớn hơn căn nhà hay
kinh thành, vì nếu cao quá thì trở thành là vật cản án ngử
hơn là bảo vệ kinh thành. Đi vào thực tế chiều cao của kinh
thành Huế chỉ có 6 m, nếu tính luôn kỳ đài và chiều cao của cột
cờ cũng chỉ cao nhất là 37m, trong khi đó núi Ngự Bình cao 100m có
nghĩa là gấp hai lần rưởi kinh thành thì không thể nào coi núi
Ngự Bình là một tiền án tốt đẹp mà thật sự đó là là một
vật cản kinh thành làm cho kinh thành không có hướng phát triển
sáng lạng sau này. Ngoài ra nếu cho đây là một tiền án
thì với tiền án cao, to có tính cách áp đảo kinh thành như
vậy sẽ đưa đến hệ quả người bảo vệ chuyên quyền lấn
lướt thậm chí còn đe dọa cả tính mạng nhà vua nữa.
Giòng sông Hương chảy qua kinh thành
Huế cách chân núi Ngự Bình đến 3 cây số thế mà vẫn
có người gán ghép rằng núi Ngự Bình có Minh đường thủy
tụ là sai lạc vì rằng một nơi được gọi là Minh đường
thủy tụ thì phải có nước đọng quanh năm và nhất là thảm
thực vật quanh Minh đường luôn luôn xanh tốt. Thế nhưng trên thực
tế núi Ngự Bình không có nước, quanh năm khô hạn cây cỏ không
sống nổi, nước sông Hương không thẩm thấu đến vùng núi Ngự
Bình.
Điển hình là từ thời vua Gia Long
đã cho lệnh trồng cây trên núi Ngự Bình, nhà vua ra lệnh mỗi vị
quan triều đình không phân biệt lớn nhỏ phải trồng một cây trên
núi Ngự Bình và phải bảo quản thật tốt, thế nhưng qua những
thăng trầm của thời cuộc núi Ngự Bình đã bị trơ trọi do thổ
nhưỡng thiếu nước nên cây trồng khô héo, không sống được.
Vì thế người dân Huế thường
gởi gấm tâm tình của mình qua hai câu thơ điển hình như sau:
Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự
Đầy vơi giọt lệ nước sông hương
Không rỏ từ bao lâu rồi xung quanh
chân núi Ngự Bình mọc lên những bải tha ma một cách tự phát và
vô tổ chức, vì thế vùng đất này quanh năm là nơi tụ họp nhiều
âm khí hơn là dương khí, bằng vào những thực tế như trên núi
Ngự Bình không phải là nơi MINH ĐƯỜNG THỦY TỤ mà chính là MINH
ĐƯỜNG CỐT TỤ ú(là nơi tụ hội xương tàn cốt rụi của
người chết).
Ngoài ra còn một điều cần nói ở
đây đã phá hỏng toàn bộ phong thủy kinh thành Huế đó là vấn
đề ÂM THỊNH DƯƠNG SUY. Thật vậy từ thời Gia Long sau khi lên
ngôi thống nhất sơn hà đã lo phần hậu sự cho mình, đã xây dựng
lăng tẩm của mình cách kinh thành Huế 18(?) km về phía tây nam không
có ảnh hưởng gì đến phong thủy kinh thành, và cả vua Minh Mạng
cũng vậy. Thế nhưng đến thời vua Tự Đức lúc còn tại vị đã
cho xây lăng mộ của mình chỉ cách kinh thành Huế khoảng 4-5 Km về
phía nam thiên tây tạo thành một HÀNG RÀO ÂM KHÍ bao
gồm lăng Tự Đức, đàn Nam Giao và núi Ngự Bình
vây bọc cả mặt tiền kinh thành Huế, về sau này còn cả thêm lăng
vua Dục Đức, Duy Tân nằm ở phía An lăng (vùng An cựu và kể từ
ngày khởi công xây dựng ngôi lăng này đất nước thực
sự rơi vào những trang sử loạn ly chiến tranh và đen tối nhất của
triều Nguyễn. Một biến cố đáng ghi nhớ vào thời gian này là
3000 binh lính và thợ xây lăng đã gây nên một cuộc bạo
loạn còn gọi là giặc Chày Vôi do nhóm họ Đoàn cầm đầu
nhằm mục đích phế bỏ vua Tự Đức để lập Đinh Đạo là con của
Hồng Bào anh của Tự Đức lên làm vua.
Lăng Tự Đức xây dựng trong vòng
4 năm từ 1864 đến 1867 hoàn tất nhưng 17 năm sau (1883) vua Tự Đức
mới chết, trong thời gian tại vị này vua Tự Đức đã xử dụng
lăng tẩm của mình như là một hoàng cung thứ hai ngoài việc hưởng
lạc, ngâm vịnh thi thơ mà còn cả việc giải quyết triều chính tại
đây nữa. Đó là một điều tối kỵ trong khoa phong thủy, cho dù lăng
này chưa chính thức chôn người nhưng thực tế lăng tẩm này đã
chôn không biết bao oan hồn tử sỉ, xương máu của lính và dân trong
thời gian xây dựng với chế độ hà khắc nhằm mục đích rút ngắn
thời gian xây dựng, vì thế nhân gian đã từng than oán:
Vạn Niên là Vạn Niên nào?
Thành xây xương lính hào đào máu dân.
Tóm lại với một tiền án to, cao
lấn áp cả kinh thành, khô cằn lại chứa nhiều xương tàn cốt rụi
và triều đình lại làm việc trong lăng mộ với thời gian dài như
trên sẽ đưa đến hệ quả về phong thủy là:
1)- Triều đình mất sinh lộ, không
lối thoát vì đâm đầu vào núi
2)- Người bảo vệ vua sẽ là người khuynh đảo triều chính, thậm chí
giết hại cả vua.
3)- Triều đình luôn luôn bị âm hồn quấy nhiểu cả trong lẫn ngoài,
đưa đến tuyệt vọng.
........(click vào Bản Đồ Thành Huế để xem )
d)- HUYỀN VỦ NẰM ĐÂU?
Kinh thành Huế được nhắc nhở
nhiều nhất về Thanh long, Bạch hổ và Minh đường, thế nhưng tại
sao không ai nói Huyền vủ của kinh thành Huế là cái gì, theo lý
thuyết phong thủy Huyền vũ là phần đất phía sau căn nhà hay kinh
thành phải có hình dáng to lớn và cao thì mới tốt, mới
là nơi dựa vững chắc sự nghiệp mới trường tồn lâu bền.
Đi vào thực tế nhìn vào bản đồ tỉnh Thừa Thiên cho ta thấy phía
sau kinh thành Huế là đồng ruộng và sông biển, kiến trúc thấp lè
tè, và thế đất phía sau kinh thành Huế lại thấp hơn phía trước vì
càng xa càng xuôi về biển Đông thì càng bị trủng bởi đầm lầy
đồng chua nước mặn, bị kẹp giữa biển Thuận An và chạy dài
lên phía bắc là phá Tam Giang.
Điều này đưa đến hệ quả là hậu
vận của triều đình càng ngày sa sút và đi vào bế tắc. Đi vào
phần kiểm chứng lịch sử ta sẽ thấy rỏ toàn bộ bối cảnh xã hội
lúc đó như sau.
KIỂM CHỨNG LỊCH SỬ:
1)- Về mặt triều đình
Kể từ năm 1805 vua Gia Long cho xây kinh
thành Huế đã xảy ra nhiều điều bất ổn, kinh thành xây dựng đang
còn dang dở thì vua Gia Long mất (năm 1819). Trước khi chết vua Gia Long
đã chỉ định hoàng tử Đảm con giòng thứ lên ngôi vua (tức
là vua Minh Mạng) việc làm này gây nhiều mâu thuẩn trong triều đình
nhất là ông Lê Văn Duyệt đã đứng ra can gian nên lập hoàng tử
Cảnh làm vua bởi lý do hoàng tử Cảnh là con vợ chính lại là
trưởng nam, là người có công theo Bá Đa Lộc làm con tin giúp cho
vua Gia Long trong thời kỳ còn chiến tranh với Tây Sơn. Bởi lý do
này nên vua Minh Mạng đã có ý ngầm trả thù Lê Văn Duyệt và gia
đình hoàng tử Cảnh như là cho người tố cáo hoàng tử Cảnh
thông dâm với mẹ ruột của mình rồi cho hạ ngục sau đó tìm
cách giết chết, kế đến là giết chị dâu (vợ hoàng tử
Cảnh) và cháu của mình tức là con của hoàng tử Cảnh là
hoàng tử Mỷ Đường, một hình thức xóa bỏ giòng trưởng để
vỉnh viển nắm ngôi vua, với tham vọng đó Minh Mạng đã đặt ra đế
hệ thi nhằm xác định việc nối dòng ngôi vua như sau:
Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh
Bảo, Quý, Định, Long, Tường
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương
Minh Mạng đặt ra bài thơ này mong
ước con cháu của mình sẽ trị vị ngôi vua với chủ quyền đầy đủ
trong 20 đời khoảng 500 năm, thế nhưng thực tế tính theo chủ
quyền đất nước thật sự vua còn quyền lực thực sự chỉ có 2
đời mà thôi đó là chử Miên và chử Hường ngoài ra
những vua của những chử kế kiếp nhận lãnh nhiều bất hạnh,
nằm vào những trang sử đen tối không mấy vinh quang gì.
Sau khi Minh Mạng chết, Thiệu Trị (tức
là Miên Tông) lên ngôi mở đầu đế hệ thi là chử Miên, thời
gian làm vua quá ngắn ngủi chỉ có 7 năm chưa làm được việc gì
đã bịnh chết, để di chúc lại cho Hường Bảo lên ngôi vua thế
nhưng Hường Nhậm và đại thần Trương Đăng Quế đã âm mưu
đảo chính ôn hòa, tước đoạt ngôi vua (Lịch sử tái diễn, em
cướp đoạt ngôi vua), vì thế Hường Bảo đã thông đồng với
thương nhân ngoại quốc tại cửa Thuận An mưu làm đảo chính nhưng
bất thành Tự Đức đã ép Hường Bảo chết bằng "Tam Ban Triều
Điển" (thuốc độc, kiếm và giải lụa) (Đây là hậu quả của
Bạch hổ ưu thế hơn Thanh long).
Vua Tự Đức không có con nối
giòng, phải lập con nuôi lên kế nghiệp. Ngay vào lúc Tự Đức
chết chưa được tẩm liệm đã xảy ra thảm cảnh "Tứ
nguyệt tam vương" (trong 4 tháng giết chết 3 ông vua) kế đến
là cảnh
Một nhà sinh được 3 vua,
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài!
(vua Thiệu Trị có 3 con là Đồng Khánh còn, Kiến Phúc mất
và Hàm Nghi thua chạy).
Tổng cọng 9 đời vua kế vị Tự
Đức mang những hậu quả như sau :
1)- Vua Dục Đức: (Chử là Ưng
Chân) Bị Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường khuynh đảo triều
thần, bắt bỏ đói chết trong tù.
2)- Hiệp Hòa ( Chử là Hường Dật) bị bức tử bằng tam
ban triều điển, sau cùng bị lính đè cho uống thuốc độc.
3)-Kiến Phúc (Chử Ưng Đăng) bịnh bị đầu độc chết.
4)- Hàm Nghi (Chử là Ưng Lịch) lên ngôi chống Pháp theo
Tôn Thất Thuyết ra bưng biền kháng chiến, cuối cùng bị Pháp bắt
đày đi Algeri
5)- Đồng Khánh (Chử là Ưng Đường) lên ngôi chỉ 3 năm
bị bịnh chết,
6)- Thành Thái (Chử là Bửu Lân) lên ngôi lúc 10 tuổi
đóng vai trò bù nhìn của thực dân Pháp, sau đó tỏ ý bất phục
bị người Pháp truất phế, Làm vua được 18 năm , 31
năm lưu đày.
7)- Duy Tân (Chử là Vỉnh San) có tinh thần chống Pháp sau cũng
bị đầy ra đảo Reunion, sau thời gian không giử được khí tiết
của mình lại cam tâm tình nguyện làm một người lính đánh thuê
cho Pháp với chức vụ sau cùng là Thiếu tá không quân.
8)- Khải Định (Chử là Bửu Đảo) được ghi nhận là vị vua
bù nhìn nhất cho Pháp ; bị tuyệt tự không có con nối dòng.
9)- Bảo Đại (Chử là Vỉnh Thụy) cũng chẳng làm được gì cho
đất nước, bị thoái vị, lưu vong.
Như vậy kể từ lúc Tự Đức chết
9 đời vua kế vị đều phải lệ thuộc cận thần hay thực dân Pháp
nếu không sẽ đưa đến kết quả bị bức tử hay lưu đày (đây
là hệ quả của tiền án núi Ngự Bình lớn hơn kinh thành Huế,
Tiền án cao, mà lại không có Huyền vủ)
2)- Về Xã Hội:
Trong suốt chiều dài lịch sử của triều đại nhà Nguyễn nhất
là vào thời vua Tự Đức, người dân luôn sông sống trong lầm
than đói khổ chịu bao nhiêu cảnh loan ly giặc trong giặc ngoài chưa một
ngày hưởng đượỉc thái bình thực sự,
a)- Loạn trong: gồm giặc Tam
Đường phía Bắc, giặc Châu Chấu, giặc tên Phụng, giặc Nông, giặc
Khách, đảo chánh tại kinh thành do Hường Bảo anh ruột của Tự
Đức, kế đến là giặc chày vôi, giặc mọi Đá Vách, Giặc
Văn Thân, giặc cờ vàng, nói tóm lại khắp nơi trong triều đại vua
Tự Đức đều nổi lên làm giặc dù lớn hay nhỏ làm cho lương
dân rất đói khổ.
b)- Giặc ngoài: Do chánh sách
bế quan tỏa cảng và cấm đạo nên Pháp và Y Pha Nho
lấy cớ đó để đánh chiếm Việt Nam theo kiểu tằm ăn dâu tuần
tự như sau :
- 1859 Pháp kiếm chuyện đánh chiếm
Gia Định, rồi chiếm 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định
Tường tiếp đến 3 tỉnh Vỉnh Long, An Giang, Hà Tiên.
- 1873 chiếm Hà Nội kế đến chiếm Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương
kế đến lấy Nam Định sau đó lấy cửa Thuận An
Tháng 6-1883 Tự Đức chết thì một tháng sau 23-7-1883 ký
Hòa ước Pháp bảo hộ Việt Nam, đất nước hoàn toàn mất
chủ quyền
Tóm lại tính từ khi xây dựng là 1805
đến năm vua Tự Đức chết 1883 cũng là năm đất nước bị
đô hộ là 78 năm, nếu tính đến năm 1945 Bảo Đại thoái vị
là 140 năm, Triều đại nhà Nguyễn có tất cả là 13 đời vua
chịu nhiều nạn kiếp ; do phong thủy kinh thành xấu ; như sau:
BẢNG LIỆT KÊ NẠN KIẾP CỦA 13 ĐỜI VUA TRIỀU NGUYỄN
........(click vào Bản Đồ Thành Huế để xem )
V/- TRỞ LẠI BÀI HỌC PHONG THỦY
CỦA CỤ TRẠNG TRÌNH:
Đến đây chúng ta có thể so chiếu
lại thời gian tồn tại ngắn ngủi của triều đại nhà Nguyền
là 143 năm tính từ năm 1802 vua Gia Long đánh thắng Tây Sơn đến
năm 1945 vua Bảo Đại thoái vị, với lờì sấm tiên tri của cụ
Trạng Trình: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (Hoành
sơn một dảy muôn đời dung thân) phải chăng là có sự mâu thuẩn
hay sai lầm trong câu sấm này. Vì thế đã có nhiều tranh cải về câu
sấm này chử VẠN ĐẠI không có nghĩa là muôn đời mà là
KHẢ DỈ nghĩa là có thể. Diển giải như vậy chẳng những không
làm sáng tỏ được vấn đề mà còn làm mất đi giá trị câu
sấm của cụ Trạng Trình. Thật thế trước khi mổ xẽ ý nghĩa của
câu sấm chúng ta phải biết rỏ rằng cụ Trạng Trình chẳng những là
một nhà tiên tri mà còn là một nhà phong thủy nhiều tài năng
do vậy ngôn ngử của cụ xử dụng rất chính xác. Có sai lầm chăng
là người áp dụng chưa thấu đáo hết ý nghĩa của câu sấm này.
Theo tự điển hán Việt chử DUNG THÂN có ý nghĩa là chứa chấp,
nương tựa hay chịu đựng, áp dụng vào câu sấm nói trên thì có
thể diễn giải ý nghĩa như sau muốn an cư ổn định lâu dài phải
nương tựa hay dung thân vào dảy Hoành sơn. Trở lại thực tế, cho ta
thấy kinh thành Huế được xây cất ở vào vị thế đối diện hay
đối nghịch với núi Ngự Bình và đằng sau đó là một dảy
Hoành Trường sơn kéo dài từ Bắc vào Nam. Mặt tiền kinh thành Huế
quay vào núi chứ không dựa hay nương tựa vào núi như lời
sấm Trạng Trình vì thế đưa đến hậu quả sự tồn tại của triều
đình không lâu. Trở ngược lại thời Chúa Nguyễn Hoàng từ
khi vào Nam cho đến hết đời Tây Sơn ; từ 1558 đến 1802 là 247
năm tkinh thành được dời di dời lại 7 lần ; tính trung bình mỗi
lần dời như vậy chỉ tồn tại trên dưới 35 năm theo từng đời vua
chúa mà không có đời nào được tồn tại, ổn định lâu
dài, là do kinh thành luôn luôn xây mặt vào núi chứ không dựa
vào núi. Đã làm sai với lời sấm của cụ Trạng Trình, nghịch lại
nguyên tắc phong thủy là lưng dựa vào núi mặt quay ra biển mới
thuận vị.
Ngoài ra theo lý thuyết khoa phong thủy
xây nhà thì phải dựa lưng vào núi mặt quay ra biển mới là thuận
vị.
Đến đây chúng ta có thể tóm tắt
lại điểm sai lầm lớn nhất từ thời Chúa Nguyễn Hoàng cho đến
thời đại Gia Long là thực hiện sai lầm lời sấm của cụ Trang Trình
là xây dựng kinh thành đối nghịch với dảy Hoành Trường sơn thay
vì phải dung thân hay nương tựa vào nó, từ đó đã đưa đến hậu
quả nghiêm trọng, chế độ bị yểu tử và không còn đất dung thân
như đã trình bày trên.
VI/- BÀI HỌC LỊCH SỬ CÒN TÁI
DIỄN
Khi đặt bút viết lên những giòng
chử này người viết không nhằm mục đích khôi phục hay xóa đi
một quá khứ, mà chỉ mong muốn nói lên một bài học lịch sử về
phong thủy đáng giá, mà chúng ta hảy trả lại cho Huế những
giá trị thực tế của nó, không nên ca ngợi Huế như là một biểu
tượng hoàn chỉnh về phong thủy có Tả Thanh Long Hữu Bạch Hổ với
Minh đường thủy tụ sẽ gây nhiều ngộ nhận cho người tìm đọc
đến bộ môn phong thủy sau này.Ngoài mục đích trên người
viết cũng cần nhấn mạnh một điều là bài học lịch sử phong thủy
này không dừng chân ở quá khứ mà hiện tại đã và đang
tái diển, tàn phá toàn bộ đất nước ta, gây ảnh hưởng đến
tất cả vận mệnh của chúng ta hôm nay. Sự thật là bài học
phong thủy này đã tái diển trên đất Saigon và cả Hà Nội hiện
nay. Đó mới là điều đáng để cho chúng ta quan tâm.
1)- DINH ĐỘC LẬP:
Trước đây có tên là Dinh Norodom xây năm 1868, xử dụng như
là cư dinh của Cao Uũy Toàn Quyền Pháp tại Nam Kỳ, năm 1954 dinh này
được trao lại cho Ngô Đình Diệm và được đặt tên là DINH ĐỘC
LẬP, đến năm 1962 bị phá sập do một biến cố chính trị, và
rồi dinh được xây dựng lại hoàn toàn bởi Kiến Trúc Sư
Ngô Viết Thụ, và được khánh thành bởi ông Thiệu vào năm 1966.
lúc còn làm Trung Tướng Chủ Tịch Uũy Ban Hành Pháp Trung Ương.
Thưa các bạn Dinh Độc lập tọa lạc
trên một tứ giác được vây bọc bởi bốn con đường đó
là Nguyễn Thị Minh Khai (tên củ là Hồng Thập Tự) đường Nam Kỳ
Khời Nghĩa (tên củ là đường Công Lý, đường Nguyễn Du và
đường Huyền Trân Công Chúa và vườn Tao Đàn với cây cối cao
xanh um có Huyền vủ tốt, bên phải là Nhà thờ Đức Bà, bên trái
là con đường Duy Tân có bồn binh nước thường được gọi là
hồ con rùa. Đối diện dinh Độc Lập là sở thú với con đường
Thống Nhất (nay đổi tên là Lê Duẩn) đâm thẳng vào dinh,
Trước đây ông Thiệu đã có mời thầy phong thủy đến nhờ
chỉ dẩn làm sao cho hết nội loạn, dẹp bớt đảo chính cũng như biểu
tình, người thầy phong thủy này đã nhận định rằng DINH ĐỘC LẬP
là đầu con rồng và đuôi rồng là nằm phía hồ nước con rùa ở
đường Duy Tân, vì thế một thời gọỉi dinh độc lập là PHỦ ĐẦU
RỒNG, ông đề nghị làm tấm bia cao như lưởi kiếm đâm thẳng xuống
lưng con rùa nhằm trấn áp nội loạn. Do lời đề nghị đó ông Thiệu
đã cho làm tượng đài cao như hình lưởi kiếm tại đây.
Tôi không rỏ giữa người sửa
phong thủy này với ông Thiệụ có ân oán hay mưu đồ chính trị
nào không, mà đã đưa ra giải pháp thâm độc nhằm hại ông Thiệu
hơn là giúp đở ông ta, chẳng những thế chúng ta cũng là nạn
nhân của hắn mới có ngày hiện diện hôm nay trên đất nước
này.
Thật vậy khi nhận định Dinh Độc lập
là đầu rồng và hồ Duy Tân là đuôi rồng là đúng thế nhưng
khi đưa ra biện pháp chặt đứt đuôi rồng là hoàn toàn sai, đầy
ác ý vì rằng với con rồng hay cả loài bò sát sức mạnh
luôn luôn tập trung vào phần đuôi vì thế chặt đứt đuôi rồng
chẳng khác gì chặt mất hậu thuẩn hay sức mạnh của ông Thiệu trong
suốt cả thời kỳ làm TỔNG THỐNG. Thật ra vấn đề nội loạn
không phải là do phần đuôi con rồng mà chính là sinh lộ của dinh
Độc Lập luôn luôn bị cô hồn tác quái, đó là nghĩa trang Mạc
Đỉnh Chi nằm trước mặt và trên sinh lộ của Dinh Độc Lập, vì
thế nếu là một người thầy chân chính phải tìm biện pháp hóa
giải hay trấn áp nghĩa trang này chứ không phải là chặt đuôi con
rồng. Còn nếu nói là đuôi con rồng cứ vùng vẫy không trị
được đó là do vấn đề THƯỢNG BẤT CHÍNH HẠ TẮC LOẠN cầm đầu
là Tổng Thống tham nhũng buôn lậu thì làm sao trị được đàn em
làm bậy. (ăn chia không đồng đều)
Các bạn thử nghỉ xem một con rồng
mà bị gọỉt đầu vì dinh Độc Lập với mái bằng cho trực
thăng đậu, rồi chặt đuôi, sinh lộ bị cô hồn quậy phá ngăn
chận thì chẳng còn cách nào khác hơn đi tìm đường
sinh trong đường tử đó là hướng ra cửa biển phía sau dinh
độc lập đó là Cần Giờ và biển Đông.
Đối chiếu lại lịch sử các bạn
còn nhớ trước đây vào ngày 21-4-1975 ông Thiệu đọc bài diển
văn từ chức, viện trợ Mỹ hằng năm trong cuộc chiến cao
nhất là 25 tỷ một năm và đến năm 1973 là 2 tỷ Đô la mà không
đánh thắng được Cọng Sản, thế mà đến lúc dầu sôi lửa bỏng
các cha các thầy nhân danh lực lượng thứ ba tiếp tay với Cọng
Sản miền Bắc đang tràn vào chà đạp lên bản hiệp định Paris mà
chính Hoa Kỳ là người chủ động và long trọng ký kết,
thế mà Hoa Kỳ chẳng hề thốt lên một lời phản đối, hạ viện
còn biểu quyết ngân sách viện trợ chỉ 300 triệu đô la lại kèm
theo một điều kiện rất độc ác là không được dùng viện trợ
để trả lương cho lính. Chẳng khác gì là chặt đuôi rồng lại còn
gọt đầu nữa, sinh lộ thì thả nổi cho âm binh cô hồn quấy phá
đưa đến sự sụp đổ toàn miền nam, dồn nén nhân dân miền
nam vào con đường thoát ly ra biển đông để tìm lấy cái
sống trong cái chết cho đến ngày hôm nay.
2)- THỦ ĐÔ HÀ NỘI: Bài
học phong thủy này cũng hiện đang tái diển trên miền Bắc nước
ta qua các sự kiện sau đây:
a)- BẮC BỘ PHỦ nay gọi
là NHÀ KHÁCH CHÍNH PHỦ là nơi mở cửa ngỏ giao tiếp với
bên ngoài như là tiếp đón khách ngoại quốc, công hàm ngoại giao
cũng là nơi công bố chánh sách của nhà nước. Phía trước Bắc
Bộ Phủ có một vườn hoa xinh xắn có tên gọi là vườn hoa
Diên Hồng, thế nhưng người Hà Nội gọi thân mật là vườn hoa CON
CÓC vì nơi đây có một hồ nước với bốn con cóc ở bốn góc
há miệng ngẩng lên trời phun nước.
Thưa các bạn theo khoa phong thủy CON
CÓC có ý nghĩa mong ước có tiền vạn điều như ý , trong các tiệm
buôn người Hoa thường trưng bày con cóc ngậm đồng tiền, đây là
CON CÓC AN PHẬN mong ước thành công trong sự nghiệp của mình, chỉ
biết ngậm miệng ăn tiền. Riêng về con cóc trước Bắc Bộ Phủ là
LOÀI CÓC CAO VỌNG, luôn luôn hả miệng kêu to, nhưng bụng lại trống
rổng, coi cả vủ trụ không bằng cái khung trời miệng giếng của
mình, và chủ nhân của nhà khách chính phủ chẳng khác gì những
chú cóc này, những ai có ý mong chờ chánh sách đổi mới của
Hà Nội thì chỉ hoài công vô ích, vì sự đổi mới của họ cũng
chẳng khác gì hơn là những bước nhảy vọt của con cóc này nhảy
quanh miệng giếng mà thôi, vì nếu nhảy ra khỏi miệng giếng chú cóc
sẽ bị choáng ngợp bởi khung trời mở rộng và chú cóc
sẻ trở thành an phận miệng ngậm đô la thay vì ngậm đồng
tiền.
b)- HỘI TRƯỜNG BA ĐÌNH và
Lăng HỒ Chí MINH:
Hội trường Ba Đình được xử
dụng để làm nơi hội nghị Trung Ương Đảng cũng như Đại Hội Đảng
Toàn Quốc, là nơi tập trung trí tuệ của toàn đảng, nằm
trong một khu tứ giác bao gồm Phố Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ, Hoàng
Diệu và Điện Biên Phủ là một quần thể gồm các cơ quan đầu
não của đảng Cọng Sản Việt Nam, Quảng trường Ba Đình và Lăng Hồ
Chí Minh. Dỉ nhiên là một cơ quan nhà nước nằm cạnh một nhà mồ
thì ít nhiều cũng có ảnh hưởng xấu về mặt phong thủy, Đảng Cọng
Sản có một tập tục bất thành văn là trước khi làm một quyết
định quan trọng như là nghị quyết, chính sách nhà nước, hay các
cuộc lễ lớn, tất cả các đại biểu tham dự đều có tiêu
chuẩn vào viếng lăng HỒ Chí MINH nhằm tỏ lòng tôn kính nhờ
có bác mà ta có địa vị ngày hôm nay, về mặt phong thủy đó là
nghĩa cử chia phần ÂM KHÍ của một người đã chết.
Đây là một tập tục sai lầm nghiệm
trọng về mặt phong thủy vì đã dẫm bước trở lại bài học lịch
sử mà vua Tự Đức đã phạm phải, khi đem việc triều chính vào
trong ngôi mộ của mình để giải quyết.
Trong nhân gian chúng ta có
tập tục là người đang làm ăn may mắn mà phải đi thăm viếng
một đám tang thì đó là điều không may mắn, vì thế trước khi về
nhà phải tắm gội, hay bước qua lò lửa để xả xui. Thế mà các
đại biểu trước khi tham dự quyết định quan trọng thì phải chia phần
âm khí thì chắc chắn là xui xẻo, đầu óc thiếu tỉnh táo.
Ở đây có một điều đáng nói
về lăng ông Hồ, trước khi ông Hồ chết có để di chúc với
nguyện vọng được thiêu hủy rồi đem tro rải khắp ba miền Nam Trung
Bắc, thế nhưng Đảng Cọng Sản đã cho ướp xác, đóng hòm kính
dựng nhà mồ để suy tôn hay kinh doanh lảnh tụ của mình. Việc làm
này trái với ước nguyện của người chết, các bạn thường
biết khi một người chết còn nuối tiếc, chưa gặp được
người thân thương thì khi chết không nhắm mắt, nếu người chết
có nguyện vọng sau cùng trước khi chết mà người nhà không làm
theo ý của người chết thì thường thường hòm bị xì trong vòng ba
ngày trước khi chôn cất, để hóa giải trường hợp này chính
người thân phải khấn nguyện và rà lưởi quanh nắp hòm mới hết
xì đây là một việc làm phản khoa học nhưng đó là một thực tế
khó giải thích. Trở lại trường hợp ông Hồ Chí Minh được
ướp xác trái ý của mình, vì thế mặc dù được đúc trong hòm
kính với kỷ thuật tối tân của Liên Xô, thế mà cũng
không tránh được chiếc hòm kính bị xì và khuôn mặt bị biến
dạng, trong đầu thập niên 80 lăng này phải đóng cửa một thời
gian dài để cho chuyên gia Liên Xô đại tu trở lại.
Hậu quả của tập tục này như sau:
Sau khi ông Hồ chết, tập tục chia
phần âm khí được hình thành, tất cả các nghị quyết của đại
hội đảng toàn quốc kể từ năm 1975 đến nay đều hoàn toàn thất
bại như là:
* nghị quyết Lê Duẩn Tiến nhanh tiến
mạnh tiến thẳng lên Xã Hội Chủ Nghĩa không qua con đường Tư Bản
Chủ Nghĩa,
* Nghị Quyết Trường Chinh: xác định lại Việt Nam đang ở chặng
đường đầu Xã Hội Chủ Nghĩa,
* Nghị Quyết Nguyễn Văn Linh : Đổi mới Tư Duy,
* Nghị quyết Định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa cũng chẳng khác gì hình
ảnh một người nông dân thay vì cuối mặt suy tư trên luống
cày của mình theo như Mác Lê Nin đã dạy thì nay đảng Cọng Sản
Việt Nam lại dạy nông dân chân đi cày mà mặt ngước lên trời
tìm tìm hướng trời vô định của Xã Hội Chủ Nghĩa mặc chông gai
hầm hố đang chực chờ, thì thật là thảm hại.
Một ví dụ khác, đó là trường
hợp của ông VÕ ĐẠI TÔN, một người tù chính trị, trực
tiếp chống đối chế độ, Cọng Sản miền Bắc bắt được cho đi cải
tạo phản tỉnh rồi đưa ra họp báo quốc tế, người tù này cũng
được đưa vào chia phần âm khí tại lăng ông Hồ nhờ ơn bác mà
người tù này được cải tạo tốt, trước khi đưa ra họp
báo, nhờ âm khí mà người tù này đã thiếu tỉnh táo quên
hết lời quản huấn tuyên bố theo lập trường và chủ trương của
phe nhóm mình thế là cuộc họp báo bị chấm dứt nữa chừng Cọng
Sản Miền Bắc bị một đòn hớ nặng trước công luận quốc tế.
Liên Xô với Điện Cẩm Linh tạo ra
tập tục chia phần âm khí trong lăng Lenin, triều đại đã phải sụp
đổ không đầy 70 năm, thì số phận Cọng Sản Việt Nam cũng chẳng
tồn tại bao lâu nữa.
Tóm lại để kết thúc bài viết
này, chúng tôi xin nhấn mạnh các điểm sau đây, thời nhà Nguyễn
đã làm sai lời sấm của cụ Trạng Trình xây kinh thành không dựa
vào Hoành Trường sơn đã không còn đất dung Thân, Vua Tự Đức
đã có sai lầm lớn là đưa triều đình của mình vào trong một nhà
mồ đưa đến hậu quả nước mất nhân dân lầm than chiến tranh
đói khổ. Ngày nay Hà Nội lại tái diển lại bài học lịch sử phong
thủy của Vua Tự Đức cho xây lăng Hồ Chí Minh trong một quần thể
cơ quan đầu nảo của chính phủ và Đảng Cọng Sản Việt Nam cũng như
tạo dựng tập quán chia phần ÂM KHÍ tại lăng Hồ Chí Minh là một
sai lầm nghiêm trọng, đưa đến hệ quả nhân dân luôn luôn sống
trong nghèo đói và quê hương Việt Nam khó mà phát triển theo kịp
nền văn minh nhân loại như chúng ta thầm mong ước. ĐÂY CHÍNH
LÀ VIỆC CẦN PHẢI CHẤN CHỈNH KỊP THỜI!
tác giả :THIÊN ĐỨC
PS : chỉ giới thiệu những bài viết về phong thủy và không quảng cáo giùm cũng như không chịu trách nhiệm đến nội dung bài viết . Đa tạ .
Võ Tánh Trường Xưa
|