Ra đi thương Ái nhớ Hoài
Nguyễn Thanh Ty
N
ói cho thật đúng thì tôi không phải là con dòng chính thống của trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang.
Tôi sinh ra đời "dưới một ngôi sao xấu" ;nói theo cách Vũ Trọng Phụng. Có thể ví von hơn một chút,
thuở nhỏ tôi ở với ông bà ngoại tôi là ngôi trường Nam Tiểu Học. Ở đó, tôi là đứa bé ham chơi hơn ham học.
Cho nên, qua kỳ thi "ri me" xong, tới lượt "còng cua", tôi không đủ điểm để về ở với cha tôi là trường Võ Tánh.
Tôi phải về ở với mẹ tôi bốn năm là trường Tương Lai, do thầy Thái Văn Châu, con trai của Nữ Sĩ Tương Phố
nổi tiếng với bài "Giọt Lệ Thu"’ thập niên bốn mươi, làm hiệu trưởng.
Được một năm thì mẹ tôi thay tên đổi họ theo chồng là Văn Hóa do thầy Nguyễn Bá Mậu làm hiệu trưởng.
Thời kỳ còn nghèo khó, trường Tương Lai nằm cạnh rạp ‘xi nê’ Minh Châu (Việt Quang) chỉ có hai phòng học,
không đủ chổ chứa anh chị em chúng tôi.
Sang đến thời kỳ khấm khá một chút, chúng tôi di dời về trường Văn Hóa, khang trang, rộng rãi, thoáng mát hơn .
Ngôi trường vừa xây lên có bốn phòng học và một văn phòng, tọa lạc trên một đìa rau muống, cạnh Quốc lộ 1,
gần núi Sinh Trung.
Phía sau lưng trường, đi tắt từ Quốc Lộ 1 sang đường Sinh Trung là nhà sách Văn Văn .
Ở đó có mấy chị em họ Bạch. Tuy không sắc nước hương trời nhưng với cái đen giòn, và duyên ngầm làm đám
học sinh chúng tôi mê mệt. Ngày nào cũng vào đó đá banh lắc mà ngắm thầm, ngó trộm.
Ở với mẹ được bốn năm, thấy tôi trở nên chăm chỉ, học hành có khá lên đôi chút, cha tôi đem tôi về trường
Võ Tánh. Ở đó có thầy Lê Nguyên Diệm làm hiệu trưởng. Tôi ở với cha tôi được ba năm. Từ 1959 đến 1961.
từ lớp Đệ Tam cho tới Đệ Nhất .
Giống như chuyện Tôn Tẩn, Bàng Quyên hồi xưa tầm thầy học đạo. Học hết vốn liếng của thầy xong, thầy bảo:
- Các con đã học cùng ta khá lâu. Nay ta không còn gì để dạy nữa. Ta cho các con xuống núi hành hiệp giang hồ
để giúp dân cứu đời.
Nói xong, thầy Vương Hủ tự là Quĩ Cốc Tiên Sinh, nhắm mắt ngồi thiền, tay phất cái phất trần ra hiệu cho học trò
lui ra, chuẩn bị khăn gói xuống núi.
Cũng y như vậy, năm 1961, chúng tôi thi xong Tú Tài Hai, thầy Lê Nguyên Diệm cũng tiễn chân chúng tôi ra khỏi
trường Võ Tánh để xuống núi, hoặc vào Sài Gòn, hoặc ra Huế để lên non khác, tiếp tục tìm thầy cao minh hơn,
học thêm những ngón nghề khác hầu có thể "kinh bang tế thế" sau này.
Tôi chỉ ở Võ Tánh có ba năm, mà hai năm cuối lại là năm bù đầu, bù óc với bài vở để ứng thí, bắt buộc phải
"bảng hổ đề tên". Nếu không thì :
Rớt Tú Tài, anh đi Trung sĩ ! Em ở nhà ...
Cuộc đời sẽ đen tối ngay. Do vậy, bây giờ đã hơn bốn mươi năm qua, ngồi ôn lại dĩ vãng, tôi thấy mình
có quá ít kỷ niềm thân thiết với người cha nghiêm từ. Trái lại, tôi có quá nhiều kỷ niệm êm đềm, lưu luyến
với ông bà ngoại nhân hậu và bà mẹ nhu mì hiền lành của tôi hơn .
Những ngày tháng ở Trường Nam Tiểu Học Nha Trang
Những năm ở với ông bà ngoại, tôi tha hồ rong chơi khắp chốn. Trốn học, cặp sách dấu trong bụi rậm,
với hai chân đất, tôi giang hồ hết ga xe lửa tới Xóm Mới đầy trái ma dương, dủ dẻ, chùm bao, cò ke...
và gai bàn chải. Tôi mê man rượt theo những con kỳ nhông nhiều màu sắc. Tôi khoái chí nhìn nó đổi
màu từng lúc, từng nơi. Tôi ăn một cách ngon lành những chùm trái rừng hái được, nửa chín,
nửa hườm hườm mà không bao giờ bị đau bụng.
Chiều dần xuống, khi những vạt nắng cuối cùng khuất sau dãy núi trời Tây là tôi bắt đầu hãi hùng với
vô số mồ thiêng mã lạng ở cái bãi cát rộng mênh mông, ngút ngàn này.
Tôi ba chân bốn cẳng cùng lũ nhóc trang lứa, chạy thở không ra hơi để ra khỏi cái chốn âm ty,
lát nửa đây sẽ hiện về không biết cơ man nào là âm hồn, các đảng.
Đứa nào chạy ra không kịp sẽ bị ma bắt, dấu vào bụi gai xương rồng bàn chải um tùm đầy gai nhọn.
Miệng thì bị ma nhét đất sét hay cứt bò, nói không được, la cầu cứu cũng không được.
Vậy mà trưa hôm sau, mặt trời chói chang đứng trên đầu, bọn tôi lại túa vào lùng sục trái cây y như hôm qua.
Chúng tôi vui sướng với những ngày tháng nghịch ngợm vô tư và đầy sự tưởng tượng kích động thần kinh trong đầu
như thế .
Khi mùa trái rừng đã đi qua, chúng tôi quay về với những cây bàng cuối thu, đầy lá vàng, lá đỏ và trái bàng
khô dọc theo đường biển và ngay cả trong sân trường. Những trái bàng khô đặt nghiêng, dùng cục đá đập "tách" một cái,
tiếng "tách" phát ra sắc và gọn. Trái bàng nứt đôi, lòi ra một mảng bàng màu vàng nâu bên trong nguyên vẹn, một đầu nhọn,
một đầu bầu tròn. Bỏ vào miệng nhai "rốp" một cái, vừa dòn, vừa beo béo làm cho nước miếng cứ ứa ra .
Tay đập, miệng nhai, mặc kệ thời gian qua mau . Hết mùa bàng, sang mùa điệp nở bông, kết trái. Những cây điệp trồng
thành hàng dọc theo bờ tường trước cổng trường, hè nhau nở bông một lượt, đỏ rực cả một khung trời.
Tôi không rõ là màu đỏ hay mùi vị của hoa phượng (điệp) đã quyến rũ lũ ve sầu về kêu ran inh ỏi hay là c
hính lũ ve sầu rộn ràng ca hát đón mùa hè tới mà làm cho cây phượng thích chí nở hoa ? Hay có lẽ cả hai đã chung nhau
chơi một bài hòa tấu tuyệt diệu để chào đón sự giao hòa của đất trời ?
Mặc kệ. Chúng tôi chỉ biết mùa nào thức ấy là đủ rồi. Mùa nào chúng tôi cũng có lộc trời cho .
Đầu mùa, chúng tôi hái bông điệp nở, lấy những vòi nhụy cong cong bên trong để đá gà,
lấy những đài hoa bên ngoài, vò trong hai ngón tay nhè nhẹ để đài hoa mềm lại và tách ra thành một cái bong bóng nhỏ.
Chúng tôi chu mỏ thổi cho nó phồng lên rồi đập thật nhanh cho nó phát ra tiếng nổ "bốp" một cái .
Âm thanh nhỏ mà sắc thật gợi cảm cho trò chơi không biết chán.
Cái trò chơi của con nhà nghèo đơn sơ, mộc mạc vậy mà sao nó hấp dẫn, lôi cuốn chúng tôi suốt ngày,
và từ năm này sang năm khác. Cuối hè là trái điệp bắt đầu già. Những trái điệp màu xanh lục, dài cả thước,
bản to bằng bàn tay, cong cong như cái rựa quéo trông thật khêu gợi. Không thể nào mà không leo lên bẻ nó xuống
cho được. Đập lấy hết bên trong ăn. Chừng ba trái là no cứng bụng. Hột điệp có vị ngon khác hột bàng. Hột điệp không béo,
có lẽ vì chưa già, mà hột điệp già khô lại không ăn được. Nó chỉ ăn khi còn màu xanh . Nó có vị ngòn ngọt, bùi bùi
như hột bí rợ và thơm mùi lá cây hăng hăng.
Năm lần phượng nở, rồi phượng tàn...
Tôi rời trường Nam Tiểu Học mà lòng cứ lưu luyến mãi không thôi.
Khi biết rằng mình không thể quay lại được nữa, không thể còn mài đũng quần trên ghế ngôi trường này nữa,
tôi sẽ vĩnh viễn chia tay nó, tôi mới bắt đầu nhớ tới các Thầy, các Cô, ông Đốc Học và luôn cả hai ông Cai, Cai Ù, Cai Ốm.
Tôi nhớ tới thầy Ẩn với hàm râu cá chốt rất nghiêm khắc với những con dế của chúng tôi. Bao nhiêu dế thầy
bắt phải để ngoài, không được mang vào lớp. Trò nào đem dế vào lớp sẽ bị ăn roi mây. Thầy ra lệnh.
Nhưng lòng dạ nào mà nở để con dế "ác chiến" của mình mua hơn năm cắc bạc mới có ở ngoài .
Lỡ khi ra chơi, tụi lớp khác ra trước, nó cuỗm mất thì sao đây? Đành len lén không vâng lệnh thầy mà dấu trong hộc bàn .
Mấy con dế cũng chơi trác chúng tôi. Đang trong lúc Thầy giảng bài, nó lại gáy lên re re. Tiếng gáy bấy giờ sao nghe rõ to,
nghe rổn rảng hơn lúc đá nhau hồi sáng. Tái mặt, đưa tay vào gầm bàn đập đập cái hộp quẹt in hình con két đang nhốt nó,
cho nó im, nó lại tưởng sắp mang ra đá, càng gáy tợn.
Thầy Ẩn tức giận đỏ mặt, xăm xăm đi đến chỗ có tiếng dế gáy, quyết bắt thủ phạm. Con dế vô tình cứ
giương cánh re... re.. gáy dòn giả. Thật là chết đến nơi. Bỗng nhiên ở đằng kia cũng có tiếng re...re...
Rồi thì từ dãy bàn đầu cho chí dãy bàn cuối ở đâu cũng có tiếng re... re... Cả một dàn hợp âm dế đồng loạt reo ca re... re...
Hóa ra còn nhiều thủ phạm chớ không chỉ riêng mình tôi. Một mình thì có tội. Nhiều người cùng phạm tội thì hóa ra vô tội .
Thầy Ẩn cũng bắt thất cười. Thầy tha cho lần này. Ai có dế thì đem lên nạp. Lát nữa ra chơi, lên bàn Thầy lấy lại .
Hú hồn!
Tôi lại nhớ đến Thầy Lộc mới hơn ba mươi mà bụng thầy phát tướng rất to. Học trò kêu thầy là "Thầy bụng phệ" .
Thầy Ngộ mặt lúc nào cũng đỏ, có thú đá gà nòi. Thầy Tuy hiền lành. Thầy Thanh bình dân xuề xòa .
Thầy Tắc nghiêm nghị với hàm râu quai nón rậm đen. Ông Đốc Thành uy nghi như một vị thần linh .
Cô Mai dạy lớp Ba, năm nào hè vô cũng nghỉ đẻ. Cô Lệ ốm cao với mái tóc giả bọc trong lưới... Còn nhiều thầy,
nhiều cô nữa mà tôi không nhớ hết . Tôi nhớ luôn cả hai bà vợ của hai ông Cai trường với những cuốn chả ram,
cái cùi dừa già trắng tinh, những gói me ngào đường bọc trong lá bàng non... trong quán tranh xập xệ của hai bà .
Giờ ra chơi là đông nghẹt học trò bu chung quanh tíu tít dành nhau mua trước. Tôi nhớ luôn tới mấy anh bán "cà lem"
và ông bán kẹo kéo méo miệng, đứng ngoài bờ tường. Mua bán trao qua, đổi lại bằng những cái lổ hình bầu dục
của bức tường.
Tôi cũng nhớ tới người bạn học ngồi bên cạnh tôi suốt mấy năm liền mà không biết đó là gái giả trai .
Sau lên Trung Học mới hay là chị chớ không phải là anh.
Những năm ở Trung Học Tương Lai Văn Hóa
Như đã nói ở trên, tôi là thằng bé ham chơi hơn ham học. Luôn trốn học để phiêu lưu mạo hiểm trong
những cuộc rong chơi kỳ thú.
Hết bậc Tiểu Học, tôi thi bằng Tiểu Học qua hai kỳ thi "ê cờ ri" và "ô ran" (écrit et oral) trót lọt . Nhưng
đến khi thi ‘"còng cua" (concour) để dự tuyển vào Đệ Thất trường công lập Võ Tánh thì không địch lại với những
nhân tài khác.
Trường Võ Tánh bấy giờ (1956) chỉ có hai lớp Đệ Thất, sĩ số thu vào chừng bảy chục cho tới tám chục
mà sĩ tử khắp bốn phường trời, từ thành phố đến nhà quê đông như lá mùa thu không kể xiết.
Cho nên tôi rớt cái "ạch" là lẽ thường. Đậu mới là chuyện lạ .
Tôi vào học trường Tư Thục Tương Lai với Thầy Thái Văn Châu dạy toán, Thầy Thạch Trung Giả
dạy văn chương, Thầy Nguyễn Ngân dạy Anh văn, thầy và Cô Nguyễn Bá Mậu dạy Pháp văn, cô Gia dạy vạn vật...
Thầy Nguyễn Bá Mậu viết riêng cho chúng tôi một cuốn sách Pháp văn nhập môn tên là " Pour écrire correctement
Francais " rất giản dị và hửu ích. Chúng tôi vừa học văn phạm vừa theo dõi hai nhân vật trong sách có thực
là Nguyễn bá Vinh và Tùng Chi đang ngồi bên cạnh chúng tôi hằng ngày.
Cũng giống như hai nhân vật Fatty và Longleg trong cuốn sách Anh văn năm Đệ Tam là "The fluent Engish" vậy .
Cô Nguyễn Bá Mậu đã dẫn chúng tôi đi thăm các miền quê nước Pháp thơ mng, êm đềm trong những cuốn Mauger I và II.
Riêng Thầy Nguyễn Bá Mậu có dáng ốm cao như tài tử Gary Cooper chúng tôi hằng si mê cho nên chúng tôi âu yếm
đặt cho Thầy cái tên Thầy Mậu Gary.
Nhưng những lời giảng bài của các thầy cô không hấp dẫn chúng tôi hơn những âm thanh quyến rũ
của rạp "xi-n" bên cạnh. Chúng tôi ngồi trong lớp mà hồn cứ mơ màng theo các tuồng đang quãng trên các
tấm "pa-nô" to tướng quảng cáo treo trước rạp và hai bên tường. Mội lần ra chơi,
chúng tôi tụ lại coi hai ông họa sĩ của rạp đang cầm cọ vẽ những "pa-nô" khác. Chúng tôi mê say theo dõi những
cánh tay tài hoa của các ông. Vài nét quẹt với bột màu đã thấy hiện cô đào ‘Ma-Ri-Lin Mông-Rô (Maryline Moroe )
đẹp nẩy lửa với hai gò bồng đảo và đôi môi khiêu khích, hay cô đào ‘Ô-Đờ-Rây Hấp-Bơn (Audrey Huburn)
cái ngực xẹp lép mà diễn xuất hay quá mạng và bài hát của Doris Day "Que sera sera..", mà bất cứ một học
sinh nào cũng thuộc lòng, lâu lâu buồn tình cũng rên ư ử :
‘When I was just a litle boy. I asked my mother: What will I be ?
Lại còn mấy anh cao bồi cởi ngựa bắn súng oai hùng nữa chớ.
Như anh chàng Gary Cooper ốm nhôm, Clark Gable có hàm râu mép ngổ ngáo,
Charle Bronson vai u thịt bắp, Jean Kelly nhảy thiệt hài số dách...
Nhưng những hình ảnh hấp dẫn ấy tan biến nhanh như bong bóng xà phòng khi thấy thầy Châu
với cây thước mun bọc đồng bốn cạnh trong giờ số học hay đại số .
Tôi không thể nào quên được cái cảnh khốn khổ, khốn nạn của tôi khi Thầy kêu lên bảng giải bài số học.
Tôi đã thú nhận (trước bình minh rồi mà) tôi là thằng học dốt, có lẽ dốt nhất lớp e chừng .
Vậy mà tôi còn mang đôi guốc vông, dưới đế có đóng móng ngựa bằng sắt lượm được ở bến xe ngựa,
cho lâu mòn. Trong cái không khí ngt ngạt và căng thẳng trong giờ toán học, cái âm thanh gõ lốp cốp vang
theo từng bước đi của tôi từ dãy bàn cuối lớp cho đến bảng đen càng khua, nghe chát chúa như tiếng kẻng tù
gõ trong đêm khuya. Quãng đường tuy có mấy thước mà tôi thấy xa như thể "Con Đường Cái Quan" của Phạm Duy.
Cả lớp nín thở để nghe tiếng lốp cốp của đôi guốc và nhìn theo gương mặt tái mét, thất thần của tôi.
Tôi nghĩ đến cái giây phút người tử tội lên đoạn đầu đài nó cũng sợ hãi và căng thẳng chừng ấy cảm giác là cùng.
Nhưng người tử tội không có quê xệ như tôi. Đã quê xệ lại còn xấu hổ với đám con gái ngồi đằng trước nữa chớ.
Một niên khóa vừa học vừa dan díu với đào hát, học trò không ra học trò, tài tử "xi-nê" không ra tài tử,
thầy Thái Văn Châu theo gương bà mẹ Mạnh Tử dời trường đi khỏi chốn ‘động đình hoa’ cho các con mình
chú tâm học hành hơn.
Trường Văn Hóa bây giờ thầy Nguyễn Bá Mậu lên thay, làm hiệu trưởng. Thầy Châu mê thú săn hoa
lan trên Đà Lạt. Tuần nào thầy cũng lái xe Lambretta băng đèo, leo suối để hái hoa rừng.
Có hôm thầy về trễ, để nguyên cả bộ đồ còn đầy đất đỏ với lan rừng, thầy lên lớp ngay cho đúng giờ giảng bài.
Ở đây chúng tôi có thêm thầy Nguyễn Duy Nhường dạy văn chương. Thầy Nhường dẫn chúng tôi vào vườn hoa
Nguyễn Du với trăm ngàn bông hoa lộng lẫy sắc màu cùng với hương thơm ngát trong Đoạn Trường Tân Thanh.
Thầy chỉ cho chúng tôi biết đâu là "Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" trong văn chương Việt Nam.
Thầy Nguyễn Mậu, người xứ Quảng, dạy sử địa hết ý. Môn sử địa qua thầy không còn là môn học khô khan nữa.
Ỏ đó chúng tôi mới biết thế nào là giang sơn cẩm tú, là biển bạc rừng vàng của đất nước.
Thầy Nguyễn Ngân ngoài môn Anh văn ra, thầy còn hướng dẫn chúng tôi về hướng đạo,
những ngày du ngoạn ngoài trời vừa chơi, vừa học với những bài hái ‘Jingle Bell’, ‘The Way To School’,
hay những câu chuyện tình nhẹ nhàng đầy lãng mạn và thơ mạng: ‘The Foget Me Not’.
Những năm đó Thầy Ngân và Thầy Hào hằng tháng cho xuất bản một cuốn sách mỏng tên là
‘ The progress book’ trong đó kể chuyện đời xưa rất hấp dẫn. Dưới mọi truyện đều có chú giải ngữ vựng,
văn phạm và cách phiên âm quốc tế. Cứ mỗi lần sách ra, chúng tôi nôn nóng tìm mua về đọc và học.
Thỉnh thoảng cũng có bạn giỏi, trả lời được những câu hỏi đố trong sách và được lãnh thưởng.
Cô Gia dạy vạn vật với những nhận xét thực tế đến ngạc nhiên với chúng tôi. Có lần Cô khuyên chúng tôi
đừng đi tắm "pissin" (hồ bơi). Hỏi vì sao? Cô trả lời tỉnh queo: ‘Nước tắm dơ lắm. Tụi nó vừa tắm vừa đái ở trỏng !’
Năm ấy Cô chưa tới ba mươi tuổi.
Nhưng cái cảnh mấy anh lớp lớn đi học quân sự làm tôi nhớ hơn hết.
Mỗi tuần hình như học một ngày. Các anh măc đồ nhà binh màu xanh cứt ngựa,
đầu đi nón ca lô vàng lệch một bên trông thật vui mắt mà cả oai phong nữa. Chuyện nhà binh mà coi như chuyện vui đùa,
giải trí.
Bốn năm chiếc xe GMC đón chở các anh đi. Mọi người leo lên xe, cười nói vang rân. Học trò nhỏ
chúng tôi đứng trên thềm vẫy tay nhìn theo mà lòng thèm muốn được như vậy.
Xe đi trong bụi mù. Chúng tôi lại hát: ‘Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi! Các anh đi! Biết bao giờ trở lại !
Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong !’
... Cái thời chinh chiến thập niên 50 nó lãng mạn thế ấy!
Những ngày tháng ngắn ngủi ở trường Võ Tánh
Ba năm ở Trung Học Võ Tánh đối với tôi sao mà quá ngắn ngủi. Thong thả được mấy tháng ở lớp Đệ Tam,
chúng tôi cùng nhau bù khú làm tờ Đặc San lấy cái tên cũng chọc cười thiên hạ : "Tam Bê Bối". Đặc san này
do thầy Trần Thế Phiệt chỉ đạo.
Sau khi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp với điểm số cao, tôi được ba tôi là trường Võ Tánh chọn thẳng vào,
khỏi qua kỳ thi ‘còng cua’, ‘còng ghẹ’ nào hết.
Ngày đầu tiên tôi được đứng trên lầu, lớp Đệ Tam B4 của tôi nằm gần cuối dãy,
nhìn xuống dưới sân trường, rồi nhìn ra con đường Bá Đa Lộc rợp bóng mát của những cây muồng tây,
tôi thấy mình bỗng nhiên lớn hẵn. Tôi bỗng thấy mình có một cảm giác tự hào, một niềm kiêu hãnh đang từ từ lớn
dần trong trái tim. Lòng tôi rộn ràng sung sướng. Cảm giác ấy cứ lâng lâng chất ngất trong tôi.
Quả thật! Trường Trung Học Võ Tánh là nơi mà bao nhiêu học sinh khắp bốn phương trời của miền đất
Khánh Hòa mơ ước được đặt chân vào, được ngồi vào những chiếc ghế ngựa trong lớp học rộng rãi thoáng mát
và cả một tương lai huy hoàng đang mở ra trước mặt.
Học sinh được chọn vào Võ Tánh đều là ưu tú. Bởi đó là những hạt gạo trên sàng.
Ở Nha Trang còn có nhiều trường Tư Thục và Bán Công khác như Văn Hóa của tôi, Kim Yến của chị, Bồ Đề của anh,
Lê Quí Đôn của em, Bá Ninh của Nhà Dòng... Nhưng đối thủ cuả Võ Tánh e chừng chỉ có Bá Ninh là dám sánh vai.
Bởi thế, khi ba tôi đem tôi về đây, tôi không hãnh diện sao được?
Trong lớp Đệ Tam B4 của tôi có ba bạn gái. Con gái mà theo ban B là chì lắm nghe!
Ban toán đó! Không phải tơ lơ mơ đâu. Hầu hết mấy cô đều theo ban A hoặc C.
Bây giờ tôi chỉ còn nhớ tên có hai người. Đó là chị Tảo và chị Nguyệt. Còn một người nữa tôi cố nặn cái trí
nhớ già nua của tôi cả buổi vẫn không sao nhớ được. Các chị lúc bấy giờ đều suýt soát tuổi chúng tôi cả.
Nhưng chúng tôi đều "kính lão đắc thọ". Xem các chị như đồ cúng .
Giờ ra chơi, chúng tôi ùa nhau xuống mấy lớp Tam C, Tam A ngóng mỏ ngắm nghía những mái tóc huyền óng ã,
những tấm lưng thon, những bóng trắng dịu dàng áo mỏng đi trong nắng. Rồi hết.
Chẳng anh nào dám thốt một lời. Khi có cô nào bạo dạn, quắc mắt nhìn lại, thì các anh cứ lúng ta lúng túng như gà mắc tóc.
Cái tuổi trẻ chúng tôi thời cuối thập niên 50 là vậy.
Lớp tôi sĩ số hình như 40 thì phải . ... mà 40 hay 50 thì có gì phải cố nhớ cho chính xác khi mà mình chỉ nhắc
cho nhau vài kỹ niệm thuở học trò để mà vui, để mà ngậm ngùi, nuối tiếc tuổi hoa niên.
Ngày vui chóng qua. Tuổi xuân chóng qua.
Các bạn tôi bây giờ kẻ mất người còn được mấy ai? Kẻ hải giác, người thiên nhai. Trong cảnh đá nát vàng phai,
bốn phương trời lận đận, làm sao mà tính sổ cuộc đời cho đầy đủ?
Bây giờ, một nơi rất xa cố quốc, tôi chỉ còn liên lạc được một vài bạn cũ như Trần Văn Thung ở Texas,
Trần Văn Ký ở Seatle, Từ Hòa Ái ở Úc Đại Lợi, Đỗ Công Thành ở California...
Mỗi khi gọi dây nói cho nhau chúng tôi cũng không có nhiều thời gian để mà cà kê dê ngỗng về một
thời xa lắc xa lơ. Chúng tôi đang phải chạy theo cái tất bật của xã hội Tây Phương để hòa nhập vào đời sống mới
cho thích nghi.
Làm thân con tắc kè là phải như thế mà thôi.
Vài kỷ niệm bạn bè còn lại mong manh
Đôi khi nhàn tản nhằm lúc thời tiết giao mùa, từ đông sang xuân hay từ hạ sang thu, cảnh vật cũng làm xao
xuyến lòng người tha hương cố quốc. Ngồi trầm ngâm bên ly trà nóng mà hồi tưởng lại đôi điều trong dĩ vãng.
Từ chuyện nọ, xọ sang chuyện kia, lan man, liên miên theo dòng thời gian chảy ngược mà nhớ, mà thương.
Nhớ từ cây bàng rụng lá cho đến cây phượng nở hoa, cho đến những cây muồng tây tàn lá um tùm cũng nhớ...
Thương những vị thầy khả kính từ thầy Lê Nguyên Diệm có dáng người khắc khổ cho đến thầy Bửu Cân hoài cổ với
cái áo dài đen, cây gậy cầm tay và cái mũ lọ nồi bốn mùa xuân hạ thu đông không rời, thương cho chí thầy
Võ Thành Điềm lúc nào cũng đùa vui với học sinh... cho đến lúc sực tỉnh cơn mơ thì ly trà đã nguội ngắt tự bao giờ.
Thương thầy, nhớ bạn là những điều ấm lòng cho những kẻ tha hương mỗi khi hồi tưởng lại những ngôi
trường xưa. Nơi đã từng một thời dùi mài kinh sử.
Những bạn bè thân quen còn sót lại trong bộ nhớ cùn mằn của tôi thật mù mờ. Tôi nhớ tới anh chàng
Ngô Liếp, hăng hái, lăng xăng tình nguyện lên giúp thầy Chọng (Trọng) trong giờ thực hành Vật Lý, quay cái bình cầu
không đều tay, làm cho viên bi trong bình mất hướng ly tâm văng bậy làm bình cầu vỡ tan, mãnh thủy tinh
tung toé vô mặt khiến máu chảy đầy mặt đỏ lòm. Làm cho thầy Chong một phen hãi vía. Tôi nhớ đến anh bạn
Trần Văn Thung giỏi toán, mái tóc lúc nào cũng hớt ‘ca-rê’ nên bạn bè đặt cho cái hỗn danh là Thung Trọc.
Anh Trần Văn Ký có hoa tay vẽ rất khéo, vẽ cho ‘Đặc San Tam Bê Bối’ cái hình bìa gọi là Nguyệt Cầm,
dáng một nàng con gái nửa kín, nửa hở đứng dưới ánh trăng. Anh bạn Từ Hòa Ái có dáng điệu mãnh mai
trắng như con gái, tính tình hiền lành. Bây giờ thì nghe nói anh ta ‘rất làm biếng’ về chuyện thư từ và ‘I Meo, I Mốc’ lắm.
Còn một anh bạn nữa tên là Hoài, không nhớ họ, mà tôi mượn tên hai anh để làm cái nhan đề cho bài hồi ký này.
Anh Hoài lúc ấy hình như cũng đã đạo mạo lắm. Anh không lắc xắc phá phách, nghịch ngợm như lũ quỉ chúng tôi đâu.
Chúng tôi hồi ấy ngoài chuyện học hành cẩn thận ra, còn tập tò làm báo, viết văn, làm thơ con cóc chọc phá thiên hạ...
Còn nhớ, anh Thung viết một bài văn vui tên là ‘Lấy đạo hàm’. Lấy đạo hàm ở đây là thò tay vào phía dưới
đủng quần mà giựt mấy mấy sợi cỏ gà mới mọc le the, chớ không phải lấy đạo hàm của phương trình bậc hai, bậc ba.
Anh Ký thì viết một bài tả người con gái mỹ miều theo toán học với những đường cong, nét lượn thân thể
theo hình Parabole và Hyperbole...
Còn tôi thì làm Sớ Táo Quân chấm phá đôi vẻ hài hước của từng nét đặc trưng anh em trong lớp...
Còn nhiều cây bút tài năng khác nữa ở trong truyện ngắn, trong thơ, trong sưu tầm đây đó...
bây giờ thì tôi xin chịu, không nhớ hết.
Lên năm Đệ Nhị B4 chúng tôi làm thêm tờ Hoài Vọng, gói ghém nhiều mơ ước tuổi trẻ bên trong .
Bài vở tuy hãy còn ngô nghê, non nớt về văn chương, chữ nghĩa, nhưng anh nào cũng khoái chí tử
khi cầm trên tay đứa con của mình còn nóng hổi mùi mực mới in xong.
Năm Đệ Nhất thì đổi tên là Nhất B3. Trường chỉ có ba lớp đệ nhất.
Chúng tôi lo thi cử năm cuối nên không có thì giờ làm báo nữa. Nhưng lòng yêu văn nghệ vẫn cứ thòm thèm và tiếc mãi.
Vậy mà vui.
Thương nhớ về các Thầy cũ
Thương nhớ về các thầy, học sinh nào mà không nhớ đến thầy Bửu Cân. Thầy là bậc thầy của các
thầy khác trong truờng. Ai ai cũng đều kính trọng thầy. Mặc dầu thầy thường tự diễu mình một cách rất tỉnh.
Thầy diễu mà không cười. Thầy có cách nói tỉnh như người Ăng Lê như ta thường nói. Một hôm thầy hỏi học sinh :
- Tụi mày có biết ‘tau’ tên chi không?
- Thưa thầy là Bửu Cân ạ! Học trò lao nhao thi nhau trả lời.
- Tầm bậy! Trật lất! Hồi nhỏ ‘tau’ ở dơ nên cha mẹ ‘tau’ đặt tên ‘tau’ là Bẩn Cu.
Lần khác, thầy khuyên con gái không nên đi xe đạp. Có đứa hỏi :
- Thưa thầy! Tại sao con gái lại không nên đi xe đạp ạ ?
- Tụi nó đi xe đạp thì bị cảm động !
- Thưa thầy! Tại sao đi xe đạp mà bị cảm động ?
- Thằng nầy mầy ngu quá! Không biết cảm động là gì thì về nhà giở từ điển Việt Pháp-Pháp Việt ra coi thì biết!
Hôm sau vào giờ học gặp thầy, đám con gái đều đỏ mặt, cúi gằm không dám ngẫng lên. Bọn con trai thì
cười lên như giặc. Thầy Cân thì cứ tỉnh như không. Hóa ra, về nhà anh chị nào cũng tò mò tra từ điển chử cảm đng.
Tiếng Pháp nó là émue. Phát âm nó lên nghe như hơi hám của bà Hồ Xuân Hương.
Nhưng tôi nhớ cho mãi đến tận giờ này cái câu pháp văn duy nhất thầy dạy cho chúng tôi suốt một năm trường.
Cũng vẫn câu đó. Nó bao gồm cả ngữ vựng, văn phạm, phân tích và chia động từ. Đó là câu :
L'enfant ne va pas à l'école pour apprendre mais apprendre à apprendre !
(Trẻ con không phải đến trường để học
mà là để học cách học)
Cái hồi ấy nào có hiểu hết cái nghĩa thâm thúy của nó là ‘học cách học’ là thế nào!
Bây giờ hơn bốn mươi năm qua, bao nổi thăng trầm, bao lớp bụi thời gian lắng đọng,
mới hiểu được thế nào là học cách học !
Còn nhiều, rất nhiều kỹ niệm khác nữa với thầy Bửu Cân như chuyện Thầy bắt quả tang học trò ‘quay cóp’.
Những câu Thầy mắng ‘Nhà không có lư hương’ hoặc ‘xấu hổ cha mẹ lắm con’, v.v... ai ai cũng đều còn nhớ, mọi người
một cách. Nhưng tuyệt nhiên không một trò nào có tâm ghét Thầy.
Ngày Thầy mất, học sinh đi tiễn đưa Thầy, xếp hàng dài hằng cây số . Học sinh Thầy lúc ấy có vị đã trên
năm mươi tuổi.
Tôi cũng không quên được Thầy Võ Thành Điềm. Thầy là một họa sĩ nổi tiếng ở Nha Trang một thời.
Ngoài chức năng giám thị ra Thầy còn dạy chúng tôi vẽ nữa. Thầy nói giọng Nam Kỳ :
- Hôm nay Thầy cho các con một cái ‘xúy giê’ (suijet) vẽ theo ‘pẹc-péc-tiu’ (perpective) và vẽ theo ‘o-ri-dông-tan’
(horizontal).
Mỗi lần Thầy vào lớp là không khí cứ vui nhộn. Thầy hiền lắm. Giống như Thầy Thanh, cũng giám thị.
Thầy Thanh là Thầy dạy tôi từ lớp Ba ở trường Nam Tiểu Học lận. Năm đó thầy xuống tận nhà tôi ở Xóm Cồn tặng
cho tôi cuốn sách Toán pháp lớp Ba vì nhà tôi nghèo quá không mua nỗi. Nghĩa cử này là một sự cố lớn trong đời tôi.
Tôi không bao giờ quên.
Tôi lại nhớ Thầy Bùi Ngoạn Lạc lúc nào cũng nghiêm nghị, ít cười, dạy toán chúng tôi năm Đệ Nhất.
Nhờ quyễn sách toán của Thầy mà chúng tôi tiến bộ mau lẹ trong chương trình học.
Nhắc đến toán thì Thầy Phương là gần gũi với chúng tôi hơn. Thầy trẻ, đẹp trai, cửi chiếc xe ‘Vélo Solex’
rất phong lưu với mái tóc chải phồng như tài tử ‘xi-nê’. Mỗi tuần chúng tôi tụ lại nhà Thầy để quay ‘rô-nê-ô’ các bài
Thầy soạn sẵn. Thầy rút gọn, một cách giản dị dễ hiểu các bài giảng dài dòng trong sách Pháp.
Khi máy bị trục trặc, không quay được, Thầy xăn tay áo hì hục sửa cả buổi trời.
Mồ hôi ròng ròng trên trán. Khi sửa được rồi, Thầy mừng như được trúng số. Thầy ôm chầm lấy Cô,
hun đánh chụt một cái để tự thưởng công. Bọn học trò nhỏ chúng tôi giả vờ quay mặt đi chỗ khác mà cười chúm chím.
Còn phải kể đến thầy Vũ Ngọc Ngoạn dạy lý hóa nữa. Thầy có cặp mông rất tròn. Khi Thầy hí hoáy viết bài giải
trên bảng đen, đôi mông Thầy cứ lắc lư theo nhịp viết. Mấy ông ôn con bên dưới cứ cười khúc khích kháo nhau:
- Thầy Ngoạn đít vịt !
Thầy có biệt tài là thuộc lòng tất cả các bài giảng, thuộc không sót một dấu phẩy. Thầy vừa dạy Tam B3,
sang giờ sau qua B4, cũng bài giảng đó, Thầy viết lại trên bảng y chang. Bọn ma lanh chúng tôi cứ mượn sẵn bài
của mấy người bạn bên B3 là ăn chắc.
Còn nhiều Thầy nữa như Thầy Cường dạy sử địa, Thầy Thứ biện lý Toà Án, dạy công dân giáo dục,
Thầy Minh dạy hình học, Thầy Huỳnh, Thầy Phiệt dạy Anh Văn ... mỗi Thầy đều có cái độc đáo của riêng mình
mà từ đó học trò ghi nhớ trong tâm khảm. Kể ra sao cho hết.
Nhưng cũng những năm đó, cuộc chiến ngày càng lan rộng,
chiến trường đang cần những người lính
đi chiến đấu bảo vệ quê hương,
lệnh động viên đã về đến cổng trường. Thầy trò xao xác .
Những buổi học cuối cùng buồn áo não.
Chúng tôi đã biết thế nào là :
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây!
Bóng dáng các Thầy ngày càng thưa dần.
Thầy Phương đã đi rồi. Chiếc ‘Vélo Solex’ và chiếc máy ‘ronéo’ nằm buồn hiu hắt chờ bám bụi.
Thầy Ngoạn cũng đi rồi. Thầy Minh, Thầy Huỳnh... cũng đã lên đường.
Nhiều Thầy các lớp khác cũng đã ra mặt trận.
Ngôi trường Võ Tánh xưa tưng bừng tiếng cười, tiếng nói Thầy trò, giờ đây vắng lặng.
Đâu đâu cũng im ắng cái không khí lạnh ngắt đến chảy nước mắt.
Tất cả đều xếp bút nghiên theo việc chiến chinh. Thầy ra đi để học trò ở lại như bầy gà con mất mẹ.
Các Thầy ra đi vi vã cho kịp lệnh ‘Chín tầng gươm báu trao tay’ mà không kịp chờ cho mùa phượng nở tiễn đưa.
Hình ảnh buổi học việt văn cuối cùng với Thầy Bùi Luận không thể phai mờ trong tôi dù đã hơn bốn mươi năm qua.
Thầy Bùi Luận ngồi trên bục, yên lặng ngó xuống đám chúng tôi, Thầy thở dài, rồi ngó mông lung qua cửa sổ.
Mọi ngày Thầy rất vui tính. Dáng Thầy mập mạp, đôn hậu. Giọng giảng bài của Thầy trầm ấm.
Hôm nay, Thầy không bắt chúng tôi chép bài. Thầy nói:
- ‘Ngày mai Thầy đã lên đường nhập ngũ. Thầy sẽ nhớ các con. Để ghi nhớ ngày hôm nay
Thầy ra cho các con vế đối. Trò nào đối được Thầy sẽ nhớ trò đó suốt đời.’
Chúng tôi cũng buồn bả theo Thầy :
- ‘Thưa Thầy cứ ra vế đối!’
- ‘Thầy sẽ lấy tên hai em Ái và Hoài ngồi đầu bàn mà ra vế đối như sau: ‘Ra đi thương Ái, nhớ Hoài!’
Suốt cả một tiết học chúng tôi chụm nhau lại cố tìm cách để đối lại cho Thầy vui. Nhưng vế ra khó quá.
Nó vừa nôm, vừa hán, lại vừa danh từ riêng. So với câu đối ‘Da trắng vỗ bì bạch’ của bà Đoàn Thị Điễm thì không thua gì.
Chúng tôi không tài nào đối được.
Tiết học qua đi. Thầy Luận không được câu đối để gói vào hành trang lên đường.
Chúng tôi nói lí nhí mấy lời tiễn biệt Thầy. Lời nói không thốt ra thành tiếng. Chỉ có nước mắt chảy xuống hai hàng.
Câu đối đó nó ám ảnh tôi suốt một quãng đường dài hơn bốn mươi năm.
Tôi không giỏi môn văn nên bất tài về chuyện chữ nghĩa. Nhưng sao lời của Thầy Luận cứ mãi văng vẵng bên tai.
Cũng có lúc, tôi sưu tầm nhiều câu đối tương tự để cóp y, nhặt lời chắp lại mà làm cho ra câu đối. Nhưng vẫn bất lực.
Trong giai thoại làng nho cũng xãy ra nhiều câu chuyện về các câu đối hóc búa.
Chẳng hạn câu đối của ông thợ mộc ra cho ông thầy đồ hay chữ :
‘Mộc mã vô đầu, tam chích cước.’
Ông thầy đồ đối lại không được, tức sinh bệnh mà chết.
Hồn oan cứ đêm đêm hiện về đình làng đọc mãi vế ra trên. Sau có người học trò đi thi, đi ngang đình ngủ nhờ một đêm,
nghe tiếng oan hồn ông đồ than vãn bèn ứng khẩu đối dùm :
Mộc mã vô đầu tam chích cước.
Lý ngư độc nhãn, bán biên thân .
Từ đó oan hồn mới tan đi.
(Dịch nghĩa: Ngựa gỗ, không đầu, ba chân còn thiếu. Cá lý, một mắt, chỉ có nửa bên mình). Ông thợ mộc lấy
con ngựa gỗ làm nghề của mình ra câu đối. Anh học trò đã lấy hình con cá đất đắp trên vách đình đối lại .
Hay như câu:
Hai cha con thầy thuốc về quê.
Gánh một gánh hồi hương, phụ tử.
Đến nay cũng chưa có câu nào đối lại cho chỉnh.
Giờ này các vị thầy khả kính trên chắc hẵn một số đã ra người thiên cổ. Một số nếu còn có lẽ đã ở
tuổi tám mươi hơn.
Sau khi các Thầy lên đường cứu nước, chúng con lại hàng hàng lớp, nối bước đi theo.
Không phải chúng con muốn ‘tang bồng hổ thỉ nam nhi trái’ như cái thời của Nguyễn Công Trứ ‘da ngựa bọc thây’
để được công danh với đời. Mà là cả Thầy lẫn trò chúng ta đã phải đem thân nơi chốn lửa đạn để ngăn loài quỉ đỏ
đang theo lệnh ngoại bang xâm lấn biên cương.
Nhưng hỡi ôi! Vận nước đã đến lúc suy tàn! Lực bất tòng tâm. Chúng ta đã làm hết sức mình để bảo vệ mà nước
vẫn mất, nhà vẫn tan.
Cảnh quốc phá gia vong đã làm chúng ta tan tác mỗi kẻ một nơi.
Nếu đất nước không xãy ra cảnh bể dâu, thì đâu đến nỗii Thầy trò chia lìa, không có dịp gặp nhau.
Cái lẽ ‘tôn sư trọng đạo’ sau bảy lăm hiếm như kỳ nam trên rừng.
Để bây giờ nhìn thấy một nền giáo dục lạ đời mà cụ Tú Xương nếu sống dậy ắc phải kêu lên :
Cái học ngày nay hỏng ‘bé’t rồi !
Mười ‘thằng hư hết chín thằng’ thôi!
Học toàn ‘ăn cắp, toàn tham nhũng’!
Đạo đức ngàn năm ‘lót đít ngồi...
Ba mươi năm qua, bao nhiêu là hưng phế, những người con đất nước lưu lạc bốn phương trời, mỗi khi nhìn
về cố hương mà chạnh lòng nhớ đến tâm sự bà Huyện Thanh Quan, buột miệng kêu lên những tiếng ‘quốc quốc’ để
rồi buồn rầu ‘mỏi miệng cái gia gia’.
Ở đây, xứ lạ quê người, dẫu ở nhà cao cửa rộng, lên xe xuống ngựa chăng nữa cũng chỉ là ‘một mãnh tình riêng ta
với ta’.
Các bạn ơi ! Khi đọc bài này, ai là người trong trường văn, trận bút,
có tài ứng khẩu thành chương, xin hãy giúp tôi làm một câu đối để tôi trả món nợ ‘sư đồ’ cho Thầy mà
tôi đã mang nặng gần nửa thê" kỷ nay.
Tôi sẽ muôn vàn cảm tạ.
Cũng hy vọng rằng Thầy Bùi Luận vẫn còn sống ở đâu đó trên quả địa cầu này, tình cờ đọc được vế đối Thầy
đã ra năm xưa, chắc Thầy cũng sẽ vui vẻ mĩm cười mà nghĩ rằng ở một nơi xa xôi nào đó vẫn còn có một chú học trò nhỏ
nhớ đến mình.
Và Thầy cũng sẽ nhẹ lòng với nỗi ‘thương Ái, nhớ Hoài’ của buổi ra đi.
Viết kỷ niệm ngày 50 năm
cựu học sinh Nha Trang họp mặt. (1954-2004)
Nguyễn Thanh Ty.
tythanh2001@yahoo.com
click : để đọc bài viết về Trịnh công Sơn của Nguyễn Thanh Ty
|