
...GIÃ SẮN ĐÊM TRĂNG ...
Nguyễn Thanh Ty
X
in thưa ngay rằng : “ sắn” ở đây hoàn toàn không dính dáng gì đến một loại củ mà người Bắc
gọi là củ đậu, người Trung và Nam gọi là củ sắn nước, dùng để ăn mát miệng trong những ngày
hè nóng nực, oi bức. Vào thời tiết khô hanh, đang khát khô cả người, cả họng, mà được cắn một miếng
sắn trắng nõn, mọng nước, nhai dòn dòn trong miệng, mát rượi cả lưỡi lẫn lợi, quả thật là khoan khoái.
Nếu ai thích ăn cay thì chấm thêm một chút muối ớt đỏ au trong cái chén để bên cạnh, thật không có gì thú vị cho bằng.
Củ sắn nước còn được dùng xào với thịt ba chỉ, thêm vài cọng hành xanh cũng là một món ăn ngon của bửa cơm
nhà nghèo. Sắn nước xắc thành sợi như chiếc đũa nấu với “mức” ( rong biển màu đen),
thêm một ít tôm tươi giã dập dập, là một món canh giải nhiệt tuyệt hảo. Sắn nước xắc lát,
kho chung với cá hoặc thịt heo để dành ăn nhiều ngày trong tuần, cũng tiết kiệm được một số tiền không ít,
nhưng không kém phần khoái khẩu. Dù cơm hẩm mà ăn với sắn kho của những gia đình thanh bần miền Trung
cũng đậm đà hương vị như :
- Dưa leo chấm với cá kèo - của người miền Nam vậy !
Sắn nước còn được chế biến thành nhiều món ăn nữa ... nhưng đây không phải là bài học gia chánh,
nên tạm ngưng để khỏi lạc đường vào ... tình sử bếp núc của quí bà, quí cô.
Nghe nói, ngày xưa Thẩm Thúy Hằng có làn da mặt mịn màng, tươi mát cũng là nhờ ăn sắn nước.
Trong tủ lạnh của cô toàn là sắn nước.
“Sắn” ở đây cũng không bà con, họ hàng, dây mơ, rễ má gì với củ sắn theo tên gọi của người Bắc
mà người Nam, người Trung gọi là củ mì, được dùng để tọng cho đầy bụng, cứu đói trong những năm
gọi là thống nhất đất nước, độc lập tự do, no cơm ấm áo.
Nhất là năm Củ Mì, tức Kỷ Mùi, 1979, và nhiều năm sau đó.
Mấy nhà “kách mạng” Bình Định và Phú Yên lấy làm tâm đắc với hai câu vè về món đặc sản của cái nôi
ba đời “ đánh thắng đế quốc” của mình :
- Làm ăn no đủ nhờ củ với khoai !
- Làm ăn rai rai cũng nhờ khoai với củ !
Hồi còn cải tạo, thường được nghe mấy “ ông và bà” cán bộ giảng dậy cho biết cách đánh Mỹ Ngụy,
trường kỳ kháng chiến, mà bộ đội ta vẫn ăn no là nhờ sắn. Toàn là sắn. Sắn là loại rất dễ trồng,
không kén chọn đất. Chỉ cần cái hom sắn dài hai gang tay,vùi xuống đất hai phần ba, bỏ đó.
Sáu tháng sau là có củ ăn. Toán bộ đội “ xẻ dọc Trường Sơn cứu nước” đi trước, đào lấy củ ăn.
Chặt hom vùi xuống. Đám bộ đội “ Sinh Bắc Tử Nam” đi sau, đến nơi, lại đào lấy củ, chặt hom bỏ xuống.
Cứ thế, hết đời cha, đến đời con rồi đời cháu, bộ đội “ Cụ Hồ” tiếp nối nhau, phơi thây suốt dãy
Trường Sơn ma thiêng, nước độc, để chiếm cho được “ Miền Nam cây vú sữa trong trái tim Người ” đều nhờ sắn ...
( Vậy mà cái bọn Thông tin Tâm lý chiến Mỹ Diệm năm 60-63 dám bố láo vẽ hình châm biếm,
bảy “cán-bộ-nón-cối-dép-râu-xắc-cốt” cùng nhau đeo một cọng đu đủ, không gãy. Thiệt là “ phản động” hết chổ nói.)
“ Sắn ” tôi sắp kể ra đây là loại cây hoang, mọc ở hải đảo. Nó là loại thân mộc, thuộc nhóm lá đơn.
Cây cao, to. Có cây cao hằng chục thước. Cành lá um tùm. Lá nhỏ chừng hai ngón tay, gân nổi
trên mặt, dày, cứng. Đầu lá nhọn. Lá và vỏ thân sắn giã nát, ngâm vào nước, dang nắng, sẽ tiết ra
màu nâu đậm. Dân làng tôi dùng nước này để nhuộm lưới.
Làng tôi chuyên sống về nghề chài, lưới. Bắt cá ven sông, ven biển, người ta quăng chài hay dùng
lưới bén, lưới một, lưới hai để giăng. Hai loại này chỉ bắt được cá nhỏ và có tính cách cò con,
gia đình. Làm ăn to lớn hơn thì phải có ghe nghề ra khơi để đánh bắt cá lớn hơn, nhiều hơn như thu,
chù, ngừ, chuồn, cơm, nục ... Ghe nghề còn gọi là mành. Mành phải có đủ một cặp : mành tới,
mành lui và xuồng rổi. Mỗi mành ít nhất là từ ba đến năm “ bạn”, tức thủy thủ. Lưới giăng dài hàng
cây số. Khi “ trúng” biển, cá được xuồng rổi do bốn tay chèo lực luỡng, chèo hết tốc lực, mang
về bến cho “ nậu” ( chủ mành) bán buổi sáng. Đó là “giác” một, kéo lưới lúc hừng sáng. Giác hai,
kéo vào khoảng mười giờ. Gió nồm nổi lên, mành dong buồm về đến bến khoảng từ một đến ba giờ chiều.
Lái phụ ( thuyền trưởng) và nậu lo đếm cá cho rổi, nếu cá lớn. Cứ một trăm con, gọi là một “ lằm”.
Mười “ lằm” là một “thiên”.
Cá nhỏ như cá nục, cá cơm ... thì đong bằng “ kiệu”. Kiệu là những rổ nhỏ, trẹt đáy. Mỗi kiệu ước chừng ba ký lô.
Trong lúc nậu bán cá thì “bạn” giặt lưới và rửa ghe mành.
Mua bán, giặt rửa, ồn áo, náo nhiệt chừng một tiếng đồng hồ thì xong. Rổi hối hả chở cá về khắp
chợ bằng xe ngựa nếu ở xa như miệt Phú Vinh,Võ Cạnh, Thành, Thanh Minh, Phú Lộc ...
Nếu ở gần như chợ Đầm, chợ Xóm Mới, chợ Phường Củi ... thì gánh chạy bộ.
Thập niên năm mươi chưa có xe ba gát, chỉ có xe kéo. Xe kéo đi mắc tiền. Rổi không bao giờ
dám chở cá bằng phương tiện này.
Bạn khiêng lưới lên bờ, ra bãi phơi trên những hàng nạng cắm sẵn thành hai hàng đối diện song song.
Mỗi nạng cách nhau chừng ba thước. Lưới khiêng tới đâu thì có hai người theo tới đó, gát sào lên nạng
để đỡ lưới. Công việc một ngày “đi biển” coi như xong.
Đám bạn tụ về nhà nậu chờ chia tiền và bắt đầu đi nhậu nhẹt hoặc đi ăn hàng vặt cho tới lúc mặt trời
sụp tối thì trở lại thu lưới, đem về mành.
Gió biển và nắng chiều làm cho lưới rất mau khô. Đó là lúc đám đàn ba,ụ con gái kéo nhau ra vá lưới.
Mỗi người ngồi cách nhau vài thước để vá những chổ lưới bị cá tung rách. Họ vá thoăn thoắt bằng cái
ghim tre trong có quấn đầy dây nhợ. Cái ghim có hình dáng giống mũi tên.
Cũng là lúc bọn con nít ùa nhau ra thả diều và những ông gia,ụ bà lão thong dong ngồi hóng gió biển
dưới bóng mát của những hiên nhà.
Thật là một bức tranh thanh bình, êm ả.
Ngày mùa làng tôi rộn rịp, hối hả, tất bật không thua gì ngày mùa ở thôn quê.
Nhưng cái tất bật, rộn ràng ở làng chài chỉ kéo dài vài ngày là dứt chứ không cù cưa, cú cứa như ở quê.
Đến muà gặt, cả làng kéo nhau đi gặt. Tiếp theo là đạp lúa, phơi lúa, giê lúa, vô bồ ... Tất cả công việc
đó kéo dài hằng tháng nếu thời tiết khô ráo. Nếu gặp mưa thì còn lâu hơn nữa và dĩ nhiên còn cực nhọc hơn nữa.
Ngày mùa làng tôi tựu chung chỉ có hai việc là: làm “chà” thả cá và giã sắn nhuộm lưới.
Trước khi kể cho quí bạn nghe về quang cảnh “ Giã sắn đêm trăng” như tựa đề câu chuyện, xin phép
lướt qua một chút về công việc làm chà thả cá.
... Độ đầu tháng sáu âm lịch, gió nồm hiu hiu từ đại dương thổi về, biển êm, sóng lặng, nước ấm.
Mặt biển phẳng như một tấm gương khổng lồ. Đó là thời điểm cá theo các dòng thủy lưu tìm nơi sinh sản.
Cá đi từng đàn đặc nước. Đủ loại cá. Loại lớn như cá cờ, cá đao ... một con, phải hai người khiêng mới xuể.
Cá nhỏ như cá cơm mồm, nhỏ như cây tăm xỉa răng. ( Ở Mỹ gọi là Silver Fish ) Nhiều nhất là cá cơm, cá đỏ.
Chỉ cần đánh một giác là khẳm mành. Hai thứ này bán cho người tiêu dùng không hết, phải bán cho nhà thùng
ở Bình Tân, Cửa Bé, Chụt ... làm nước mắm.
Nhưng mành không đón kịp con nước, đàn cá kéo nhau đi mất, thì coi như trớt quớt một mùa lưới ...
Nhờ kinh nghiệm từ đời ông cha để lại, dân làng tôi biết cách giữ đàn cá để đánh bắt nhiều ngày bằng
cách làm chà thả ra giữa biển để đàn cá có chổ tụ lại “ nghỉ chân”. Giống như mình lái xe đi xuyên bang,
cứ năm bảy chục dặm thì có một “Rest Area” để xả hơi vậy.
Chà làm bằng lá dưà nước. Trước đó một tháng, nậu cho mành nghỉ một ngày biển để đám bạn lên núi bứt
giây rừng, chuẩn bị làm chà. Giây rừng to bằng cườm tay trẻ con, dài chừng mươi lăm thước, được
khoanh thành từng khoanh, đem ngâm bùn dưới sông để giữ độ dai bền.
Đến ngày làm chà, người ta vớt lên, giây có mùi bùn thum thủm.
Sáng tinh sương, bạn chèo xuồng rổi ngược dòng sông Cái, lên những vùng có trồng dừa nước và tre để mua.
Thường thường mua ở Hộ, ở Cầu Dứa hay xa hơn, ở ven Lư Cấm. Có khi phải xa hơn nữa, ở tận Thành hay Phú Lộc.
Lá dừa nước chở về, được chẻ làm hai theo thân bẹ. Giây rừng, chắp thành ba sợi đi song song,
một đầu được đánh thành vòng tròn như hình khoanh rế, dùng để đặt tảng đá tròn vào đó làm neo dằn
khi thả ngoài biển khơi. Giây rừng được ba người, mỗi người một sợi, thay nhau tréo qua, tréo lại đánh chân rít.
Mỗi lần tréo giây, hai người khác đi hai bên, đút vào những bẹ dừa phần gốc vào trong, phần ngọn lá ra ngoài.
Giây rừng néo lá rất chặt không sút được. Lặp đi, lặp lại động tác này cho đến khi hoàn tất cái “ bím tóc lá dưà”
gọi là “chà”, dài độ năm mươi thước, tức từ trụ đèn này đến trụ đèn kia. Xong, họ cuộn tròn lại,
xúm nhau phải chừng sáu đến mười người, khiêng xuống mành, chờ hôm sau chở ra địa điểm sẽ thả.
Chà chìm lưng chừng nước nhờ tảng đá dằn dưới đáy và một lô ống tre cột bên trên làm phao. Đàn cá sẽ tụ
xung quanh chà để hóng mát và nghỉ chân. Người ta chỉ việc bủa lưới xung quanh chà để hốt trọn ổ.
Bọn trẻ con chúng tôi, thừa dịp người lớn tất bật làm chà, cũng hối hả, rộn ràng, ăn cắp lá dừa để làm đồ
chơi như thắt hộp đựng bánh xu xê, thắt hình con chim, làm nhẫn, đồng hồ, gương đeo mắt, chong chóng, làm con ve sầu ...
Các món đồ chơi khác làm hơi khó một chút, chớ làm con ve sầu vừa dễ òm lại vừa vui tai.
Các em nhỏ có thích làm không ?
Các em chỉ cần tước một nửa lá dừa, chọn khúc giữa, độ hai gang tay, cắt ra, gấp lại làm hai.
Lấy dây nhợ hoặc chỉ may, cột lại đầu vừa gấp. Cắt một khúc sóng dừa dài hơn gang rưỡi, bẻ cong,
đặt vào trong đoạn lá vưà xếp. Các em đã có con ve sầu hình cánh cung. Dĩ nhiên hình dáng nó không
giống con ve chút nào ! Nhưng khi các em nối con ve vưà làm xong với một cọng sóng dừa tước bỏ hết lá,
rồi quay tròn. Con ve sẽ phát ra tiếng kêu rè re,ụ rất giòn giả, rất vui tai. Quay càng nhanh âm thanh càng hấp dẫn.
Truyện này không chủ ý mô tả về chuyện làm chà thả cá nên chỉ lướt sơ về cách làm chà mà thôi. Bên
lề “cái chà”còn nhiều chuyện nhiêu khê, rắc rối khiến dân làng nhiều khi đi đến chổ đổ máu trên biển cả như :
giữ chà, đánh trộm chà, mướn thầy Hời yếm chà v.v...
Xin hẹn sẽ có dịp !
Trở lại với chuyện giã sắn đêm trăng. Có bạn sẽ mĩm cười : Giã sắn thì được rồi ! Còn bày đặt “đêm trăng”
cho văn vẻ, thơ mộng ! Ông này muốn làm nhà văn chắc ?
Nói như thế là oan ... Thị Mầu cho kẻ kể chuyện này lắm lắm !
Sự thực, những ngày trăng tròn là những ngày tình ái của loài vật. Từ rừng sâu núi thẳm đến tận đáy
đại dương, muôn loài đều tìm đến nhau để hưởng mùi vị ái tình và truyền giống cho loài người ... ăn thịt.
Các bạn có bao giờ ăn cua, ghẹ vào những ngày trăng tròn chưa ? Nếu để ý, các bạn sẽ thấy cua ghẹ rất xốp,
rất ít thịt và không có gạch. Bởi chúng đã đem hết sinh lực cho nhau rồi !
Nên mua cua ghẹ vào những ngày tối trời mới là kẻ sành ăn.
Cá cũng vậy. Những ngày trăng, cá lặn sâu dưới đáy để làm tình. Lưới không thả tận đáy được,
đành phải nghỉ ở nhà vài hôm chờ trăng lu dần, mành mới ra khơi trở lại.
Lợi dụng những ngày ở nhà, người ta đem lưới ra nhuộm.
Khoảng thập niên năm mươi chưa có lưới nylon nhập từ Nhật về. Lưới đan bằng nhợ.
Nhợ xe bằng chỉ bông. Nguyên thuỷ là màu trắng, sau nhuộm đen. Lưới thả xuống biển
vài tháng là phai màu dần, trắng bệt. Cá thấy lưới sẽ tránh, chạy chổ khác. Bắt buộc phải nhuộm lưới.
Vì vậy mới có chuyện “ Giã sắn đêm trăng”.
Thường thường mỗi mùa người ta nhuộm lưới hai lần. Tháng sáu và tháng tám.
Đó là những ngày he,ụ trăng sáng lắm.
Vào khoảng nửa tháng, từ mười ba, mười bốn đến rằm hay mười sáu lúc mà :
Trăng rằm, mười sáu trăng treo,
Anh đóng giường lèo, cưới vợ ... Nha Trang.
thì mành phơi lưới. “Bạn” lên núi ở các hòn như hòn Mun, hòn Đụn, hòn Chà Là, hòn Tre ... chặt sắn mang về,
làm màu để nhuộm.
Ít nhất phải chở hai chuyến cả cành lẫn lá sắn mới đủ cho một lần nhuộm.
Mới bốn năm giờ chiều, mặt trời còn cao cả sào mà mọi sự chuẩn bị đã rộn ràng, tấp nập.
Đám thanh niên kẻ ôm người vác, chuyển sắn từ ghe lên bờ, chất đống quanh thùng nhuộm.
Tốp phụ nữ rộn rịp kẽo kẹt gánh nước đổ vào thùng. Thùng nhuộm được làm bằng gỗ, đánh đai
bằng cật tre xung quanh. Cao hơn đầu người đứng. Đường kính rộng cỡ sãi rưỡi tay. Đáy nhỏ hơn
miệng thùng một chút.
Một cái cối bằng gỗ hình vuông, mỗi bề năm tất, cao tới đầu gối, chính giữa khoét ruột tròn,
được bốn chàng trai khiêng ra đặt cạnh thùng nhuộm.
Đám con nít lăng xăng, chạy vòng vòng, đùa giỡn chí choé, la hét ầm ĩ, đưổi rượt nhau với những cành sắn trên tay.
Trời sụp tối thì mọi việc đều đâu vào đó. Trai gái về nhà lo cơm nước. Bọn trẻ con tiếp tục chơi trò U Mọi,
Xí Cột, Giựt Cờ ... Đàng này một đám, đằng kia một đám, tiếng cười, tiếng hò reo ồn ả, vui nhộn liên miên
không dứt, cho đến khi có tiếng kêu ơi ới :
- Bớ Cu Tí, Cu Tèo mau “dìa ăn cuôm” rồi đi nghe “ nói thơ Lục Vân Tiên”!
thì các trò chơi mới chấm dứt.
Nói thơ Lục Vân Tiên ! Đây là một điệu hò hay dùng để giúp vui trong lúc giã sắn.
Làng tôi không nói “ đọc thơ” hay “ngâm thơ” mà là “nói thơ”.
Các truyện bằng thơ thì nhiều lắm. Như Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sanh – Lý Thông, Chàng Nhái
– Kiểng Tiên, Trần Minh khố chuối, Nàng Út rẫy dưa, Lục Vân Tiên ... Làng tôi hầu hết đều mù chữ
nhưng họ ưa văn thơ lắm. Bất cứ lúc nào rãnh rỗi là họ tụ nhau lại sai con, biểu cháu, đứa có đi học,
“ nói thơ” cho cả xóm cùng nghe. Đứa nào nói hay thì được thưởng chén chè rau cau hay nắm kẹo cau ...
Những lúc ngồi ở đuôi cồn chờ mành về, mấy bà vừa bắt chí cho nhau, vừa nghe “ nói thơ”.
Chổ này “nói thơ” Phạm Công Cúc Hoa, chổ kia “nói thơ” Trần Minh khố chuối ...
Ngày này qua tháng nọ,ỉ đến năm kia, riết ai cũng thuộc, cũng rành hết các truyện. Nhưng
đặc biệt chỉ có thơ Lục Vân Tiên được “nói” và “hò”trong lúc giã sắn là hay hơn cả.
Thơ Lục Vân Tiên chính đạo chỉ có một. Còn tà đạo có tới ba. Bọn thanh niên nghịch ngợm
và bọn con nít rắn mắt ưa “ nói thơ” tà đạo lắm. Thơ Lục Vân Tiên tà đạo, bậy bạ gồm :
- Lục Vân Tiên cõng mẹ ...
- Lục Vân Tiên đi mua thuốc phiện ...
- Lục Vân Tiên ngồi núp bụi môn ...
Cơm chiều vừa xong thì trời sụp tối. Mới khoảnh khắc chưa kịp uống xong bình trà,
mặt trăng đã ló lên khỏi mặt biển. Trăng lên mau lắm. Mới đầu chỉ thấy cái vành cung màu đỏ chút xíu,
quay đi quay lại đã thấy ló lên một nữa rồi. Bây giờ trăng lại đổi qua màu vàng, sáng rực rỡ. Đằng chân trời đổ
xuống mặt biển vô số vàng là vàng. Sóng nhẹ đưa vàng từ xa đến bờ. Trăng bây giờ đã hiện nguyên hình,
to bằng cái rổ rổi, tròn vành vạnh, sáng bạc, loang loáng trên mặt nước. Cả bầu trời xanh ngắt, không
một gợn mây, tỏa sáng trong cái ánh dịu dàng, trong trẻo, của ánh trăng. Những hòn, những núi, ở tít
xa ngoài kia vẫn trông thấy rõ.
Đó là lúc mọi người già trẻ, bé lớn trong xóm theo nhau ra bãi để coi giã sắn và nghe hò.
Trong lúc các bà, các cô chuẩn bị băm lá sắn, các chàng trai vót lại cái nạng cho nhọn để giã thì bọn
con nít lăng xăng phụ ôm lá sắn tới để gần chổ băm cho các bà. Mấy ông già phì phà điếu thuốc rê ở
đầu môi. Các bà lão thì nhàn nhã ngồi nhai trầu, xĩa thuốc .
Từ đầu xóm đến cuối xóm có tới ba, bốn đám giã sắn. Tiếng cười, tiếng nói râm ran chạy dài
trong tiếng sóng biển rì rào đều đặn.
Đám con nít đã bắt đầu ngứa miệng nói thơ:
Vân (mà) Tiên cõng mẹ trở ra,
Đụng phải cột nhà, cõng mẹ (cái) trở vô!
Vân (mà) Tiên cõng mẹ trở vô.
Đụng phải chày dồ (vồ), cõng mẹ (cái) trở ra!
Vân Tiên cứ cõng mẹ ra,vô, xà quần như vậy cho đến lúc đống lá sắn đã đầy xung quanh vói tay các bà.
Đằng đám bạn vót nạng cũng có tiếng nói thơ Vân Tiên đi mua thuốc phiện:
Vân (mà) Tiên cẳng thấp (cái mà) cẳng cao,
Đi mua (mà) thuốc phiện (í) mấy ngao cho đầy.
Vân (mà)Tiên mua thuốc cho Thầy,
Cẳng cao (cái mà) cẳng thấp (í) cho đầy (mà) mấy ngao !
Tiếng cười rộ lên xung quanh. Có tiếng đốc thúc :
- Nói thơ Vân Tiên ngồi núp bụi môn đi !
Lại có tiếng đám con gái phản đối :
- Bậy bạ! Không có nói nhen! Nói bậy bạ không hà!
Bọn trai nghe phản đối càng tỏ ra thích thú, lại càng muốn nói thơ để chọc ghẹo:
Vân (mà) Tiên ngồi núp (cái) bụi môn,
Chờ cho (cái mà) trăng lặn, bóp l ... Nguyệt Nga,
Nguyệt Nga (cái mà) vưà khóc (í) vừa la,
“Dìa” kêu bớ mẹ! Người ta bóp l ... !
Tiếng cười ré lên, tiếng la hét, tiếng phản đối, nổi lên rần rần. Một bầu không khí náo nhiệt, ồn ào, vui vẻ tràn lan khắp nơi.
Bỗng đâu có tiếng nói thơ từ xa đưa lại :
Vân (mà) Tiên,Vân Tiển (cái mà) Vân Tiền ,
Ai cho tui tiền (thì) tui nói (cái mà) Vân ... Tiên!
Mọi người đều xôn xao:
- A! Chú Qườn ra rồi kìa !
- Tui mét Chú Qườn anh nào nói thơ Lục Vân Tiên bậy bạ cho coi!
- Nè ! Chuẩn bị băm sắn nghe !
Phía ông bà già nãy giờ ngồi nghe bầy trẻ chòng ghẹo nhau, bây giờ cũng lên tiếng :
- Thằng chín Qườn nói thơ Lục Vân Tiên hay nhứt xứ !
- Thẳng thiệt giỏi ! Thẳng nhớ hết truyện Lục Vân Tiên từ đầu đến cuối, không sót một chử !
Chú chín Qườn là người duy nhứt ở xóm tôi ở “ miệt trỏng”, tức miệt đàng trong. Theo lời kể của chú,
chú ở đâu tận rừng U Minh xa tít mù khơi. Chổ đó có nhiều hùm beo rắn rít và chổ nào
cũng đầm đìa sông rạch. Ở đó không có núi và biển như ở đây. Người xóm tôi nghe chú kể
mà không ai hình dung ra được cái xứ sở của chú nó như thế nào. - Cái xứ gì mà nghe ghê quá!
Người mà ở chung với hùm beo.
Tôi bị ảnh hưởng lây ba cái truyện Tàu nên có lúc tưởng tượng ra quê chú ở gần Hỏa Diệm Sơn
lửa cháy phừng phừng ngút trời, cản đường không cho thầy trò Tam Tạng đi thỉnh kinh. Có lúc
lại thấy quê chú ở cạnh con sông Á Tuyền, ai uống phải nước sông đều bị câm.
Chú chín Qườn trạc năm mươi tuổi, người roi roi, nước da cũng ngăm ngăm như người xóm tôi.
Giọng nói của chú nghe nhão mà ngọt. Chú thường nói “ Chèng ơi ”. Anh Sáu, chị Bảy
chú gọi thành “ thằng Sáo, con Bải ”. Tôi cũng không biết chú lưu lạc từ cái nơi đầy những đầm lầy,
ao hồ, u u, minh minh đó đến xóm tôi hồi nào. Tôi chỉ biết chú không vợ con gì. Chú là “ bạn nghề”
giỏi và nói thơ hay nên mành nào cũng muốn mướn chú “đi” cho mình. Tính tình chú xuề xòa vui vẻ,
ai ai cũng mến. Đám con nít chúng tôi lại càng thích chú nhiều hơn.
Năm nào đến mùa giã sắn nhuộm lưới là ai ai cũng muốn nghe chú Qườn nói thơ, phụ thêm đám bạn hò đệm.
Hò đệm làng tôi là “ Hụ hò khoan”. Cứ dứt hai hay bốn câu là một lần hò đệm. Có lúc đệm ngắn. Có lúc đệm dài.
Khi chú chín Qườn ra tới nơi thì đám thanh niên trên tay mỗi người đã sẵn một cây nạng
( nạng này dùng để phơi lưới, trên đầu có nhánh chẻ hai để gát sào ). Có một cây sẵn cho chú nữa.
Chú Chín thấy bà con đang háo hức chờ mình nên vòng tay xá xá mấy cái để chào và hỏi:
- Lá sắn và nước đủ chưa ?
- Dạ đủ hết trọi chú chín. Chỉ chờ chú bắt đầu thôi.
Chú Chín gật đầu nói:
- Mình vừa giã vừa nói thơ. Còn mấy bà, mấy cô ráng băm lá cho kịp nhen !
Đám đàn bà, con gái băm lá sắn và những cành sắn nhỏ bằng rựa. Họ đặt cành, lá lên
những đòn kê cũng làm bằng thân sắn, to chừng bắp chân rồi băm vụn ra. Đám con nít
ngồi lột vỏ những khúc sắn lớn bằng cổ tay. Lột xong, quăng vỏ vào cho các bà băm.
Tiếng băm lá “bụp,bụp” liền tay nghe giòn giả như tiếng pháo chuột ngày tết.
Đống sắn vừa băm xong, được hốt cho vào cối, đổ thêm mấy gàu nước để làm nước bổi.
Mọi việc vừa xong, chú Chín hô to một tiếng:
- Dô nè !
Bốn chàng trai cầm lăm lăm bốn cây nạng đứng xung quanh cái cối chờ chú Chín.
Chú Chín bước tới, đâm cây nạng của mình vào giữa cối . Lập tức bốn cây nạng đâm
vào theo và tiếng hò nổi lên mạnh mẽ, vang động bầu không khí đang im lắng chờ đợi:
Hụ! Hò khoan! Là hụ hò khoan !
Hụ ! Hò khoan! Là hụ hò khoan !
Họ vừa hụ hò khoan vừa đi theo nhịp hò từng bước, vòng quanh cái cối. Tiếng nạng đâm vào cối
nghe sột soạt, đều đặn như tiếng nhịp cầm canh. Cứ hai tiếng một, giơ lên rồi đâm xuống.
Trước đèn (mà) xem truyện (cái) Tây Minh,
Gẫm cười (mà) hai chữ ... nhân tình (mà) éo le.
Tiếng chú chín Qườn trầm ấm, âm vang rất xa, bắt đầu cất lên sau khi đám thanh niên lực lưỡng hụ hò
khoan dẫn điệu. Chú vừa dứt hai câu mở đầu chuyện Lục Vân Tiên, đám trai hò phụ :
(Là) hụ hò khoan! ( Là) hụ hò khoan!
Hể tiếng chú Qườn cất cao giọng thì tiếng hò đệm trầm xuống, làm cho người nghe như bay bỗng.
Không khí sôi động hẵn lên.
Hởi ai! (í) lẳng lặng (cái) mà nghe!
Dữ răn (cái mà) việc trước, lánh dè việc sau.
(Là) hụ hò khoan! (Là)hụ hò khoan!
Trai (mà) trung hiếu (cái) làm đầu,
Gái thời (mà) tiết hạnh là câu (í) trau mình.
Tiếng thơ chú Qườn vưà chìm xuống thì tiếng hò đệm cất cao lên một cách đột ngột:
Hụ hò khoan ! (cái) Hụ hò khoan !
Hết khoan (rồi mà) tới hụ! Hết hụ. Rồi lại khoan !
Ơi khoan ! Ớ khoan ! Hò khoan!
Khoan tới ( cái mà) khoan lui.
Khoan anh ( cái mà) chưa vợ,
Khoan tui chưa chồng !
( Là) hụ hò khoan ! (Là)hụ hò khoan !
Tiếng hò, tiếng thơ đưa đẩy nhau, nhịp nhàng, lúc trầm, lúc bổng khiến người ngồi nghe ngơ ngẩn
quên cả vỗ tay khen thưởng. Mãi đến lúc tiếng “ hụ hò khoan” cuối cùng nhỏ dần và im hẳn, đám
khán thính giả đi xem miễn phí mới vỗ tay đôm đốp vưà khen, vừa xuýt xoa tấm tắc:
- Hay thiệt ! Thằng chín Qườn nói thơ hay thiệt !
- Mấy thằng nhỏ hò khoan cũng hay nữa!
- Ờ ! Bữa nay sao mà tụi nó hò ăn “ rơ” với nhau quá!
Mấy cô gái ngồi băm sắn bị khích động theo bởi tiếng hụ hò khoan đầy âm lực mạnh mẽ của các
chàng trai cũng tíu tít thúc dục :
- Chú Chín nói thơ hay quá ! Tiếp đi chú chín !
Tuy miệng nói “chú Chín” mà mắt mấy cô cứ liếc liếc mấy chàng trai lực lưỡng,
vai ngực đang bóng lưỡng mồ hôi.
Chú chín Qườn được bà con hoanh nghênh lại càng hứng khởi, giọng càng trầm bỗng, du dương :
Có người (mà) ở quận (cái) Đông Thành,
Tu nhân (cái mà) tích đức, sớm sanh con hiền.
(Hụ hò khoan! Là hụ hò khoan!)
Đặt tên (cái mà) là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa ( mà) hai tám, nghề chuyên học hành.
(Hụ hò khoan ! Là hụ hò khoan !)
Ơi khoan ! Ớ khoan ! Hò khoan !
Độ chừng mươi lần hò đến câu “ khoan anh chưa vợ, khoan tui chưa chồng” là xong một nhã sắn.
Đám trai dừng tay. Họ hốt hết đám lá sắn đã được giã nát nhừ cho vào thùng và thay thế mớ lá khác vào cối.
Đọan họ giải khát cổ họng đã khô, bằng một gáo nước lạnh. Một thùng nước lã đặt gần đó, có một
cái gáo dừa úp lên trên. Tiếng uống nước nghe ừng ực, ngon lành. Anh nào cảm thấy mệt thì
đã có anh khác ngồi chờ sẵn thay tay liền.
Tiếng hò lại tiếp tục. Tiếng nạng đâm vào cối đều đều. Văng vẵng đằng xa tiếng nói thơ của một đám khác
cũng đang văng vẳng vọng đến. Trăng càng lúc càng sáng. Gió càng lúc càng mát rười rượi từ mặt biển
đầy ánh bạc thổi lên nhè nhẹ. Đám trẻ con lúc đầu còn nhốn nháo, chạy tới, chạy lui lăng xăng, bây giờ
đều thiu thiu muốn ngủ nhưng hai mắt cố nhướng lên để ... nghe !
Đến lúc chú chín Qườn nói đến đoạn Lục Vân Tiên xuống núi, giữa đường đánh chết tên cướp
núi là Phong Lai, cứu người đẹp Kiều Nguyệt Nga . Kiều Nguyệt Nga trong kiệu toan bước ra
lạy tạ ơn thì Lục Vân Tiên lật đật xua tay : ( Qua lời chú Chín)
Khoan khoan ( mà ) ngồi đó chớ ra,
Nàng là (mà) phận gái, ta là phận (í) trai! ( Qua lời chú Chín)
Thiên hạ cười lên cái rần ! Có tiếng bình phẩm: ( Qua lời chú Chín)
- Người đâu mà khờ quá!
- Lúc này mà gặp tay Bảy Phết là xong rồi!
- Bậy nà ! Lục Vân Tiên và Nguyệt Nga là người tiên trên trời mắc đạ ( đọa) bị đày
xuống trần chịu phạt chớ đâu phải người thường mà làm chuyện bậy bạ.
Người dân quê hay dân chài đều giống nhau ở chổ tâm hồn họ rất mộc mạc và đôn hậu.
Những nhân vật chính, xuyên suốt qua các chuyện thơ, đều là những người tiên bị mắc
nạn phải đày xuống trần gian một khoảng thời gian nào đó. Hết hạn thì trở lại về trời.
Điển hình nhứt là chuyện Phạm Công Cúc Hoa và Chung Vô Diệm. Bất cứ chuyện nào
cũng bàng bạc một màu thần tiên, một không khí huyền thoại. Người ngay luôn được thần
thánh phò hộ, độ trì. Người ác, ban đầu lúc nào cũng hung hăng. Cuối cùng rồi cũng bị quả báo.
Bởi vậy khi đám thanh niên chê anh chàng Lục Vân Tiên quá khờ khi người đẹp ra tạ ơn đã bị mấy
ông bà già phản đối kịch liệt. Họ cho lời nói đùa đó là mạo phạm đến bực thần tiên.
Nhã sắn sau lại bắt đầu tiếp nối. Chú chín tiếp tục nói thơ, đám trai làng thay nhau vào giã, lại hò hăng hái.
Bọn nhóc con, một hồi thiu thiu, nghe tiếng cười rộ bỗng bừng tỉnh, cất tiếng hò theo nghe rôm rã.
Người ngồi nghe theo dõi chú Chín dẫn dắt nhân vật Lục vân Tiên từ khi giả từ cha mẹ lên núi tầm sư
học đạo, đến lúc xuống núi đi thi gặp Nguyệt Nga giữa đường bị cướp Phong Lai bắt, cứu nàng, rồi kết
bạn với Hớn Minh, Tử Trực, Bùi Kiệm, Trịnh Hâm. Đến đoạn chàng Vân Tiên trình thơ cha mình cho Võ Công,
bố vợ tương lai, sắp gã con gái là Võ Thể Loan cho chàng thì đám trai mới ồ lên “ hèn gì” anh chàng không dám
quờ quạng thêm nữa.( Thật ra khi gặp Nguyệt Nga, Vân Tiên chưa biết mình đã được cha mẹ ở nhà cùng gia
đình Võ Công ước hôn)
Khi chú chín Qườn nói đến đoạn Vân Tiên sắp đến kinh đô ứng thí thì được tin mẹ mất, khóc đến nổi mù mắt :
Vân Tiên (mà) vừa bước (cái) chân ra,
Bỗng đâu (mà) lại gặp ... tin nhà (cái) gửi thơ.
( Hụ hò khoan! Là hụ hò khoan!)
Khai phong ( mà) xem rõ (cái) sự cơ,
Mình gieo (cái mà) xuống đất (í) vật vờ hồn hoa!
( Hụ hò khoan! Là hụ hò khoan!)
Hai hàng (mà) nước mắt nhỏ sa:
Trời Nam (cái mà) đất Bắc, xót xa (cái) đoạn trường !
( Là hụ hò khoan! Là hụ hò khoan)
Ới khoan là khoan ! Ớ khoan ! Hò khoan !
Khoan tới (cái) mà khoan lui ! Khoan anh anh chưa vợ!
Khoan tui chưa chồng ! Là hụ hò khoan ! Hụ hò khoan!)
Đến đây đã nghe thấy tiếng mấy bà già xụt xịt than thở :
- Thiệt là tội nghiệp!
Đã bị mù mắt mà Vân Tiên còn bị bạn là Trịnh Hâm lập mưu xô xuống sông cho chết,
thác qua lời chú Chín càng nghe bi thảm, não nùng :
Đêm khuya (mà) lặng lẽ như tờ,
Ngỗn ngang (cái mà) sao mọc, mịt mờ (í)sương ... bay.
( Là hụ hò khoan! Là hụ hò khoan!)
Trịnh Hâm ( cái mà) thưà dịp ra tay:
Vân Tiên ( mà) bị ngã xô ngay (í)xuống vời.
( Là hụ hò khoan! Là hụ hò khoan)
Xô rồi (mà) giả tiếng (cái) kêu trời,
Cho người (cái mà) thức dậy lấy lời (í) phôi pha.
( Là hụ hò khoan! Là hụ hò khoan)
Trong thuyền(cái mà) ai nấy ngó ra,
Đều thương (cái mà) họ Lục, xót xa (í) trong lòng!
( Là hụ hò khoan! Là hụ hò khoan !
Ơi khoan! Ớ khoan! Hò khoan!
Khoan tới rồi lại khoan lui!
Khoan anh (cái mà)chưa vợ ! Khoan tôi (í) chưa chồng!
Là hụ hò kkoan! Là hụ hò khoan!)
Đám đàn bà con gái thiệt sự cảm động với cốt chuyện bởi lời nói thơ đầy diễn cảm của chú
chín Qườn và điệu hò của đám trai làng lúc mạnh mẽ như sóng vỗ, lúc nhẹ nhàng êm đềm như
gió nam non thổi lòn hang dế. Mãnh trăng lơ lững xế trên đỉnh đầu tỏa ánh vằng vặc làm cho đêm
sắp về khuya càng thêm huyền ảo mộng mơ, càng khiến cho tâm hồn người ta dể xúc cảm, bi luỵ với lời ca tiếng hát.
Trong lúc mọi người đang đắm chìm trong giọng nói thơ hấp dẫn trầm buồn của chú chín thì bỗng
có tiếng reo hớn hở của đám con nít:
- A! Có chè ! Có chè! Chè đang bưng ra kia kià!
Mọi người lập tức ngưng moị công việc bằm, giã, hò hát, mọi con mắt quay về phía người chủ mành
đang bưng ra một chảo chè trôi nước vừa mới nấu xong còn bốc hơi nghi ngút.
Theo thường lệ, nậu ( chủ mành) hay đãi ăn khuya cho mọi người đã có công trong buổi giã sắn.
Thông thường là chè ngọt. Lần này là chè trôi nước nếp, nấu với đường tán, ngọt gắt cổ, có pha
thêm mấy củ gừng giã nát, thơm phức.
Người đầu tiên là chú chín Qườn được bà nậu trịnh trọng kỉnh một tô chiết yêu có năm viên
con trôi nước, nhỏ bằng ngón tay cái và hai viên cái trôi nước, to bằng lòng bàn tay, trong có
nhưn đậu xanh. Trên mặt chè có rắc muối mè. Tiếp đến các trai hò phụ và đám phụ nữ bằm
sắn mỗi người một tô. Cũng tô chiết yêu bằng cỡ chú chín nhưng chỉ có một viên cái và năm viên con.
Đám con nít có công bưng lá và lột võ sắn, mỗi đứa một chén, chỉ có năm viên con. Chè còn nóng hổi,
vừa thổi, vừa húp. Giữa khuya đang thấm mệt vì công việc, bỗng có tô chè ngọt ăn vào miệng, tuy
chè nóng sao vẫn cảm thấy mát lòng, mát dạ.
Đám con nít ăn hết chén vẫn còn thòm thèm, bụ lại vét chão mà liếm.
Chão chè bằng đồng, miệng rộng ba gang tay, đầy tới mép, loáng cái đã sạch như lau.
Lúc này trăng đã đứng trên đỉnh đầu. Mấy người già đã ngã lưng ra đất thiu thiu ngủ. Đêm giã sắn tạm ngưng.
Đêm mai sẽ tiếp tục. Đàn bà con gái có người vô nhà, có người nằm ngủ luôn tại bãi. Đám con nít thì ngủ lăn,
ngủ lóc khắp nơi. Cảnh màn trời chiếu đất lúc này thật thơ mộng. Trời thì trong veo. Trăng sáng vời vợi.
Biển sáng lóa như ánh bạc. Cát trắng phau, ấm áp dưới lưng. Gió nồm hiu hiu thổi nhẹ từ biển vào mang
theo hơi nước nghe mùi mằn mặn, nồng nồng.
Chẳng mấy chốc tất cả đều ngủ say trong cái yên ả của đêm trăng. Chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ nhè nhẹ
vào bờ. Hình như sóng cũng không dám thở mạnh sợ làm thức giấc những đứa con của biển sau một đêm lao lực.
. . . Sắn giã hai đêm là đủ để nhuộm một giàn mành. Sau khi ngâm một ngày, dưới ắng nắng chói lọi ngày hè,
sắn tiết ra hết màu nâu, người ta vớt hết bã sắn ra và ngâm lưới vào thùng một ngày, đêm.
Hôm sau nữa, lưới được nhúng vào huyết heo hay bò còn tươi. Đem phơi khô lần nữa.
Cuối cùng giàn mành có màu nâu đậm y như mới.
Cũng là lúc trăng bắt đầu lu. Thuyền lại dong buồm ra khơi.
. . . Giữa thập niên sáu mươi đời sống miền Nam trở nên văn minh hơn, trù phú hơn.
Nhà nông bắt đầu có máy cày, máy suốt lúa, máy bơm nước tưới ruộng. Nhà biển cũng
bắt đầu lác đác có ghe máy chạy bằng dầu “ đi ơ gien” (diesel). Hầu hết các ghe mành đều
có lưới nylon nhập từ Nhật về. Cả những chiếc phao cũng bằng nylon.
Lưới bằng nhợ và phao bằng ống tre đã đi vào quên lãng.
Dân Bình Định một số đông sống về nghề đan lưới trở nên thất nghiệp. Người trên quê không
còn cơ hội bán lá dừa nước và tre để làm chà làm phao nữa.
Lưới nylon nhẹ, bền chắc và không bị bạc màu. Lại có thể giăng sâu hay cạn nhờ gia tăng thêm chì dằn.
. . . Chiều chiều đứng sau hè nhà nhìn ra bến sông, thấy những đoàn ghe được buộc vào nhau thành đoàn dài,
kéo bởi một ghe máy phía trước, lướt trên sóng giống như những toa xe lửa, lòng tôi bồi hồi cảm xúc.
Tôi vừa hân hoan vui mừng vừa luyến tiếc buồn rầu.
Vui vì dân làng tôi không còn phải khổ cực chèo thuyền bằng tay để ra khơi trong những ngày
lặng gió hoặc phải chống chọi gian khổ với sóng to, gió lớn, để kịp về bến an toàn trong những lần
bão tố bất chợt nổi cơn thịnh nộ.
Vui vì ghe mành từ nay có thể đánh bắt xa hơn, trúng hơn. Đời sống dân làng tôi khá hơn và đở cơ
cực tấm thân. Một đời trên nắng dưới nước.
Luyến tiếc vì những kỷ niệm buồn vui của một thời quá khứ đầy đấu tranh gian khổ để kiếm được chén cơm
chỉ bằng vào sức người và tấm lòng nhưng không thiếu phần mộng mơ, lãng mạn đã vĩnh viễn bị
đào thải bởi văn minh cơ khí. Tôi sẽ không bao giờ được thấy lại những cánh buồm trắng làm bằng
đệm lác, căng gió trên biển xanh ,chiếc nọ nối đuôi chiếc kia lũ lượt vun vút về bến.
Tôi sẽ không bao giờ có lại cơ hội đi nhặt những viên đá “ cặc bia” ( carbure) nhỏ xíu còn sót lại
của những chiếc đèn gió đá, mỗi buổi sáng ghe câu thải ra, để tẩn mẩn đào đất chôn rồi tưới nước lên,
xoi một lổ nhỏ, đốt cháy lên, làm ngọn đèn thần. Bây giờ người ta xài đèn “ măng xông” ( manchon)
đốt bằng dầu lửa để nhử cá.
Tôi cũng không bao giờ thấy lại cảnh tưng bừng rộn rịp làm chà trong những ngày hè và những
hình ảnh êm đềm, thơ mộng của những đêm trăng hò khoan giã sắn nưã.
Trẻ con xóm tôi đã không còn những cọc nạng phơi lưới để chơi trò Xí Cột nữa. Bây giờ
chúng chỉ chơi trò U Mọi, Giựt cờ và Bịt mắt bắt dê.
Xã hội ngày càng vươn lên hơn, tiến bộ hơn, giải phóng con người bớt lầm than cơ cực .
Đã xa rồi một thời tối tăm, đói nghèo và lạc hậu.
Sao lòng tôi vẫn giữ hoài một dĩ vãng thương nhớ khôn nguôi!
Nguyễn Thanh Ty
Mùa Halloween 2003
|