free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ Và Truyện


Nguyễn Thanh Ty
- Trung Học Đệ Nhất Cấp :
Văn Hóa Tương Lai;55-59
- Trung Học Đệ Nhị Cấp :
Võ Tánh ;59-62
hiện ở Hoa Kỳ
- E-mail :
tythanh2001@yahoo.com



Lao động là vinh quang !!!
Nguyễn thanh Ty

Bây giờ mà nói tới hai chữ lao động, nhất là khẩu hiệu “lao động là vinh quang” thì e rằng thiên hạ sẽ cười ầm lên, cười có thể rụng mười cái răng là ít. Bởi nó là câu diễu “thọt cù lét” nhột nhất trong các câu diễu của vở hài kịch nhiều màn và nhiều hồi có tựa đề là “ Thiên đàng Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Bây giờ thì nó xưa quá rồi. Nó xưa và lỗi thời như cái chủ nghĩa vô địch Mác-Lê-nin bách chiến bách thắng vậy.
Bây giờ Nhà nước ta đang chạy nước rút theo cho kịp cái gọi là “kinh tế thị trường” của bọn đế quốc tư bản bóc lột.
Nhưng ta là nước có chủ quyền nên không thèm sao chép nguyên con của tụi “phản động” đó.

Ta vận dụng tư tưởng của Bác Hồ vĩ đại để thêm cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vô cho nó gọi là mới mẻ, sáng tạo. Do đó, khi đọc lên câu khẩu hiệu dài thòng “ hội nhập kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” muốn hụt hơi, ta liên tưởng tới cái đuôi con lang, con chồn vừa chạy, vừa quét lê thê dưới đất.

Sau mấy năm định hướng, hình ảnh “kinh tế thị trường” được minh họa bằng nhiều bức tranh vân cẩu, coi rất đẹp. Mấy cái hình Năm Cam, Sáu Quít, Lã thị Kim Oanh, Lã thị Kim Yến… cấu kết với nhau từ Trung Ương đến địa phương để moi gan, móc ruột tiền của nhân dân đóng góp, hằng chục, hằng trăm tỉ đem ra trưng cũng cũ rồi. Thiên hạ đi xem đều chê “ Xưa rồi Diễm!”.

Nhà Nước ta bèn thay phông, đổi màn cho vỡ diễn mới. Hai cái “áp phích” mới toanh được đem quãng cáo rầm rộ coi bộ cũng câu khách lắm.
Tấm thứ nhất in hình một tài tử hơi lớn tuổi một chút, nhưng vẫn còn đẹp trai, tên là Lương quốc Dũng, loại cán bộ bự, “xực phàn, xực háy” một bé gái mười ba tuổi, chi một tỉ đồng tiền Cụ.
Ối trời đất ơi! Ông Trời ngó xuống mà coi! “Quằm” có một cái mà chi tới một tỉ đồng lận đó! (Ước gì tôi học được phép cải lão hoàn đồng của Thiên Sơn Đồng Mổ biến thành đứa con nít mười hai tuổi để Ông Dũng “quằm” tôi một “quắn”, kiếm tỉ bạc khoẻ re, khỏi phải đi cày hai “dốp” như bây giờ.)

Tấm thứ hai in hình Công tử Hà Đông - Mai Thanh Hải, quí tử của Ngài Mai văn Dâu, cũng là thứ bự trong “bộ sậu” Ba Đình. Cậu có công rất to. Công tử Hải chỉ khoèo một chữ ký, đớp cả triệu đô la hối lộ ( không phải hối lộ, chữ đúng là “làm luật”) để phân bổ “cu ta” cho mấy cái hảng cắc ké ngồi khòm lưng, mắt mờ, đít chai, may quần đùi, áo thun xuất khẩu, kiếm tiền công từng xu.

Đấy, cán bộ Nhà nước ta tức là “đầy tớ của nhân dân” chỉ mới bước sơ sơ theo cái bọn tư bản đang giãy chết để tiến tới cái “kinh tế thị trường” mà đã kiếm tiền nhiều và dễ như thế thì tám chục triệu “ông chủ” của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta sẽ còn kiếm tiền dễ đến mức nào nữa! Mà bây giờ lại đi nói chuyện phải lao động, cuốc đất trồng khoai không phải là chuyện tiếu lâm, cười bể bụng sao?
Nhưng có nay thì phải có xưa. Uống nước phải nhớ nguồn. Nhờ tám chục triệu dân cuốc đất ba mươi năm, Xã Hội Chủ Nghĩa Ta mới được vinh quang như ngày nay.
Cái khẩu hiệu “Lao động là vinh quang” chẳng phải là do công ơn trời biển của “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” mang về hay sao?
Mặc dù ngày nay, các cháu ngoan Bác Hồ đã từng một thời quàng khăn đỏ, đang xa lánh phụ bạc nó, “nhường” nó cho đám dân ngu, khu đen toàn quyền hưởng dụng, khẩu hiệu đó vẫn còn chút giá trị cười chơi, thư giãn hơn là phải chữi thề thô tục. Dù sao thì nó cũng mang tính cách tiếu lâm thời đại, thời đại hạ ngươn ở thế kỷ thứ hai mươi mốt, do công khó nhọc của “ Bác Hồ muôn vàn kính yêu” từng “ bôn ba lê gót nơi quê người” tầm sư học đạo được, mang về làm món “trường sinh bất tử” cho dân Việt Nam dùng, để có đủ sức mạnh tay chân, cường tráng thân thể mà lao động, làm nên của cải và vật chất hầu dâng lên đền ơn, đáp nghĩa Ông Mác, Ông Lê, Ông Mao, Ông Xít, là các Đấng Giáo chủ Chí tôn của Triêu Dương Thần Giáo, đã truyền thụ Y Bát cho Bác. Khẩu hiệu “lao động là vinh quang” là lá cờ tiên phong, một trong bốn lá cờ đầu được Bác và Đảng trao tặng cho toàn dân miền Nam để có cơ hội “tích-cực-hăng-hái-tham-gia-tranh-thủ-khẩn-trương” học tập ngày đêm hầu thấm nhuần “đường lối và chủ trương của Cách Mạng ta”. Bốn lá cờ đó là :

- Lao động là vinh quang!
- Lang thang là chết đói!
- Hay nói là ở tù!
- Lù khù là đi kinh tế mới!


Hồi ấy, tức cái hồi năm 1975, nước Việt Nam ta bắt đầu khai thiên lập địa trở lại, loài người trở về sống cái thuở hồng hoang, ăn lông, ở lổ, săn bắn hái lượm. Ăn củ, ăn hột, ăn rễ cây mà sống. Sống sung sướng trong thanh bình. Đêm đêm “người phu quét đường không còn dừng chổi lắng nghe tiếng đại bác dội về thành phố” nữa. Và hàng hà sa số bà Mẹ “ hồ hởi phấn khởi” cùng nhau “ nối vòng tay lớn” lên non “tìm xương con mình”. Cái thời mà Ông Nghiêu, Ông Thuấn ở tận bên Tầu mấy ngàn năm trước nếu có sống dậy, cũng phải ngạc nhiên té ngữa ra, chết thêm vài lần nữa, chứ không phải chết “hai lần” như ông nhạc sĩ họ Trịnh ca cẩm đâu, khi nhìn thấy dân Việt Nam anh hùng, đã nhất trí quyết tâm nghe theo lời Bác Đảng dạy, qua Báo-Đài hô hào ra rả ngày đêm, bỏ chốn thị thành phồn hoa giả tạo, người bóc lột người, kéo nhau lên núi, vô rừng sâu, núi thẵm mà cuốc đất trồng củ mì, củ khoai, hột bo bo để sống. Không biết cái thời Nghiêu Thuấn dạy dân cày cấy, lấy gạo mà ăn, lấy nhân nghĩa mà ở với nhau, một đời thái bình ra sao, thì không rõ. Chỉ thấy ca tụng trong sách vở củ rích đầy bụi băm thời gian ở Tàng Kinh các. Mà cái tụi “Bành trướng Bắc Kinh” thì toàn là cái quân tổ sư dối trá phản phúc. Ăn cháo đá bát. Cái quân chỉ giỏi khoe khoang khoác lác thôi. Không tin được. Ai đời, vừa mới rặc ròng ôm hun chùn chụt “Vị Chủ Tịch rất kính mến” nước ta, thiếu điều xệ má, rồi bô bô cái miệng lên là “ Tình hữu nghị Việt Trung đời đời keo sơn, bền vững như dãy Trường Sơn không gì chia cách, lay chuyển nổi. Hai nước Việt Trung gắn bó với nhau như môi với răng. Môi hở thì răng lạnh”. Làm cho “ Vị Chủ Tịch muôn vàn kính yêu ta” tưởng thiệt hô theo mấy lần mỏi cả miệng. Vậy mà, “Vị Chủ Tịch kính mến ta” mới quay lưng lại bắt tay với Ông râu xồm Liên Xô vĩ đại vài cái thì nó đem quân tràn qua biên giới phía Bắc, đánh cho “Bác vô vàn kính yêu ta” gãy hết hai hàm răng cửa và cái miệng thì sưng phù lên như mỏ heo. Lại còn lên giọng xấc láo, mất dạy, bảo:
- “ Tả nị xị há! Tả nị ngẩu hịt lớ!(*) Cho Bác Đảng tụi bay một bài học!”.
Bài học gì? Có phải bài học phản phúc, lật lọng mà chính “nó”, thằng Tầu phù, đã dạy cho Bác, Tết Mậu Thân 1968 không ? Có phải đó chính là đòn Mộ Dung Cô Tô. Gậy ông đập lưng ông?

Dầu gì chăng nữa, cái câu “lao động là vinh quang” cũng làm cho chí ít là tôi, phì cười, bởi tôi lỡ thuộc lòng nó quá rồi, khó mà quên cho được. Học chỉ có một câu mà tới sáu năm dài đăng đẵng, dài gấp hai lần thời gian Tôn Tẩn học binh pháp Tôn Tử với thầy Vương Hủ Quĩ Cốc tiên sinh, thì dẫu có đốt tôi thành tro, tro tôi cũng hiện lên câu khẩu hiệu “lao động là vinh quang” ngay! Bởi tôi nay lưu lạc tha phương, không còn đất Tổ, làng xưa để mà trở về nữa nên tôi hay buồn. Mấy đứa cháu tôi thấy ông ngoại hay buồn nên đến mấy tiệm sang băng lậu, mướn phim hài hước của Việt Nam tuồn sang cho tôi coi đở buồn. Chúng khoe:
- Mấy băng “vi đi ô” này vui lắm ông ngoại à! Ông ngoại coi, cười chết bỏ.
- Có gì trong đó mà cười chết bỏ?
- Có cô Hồng Vân giả được đủ thứ giọng, chữi lộn nghe vui lắm!
- Tụi mày có tiền lại đi thuê băng về nghe nó chữi lại bảo là vui?

- Ý! Ông ngoại quê quá! Ông ngoại lạc hậu quá chừng hà! Ở bên Ca Li người ta phải “ó đơ” vé trước cả tháng mới được vô rạp nghe Hồng Vân chữi đó ngoại à! - Ba bốn đứa cháu tôi rập lên một lượt. Nghe mấy đứa cháu ngoại “hồ hởi” líu lo khoe, tôi cũng xiêu lòng. Nhất là thấy chúng sinh ra ở đây mà nói tiếng Việt giỏi, biết nghe, và xem được băng ca nhạc nước nhà tôi cũng mừng. Bèn xem thử cho đỡ buồn.
Kết quả là hai cái nách tôi bị lở và làm độc.
Chẳng là khi xem, thấy nó vô duyên và hạ cấp quá chừng. Càng xem càng khó chịu giống như ăn phải thức ăn bị quá hạn, bị ôi chua lên mốc, nhưng thấy bầy cháu ngồi xung quanh cười rộ sau mỗi câu thỏng thẹo, chả chớt, chẳng văn hóa tí nào, chỉ giống mấy bà rổi cá xóm tôi, tôi phải kêu con cháu sáu tuổi cù vào nách cho ông ngoại cười. Hết nách trái, qua nách phải, móng tay nó cào xước hết mà tôi chẳng cười được một cái nhếch mép. Hậu quả là lở nách.
Những cuốn băng này là một trong nhiều loại sách báo, văn nghệ, phim ảnh trong nước được sự tiếp tay của “người Việt di tản trở cờ” nối giáo cho giặc đem bán. Không cười được còn bị lở nách, tôi đành phải ôn lại chuyện cũ năm 1975 gọi là “ôn cố tri tân” để cười một mình cho đỡ buồn. Tôi có nhiều kinh nghiệm sau bảy lăm để cười. Cười ra nước mắt. Cười thắt cả lưng. Cười sưng cả miệng. Nhưng trước hết, hãy kể chuyện “lao động là vinh quang” để làm món khai vị đã. Đầu tiên hết là ngày 25 tháng 3 năm 1975, sau mấy ngày thiên hạ bị cái đài dịch vật “Bờ Bờ Cờ” loan tin bố láo, ẩu tả làm lợi cho Cọng Sản, làm hoảng loạn lòng dân, chưa thấy bóng dáng quân Việt Cọng đâu cả, nó đã loan tin Thừa Thiên Huế thất thủ. Dân Huế đùm túm kéo vô Đà Nẵng, chạy như vịt tan đàn. Chưa kịp đặt đít xuống đất ngồi nghỉ chân, nó lại loan tin Hội An đã lọt vào tay quân Bắc Việt. Cứ thế mỗi ngày nó loan tin tiến sâu thêm một tỉnh, dẫn đường trước cho quân Cọng sản cứ tà tà kéo vào chốn không người. Chẳng phải đánh đấm gì cả. Quân Việt Cọng tiến từ Đồng Hới vô tận Nha Trang tôi, không tốn một viên đạn.

Thật là một cuộc chiến lạ lùng chưa từng thấy trong lịch sử.
Người dân lúc này quá sợ cứ ùa nhau mà chạy. Chạy trối chết. Chạy bằng mọi cách để tránh Cọng Sản như tránh bệnh ôn dịch, đậu mùa. Lính thấy dân chạy hết, làng mạc, thành phố trống trơn như bãi tha ma cũng đâm ra sợ theo, vứt hết súng ống ven đường, tuột luôn bộ đồ trận, còn trần cái quần đùi, áo thun ba lổ, chạy theo. Về tới Nha Trang, tổng số người lên tới hàng mấy vạn. Nha Trang đang an lành buổi sáng, buổi trưa đã biến thành một một thành phố hỗn độn. Người người nhớn nhác, chạy đi, chạy lại rối reng, cuống quít mà không biết chạy đi đâu. Cuối cùng kéo nhau ra biển. Có ghe mướn ghe. Có tàu mướn tàu. Theo đường biển chạy nữa. Ai không mướn được ghe thuyền thì chạy bộ. Dòng người kìn kịt hối hả chạy như chạy…giặc! Trước Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, chiếc tàu Hải Quân HQ 505 đang neo để chở quân nhân và gia đình của Trung Tâm di tản vào Sài Gòn. Nửa đêm trước ngày 29/3/75, Trung Úy Toại, Trưởng phòng 4 Hải Quân cũng là Hội trưởng Hội Phụ Huynh Học sinh trường tôi, lén đến cho biết có dành cho gia đình tôi một chổ trên tàu. Ông hối chúng tôi thu xếp hành lý để đi cho kịp sáng mai. Sáng hôm sau, khi thức giấc, cả khu gia binh quanh trường tôi bỗng nhiên như bị ma ám, mọi nơi đều im ắng, vắng ngắt. Không một bóng người. Không một tiếng gà gáy, chó sũa. Cả một khu vực gồm gần hai mươi dãy gia binh, cả ngàn con người lớn, nhỏ ồn ào náo nhiệt như mọi hôm, bây giờ trở nên vắng ngắt, lạnh tanh. Tôi cũng bắt đầu hoang mang, hoảng loạn theo. Tôi phóng xe Honda ra bờ biển xem thử tình hình ra sao. Trước mắt tôi diễn ra một cảnh hổn loạn chưa từng có. Hàng ngàn người đang ra sức xô lấn nhau trước Trung Tâm Hải Quân để chen nhau lên tàu. Lính Hải Quân quân trường đang nắm tay nhau thành hai hàng rào chắn từ trên bờ xuống tận thang dây tàu HQ 505 để cho vợ con gia đình binh sĩ bồng bế lên tàu. Ban đầu còn có người leo lên được. Chốc sau đoàn người không biết từ đâu kéo đến mỗi lúc một đông. Đám lính ô hợp đủ thứ binh chủng gồm Thủy quân lục chiến, Biệt động quân, Nhảy dù…lôi thôi, lếch thếch, mặt mũi bơ phờ chắc suốt mấy ngày đêm chạy bộ từ Pleiku, Kon Tum, Khánh Dương, Phú Yên… về. Họ lăm lăm tay súng muốn đánh nhau với lính Hải Quân, và đòi được lên tàu. Đôi bên giằng co nhau cơ hồ sắp nổ súng. Thiên hạ chạy dạt ra xa hết để tránh tai bay vạ gió. Tàu HQ 505 từ từ tách bến bỏ lại đám người vẫy tay chới với thất vọng. Họ la, họ hét, họ cầu cứu khản cả giọng. Nhưng chiếc tàu cứ lùi xa mãi và dừng ở ngoài khơi phía bên kia đảo Trí Nguyên. Tôi bắt đầu run sợ, nhưng không biết run sợ vì cái gì!

Lại có tin đồn một chiếc xà lan chở người di tản từ Đà Nẵng vì đứt giây lòi tói của chiếc tàu kéo đã trôi dạt vào Nha Trang, người bị chết đói, chết khát nhiều lắm. Xác chết đang đặt ở Cầu Đá. Tôi phóng xe xuống xem thực hư. Một quang cảnh ghê rợn trước cổng dinh Bảo Đại đang bày ra. Hơn một trăm xác chết, phần đông là trẻ con được sắp nằm dọc theo lề đường, từ dinh Bảo Đại cho đến bến tàu. Dưới ánh nắng gay gắt, xác chết chương sình lên, đang bốc mùi. Ruồi nhặng hàng đàn đông nghịt, bay vù vù đen đặc quanh các tử thi vô thừa nhận. Tôi buồn nôn và chóng mặt quá, không dám nhìn nữa. Quay xe về lại nhà, thấy vợ con đang xách trên tay mỗi người một gói áo quần chuẩn bị chờ tôi về là đi. Nhìn ba đứa con gái từ năm tuổi tới hai tuổi và thằng con trai mới có bốn tháng, liên tưởng tới các thi thể trẻ con, tôi rung mình ớn lạnh. Và quyết định không di tản theo đoàn người cuồn cuộn chạy.
Qua hôm sau, một người bạn ở Cầu Đá tới nhà cho hay, nhà anh ta có ghe riêng và hối tôi mau mau theo anh ta xuống bến tàu để chạy. Tôi vội vàng, hối hả chở vợ và bốn con trên chiếc Hon Da chạy theo anh. Tôi vất luôn chiếc xe trên bờ giữa hằng trăm chiếc khác đủ loại từ xe hơi cho tới Vespa, Mobilette, Suzuki, Yamaha… để đở vợ con xuống ghe. Tại bến ghe người ta cũng đông như kiến cỏ. Họ cũng đang xô lấn, dẫm đạp lên nhau để dành mướn ghe, mướn tàu để chạy. Chen lấn một hồi, chúng tôi xuống được ghe nhà an toàn. Trên ghe chỉ có ba gia đình. Ghe chạy qua đảo Trí Nguyên. Đảo chỉ cách bờ Nha Trang chưa tới hai cây số. Mọi người lục tục lên đảo. Trong khi bên Nha Trang thiên hạ rối như mớ bong bong, chạy ngược chạy xuôi như gà mắc đẻ để kiếm đường lánh nạn trước khi Cọng Sản đến nơi, thì ở đảo mọi sự lại yên tĩnh bình thường dường như chẳng có gì xãy ra. Trẻ con thì được dịp nô đùa thoải mái, chạy nhảy tung tăng khắp nơi như một cuộc du ngoạn. Các bà thì xúm nhau ngồi dưới tàng mấy cây dừa xiêm trong vườn tán gẫu. Chỉ có các ông là tụm nhau vừa nhậu vừa nghe ra dô để theo dõi tình hình. Đài “Bờ Bờ Cờ” lại loan tin thành phố Nha Trang hôm nay đã lọt vào tay quân Bắc Việt. Nhưng khi hỏi thăm mấy người dân ở đảo chở cá qua Chụt và Cầu Đá bán trở về thì họ đâu có thấy Việt Cọng mặt tròn, mặt méo ra sao. Rõ là cái Đài bố láo, ngồi tận Luân Đôn lấy lại tin láo khoét của Đài Hà Nội mà loan. Chúng tôi chờ nghe súng nổ. Thế nào cũng đánh nhau lớn lắm. Tiểu khu Nha Trang, Trung Tâm Không Quân, Trung Tâm Hải Quân và các đơn vị binh chủng đóng chung quanh vòng đai Nha Trang mấy hôm trước đã thiết lập hàng rào phòng thủ bằng bao cát, những lô cốt dã chiến để tử thủ. Quyết một mất một còn với Việt Cọng. Tối hôm đó trời bắt đầu mưa lớn. Mưa càng lúc càng lớn. Mưa kéo dài ba ngày liền không dứt. Mấy người già nói đó là Trời khóc thương cho dân Nha Trang bị nạn đao binh. Nha Trang mấy trăm năm chưa hề chạy giặc như thế này. Tôi ở đảo hai đêm ba ngày, lòng như lửa đốt. Lo lắng quá chừng mà lại không biết là lo cái gì. Sáng ngày thứ tư, tức ngày 01 tháng 4, trời tạnh mưa, tôi theo chiếc ghe bán cá về lại nhà xem thử ra sao. “Nhà” tôi ở trong trường. Ty cho tôi một phòng học còn dư, làm chổ tạm trú cho gia đình. Suốt dọc đường từ Cầu Đá về ngã ba Bình Tân, chổ giao tiếp Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân và đầu phi trường Nha Trang, hoàn toàn vắng ngắt, không một bóng người. Cái vắng ngắt thật lạnh xương sống. Tôi chạy xe Honda hết tốc lực mà vẫn cảm thấy chậm. Cứ sợ một bóng vô hình nào đó rượt đuổi theo sau lưng. Vào đến cổng trường cái không khí chết chóc lạnh lẽo càng tăng gấp bội.

Những dãy nhà cư xá quanh trường đều bị đập nát cửa. Vật dụng trong nhà đều bi bọn hôi của khiêng đi hết. Những vật không giá trị chúng quăng bừa bãi ngoài sân, trước cửa, tung toé, ướt nhẹp nước mưa, thành những bãi rác gớm ghiếc. Nhìn cảnh tượng tan hoang như vậy, tôi vẫn thầm hy vọng chúng không vào trường tôi phá phách. Tôi lầm. Trường tôi chúng cũng không tha. Trừ bàn ghế học trò làm bằng gỗ tạp do Trung Tâm đóng cho, chúng không thèm, còn bao nhiêu bàn ghế thầy giáo bằng gỗ hương do Ty Tiểu Học cấp phát, chúng khuân đi hết. Những cái thùng bằng Inox sáng loáng dùng để nấu sữa cho học sinh cũng không còn một cái nào. Căn phòng chúng tôi ở càng thê thảm hơn nữa. Hôm sau, tôi chở vợ về xem, tuy đã dặn trước cho biết cảnh tượng, nhưng khi tận mắt chứng kiến cái hình ảnh khủng khiếp này, vợ tôi ngất xỉu ngay tại chổ. Trong nhà tôi chỉ có cái tủ lạnh do bà mẹ vợ mua cho là đáng giá, ngoài ra mọi thứ cần dùng đều là tạm bợ. Chúng đã khiêng đi những thứ tương đối dùng được như tủ lạnh, giường ngủ, tủ áo, đồ dùng nhà bếp… Còn thứ gì không thèm lấy, chúng đập tan nát. Trong nhà ngổn ngang mãnh ly, mãnh chén vỡ, sách vở, giấy má hồ sơ tung toé trắng cả phòng. Tủ thuốc gia đình treo trên vách cũng bị đập nát. Bông băng, thuốc đỏ vương vãi khắp nơi như những dòng máu chảy.

Mền gối, nệm nằm, chúng rạch nát ra để tìm vàng hay tiền cất dấu. Bông gòn bay lả tả khắp nơi. Còn phòng nuôi ba trăm con gà công nghiệp, thí điểm Giáo dục Cộng Đồng do Ty đề xướng và tiền Hội Phụ Huynh Học sinh cho mượn mua gà làm giống, gà đang độ đẻ, đã không còn một con. Trước sân trường trắng lợp giấy là giấy, ướt nhẹp nước mưa. Đó là hồ sơ mấy trăm em học sinh trong tủ văn phòng. Chúng lấy tủ đi và vất hồ sơ ra giữa trời mưa. Chiều sụp tối, điện không có, quang cảnh càng thêm thê lương ảm đạm.

Tôi gửi vợ con ở nhờ nhà người bạn ở Cầu Đá vài ngày để dọn dẹp lại chổ ở. Lúc này thần kinh tôi suy sụp hoàn toàn. Cơ thể tôi cũng suy nhược theo. Tôi bải hoải cả tay chân, làm cái gì cũng luống cuống, vụng về, rớt lên, rớt xuống. Một nổi sợ hãi âm thầm vô cớ xâm chiếm hết đầu óc tôi. Một tiếng động nhỏ nào ở đâu đó cũng làm tôi giật thót tim. Tôi mong nghe có tiếng người nói, có tiếng chó sũa, có tiếng gà gáy. Nhưng tuyệt nhiên không. Hoàn toàn vắng ngắt. Mãi đến tận ngày 2 tháng 4 mới thấy xuất hiện một vài chú bộ đội Bắc Việt đội nón tai bèo, chân đi dép lốp, tay cầm A.K đứng nép mình sau cây trụ điện ở ngả ba với dáng điệu sợ sệt, mắt ngó láo liên như canh chừng kẻ đột kích. Mấy chú này còn trẻ lắm, tuổi chưa tới mười bảy, mặt còn non choẹt nét học trò trung học đệ nhất cấp. Da mặt người nào cũng xanh mét như thiếu đói lâu ngày. Mấy chú cứ đứng đó, thủ A.K trong tay, mặc cho bọn đi hôi của làm gì thì làm. Bọn hôi của đông lắm. Chúng quấn băng đỏ trên cánh tay trái, cầm súng M.16 trên tay phải, làm cách mạng 30. Chúng lấy xe Jeep, xe Dogde trong Không Quân, Hải Quân đi chở đồ ăn cướp. Trên xe chúng cắm cờ xanh đỏ của MTGP Miền Nam. Đầu tiên, chúng cướp kho Hải Quân, rồi tới Không Quân. Sau đó chúng phá kho Quân tiếp vụ để cướp lương khô và sau cùng chúng phá kho gạo để cướp gạo. Mấy trăm ngàn tấn gạo dự trữ, chỉ trong ba ngày chúng lấy không còn một bao. Chúng dành nhau chụp giựt, gạo trên cao đổ nhào xuống, chẹt chết hai đứa. Chúng lại đánh nhau bằng súng. Súng tự do nổ. Người chết vô tội vạ. Bọn tù trong Quân Lao, trong Cải Hối Thất chợ Đầm không người canh gát, phá cửa xông ra, gặp gì cướp nấy. Các cửa tiệm ở đường Độc Lập, đường Phan bội Châu đều bị đập nát. Chủ nhà bị uy hiếp bằng súng để cướp. Súng quăng đầy đường nằm lềnh khênh như củi mục.Toàn thể các sạp buôn bán ở chợ Đầm đều bị cướp không còn một thứ gì. Chúng đốt luôn chợ Tròn vừa mới xây xong chưa kịp khánh thành. Từ ngày mùng 1 cho đến ngày mùng 5 tháng 4 năm 1975, Nha Trang ở trong tình trạng vô chính phủ. Quân Cọng Hòa của ông Thiệu không biết trốn biệt đi đâu hết. Mấy ông Tướng vùng, mấy ông Tá chỉ huy Tỉnh, trước đó mấy ngày hô hào tử thủ, tối 30 tháng ba đã nhanh chân đánh bài tẫu mã trước binh sĩ. Chỉ cảm thương cho một Vị Sĩ Quan trong Trung Tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang,(*),đã đem hết vợ con vào quân trường tự sát chứ không chịu trốn chạy. Khí tiết của một quân nhân “ cam thọ tử bất ninh thọ nhục”. Mãi đến ngày mùng 3 tháng 4 người ta mới phát hiện tử thi. Thương thay! Kính phục thay cho cái chết anh dũng, hào hùng, bất khuất!

Những ngày này, tôi như người mộng du đi lang thang hết chổ này, đến chổ kia, đứng ngắm nhìn bọn hôi của hối hả chở đồ ăn cướp chất đầy ú trên các phương tiện chúng có: xe đò, xe lam ba bánh, xe hơi, cả xe gắn máy, xe ba gát và xe đạp. Tôi nhìn lên nóc xe, thấy xe nào cũng có bóng dáng cái tủ lạnh, cái quạt máy, cái giường ngủ… của gia đình tôi. Vật dụng bị cướp nhiều nhất là ở phi trường, Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân Nha Trang. Chúng nườm nượp ra vào ba ngày, ba đêm chở hết không còn một món. Trừ hai khẩu thần công trước cổng đúc bằng xi măng là chúng không lấy nên sót lại. Bọn hôi của này đa số ở Bình Tân. Kho xăng ở Cầu Đá thì bọn ở Chụt, ở đảo Trí Nguyên lên cướp. Chúng lăn những phuy xăng, phuy dầu từ kho chứa ở hai bồn xăng dưới chân lầu Bảo Đại ra biển, cột năm phuy, ba phuy thành một chùm rồi dùng ghe kéo về nhà, đào lổ chôn dấu. Những đoàn ghe câu lớn, nhỏ nối đuôi nhau thành đàn, kéo xăng, dầu đi đông nghẹt cả biển như ngày trẫy hội.

Thực ngàn năm một thuở!
Tôi đã mất hết năng lực suy nghĩ. Đầu óc tôi lững lơ trên chín tầng mây. Đêm nằm ngủ, thần hồn cứ bồng bềnh như ở cõi trên. Một tiếng chuột chạy, một tiếng chó sủa bất chợt cũng làm tôi giựt thót tim, lạnh toát cả người. Tôi không biết phải làm gì trong những ngày này. Nhưng ngoài mặt tôi vẫn cố trấn tỉnh để yên lòng vợ con. Nếu tôi lộ vẻ suy sụp thì vợ con tôi sẽ hoãng loạn tinh thần ngay. Trong nhà gạo đã hết. Mắm muối cũng không còn một giọt. Tôi bó tay, không biết xoay xở ở đâu để cho các con ăn. May thay, đúng lúc anh Hoàng, Hiệu trưởng trường Trường Đông, Bình Tân, đến thăm, thấy hoàn cảnh ngặt nghèo của tôi, đem cho tôi thùng nước mắm. Cũng không biết một chiếc xe lam của ai, chạy ngang nhà, trên nóc xe chở tú hụ những bao gạo mới cướp xong, thấy mấy đứa con tôi giơ tay xin, lăn xuống đất cho một bao, kèm theo một tràng cười khoái trá. Ôi một phép lạ nhiệm màu chưa từng có! Nhờ thùng nước mắm và bao gạo, gia đình tôi cầm cự được một tháng. Trong lúc tôi đang lo âu cho số phận mình không biết tương lai sẽ ra sao thì “giáo sư” Ngô xuân Lấy, dạy việt văn trường Trung Học Dương Quang Sang, cách trường tôi một con đường, đến nhà tôi bảo tôi tập hợp học sinh lại để ngày mai đi “mít tinh” hoan hô chào mừng cách mạng. Tôi hỏi:

- Anh Lưu đâu? Sao anh ấy không tổ chức mà lại là anh?
- À! Thằng sĩ quan Ngụy ấy bị học sinh truất quyền Hiệu Trưởng rồi và đề cử tôi lên Xử lý Thường vụ.
- Học sinh quyền gì mà có thể…
Tôi chưa hỏi hết câu thì GS Lấy đã cướp lời và giảng giải cho tôi bài học thật dài:
- Anh chưa biết gì về Cách mạng à! Cách mạng là tự do, là dân chủ. Trong trường học, học sinh làm chủ. Học sinh có quyền phê bình Thầy, Cô và bình nghị cho điểm cuối năm. Học sinh là thành phần cốt cán của Đảng sau này. Cho nên, học sinh muốn chọn Thầy Cô nào thì Thầy Cô đó mới được đứng trên bục giảng. Tên Lưu là Trung Úy biệt phái Ngụy ác ôn, có nợ máu với nhân dân thì có tư cách gì dạy học nói chi làm Hiệu Trưởng. Anh thấy tôi nói vậy có đúng không nào?
- Đúng! Đúng! Anh nói rất đúng! Bác Hồ cũng nói y như vậy! Nhưng anh Lấy à! Tôi cũng là Trung Úy sĩ quan Ngụy biệt phái vậy! Bây giờ tôi đâu có làm gì được cho anh. Không khéo anh bị vạ lây đó!
- Ờ! Ờ! Anh nói cũng phải ! Thôi để tôi đi kêu gọi mấy trường khác!

Khi GS Lấy quay lưng đi, tôi mới để ý thấy hắn mặc cái quần kaki màu xanh cứt ngựa Nam Định còn mới tinh và chân đang mang đôi dép râu. Tôi tự hỏi không biết hắn đào ở đâu ra mấy thứ này nhanh như vậy.
GS Ngô xuân Lấy này là một một gã sống ở Phường Củi, bản chất chuyên đón gió trở cờ từ thời Đệ Nhị Cọng Hòa. Hắn đi đâu cũng khoe là đặc phái viên báo Sóng Thần, xìa cái “cạc vi dít” có in tên hắn dưới hai chữ Nhật báo Sóng Thần để làm tiền những chổ có tì vết tham ô hay buôn gian, bán lận, đầu cơ tích trữ. Cái chiêu ưa dùng nhất của hắn là hăm viết “ bài phóng sự phơi bày sự thật”. Nạn nhân của hắn cũng không muốn dây dưa với hủi nên xí cô hồn vài ngàn để đấm mõm hắn cho yên chuyện. Nhưng sự gian manh của hắn cũng bị tờ báo Sóng Thần của ông Chu Tử vạch mặt. Hắn chỉ mạo danh chớ chẳng phải “đặc phái hay lỏng phái” gì hết.
Hết đường mánh mung, hắn xin vào dạy giờ ở trường Dương quang Sang do anh Lưu làm Hiệu Trưởng. Có lần tôi hỏi anh Lưu:
- Anh không biết tẩy tên Lấy hay sao mà nhận nó vô trường dạy vậy?
- Tôi đâu có thẩm quyền nhận nó hay không! Không biết nó xin xỏ ai đó ở Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, đưa nó tới, tôi phải nhận cho nó dạy vài giờ việt văn để khỏi rầy rà.
Trường Trung Tiểu Học Dương quang Sang là một trong ba trường do “quân đội” đở đầu. Trường Long Vân do Không Quân lập ra cho con em Không quân và vùng lân cận vào học do Đại Úy Hàm, giáo viên biệt phái làm Hiệu trưởng. Trường Dương quang Sang do Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận xây cất cho con em các binh chủng bộ binh học. Ban đầu do Trung Úy Đỗ hửu Minh Sanh, một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy làm Hiệu trưởng. Sau, trường hiến tặng cho Bộ Giáo Dục thì anh Lưu, Trung Úy, giáo sư biệt phái về làm Hiệu trưởng. Trường Yết Kiêu do Hải Quân xây tặng, dành cho con em Hải quân và vùng lân cận học, do tôi làm Hiệu trưởng.
Thời gian 1970 và những năm sau đó, tôi và anh Lưu thường qua lại thăm nhau, bù khú một vài chai, nói chuyện trên trời dưới đất.
Không nhớ rõ năm nào, 72 hay 73 gì đó, GS Lấy nhảy ra ứng cử Dân biểu vào Quốc hội. Hắn lấy hình vẻ “cây bút chấm vào lọ mực” làm biểu tượng. Dĩ nhiên đâu có ai dại gì bầu cho thằng láu cá làm đại diện. Số phiếu của hắn chỉ lèo tèo mấy chục lá, chắc cũng là của đám “ ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.
Vậy mà bây giờ, thừa nước đục thả câu, nó trở mặt một cách trơ trẽn nhanh chóng, tự nhảy lên chức Hiệu trưởng, và chữi lại cấp trên mình là Ngụy ác ôn, có nợ máu với nhân dân.
Thật là cháy nhà ra mặt chuột!
Sáng hôm sau, trời còn mờ đất, tiếng phèn la, tiếng trống cơm, trống ếch, tiếng hô khẩu hiệu đã vang vang ngoài đường cái. Tôi hé cửa ra nhìn. GS Ngô xuân Lấy dẫn đầu. Sau đó gần cả trăm em học sinh lớn nhỏ lếch thếch theo sau, hàng ngũ lộn xộn vừa hô khẩu hiệu theo GS Lấy, vừa cười giỡn ồn ào, náo nhiệt. Hôm nay GS lại có thêm cái nón cối trên đầu, đã bạc màu cứt ngựa và một cái loa Pin cầm tay.
Cứ cách chừng mươi bước GS hô:
- Chủ nghĩa Mác Lê Nin bách chiến bách thắng!
Học sinh hô theo:
- Bách thắng! Bách thắng! Bách thắng!
- Hồ chí Minh muôn năm!
- Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm! - Đảng Cọng Sản Lao Động Việt Nam muôn năm !

…….
Cứ mỗi khẩu hiệu GS hô trước, học sinh hô sau ba lần, y hệt như gánh mãi võ sơn đông của ông Đỗ Khánh Du bán thuốc xổ lãi năm xưa. Cứ thế nó dẫn đám học sinh trẻ con tội nghiệp đi diễu hết con đường Hoàng Diệu qua ngã ba Bình Tân rồi quay lại sân bay. Trời bắt đầu nắng chói chang đổ lửa lên đầu các em bé. Giọng hô bây giờ yếu ớt, rời rạc, không còn rôm rả như trước. Các em bắt đầu mệt và đói bụng. Hàng ngũ thưa dần. Đoàn biểu tình đi ngang nhà em nào thì em ấy tự động tách hàng, chui vô nhà mình. Chẳng mấy chốc đoàn người chỉ còn mấy ngoe. Ông cách mạng ba mươi, GS Ngô Xuân Lấy, vẫn cứ hăng như con bọ xít, đi trước cầm loa hô văng nước miếng, chừng ngó lại thấy mấy “đồng chí” nhi đồng tan hàng hồi nào không hay, cũng lẳng lặng rút dù êm, chưa kịp tổng kết tình hình thắng lợi và làm bản thu hoạch để dâng lên Ban Quân quản kiếm chút điểm tâng công.

Sau đó “giáo sư ta” lặn mất tiêu, không thấy mặt mũi ở Nha Trang khi Cọng Sản đã thiết lập được bộ máy cai trị ở đây.
Năm 1976 tôi cùng mấy chục sĩ quan biệt phái đang bị nhốt ở trại cải tạo Đá Bàn chuyển ra trại A.30 Phú Yên thì thấy “giáo sư ta” cũng đang bị nhốt ở đây. Nghe nói lại là sau nhiều lần lập công nâng bi, bợ dĩa mà “quân Cọng Sản” không chịu dùng, không phong cho chức gì, dù là chức nhỏ nhất là Khóm Trưởng khóm Phường Củi, giáo sư bèn đổ khùng, đi làm phản động “ừ” nên bị Cách Mạng Ta bắt cải tạo. Phản động “ừ” là cái lưới của Công An giăng ra, chúng tung nhiều tay chân, giả làm phần tử phản động la cà ở những nơi tụ tập ăn nhậu. Bọn này thì thầm to nhỏ rủ rê nhóm thanh niên bất mãn chế độ gia nhập lực lượng “Kháng chiến” chống Cọng. Ai nghe bùi tai “ừ” một tiếng đi theo thì hôm sau bị “tó” cổ ngay. Thành phần phản động “ừ” bị nhốt ở A.30 nhiều lắm. Toà án Nhân Dân Nha Trang xét thấy công trạng GS Lấy đã cung cúc tận tụy lập công ngay từ ngày đầu tháng 4 nên biếu hắn 20 cuốn lịch để trả ơn khuyển mã. Ngày ngày hắn nằm ở Nhà Sáu(*) gỡ lịch và ngẫm nghĩ sự đời.

Tuy sự đời đen như mõm chó nhưng so với tư cách của hắn vẫn còn sáng và sạch hơn nhiều! Không nói chuyện bẩn thỉu của giáo sư Ngô xuân Lấy nữa.

Hãy nói chuyện tiếu lâm “lao động là vinh quang” để cười chơi đôi chút. Chừng đâu năm ngày sau, xe tăng T.54 dán nhãn Trung Quốc, Liên Xô ào ào tiến vô Nha Trang, đậu thành hàng dài trước bờ biển. Súng ống chỉa ra biển tua tủa. Trên xe còn cài thêm nhiều cành lá ngụy trang giống như diễn kịch trên sân khấu. Nằm ở đó mấy ngày, chờ quân Cọng Hòa từ dưới nước ngóc đầu lên để “bắn vỡ sọ” quân Mỹ Ngụy. Nhưng không thấy bóng một quân nào và nghe tin chúng đã “lặn” vô tận Phan Rang để lập phòng tuyến. Bộ đội anh hùng ta cùng xe tăng bèn dông theo cho kịp. Thế là Nha Trang lại một lần nữa thoát cảnh binh đao.

Dân Nha Trang thực sự chưa nhìn thấy mặt mũi “mấy ông Cách Mạng” có khác nhau với “mấy thằng Việt Cộng” ra sao, nhưng cái gọi là “ Chính quyền Quân quản” tự động lập lên khắp nơi để tra xét ai là kẻ phản động do Mỹ Thiệu và “Xê I A” cài lại, và ai là “người của ta” đều do mấy “Ông Ngụy ngày hôm qua” làm cả. Ông nào cũng dép râu, nón cối, xà cột đeo lưng, lăng xăng, lít xít quát nạt những ai không biết làm bản tự khai. Còn du kích thì chỉ cần xé một miếng vải đỏ ở cái quần đùi, băng lên cánh tay trái, lượm một khẩu M.16 vất đầy đường là thành anh hùng. Đám này toàn là đồ lưu manh, du thủ du thực, hàng ngày chuyên đi ăn cắp vặt, móc túi ở các chợ. Nay rất hăng hái và tích cực, sẵn sàng tay thước, tay dao đi trói người, những người trước kia đã mất lòng những Ông trong “Chính quyền Quân quản”. Người dân bây giờ giống như “gà phải cáo” rụt rụt, rè rè, đi đứng xớ rớ, nói năng thầm thì, không ai dám to tiếng dù là tiếng ho. Ho thình lình cũng vội đưa tay bịt chặc miệng lại. Tôi đi qua Khóm Hoàng Diệu bên kia đường làm bản tự khai. Ông Kim, Thượng sĩ Không quân, nhảy lên chức Khóm Trưởng. Ông An, hạ sĩ Hải quân, y tá trong quân trường, có hai đứa con rất dễ thương đang học lớp Hai và lớp Ba trường tôi, nhảy lên chức Khóm phó kiêm An ninh. Ông nào cũng đầy đủ nón cối, dép râu, xà cột và luôn miệng “khẩn trương nhanh lên” “ thật thà khai báo với cách mạng”.

Ông Khóm phó kiêm An ninh hỏi tôi tờ hộ khẩu. Tôi ngớ ra. Từ ngày về làm Hiệu trưởng đến nay đã năm năm tôi đâu có hộ khẩu. Mà có hộ khẩu để làm gì mới được chứ. Hồi trước cái đó gọi là “ Tờ khai gia đình”. Nhưng khi tôi về ở trong trường, chung quanh là Khu Gia Binh Hải Quân, đâu có ai làm “Tờ khai gia đình” làm gì. Bây giờ ông An, phụ huynh học sinh của tôi, cắc cớ hỏi “hộ khẩu” thì tôi biết đào đâu cho ra cái đó. Ông nói: -

Ông không có tờ “ Hộ khẩu” xuất trình thì Cách Mạng làm sao điều tra lý lịch ông được?
- Anh An à! Mấy năm nay anh ở khu gia binh, con anh học trường tôi, anh biết tôi rõ quá mà!
- Tôi biết ông, nhưng Cách Mạng đâu có biết ông là ai?
- Thì bây giờ anh là Cách mạng chớ còn ai nữa?
- Đã làm cách mạng thì cứ theo chủ trương, đường lối của Đảng mà làm, không thể nói chuyện quen biết được. Ông về kiếm cho ra tờ “ hộ khẩu” rồi mới tới đây làm việc.
Tôi lủi thủi ra về, lòng đầy ngao ngán cái sự đời. Chém cha cái sự đời! ( Mấy tháng sau, Ông Khóm phó An “hồ hởi” đem gia đình về nguyên quán ở Đà Nẵng để an cư lạc nghiệp. Mới đâu chừng tháng, lại thấy ông “hớt hải” chạy vô lại Nha Trang và xin tôi cho hai đứa con vào học lại. Té ra, mới vừa về đến quê nhà có mấy ngày, ông bị dân “gộc” ở đó đấu tố là thành phần ác ôn theo Mỹ Ngụy lâu nay và định trói ông cho đi cải tạo. Sợ quá, ông bỏ của chạy lấy người. Vĩnh biệt cái xứ Quảng của ông. Không cần kể ra đây cái chuyện ông gãi đầu, gãi tai khi đem con tới xin phép tôi cho chúng vào trường. E rằng dơ trang giấy và xốn mắt bạn đọc) Một tháng sau, giáo viên được lệnh trình diện tại Ty Giáo Dục để nhận chỉ thị khai giảng niên học mới. Ai trước kia giữ phần hành gì thì cứ y như cũ mà làm. Tôi lại trở về chức Hiệu trưởng, chạy đôn, chạy đáo tìm lại Thầy Cô giáo cũ của trường, tìm đến từng nhà học sinh thông báo ngày nhập học. Học sinh mười phần đã theo cha mẹ về quê hết sáu bảy. Giáo viên bỏ chạy vô Sài Gòn cũng hơn một nửa. Ngày khai giảng, tổng cộng cả Thầy, Cô lẫn học trò chưa tới một trăm.

Cái cảnh eo xèo, buồn bả, nặng nề đeo cứng trên từng khuôn mặt. Không một tiếng cười, không một tiếng reo vui của các em học sinh. Suốt một tuần, Thầy trò ra sức dọn dẹp vệ sinh trường lớp và đi đến những nhà đã nhanh tay mượn bàn ghế nhà trường làm của riêng để xin lại. Cũng còn may. Phụ huynh rất vui lòng trả lại các đồ dùng của trường. Nhưng chỉ gom về được một phần ba. Về sau, thỉnh thoảng lại có người “ tình nguyện” mang trả cho trường, nay cái bàn, mai cái ghế. Nhờ vậy Thầy, Cô giáo có cái để ngồi chấm bài, giảng bài. Mấy tháng đầu chỉ đứng suốt. Tôi thì ngày nào cũng lên Ty để họp. Không biết họp cái giống gì mà ngày nào cũng họp. Mấy cái văn thư, chỉ thị thay vì gửi xuống trường như trước kia, nay phải họp để học tập đả thông trước khi phổ biến thi hành. Họp riết thành ngán. Nghe tới họp là muốn nhức đầu, đau bụng. Mà ai dám không đi? Không đi họp là có ý chống đối “ trên”, là phản Cách mạng! Bản thân “có vấn đề”. Chúng tôi được cho đi dạy lại, phải mang cái tên là “thành phần lưu dung”. Lưu dung là dung tha cho để dùng lại chớ không phải lưu dụng. Cái câu Kiều: “Hàng thần lơ láo, phận mình ra chi”! bây giờ mới thấm thía làm sao!

Những buổi họp chúng tôi buộc phải vểnh tai lên suốt bốn tiếng đồng hồ để nghe mấy “ông cán bộ giáo dục” nói nhảm. Nói tràng giang đại hải như con vẹt học nói những điều tưởng tượng trên mây mà không một chút ngượng miệng hay một chút đỏ mặt vì xấu hổ. Nào là, biển Đông ta là một kho dầu khổng lồ ví như con voi. Dầu cả thế giới gom lại ví như con tem dán lên đít voi. Rồi đây, ta chỉ cần bươi đất lên sau hè nhà là đã có dầu xài. Dân ta tha hồ giàu có, ăn sang mặc đẹp… Nào là các nước bị áp bức trên thế giới sẽ đô xô tới nước ta xin học tập cách đánh thắng bọn đế quốc.

Nào là một nền văn hoá ưu việt Xã Hội Chủ Nghĩa miền Bắc ngàn lần hơn sẽ cấp tốc thay thế một nền văn hóa phản động đồi truỵ “Đồi thông hai mộ” của Mỹ Nguỵ. Ối thôi! Một ngàn thứ “nào là” được lập đi, lập lại như loài nhai lại mà không mõi mệt. Mặc dù họ cũng biết rằng cái “bọn Nguỵ” đang ngồi dưới kia đang cười ruồi vào những điều chúng nói. Nhưng không hề gì! “Bác” đã dạy: “ Nói láo một lần có thể không tin. Nhưng lập lại một ngàn lần thì ắt phải có người tin”.
Lại thêm cái cảnh “ruồi bu c… ngựa” điếu đóm của bọn giáo viên mặt trơ trán bóng, a dua xu nịnh, đứng hầu hai bên, vổ tay cầm nhịp mỗi câu phát biểu. Thấy mà lộn mữa! Mấy tháng sau ngày khai giảng, tình hình hơi ổn định, Phòng Giáo Dục bắt đầu thanh lọc thành phần giáo viên các cấp. Những tin đồn rò rỉ từ phòng “Tổ Chức” ra cho biết sẽ có rất nhiều người bị sa thải vì có dính líu đến chế độ Mỹ Thiệu.

Ai mà chả dính đến chế độ. Đã ăn lương Nhà nước thì đương nhiên là người của chế độ rồi! Thật là hỏa mù! Không biết đâu mà lần! Đây là một trong vô số cái ưu việt của Đảng Ta. Tình hình ngày càng “căng” lắm. Ngày nào cũng có nhiều người nhấp nhổm trước Ty Giáo Dục, lảng vảng quanh các cánh cửa sổ để nhón gót nhìn vào bên trong làm như có thể nhìn thấy tên mình có hay không trong bảng “Phong Thần”?(*) Bên trong thì ai nấy cũng mặt sắt đen sì. Mấy anh “lưu dung” thì ngồi im thin thít, tay chân lúc nào cũng làm như bận rộn với giấy má (?) trên bàn. Còn cán bộ nón cối Trưởng phòng và Phó phòng thì ngồi hai đầu phòng lật tới lật lui một tập giấy dầy cộm, phê phê, quẹt quẹt. Thỉnh thoảng đứng dậy, vươn vai ngáp rồi bước tới góc phòng vớ cái điếu cầy châm lửa ở cái đèn hột vịt bên cạnh, rít sòng sọc một hơi thuốc lào, nhả khói mù mịt. Đoạn tợp một tợp nước trà, súc trong miệng kêu rột rẹt một lúc, mới ngửa cổ đánh ực một cái ra chìu khoan khoái. Mấy anh “lưu dung” ngồi quanh đó cứ len lén liếc mắt nhìn. Ngày trước, mỗi lần vào Ty để lấy công văn hay liên hệ các ban, phòng lấy tài liệu về chủ điểm Cộng Đồng, tôi hay la cà từ bàn này sang bàn kia, mỗi nơi nói ba điều, bốn chuyện thật là thân mật, vui vẻ. Tôi cứ có cảm tưởng ấm cúng Ty là nhà của mình và cũng là nhà của mọi người. Nay thì nhìn vào Ty cứ có cảm giác rờn rợn như Ty Mật Thám Tây hồi xưa.

Niên học sắp hết thì cái không khí “lo lắng cho số phận” của đám “lưu dung” ngày càng nặng trĩu khi giáo viên ngoài Bắc vào Ty càng lúc càng nhiều. Bài tập làm văn các em học lớp Ba “điền vào chổ trống…” đang sắp diễn ra rồi. Ai sẽ là người ra đi để chừa lại chổ trống?
Cuối cùng thì cái bảng “Phong Thần” cũng được niêm yết. Đám lưu dung chen nhau vào coi. Danh sách giáo viên “mất dạy” dài lắm, có tới năm trang đánh máy. Bắt đầu từ bữa ấy, bỗng nhiên xuất hiện một loạt “từ” lạ lùng đầy mĩa mai, cay đắng: Thầy giáo thành tháo giầy. Giáo chức thành dứt cháo. Thầy giáo bị cho nghỉ việc là “mất dạy”. Không được lãnh lương nữa là “bất lương”. Nói một hơi liền nhau là: “Thầy giáo tháo giầy đã mất dạy lại còn bất lương. Giáo chức ư? Cho nó dứt cháo luôn”! Tôi là một trong cái đám đông “mất dạy và bất lương” đó.

Khi thấy tên mình trong danh sách, mặc dù cũng đã chuẩn bị tâm lý trước cái cảnh “ái ân ta có ngần này mà thôi”, nhưng ai cũng ấm ức muốn biết rõ lý do vì sao lại bị cho nghỉ việc. Nghĩ lại thấy buồn cười. Sao hồi đó mọi người đều ngây thơ con cá vàng như vậy? Ngây thơ từ ông Tổng Thống cho tới anh thường dân. Không ai có thể có một chút nghi ngờ nào về cái gian trá, xảo quyệt của Cọng Sản. Cứ lấy bụng ta suy ra bụng người của Ông Khổng Tử lỗi thời từ mấy ngàn năm trước mà áp dụng cho Cọng Sản. “Đánh người chạy đi, không đánh người chạy lại” đó là khẩu hiệu Đảng Ta đưa ra để dụ dỗ cái đám “Ngụy quân, Ngụy quyền” thơ ngây, tin tưởng vào chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc. Để rồi bị đọa đày, bị trả thù một cách ti tiện dã man,vô nhân đạo sau này. Lúc đó mới hiểu ra rằng Đảng Ta chơi chữ. Tại mình ngu ngốc theo kiểu quân tử Tàu mới không hiểu thâm ý của Đảng Ta. Ngày xưa trẻ con thường đùa nhau cái câu “Quân tử nói đi là quân tử dại! Quân tử nói lại là quân tử khôn”. Bây giờ cái câu “Đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại” cũng y như thế. Nó chạy mất mẹ rồi, đánh thế chó nào được. Chỉ có thằng ở lại mới giơ đầu chịu báng thôi!
Hàng hàng, lớp lớp đám ở lại lần lượt vào tù. Đám chạy đi thì thong dong một cõi tự do. Bấy giờ thì mọi người mới tá hỏa tam tinh, trợn trắng con mắt. Nhưng muộn đà quá muộn. Lớp chết ở rừng sâu. Lớp chết trên núi cao. Lớp chết bệnh, chết đói trong trại “học tập”. (Đừng nói chi cái hồi 75, còn mớ ngủ, ngay bây giờ năm 2004, tại hải ngoại này vẫn còn nhiều “ thằng Ông” ban ngày đi kiếm đô la Mỹ, đêm về ngồi hì hục viết báo ca tụng công đức Cọng Sản và xúi trẻ ăn cứt gà chui vào cái rọ hòa hợp hòa giải với Cọng Sản) Tôi cũng cố chen theo chân nhiều anh em vào Phòng Tổ Chức để biết lý do vì sao lại “được cho nghỉ ngang xương”. Từng người, từng người vào rồi ra, mặt ỉu xìu xìu. Có ai hỏi thăm thì cái đầu lắc, cái tay chỉ vào trong, giống như bị á khẩu. Đến lượt tôi vào, ngồi đối diện với ông Trưởng Phòng, tên Cung, người choắt như con chồn đèn, mặt đen và lạnh như tiền. Sau khi nghe tôi khai tên họ và nhiệm sở, ông lục trong xấp hồ sơ dày cộm trên bàn, rút ra một tập, ngoài bì có tên tôi. Không biết cái giống gì bên trong mà có nhiều giấy quá. Ông lật từng tờ xem qua, xong hắng giọng:

- Anh là đảng viên Đảng Dân Chủ phản động của thằng Thiệu, lại giữ chức vụ quan trọng là huấn luyện, tuyên truyền. Vậy mà còn kêu ca cái gì?
- Thưa cán bộ! Tôi có vào Đảng Dân Chủ hồi nào đâu?
- Đây! Cứ xem cho rõ nhé! Hết chối cãi nhé!
Hắn vừa nói vừa rút tờ giấy trong xấp hồ sơ đưa cho tôi coi. Tôi cầm tờ giấy thấy rõ ràng tên tôi có đầy đủ cả ngày sinh, tháng đẻ, chức vụ, ngạch trật, nơi phục vụ hiện tại, không sót một chi tiết nào. Nhưng cái khoản nằm sau cùng mới làm mắt tôi nổ đom đóm: “Đảng viên Đảng Dân Chủ, chức vụ Tuyên-Nghiên-Huấn Phường Bộ…” Bên dưới đóng khuôn dấu tròn, đỏ lòm, to như cái khu chén với ba chữ nằm ngang theo đường kính: Đảng Dân Chủ. -
Anh còn gì để khiếu nại không? Hắn cười mĩa mai.
- Thưa cán bộ! Thực tình thì tôi chưa hề vào cái đảng nào cả. Cả cái cương lĩnh đảng như thế nào tôi cũng chưa thấy qua. Nhưng có một điều tôi chắc cán bộ có nghe nói tới. Đó là sự tự động của các Ty ghi tên nhân viên mình vào cho đông để lập danh sách “ma” trình lên Tỉnh theo yêu cầu. Nhất là những ai giữ chức vụ từ hiệu trưởng trở lên.
- Anh nói thế mà cũng nghe được à? Anh không vào mà người ta cũng ghi tên à? Anh có biết tôi phấn đấu bao nhiêu năm mới được vào đảng không? Anh tưởng ai cũng được kết nạp vào đảng à?
- Thưa cán bộ! Chuyện đó thì tôi không biết. Nhưng bây giờ trong hồ sơ tôi, giấy trắng mực đen đã ghi rõ như vậy rồi tôi làm sao mà cãi được. Tôi phải chấp nhận thôi.
- Được! Anh nói thế thì được. Nhưng lý lịch anh chúng tôi còn phải xem xét nhiều.

Tôi ngao ngán bước ra khỏi phòng Tổ Chức, lòng không vui, không buồn. Và giống như những người ra trước, tôi không muốn nói năng gì. Ai hỏi thăm: - Sao? Sao? Tôi cũng chỉ tay vào trong ngụ ý: - Cứ vào đó thì biết!
Tuy nói “lòng không vui, không buồn” đó chỉ là ý nghĩ nhất thời chấp nhận hoàn cảnh một cách hiên ngang, không lạy lục xin xỏ như những bạn đồng nghiệp khác, nhưng khi về đến nhà thì một nổi lo âu xâm chiếm trong đầu càng lúc càng nặng trĩu. Tương lai sẽ ra sao đây? Mình sẽ làm gì đây để lo cho gia đình một vợ bốn con, còn thơ dại?
Tôi ngủ vùi suốt mấy ngày. Giấc ngủ nặng nề, cứ chiêm bao mộng mị chập chờn. Ba hôm sau, tôi dần dần tỉnh táo và hiểu ra rằng, xung quanh mình còn nhiều người cũng lâm vào cảnh khốn khổ như mình, tại sao lại không tìm đến nhau để tìm ra lối thoát.
Tình cờ trong quán cóc cà phê góc đường Hai Chùa tôi gặp hai anh Lưu và Hai đang ngồi nhâm nhi, hút thuốc vặt. Tôi sà vào góp chuyện.
Anh Lưu hiệu trưởng trường Dương quang Sang như đã đề cập ở trên. Anh Hai là giáo viên phụ trách Thể dục Thể thao ở Ty. Trước, anh là nhân viên của Ty Thanh Niên, được biệt phái qua Ty Giáo Dục.
Ba chúng tôi tán gẫu chuyện “ trời ơi đất hỡi” một lúc rồi cũng quay về chủ đề không tránh khỏi: Tương lai sẽ ra sao? Vì cả ba bây giờ đã trở thành “mất dạy và bất lương” cả rồi.
Và cái viễn cảnh “ bị đưa đi kinh tế mới” đã chập chờn trước mặt không xa. Cả ba chúng tôi bây giờ là kẻ không nhà. Trường tôi đã bị trưng dụng làm “Nhà tập thể” cho gia đình Hải quân Giải phóng. Tôi phải dọn đi và ở nhờ nhà người em. Gia đình anh Hai bị đuổi khỏi khu Ty Thanh Niên trong sân Vận Động Nha Trang. Anh Lưu thì ở nhà thuê. Cả ba đều hội đủ tiêu chuẩn “trúng tuyển” đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Nhiểu Giang hay Đồng Găng.
- Phải “chạy chính sách”! Anh Hai nói một cách quả quyết.
- Chạy chính sách nghĩa là gì? Tôi và anh Lưu đều thắc mắc, không hiểu.
- Tôi có người quen vừa ở Bắc vào - anh Hai giải thích - họ khuyên bằng bất cứ giá nào cũng phải bám lấy thành phố, chớ có dại nghe lời phỉnh gạt của ông Nhà nước đi xây dựng kinh tế mới có mà chết. Chạy chính sách là tìm mọi cách để được cái giấy chứng nhận là mình có làm ruộng hay làm rẫy ở thôn quê.
- Mình không có ruộng rẫy gì hết thì làm sao có được tờ chứng nhận?
- Mình phải đi tìm!
- Bằng cách nào?
- Ruộng thì không có rồi. Phải đi làm rẫy. Rừng núi thiếu gì! Cứ vào đó chiếm một miếng rồi ra Xã khai, đóng cho Xã ít tiền là có giấy chứng nhận.

Không biết anh Hai học ở đâu mà nghe anh nói rành rõi quá chừng khiến tôi với anh Lưu nhìn anh vô cùng khâm phục cái sự hiểu biết thời cuộc mau lẹ quá vậy. Cứ quyết định như vậy. Càng sớm càng tốt. Ba chúng tôi xuống ngay chợ Đầm mua ba cây rựa. Nhất định ngày mai đi tìm rẫy. Bấy giờ đi đâu cũng đụng đầu câu khẩu hiệu “ Lao động là vinh quang” nằm chình ình ngay dưới câu “ Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” làm như Bác Hồ lao động ghê gớm lắm vậy. Mà quả thật! Nơi nơi công cộng đều treo hình to tổ bố bằng cả chiếc chiếu đôi, Bác đang mặc áo đại cán, ngoài khoác áo choàng, tay cầm cái bình sen vừa tưới cây vú sữa ( nói là ở tận Miền Nam đem ra tặng Bác) vừa cười ngoản ngoẻn trông điệu lắm. Sáng hôm sau, anh Hai dẫn chúng tôi đến nhà một bà người Bắc mà anh bảo là đã truyền cho anh bí quyết “chạy chính sách”. Bà Cụ chừng sáu mươi, tóc vấn khăn mỏ quạ, nhai trầu luôn miệng. Tuy vóc bà nhỏ thó nhưng dáng đi, điệu đứng hãy còn nhanh nhẹn lắm. Tiếng nói của bà cũng oang oang. Bà từ ngoài Bắc chạy vào sau cái ngày 30 tháng tư mấy tháng. Bà chiếm một khu đất trống gần sân bay, làm một cái nhà tranh lụp xụp để ở. Sau lưng nhà là môt bãi cát trắng phau phau, loại cát biển bồi. Trên đó lú nhú hơn trăm gốc mì còi cọc cao chưa tới nửa thước, thân nhỏ như ngón tay. Trông sao tiêu điều xơ xác quá. Cát biển không có chút phân bò, phân trâu hay mùn nào cả làm sao mà có cây cối gì mọc cho được. Cỏ còn không mọc nổi nửa mà! Bà Cụ đón chúng tôi rất thân tình. Bà cũng chẳng hỏi chúng tôi là ai, Nguỵ quân hay Nguỵ quyền gì cả. Bà nói chuyện rất vui và cởi mở:
- Ối Giời! Thời buổi này chúng ta đều khổ cả. Cả nước đều như nhau. Không cứ gì các anh. Chúng tôi ở ngoài í còn khổ gấp trăm lần hơn thế này. Nghe nói miền Nam vừa giải phóng xong là chúng tôi ù té chạy vào đây ngay đấy! Tuy khổ nhưng hãy còn cái đút vào mồm hơn là những ba mươi năm sống với Bác Hồ khổ ơi là khổ!

Nghe bà Cụ bạo mồm, bạo miệng, ba chúng tôi nhìn nhau e ngại nhưng trong lòng cũng có chút khoan khoái. Bấy lâu nay ai dám nói toạt ra điều ấy? Chỉ có người “cách mạng” họ nói được và dám nói mà thôi. Bất cứ người nào ở Bắc vào, dân miền Nam đều coi là “ thành phần cách mạng” hết. Có hai vợ chồng già vào mua nhà cạnh nhà cô em gái tôi ở, cũng xưng xưng là cách mạng. Suốt ngày cứ “ơn Bác, ơn Đảng” “chấp hành tốt chính sách”. Nghe cứ ơn ớn. Mấy tháng sau mới rõ ra là: ông thì Bình Định tập kết ra Bắc làm anh nuôi gặp bà Lào Cay giữ trẻ, chung một nông trường. Hai bên lúc ấy đã quá năm mươi bèn nhờ “tập thể” đứng ra “tổ chức” một bửa nước trà vối và mấy cái kẹo vừng để “ quản lý đời nhau”. Suốt từ ấy đến nay, chẳng Đảng, chẳng điếc gì cả mà cứ hở miệng ra là “đầu đội chủ trương, vai mang chính sách”. ( Sau này mới vỡ lẽ ra, không riêng gì cặp vợ chồng già ấy mà mấy chục triệu dân Bắc hầu hết đều nói y một rập như nhau. Có cảm tưởng trong cổ họng mọi người đều có gắn một cái cát xét thu sẵn một cuốn băng giống nhau. Bật máy lên là băng chạy từ đầu đến cuối, không sai một lời.) Bà Cụ mà chúng tôi gặp sáng nay chắc thuộc thành phần bất mãn chế độ đây. Anh Hai chở bà Cụ, ba xe Honda cùng chạy vào Suối Dầu. Vừa đi vừa nói chuyện, dần dà tôi biết ra, anh Hai quen bà là thời gian anh theo xe lửa vô đây mua chuối, mua khoai hay các thứ nông sản gì bán buôn được mang về Nha Trang bán để độ nhật cho gia đình. Quên nói là anh Hai bị cho nghỉ việc ngay từ ngày đầu niên khóa. Giáo dục kiểu miền Bắc không có cái môn Thể dục Thể thao. Vợ chồng bà Cụ làm rẫy ở Suối Dầu. Đi trên xe gặp nhau thường nên quen. Bà nói với anh Hai khi nào bán buôn hết được, muốn theo bà làm rẫy thì bà giúp cho. Anh Hai cũng tính đi làm rẫy cho yên thân từ lâu vì bán chui, buôn lậu kiểu này ắt có ngày mất cả chì lẫn chài với bọn công an kinh tế. Với chính sách “ ngăn sông cấm chợ” bọn chúng có quyền tịch thu tất cả hàng hóa di chuyển từ địa phương này đến địa phương khác. Cái thời gian mấy năm dân chúng khổ ải vô cùng. Nông dân có lúa gạo mà không có cá, có mắm muối để ăn. Dân Hòn Khói, Cam ranh làm muối không có gạo để nấu. Ngư dân đánh cá lên không đem đi bán được. Dân thành phố có tiền cũng không mua được gạo muối để sống. Cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa kinh tế tập trung cái kiểu gì không hiểu nổi!

Đi làm rẫy một mình, anh Hai còn e ngại vì chưa hề cầm rựa, cầm cuốc bao giờ, làm rẫy là làm cái gì cũng không biết nữa nên không dám. Bây giờ có thêm tôi và anh Lưu, tuy cả ba đều trớt móng heo như nhau, nhưng ngạn ngữ có câu: “ ba người cùng đi ắt có kẻ làm thầy” ( tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư) anh đâm ra bạo phổi, mặc dù cả ba đều không có ai là thầy như câu nói trên. Còn tôi và anh Lưu thì cứ nhắm mắt ăn theo anh Hai. Anh đi đâu chúng tôi theo đó. Y như nàng Kiều của Cụ Nguyễn Du nhắm mắt theo chân Sở Khanh : Cũng liều nhắm mắt đưa chân. Thử xem con tạo xoay vần ra sao? Trước khi đi bà Cụ bảo chúng tôi ghé tiệm mua mấy trăm gờ ram cà phê để làm quà cho ông Cai Hương đang trông coi đồn điền cao su của Viện Pasteur. Ông này sẽ cho chúng tôi một miếng đất nằm trong khu vực vườn cao su để làm rẫy trồng mì. Ngay tại Ga Suối Dầu, ông Cai này có một cơ ngơi lâu đời bên kia cầu xi măng, nằm trên một khoảnh đất bồi bên bờ sông. Nhà ngói khang trang ba gian. Có cả ga ra và một xe Jeep. Đường từ cổng vào nhà rãi đá cuội trắng. Quanh nhà, vườn cây ăn trái nào cam, nào bưởi đang mùa, nhánh oằn trái. Nhất là những bụi chuối hương trồng dọc theo hai lối đi, buồng nào cũng hơn mười mấy nải, trái to hơn cườm tay, chấm sà xuống gần đất, phải có nạng chống đở. Thấy bắt ham. Ông Cai Hương người cao gầy, góa vợ, khoảng hơn sáu mươi, không biết quen với bà Cụ lúc nào nhưng thấy hai người nói chuyện có vẻ thân thiết lắm. Bà Cụ giới thiệu chúng tôi là những cháu họ xa, trước làm công chức nay đã bị cho nghỉ việc. Bây giờ muốn có đất làm rẫy để khỏi bị đi kinh tế mới. Ông Cai nói: - “Không lo gì!”. Sau khi nhận gói cà phê xong, ông dẫn chúng tôi ra khỏi nhà một quãng, độ nửa cây số và chỉ cho một khoảnh đất trống nằm giữa vườn cao su, rộng độ một sào tây (360m2), ông nói:
- Khoảnh đất này, cao su già đã chết mấy năm nay, không có người trồng lại. Mấy cậu cứ lấy trồng mì đi. Khi nào Sở thuốc (Pasteur) lấy lại hẳn hay. Đất cũng tốt lắm đó.
Chúng tôi nhìn miếng đất thấy thích lắm. Thứ nhất, nó nằm ngay ven đường lại gần quốc lộ. Thứ hai, đất nâu trông màu mở quá, không như đất của bà Cụ trắng hếu. Thứ ba, đi làm rẫy mà lại gặp may ngay ngày đầu dễ dàng. Nghe nói nhiều người phải vào tận núi sâu, tít trên cao kia mà?
Có điều lâu ngày, cỏ mọc um tùm và đất rắn lại, cứng như đá. Ba chúng tôi làm sao mà cuốc nổi một miếng đất to như vậy!
Hình như hiểu rõ trong bụng chúng tôi đang nghĩ gì, ông Cai lại nói:
- Mấy cậu sợ không cuốc cỏ nổi phải không? Không hề gì! Cứ bỏ ra vài ngàn mướn cày máy, cày một buổi là xong. Dễ như thế mà chúng tôi không ai nghĩ ra. Chúng tôi đi vô làng gặp người có máy cày nhờ cày giúp. Khi thỏa thuận giá cả xong, họ hẹn một tuần nữa mới tới phiên. Chúng tôi khoan khoái trong lòng và theo bà Cụ vào rẫy của bà chơi cho biết. Rẫy bà nằm sâu trong chân núi, cách đường xe chừng năm cây số. Mỗi tuần hai lần, bà theo xe lửa và cuốc bộ vào đây để mang lương thực tiếp tế cho ông chồng nằm trụ ở đây trông chừng kẻ trộm bẻ bắp. Rẫy bắp đang mùa sắp hái. Cây nào cũng mập mạp, cao hơn đầu người. Bên nách mang hai hoặc ba trái to như bắp tay. Ông chồng rõ ra một nông dân chính cống. Tuy cũng quá sáu mươi nhưng tay chân, lồng ngực da thịt hãy còn săn chắc. Ông đi chân đất, hai bàn chân to bè. Ông nói chuyện điềm đạm không xởi lởi như vợ nhưng hình như có đắn đo trong cách nói:
- Làm rẫy khổ lắm các cậu ơi! Không như đi cắm trại đâu. Các cậu chắc đã nghe người ta nói “ rẫy bái, ruộng nương” rồi chứ?
- Dạ chúng cháu đọc thấy trong sách!
- Vậy các cậu có biết tại sao người ta lại nói như thế? Tại sao rẫy lại bái? Ruộng lại nương?
- Dạ thật tình chúng cháu không biết ạ!
- Đấy! Các cậu cứ nhìn cái rẫy của chúng tôi thì khắc biết!
Ba chúng tôi xách rựa đi một vòng quanh rẫy bắp, thấy cây nào cũng đầy trái nằm ngay hàng thẳng lối thì mê lắm. Lúc gió thổi qua, hàng bắp ngã nghiêng theo, cạ vào nhau xào xạc lại càng thơ mộng. Có gì mà phải bái. Ông cụ chỉ hù thôi. Chúng tôi nhìn nhau mĩm cười như cùng một ý nghĩ: “ Chúng tôi đã quyết tâm lao động rồi cụ ơi! Chúng tôi không phải là tay non gan như cụ tưởng đâu!” Khi trở lại chòi canh, ông cụ hỏi:
- Thế nào? Các cậu thấy thế nào?
Anh Hai mau mắn đáp:
- Thưa Cụ! Làm rẫy như rứa có chi mà khó! Cứ cuốc lổ rồi bỏ hột giống xuống, vài ba tháng là có trái chớ khó khăn chi mô?
Tôi và anh Lưu cũng hùa theo:
- Dạ phải đó Cụ! Chúng cháu đi xem rồi! Không khó như Cụ nói đâu! Tuy chúng cháu chưa làm rẫy bao giờ, nhưng chúng cháu là thanh niên mà! Có sức khoẻ và quyết tâm làm gì mà chẳng được!
- Phải! Các cậu nói thế thì đúng quá đi chứ! Chỉ sợ có quyết tâm mà lại không bền chí thôi!
- Làm rẫy mà phải đòi hỏi những đức tính khó như thế ư Cụ?
- Ấy! Là tôi có kinh nghiệm nhiều năm trong cái nghề cực nhọc này mới nói trước để các cậu liệu bề thôi mà! Còn làm là chuyện của các cậu!
- Thế! Thưa Cụ, Cụ thử nói vài cái khó như thế nào để chúng cháu xem thử mà liệu đường trước!
- Ối! nhiều lắm! Nói một lúc không nhớ và nói hết được. Các cậu thấy cái rẫy của chúng tôi bây giờ thành khoảnh khó mà hình dung ra trước kia nó như thế nào! Nó là rừng đấy. Cứ nhìn cái rựa các cậu mua là tôi đã biết rồi. Người đi làm rẫy không ai mua cái rựa to bản như thế. Nó chỉ dùng để bổ củi thôi! Chúng tôi nhìn lại cái rựa của mình đang nắm khư khư trong tay, không biết ra sao cũng bắt đầu nghi ngờ nó là vật vô ích rồi.
Ông Cụ vào chòi đem cây rựa của mình ra đặt trước mặt chúng tôi để so sánh:
- Đấy các cậu xem! Đi làm rẫy người ta đặt lò rèn làm cây rựa như thế đấy. Cán dài, lưởi rựa thanh mỏng, vừa nhẹ tay, vừa bén ngót để vừa chặt cây, vừa phạt chồi, vừa phát giây leo, giây gai móc mèo vân vân…Còn cây rựa các cậu cầm đã thấy mõi tay rồi nói chi tới lúc quơ nó làm việc. Quả thật ba cây rựa chúng tôi trông thật ồ dề, cái bãn đã dầy lại to. Còn cái cán thì cụt ngủn. Ông Cụ nói không sai. Nó chỉ dùng để bổ củi. Thế mà lúc mua, ba chàng Ngự Lâm pháo thủ tranh nhau lựa cái thật to, thật nặng cho ăn chắc. Chặt một cái là bay… đầu! Nhưng thay cái rựa khác thì dễ thôi! Nó không phải là điều khó khăn lắm. Trong lúc chúng tôi trò chuyện, bà Cụ đi bẻ một rổ bắp vừa luộc, vừa nướng đãi chúng tôi ăn trưa. Thật tình mà nói, tuy chưa nếm mùi rẫy bái ra sao, nhưng được ngồi nơi thanh vắng, nghe tiếng chim cu gù từng chập đâu đây, nghe tiếng gió rì rào bên tai lại được ăn những trái bắp nóng hôi hổi… chúng tôi cũng cảm thấy đời đâu đến nổi khổ. Đời còn vui nữa là khác!
Vừa ăn, ông Cụ cứ vừa thong thả nói như kể chuyện đời xưa:
- Hôm nay chúng ta ngồi nhai trái bắp ngọt bùi này, các cậu có biết rằng sáu tháng trời vợ chồng tôi phải luôn phiên cuốc cỏ không ngơi tay? Cuốc vừa xong hàng đằng trước, thì hàng đằng sau cỏ mọc lại um tùm. Cỏ không kịp làm, nó quấn vào gốc là bắp không có trái. Trái vừa ngậm sữa thì đêm khỉ sóc xuống ăn, ban ngày quạ két từng đàn xuống mổ. Ngủ quên, ăn trộm lẻn vô bẻ không còn một trái. Đấy! Mới sơ sơ chừng ấy chuyện, liệu các cậu có kham nổi không ? Liệu các cậu có thể để vợ con ở nhà mà vào đây nằm chèo queo một mình trong cái chòi như thế này, ngày này qua ngày khác không? Đó là chưa kể tới công lao một mùa cây trái liệu đem ra bán đủ sở hụi nuôi sống gia đình không? Làm ruộng còn chưa có ăn huống hồ làm rẫy!
- Nghe Cụ nói, chúng cháu nãn quá! Nhưng chúng cháu chỉ chạy “chính sách” thôi, không có ý định sống chết với rẫy đâu Cụ à!
- Thế thì còn may ra! Nhưng cũng phải tốn công, tốn của lắm lắm!
- Bây giờ thì chúng cháu đang thất nghiệp! Cứ ở nhà làng nhàng thì Phường Khóm nó xúc đi kinh tế mới!
- Thôi thế thì vào đây kiếm cái rẫy làm cho vui qua ngày cũng được. Nhưng, khi đã làm thì bị dính vào luôn. Hở tay rựa vài tháng, cái rẫy lại biến thành rừng ngay. Lúc đó thì “bái” dài luôn. Nhìn lại ngao ngán lắm các cậu ơi.
Trời đã xế bóng, chúng tôi giả từ hai ông bà Cụ, trở về Nha Trang. Khi đi ngang qua miếng đất hồi sáng, chúng tôi dừng lại ngắm nghía, anh Lưu buột miệng:
- Nghe ông Cụ nói cũng bi quan quá. Nhưng cái rẫy tụi mình ở đây, gần làng, gần xóm, nó đã thành đất vườn rồi đâu sợ gì thành rừng nữa. Cày xong, mình trồng khoai mì xuống, nghe nói sáu tháng sau là có ăn rồi.
- Phải đó! Ba anh em mình thay phiên nhau mỗi người một ngày vô chăm sóc trông nom thì đâu có ngại gì như ông Cụ nói.
- Nhà tôi có nhiều sách bày cách trồng trọt nhiều thứ lắm. Tôi xin ở Ty Nông Nghiệp hồi trước còn để dành. Mình sẽ nghiên cứu trồng đậu phọng, đậu xanh, đậu đen, mè… chen vô cây mì.
Tôi cũng phấn khởi lây và hăng hái góp ý. Anh Lưu với anh Hai thấy tôi có vẻ “ thông thái” về nghề nông nên giao cho tôi cái vụ “nghiên cứu”. Ra tới ga Suối Dầu, ba anh em làm ba ly cà phê đá, bập luôn mấy điếu thuốc Hoa Mai khét lẹt nhưng vẫn cảm thấy ngon vì đời cũng còn tươi đẹp lắm. Rõ là hãy còn lãng mạn cái kiểu“ trí thức tiểu tư sản”.

Một tuần sau đúng ngày giao kết với người cày mướn, chúng tôi lại hăm hở lên đường. Tiền nong ba chúng tôi đã chuẩn bị sẵn. Nếu hôm nay cày xong, ngày mai sẽ mua hom mì trồng tức khắc. Trồng sớm ngày nào có “giấy chứng nhận” sớm chừng ấy. Chạy chính sách cũng chẳng khó khăn bao nhiêu! Lúc đến nơi, chúng tôi thấy người lái máy cày quả đúng hẹn. Họ đã cày từ sớm và gần hoàn tất sào đất chúng tôi. Có ba người lạ cũng đứng xem cày và họ chỉ trỏ tay chân, nói chuyện với nhau. Lúc cày xong, người thợ lái cày ngừng máy, bước xuống xe, ba người kia tới trao tiền và nói cám ơn. Chúng tôi ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Đất của mình mà! Mình cũng đã gặp và nhờ anh chàng cày máy này cày cho mình mà! Sao bây giờ lại…?
Ba chúng tôi cùng ùa lại và gần như đồng thanh:

- Này mấy ông, bà! Đất của chúng tôi sao mấy người lại dành? Còn anh tài xế đã nhận lời với chúng tôi hôm trước, bây giờ lại đi cày cho người khác? Nghĩa là sao?
- Đất gì của mấy ông? Đất của Nhà nước! Tụi tui là dân ở đây còn chưa có đất để làm ăn, các ông là dân ở đâu lại đến đây dành đất hử?
Ba người họ giận dữ đốp chát lại. Anh tài xế thì gãi đầu:
- Tui chỉ biết cày mướn thôi! Còn chuyện đất của ai thì xin mấy ông bà nói với nhau.
Nói xong anh leo lên xe lái đi mất. Còn lại chúng tôi với bọn dân làng đôi co với nhau. Anh Hai đem ông Cai Hương ra đối chứng:
- Nì! Đất ni là của Viện Pasteur do ông Cai Hương cai quản. Ông ấy đã cho chúng tôi mượn để trồng mì một thời gian. Mấy ông, bà không tin chúng tôi thì cứ vô đó mà hỏi.
- Ông Cai Hương là cái gì mà tụi tui phải hỏi? Ông ấy sắp bị đi học tập cải tạo rồi. Có hỏi thì mấy ông đi với tụi tui vô trụ sở Xã để hỏi.
- Ừ ! Đi thì đi! Phải hỏi cho ra lẽ! Mấy ông bà đừng cậy thế dân địa phương mà ăn hiếp chúng tôi.
Đi ngược ra lại cầu xi măng, trụ sở Xã nằm trên một gò đất cao, đối diện với nhà ông Cai Hương. Trước mặt là sông Suối Dầu, một nhánh của dòng sông Cái, đang lặng lờ chảy. Mùa hè, mực nước thấp, nước trong vắt. Giờ này Xã đang đông người đứng chờ. Kẻ ra, người vào nườm nượp như đi chợ. Chúng tôi ngồi ngoài hiên hút thuốc vặt để chờ đến phiên. Mãi gần mười một giờ trưa mới đến lượt chúng tôi vào. Tại bàn giấy có cục gỗ hình tam giác trên kẻ mấy chữ bằng sơn đỏ: Ủy Viên Nông Nghiệp, một ông cán bộ ngồi bắt một chân lên ghế đang lè lưỡi liếm dán một điếu thuốc rê “bốc lăn xe” to bằng ngón tay cái. Chúng tôi sáu người đứng đó đợi ông. Ông cứ mặc kệ, thản nhiên coi như không có, chẳng hề có cái liếc mắt ngó lên. Ông chậm rãi móc túi áo bà ba lấy ra cái hộp quẹt nhôm hai nắp, chậm rãi mở ra một nắp để trên mặt bàn, chậm rãi quẹt xẹt…xẹt…mấy cái. Không bắt lửa. Ông mở luôn nắp dưới, kê lên miệng phùng mang thổi cho dầu hôi tràn lên tim quẹt, đậy nắp lại rồi quẹt thử mấy cái xẹt, xẹt nữa. Vẫn không bắt lửa. Dầu nhiều quá làm ướt tim. Ông kéo ống quần lên chậm cho tim khô bớt dầu. Rồi lại quẹt. Cái loại hộp quẹt lửa do Việt Nam sản xuất, rẻ tiền cho dân nghèo xài bằng dầu hôi và tim bông gòn có cái cũng tốt, có cái quẹt phồng cả da tay vẫn không bắt lửa. Cuối cùng thì ông cũng quẹt được và bập bập điếu thuốc “bốc lăn xe” cho đến khi đầu điếu thuốc đỏ rực lên như cây đuốc ông mới ngẫng đầu lên nhả khói mù trời và đưa mắt nhìn chúng tôi:
- Chuyện gì đây? Lại thưa kiện đất đai hả?
Ông vừa hỏi vừa nhìn chúng tôi soi mói từ đầu xuống chân.
Ba người dân làng tranh nói trước. Chúng tôi trình bày sau. Rõ ràng là họ đuối lý. Miếng đất đó lâu nay nằm ở đó sao họ không lấy. Bây giờ ông Cai Hương cho chúng tôi đàng hoàng, họ lại dành. Chúng tôi thắng là cái chắc. Ông Ủy viên ngồi yên nghe hai bên nói. Miệng ông cứ bập thuốc liên hồi. Cái thứ thuốc rê trồng có bón phân trâu, không bập là tắt. Vừa hết điếu thuốc, ông quăng cái đuôi thuốc ra ngoài cửa, lại móc túi áo bà ba lấy ra cái bọc nilông đựng giấy quyến và thuốc rê, quấn điếu khác. Ông vừa quấn thuốc vừa quay qua chúng tôi hỏi:
- Mấy ông ở đâu? Có hộ khẩu ở Xã này không?
- Thưa cán bộ! Chúng tôi ở Nha Trang lên đây làm rẫy. Chúng tôi đã được ông Cai Hương cho đất.
- À! Cái ông Hương đó hả? Ông đó quyền gì cho các ông đất? Đất đai là tài sản của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Ngay cả đất, vườn, nhà của ông ấy đã chiếm của nhân dân bấy lâu nay Xã cũng đã qui hoạch sắp tịch thu rồi. Bản thân ông ta cũng được Xã trình lên Huyện cho đi học tập cải tạo một thời gian.
Nghe ông Ủy viên nói một thôi, chúng tôi ngớ người ra, lưỡi cứng đơ, hồi lâu anh Hai mới lắp bắp:
- Dạ thưa cán bộ! Bây chừ chúng tôi phải làm răng? Chúng tôi muốn lao động mà!
Tôi với anh Lưu được dịp hùa theo:
- Dạ phải đó cán bộ! Nhà Nước đang kêu gọi mọi người phải lao động. Lao động là vinh quang mà. Ở thành phố đâu có chuyện gì để lao động đâu! Chúng tôi muốn làm nông dân cày cuốc sản xuất.
- Các anh nói thế thì cũng tốt thôi! Thôi thì, tôi cho các anh vào sâu phía trong chân núi mà khai phá rẫy nương, tăng gia sản xuất. Còn miếng đất trong rừng cao su đây thì để cho Xã dùng để gây quĩ. Xã ta còn nhiều khó khăn.
Ba người dân làng nghe nói miếng đất để cho Xã trưng dụng bèn “ủa” lên một lượt: - Dạ ông Ủy viên nói vậy còn tiền chúng tôi bỏ ra thuê cày sáng nay thì tính sao?
- Mai mốt thu hoạch lợi tức hoa màu, Xã sẽ bồi hoàn lại cho các ông chớ mất mát đi đâu mà sợ!
Ba anh nông dân cảm thấy tiền mình hình như đang bay lên trời, khó bắc thang mà đòi lại, nhưng cũng cố vớt vát:
- Thưa ông Ủy viên! Đồng tiền liền núm ruột! Bây giờ chúng tôi cần nó để làm chuyện khác chớ chờ Xã thu hoạch e lâu quá!
- Thế các anh không tin Xã à? Xã tức là Nhà nước, tức là Đảng. Các anh không tin Đảng và Nhà Nước à! Thế Đảng nói dối, nói gạt các anh à!
Đến đây thì mấy anh nông dân cũng đớ lưỡi như chúng tôi hồi nãy, há miệng, tròn xoe mắt mà không nói thêm được tiếng nào.
Ông Ủy viên phát tay ra hiệu cho chúng tôi lui, coi như việc đã giải quyết xong. Ông tiếp tục quấn thêm một điếu thuốc nữa và đứng dậy đi về phía cửa sổ, ở đó có bình trà bằng nhôm to kềnh, ông rót một ly, ngữa cổ uống sạch, khà một tiếng rồi giơ hai tay lên trời, vặn lưng, miệng than:
- Từ sáng tới giờ giải quyết toàn ba cái chuyện không đâu vào đâu, mệt quá chừng! Bọn chúng tôi sáu người lủi thủi đi ra, mặt người nào cũng buồn xo, bí xị như Lưu Bị thua Tào. Nhưng anh em tôi cũng còn may, chưa mất tiền cúng cho Xã. Chỉ có ba anh chàng nông dân tham lam chiếm tay trên chúng tôi miếng đất, cứ tưởng bở ăn qua Nhà Nước, mất toi ba ngàn đồng bạc. Làm sao mà ăn qua được cái Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa đã được nghiên cứu kỹ lưỡng mấy chục năm ở tận bên Nga, bên Tàu. Bác Hồ đã khổ công chọn lọc ghê lắm mới đem về cho đất nước chớ bộ giỡn chơi đâu! Ra khỏi Xã, trời đã đứng bóng. Chúng tôi chạy xe vô rẫy của vợ chồng ông bà Bắc để có chổ nghỉ trưa và trút bầu tâm sự. Nghe chúng tôi kể lể xong, bà Cụ nóng gan chữi đổng:
- Thật là cái quân khốn nạn đến thế là cùng!
Ông Cụ thì cười hì hì:
- Các anh đừng lấy làm lạ! Mà bà cũng chẳng chữi làm gì cho phí hơi! Đâu đâu cũng rặc một phường đểu cán như thế cả!
Ăn trưa xong, chúng tôi đi sâu vào tận chân núi, dạo tìm xem có còn chổ trống không. Dưới chân núi, đất tương đối bằng phằng gọi là “nà” người ta đã chiếm và khai phá thành rẫy hết rồi. Lên cao lưng chừng núi một chút thì cũng đã có người khai vỡ và đang đốt những đám cây lá khô chặt trước đó để dọn quang khu đất. Chỉ còn nước leo tận trên đỉnh núi thì may ra. Ngước cổ nhìn lên thấy toàn đá tảng lởm chởm và đất xói mòn, bạc trắng y như cái đầu trọc. Ngao ngán trước cảnh núi rừng, ba chàng Ngự Lâm pháo thủ vác ba cây rựa bây giờ nặng hơn cả cây búa tạ, xụi lơ ra về. Bao nhiêu nhiệt tâm, hăm hở ra đi quyết thực hiện lời vàng ngọc của Bác Hồ “lao động là vinh quang” hơn tháng nay, bây giờ xì như cái bong bóng. Khi đi ngang cầu xi măng, anh Lưu quăng cây rựa xuống sông, kèm theo câu hò Nam Ai:
- Đù mạ mi! Lao động là vinh quang! Vinh quang cái con bòi!
Anh Hai đứng nhìn dòng sông, lưỡng lự một chút, rồi cũng quăng cây rựa của mình xuống nước. Dòng nước vẫn vô tình chảy. Anh không hò Nam ai hay Mái nhì mà nhìn tôi với cái mặt méo xẹo. Tôi thì không quăng, tôi quyết giữ cây rựa và quyết theo lời Bác Hồ lao động đến chiều.

… Sau đó, anh Lưu đi biệt tăm, có lẽ cũng theo gương Bác Hồ xuống ghe tìm đường cứu nước chăng? Đến nay tôi cũng không rõ anh đã tìm được “ miếng da dê” nào hay hơn “miếng da dê” của Bác Hồ không? Hay là đã đem thân mình làm mồi nuôi cá mập ở đại dương hay làm phân bón cây rừng ở biên giới Việt Lào? Anh Hai thì đùm túm vợ con ra chiếm một căn nhà tan hoang trong khu gia binh đường Lê văn Duyệt để chui rúc tạm và làm nghề cắt dép lốp. Không biết anh học lõm nghề này hồi nào và nhờ khéo tay và có sáng kiến, dép anh cắt theo kiểu giầy săn đan rất sắc sảo và đẹp thanh hơn kiểu dép của Bác Hồ đi xẻ dọc Trường Sơn cứu nước nhiều lắm. Mấy gian hàng bán dép bánh xe hơi ở chợ Đầm và chợ Xóm Mới đều đặt hàng ở anh. Hôm vợ chồng con cái chúng tôi đến thăm “xưởng dép lốp” của anh, anh cắt cho các con tôi những đôi dép bé tí tẹo, xinh thật là xinh. Sáu tháng sau, tôi trở lại thăm anh, thấy vắng ngơ vắng ngắt, nghe người chung quanh nói anh đã dọn “xưởng” sang đảo BiDông rồi, chờ ngày khai trương lại bên Mỹ. Quân xâm lăng Mỹ, sau khi bị bộ đội Cụ Hồ đánh cho hộc xì dầu, chạy trối chết, không kịp vơ vét cái nón cối với đôi dép râu nào về để trên bàn thờ làm kỷ niệm nhớ đời. Họ rất mong có người sang đấy lập ra kỹ nghệ làm dép lốp bán để họ đổ xô đến mua về làm cái món gọi là “Hội chứng Việt Nam”. Hy vọng anh Hai sẽ trở thành tỷ phú với bản quyền “ dép râu Cụ Hồ” để Việt Nam ta nở mặt, nở mày với năm châu, bốn bể trong ngành dép lốp. Chỉ còn mình tôi ở lại, lang thang ngày này qua ngày khác, hết Suối Dầu tới Suối Đá, ra tận đèo Rù Rì, Lương Sơn, tốn hết bao nhiêu là tiền ăn, tiêng xăng, tiền xe lửa mà vẫn không tìm được một miếng rẫy. Thế mới biết đất nước ta đâu cũng là “ rừng vàng, biển bạc” không dễ gì mó tay vào.

Cuối cùng thì cha tôi cũng theo lời nằn nì của tôi đành bấm bụng bán bớt một căn nhà để mua một cái rẫy rộng hơn mẫu tây ở Suối Đá của ông Ba Khòm ở Suối Dầu, nằm sâu trong núi, cách quốc lộ chừng năm cây số. Bỏ một số tiền lớn để mua một đống đá ngổn ngang với lèo tèo chục gốc mít, cha tôi xót ruột lắm. Nhưng nghĩ tới cảnh con mình phải dẫn vợ con đi kinh tế mới, ông không đành dạ. Ban đầu, cha con tôi ba người, thêm thằng em út chưa đầy mười hai tuổi cũng hăng hái theo Bác Hồ lao động, ngày ngày cơm bới, nước xách lên dọn đá. Toàn đá là đá. Địa danh đã gọi là Suối Đá mà. Mấy cây mít ra được trái nào chưa kịp nở gai đã bị hái trộm. Rẫy nào cũng bị trộm. Trộm từ vườn trộm vô tới rẫy, tới nương. Dân kêu ca quá. Nông Hội phải triệu tập nông dân học tập tám điều lệ, thực thi chính sách nghiêm minh của Đảng và Nhà Nước. Trong đó điều thứ tám cấm ăn trộm, phá hoại tài sản Nhà Nước và tập thể. Ai vi phạm sẽ bị bắt cải tạo. Vừa học ngày hôm trước, hôm sau nhà ông Nông Hội trưởng bị mất trộm. Buồng chuối hương mười lăm nải, mập núc ních trước cửa nhà, bị chặt mất một nửa. Trên nửa còn lại có ghim mảnh giấy với hai câu vè:
Tám điều Nông Hội đã thông,
Một buồng không dám! Xin ông nửa buồng!
Mấy cha con tôi hì hục làm được mấy tháng, ngày nắng chan chan cũng như ngày mưa dầm, nước lũ, chưa thu hoạch được gì ngoài một mớ gốc cây khô, cha tôi đánh và cõng về làm củi thì tôi bị bắt đi cải tạo ở Đá Bàn. Trong trại tù ( còn có tên rất hoa mỹ trại học tập) tôi nghe mẹ tôi đi thăm nuôi nói lại, cha tôi và em tôi vì phải ngủ lại trong rẫy để giữ trộm nên đều bị sốt rét suýt mất mạng. Cha tôi đành “bái” cái rẫy. Mất toi một số tiền lớn và cả tính mạng vẫn chưa thực thi được lời hô hào của Bác: Lao động là vinh quang! Còn tôi thì được Đảng cho lao động thoải mái, lao động thả ga, một ngày mười sáu tiếng đồng hồ để trở thành công dân hữu ích cho xã hội. Một năm miệt mài lao động không ngơi nghỉ, vậy mà mấy con chim chết tiệt đậu trên cành cây, thấy chúng tôi thất thểu khiêng cây, khiêng gỗ về trại, chúng vẫn kêu “chưa tốt , chưa tốt”. Cách thức “học tập lao động” trong trại “cải tạo” như thế nào, các bạn muốn biết xin xem truyện Trại Đá Bàn và Trại A.30 sẽ rõ. Đó là chuyện dài “Nhân dân tự vệ” thời kỳ Xã Hội Chủ Nghĩa, nói đến tết Công Gô cũng không hết!

Nguyễn Thanh Ty
Mùa Cô hồn Các Đản( Halloween) năm 2004

* Tả nị xị há! Tả nị ngẩu hịt lớ!: Đánh cho mày hộc máu! Đánh cho mày chết!
* Trung Tá Hải quân Hà Ngọc Lương cùng vợ và ba con tự sát trong quân trường.
* Nhà Sáu: Nhà biệt giam ở trại A.30 giam giừ tù án cao. Thiếu tá HQ Đặng hữu Thân cũng bị cùm ở đây.
* Bảng Phong Thần: là bảng dành ghi tên những kẻ có công khi tử trận. Ttrong truyện Phong Thần diễn nghĩa nói mỗi khi ai chết trận thì linh hồn sẽ bay lên đậu trên bảng Phong Thần.