free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ Và Truyện


Nguyễn Thanh Ty
- Trung Học Đệ Nhất Cấp :
Văn Hóa Tương Lai;55-59
- Trung Học Đệ Nhị Cấp :
Võ Tánh ;59-62
hiện ở Hoa Kỳ
- E-mail :
tythanh2001@yahoo.com



Chuyện “hồi cái nẳm” !
Nguyễn thanh Ty

H ồi cái nẳm tức là hồi cái năm ấy, thuở ấy, hồi xa xưa… cách đây không lâu, chừng mười lăm, hai mươi năm, ba mươi năm trở lại, chớ không xa lắc, xa lơ như chuyện Tấm Cám hay Thạch Sanh, Lý Thông, Phạm Công, Cúc Hoa…
Xóm tôi là một làng chài, nằm ven theo lưng Toà Hành Chánh Tỉnh và Lầu Ông Tư Yersin. Một mặt là sông, một mặt là biển. Người dân trong xóm đa phần làm nghề biển. Đàn ông con trai thì “kéo neo tát nước”. Đàn bà con gái thì bán cá gọi là “rổi”. Họ thất học hoặc có học chút chút cở “bình dân học vụ” đủ để đọc và nói thơ “Lục Vân Tiên” của ông Đồ Chiểu khi mùa trăng giả sắn nhuộm lưới. Hoặc học đủ mặt chử để đọc các mẫu tự “A,B,C…” mỗi khi “Ông Chính Phủ” cho người giăng dây ở Lầu Ông Tư đố chử. Ai đọc thông mấy chử cái đó thì mới được bước qua dây để đi lên chợ Đầm mua bán, đổi chác.
Nhiều bà “mít đặc” thì thụt lui. Cá tôm nhờ người khác bán dùm. Mặc dù “Ông Chính Phủ” nhiều lần, nhiều năm, khua chuông giống trống, hô hào bà con đi học “bình dân” để xóa nạn mù chử, nhưng cái tính “ngoan cố” của một số bà và cả một số ông nữa, nhất định “trốn” học. Còn nhớ “Ông Chính Phủ” cho học sinh đi khắp làng, cầm loa ca hát, tuyên truyền, kêu gọi người dân đi học với bài hát :

… Ai về chợ huyện (là) huyện Thanh Vân !
Hỏi thăm (là thăm) cô Tú đánh vần được chưa?
– Đánh vần năm ngoái, năm xưa!
Năm nay quên hết nên chưa biết gì!
Lưng trời tiếng sáo vi vu!
Lắng nghe ai học chữ i, chữ tờ…

Nhưng cái đám học trò có hò, có hát mỏi miệng, khản cổ, lớp bình dân cũng không thêm được bao nhiêu quí ông, quí bà, quí cô, quí cậu.
“Ngoan cố” là chử dùng của các “Ông Cách Mạng” sau bảy lăm hay dùng để “hù” và “đe dọa” các thành phần trốn học trên. Ai không đi học “bổ túc văn hóa” tức “lớp bình dân” ban đêm, chử mới cuả Cách Mạng ta, thì sẽ bị Tổ đưa ra kiểm điểm trước bà con nhân dân và “cắt” sổ lương thực.

Hồi xưa, họ không phải “ngoan cố” mà là họ mắc cỡ.
- Ai đời chừng này tuổi mà đi học chung với bọn con nít ranh? Mấy lại, cái lưỡi nó cứng đơ rồi làm sao mà uốn giọng đọc cho được? Dị òm hà! Bây giờ thì chỉ có miệng ăn chớ không có miệng học!
Đó là cái lý do họ không chịu ôm vở, xách đèn dầu chai đi học bình dân.
Còn kiểm điểm thì dân xóm tôi không sợ. Họ chỉ sợ “ cắt lương thực”. Chuyện kiểm điểm đối với họ như đàn gãy tai trâu. Không nhằm nhò gì. Cán bộ ta ngồi trên bàn với cây đèn dầu lúc tỏ, lúc mờ, nói văng nước miếng. Bà con ngồi sắp hàng dưới đất, rầm rì nói chuyện riêng một lúc rồi ngủ khì hết trơn. Hoặc đôi lúc thằng Cu, cái Thẹp mới có mấy tháng tuổi, bồng theo cho bú, bị muỗi cắn, khóc ré lên từng hồi ngằn ngặt, át hẳn tiếng giảng đạo của cán bộ ta. Thế là buổi kiểm điểm phải ngưng lại và … tan hàng.
Dù gì thì chủ trương của Đảng và Bác cũng đã được thực thi một nửa. Bác hứa “ nước nhà thống nhất rồi thì ai nấy cũng có cơm ăn và được học hành”. Rõ ràng là dân xóm tôi đã được hô hào học hành. Còn cơm ăn thì chưa. Bởi chủ trương, chính sách của Đảng còn ngăn sông cấm chợ.
Từ cái hồi thủ tướng Nguyễn văn Tâm cho đến “Mỹ Diệm” rồi “Mỹ Thiệu”, đến nay tiến lên Xã hội Chủ Nghĩa của Bác, dân xóm tôi vẫn vậy. Họ thiệt không có tiến bộ một chút nào về “nếp sống văn minh” của chủ nghĩa “đỉnh cao trí tuệ loài người”.
Từ cái thuở họ từ tứ xứ tụ về đây lập làng, sống chui đụt với nhau rồi sinh con đẻ cái đầy đàn, đầy lũ cho mãi đến mấy đời sau, họ vẫn giữ nguyên truyền thống, phong tục, tập quán … nơi họ ra đi.
Phong cách nói năng của họ y hệt con người của họ. Họ thô lậu, cục mịch, vụng về. Sáng chiều với mái chèo, tấm lưới, biển cả, sóng nước, mùa cá và thường trực đối đầu với phong ba bảo táp bất ngờ trên biển nên tiếng nói, giọng nói của họ cũng thô lậu, ồ dề, cục cằn theo.
Người xóm tôi thì bảo đó là “ cách ăn to, nói lớn của người nừng ông” của người chơn chất, chớ không phải như “cái bọn đài các” trên Đầm “nói ri rí trong cổ họng” như “con gái nừng bà”, cái bọn chuyên “đĩ miệng”.
Người trên Đầm (tức trên phố) thì đánh giá “ dân ở cồn, ở bãi, ăn đầu sóng, nói đầu gió” hay “ cộc cằn thô lổ như dùi đục chắm mắm nêm”, không biết cách ăn nói lịch sự.
Gia đình tôi tuy không có ai kéo neo tát nước và làm nghề rổi, ấy là nhờ cha tôi hò hét ghê lắm, bắt chúng tôi phải đi học để kiếm ít chử, sau này cho đở cực tấm thân, hầu hết mười mấy anh em tôi đều theo nghề dạy học, làm thư ký hay cô đở nhưng cách nói, giọng nói thì cũng y chang như dân trong xóm.
Nghĩa là vẫn ngọng nghịu, chả chớt, ăn cục, nói hòn như thuở nào. Tuy về sau có hơi lai lai giọng thành phố đôi chút cho có vẻ!
Vì vậy tới giờ, tôi vẫn thích gọi bà vợ già của tôi bằng tiếng “bậu”. Tiếng “bậu” của xóm tôi, tôi nghe thân thương và đậm tình nhiều hơn tiếng “mình” của những người có học thức trên phố.
- Mai bậu đi chợ mua miếng bầu về nấu canh tôm ăn cho mát ruột nghe bậu!
Vợ tôi dạ một tiếng ngọt không thua gì tiếng bậu của tôi. Thỉnh thoảng tôi lại dùng tiếng “nừng” của cha tôi, để đùa với vợ, để được nghe lại cái thân thương một thời xa xưa:
- Qua tới cái xứ Mỹ này, người “nừng bà” nào còn giữ được cái tứ đức tam tòng Á Đông thì thiệt là hột minh châu trong đại dương. Bắt chước cái tụi Mỹ hở ra là “lé đi phớt”* với “nai oanh oanh”* thì không còn gì là cái chất “nừng bà” Việt Nam! Phải không bậu?
Bậu của tôi lần này nghe tôi hoài cổ có lẽ “không hạp phong trào” nên tiếng dạ “phụ tùy” nghe yếu xìu.
Do cái tập quán “cố lũy” của dân xóm Cồn vẫn còn đậm đặc trong tôi, nên khi buột miệng ra trong lúc nói chuyện, cái “vô thức” trong tôi vẫn phọt ra cái chử “ hồi nẳm” mỗi khi nói về những năm tháng đã qua.
Vì vậy, tôi định nói chuyện về làng Cồn tôi trong những năm ấy để nhớ, để thương, để cười cợt chơi thì mấy tiếng “ chuyện hồi cái nẳm” trong bụng lại nhảy ra trong khi trong đầu tôi định nói: Thưa các bạn! Cái chuyện hồi năm ấy hay cái chuyện thuở ấy…

Mấy anh con cháu Khổng Tử hay nói: Giang sơn dễ đổi, bản tính khó thay! Thôi thì xin các bạn đánh hai chử đại xá cho cái tính thô lậu, ăn cục, nói hòn nôm na mách qué, quê mùa của tôi nhé! Bản tánh khó chừa mà!
Do đó, hôm nay mới có cái chuyện “hồi cái nẳm”.
Số là, sau khi cuốn “Dư âm ngày cũ” được phát hành, tôi nhận được nhiều ý kiến gửi đến gọi là góp ý theo cái tâm tình “ vài hàng gửi anh trìu mến”.
Phân loại chung chung có ba ý:
1 - Mấy anh bạn già cở sáu bó trở lên thì vừa khen vừa xụt xịt hỉ mũi (vì cảm động): - Cám ơn ông bạn già đã nhắc lại cho chúng tôi những hình ảnh thân thương nơi quê nhà tưởng chừng đã mất từ lâu lắm vân vân và vân vân.
2 - Mấy đứa nhỏ nhỏ cở bầy con tôi và cả con tôi nữa thì: - Đọc truyện của Ba, (của Bác) tụi con quải (oải) quá! Toàn là những chuyện xưa lắc, xưa lơ buồn thiu không hà!
3 - Mấy chú thanh niên thì: - Bây giờ mấy ông già hay ngoái cổ nhìn lại quá khứ để thương tiếc “cái vang bóng một thời”, thiệt không ích gì cho tương lai, cho tiền đổ tổ quốc! Chúng tôi cần cái hướng phía trước tươi sáng hơn để tiến lên.
Nghĩ ra cũng phải! Thôi thì từ nay, tôi lòng tự hứa lòng, muốn giải nổi buồn xa xứ thì hãy kiếm cái gì vui vui mà viết để cho con cháu nó đọc. Hy vọng chúng còn giữ được chút nào nguồn gốc Việt Nam đến thế hệ thứ ba chăng!
Khổ nổi, chuyện hiện tại thì nay thay, mai đổi mau như cái chong chóng nghị quyết của Đảng ta. Viết ra bây giờ, chưa kịp ráo mực trên giấy thì hôm sau sự thể nó đã đổi khác rồi.
Ví dụ như cái chuyện “dứt khoát đế quốc Mỹ cút khỏi Việt Nam, vĩnh viễn không bao giờ dám quay trở lại”.
Khi tôi ra tù, kể cho con cái nghe cái “lập trường Đảng ta” kiên quyết như vậy. Mới có mấy năm sau, chúng vừa có trí khôn một chút, chúng lại hỏi tôi:
- Ba nói Đảng ta… Sao bây giờ Đảng ta lại lót thảm đỏ từ sân bay Nội Bài cho đến dinh Ba Đình để đón rước tổng thống đế quốc Mỹ là sao?” Tôi ú ớ, mắc cỡ không biết nói làm sao bèn giả lả trả lời theo kiểu bù trớt của phim Hồng Kông:
- Mày hỏi tao, tao biết hỏi ai bi giờ?
Lại thêm một ví dụ nữa như chuyện Đảng ta kiên quyết giữ vẹn lãnh thổ, lãnh hải, không một đế quốc nào dám đụng đến một tất đất, một tất biển của Tổ Quốc ta. Bác Hồ và con cháu Bác Hồ quyết tâm dựng nước và giữ nước. Ấy vậy mà cái lũ con cháu rắn mắt lại hỏi:
- Cái đảo Hoàng Sa ngoài biển Đông và thác Bản Giốc, ải Nam Quan ở đất liền phía Bắc của ta, Tàu nó lấy mất mà Đảng ta vẫn im ru bà rù, ngậm miệng ăn tiền là nghĩa làm sao?
Tôi cũng đắng họng luôn, không sao trả lời được. Huống hồ chi tới cái chuyện “cao xa thăm thẳm từng trên” như “chủ nghĩa Cọng Sản sụp đổ tan tành ở Liên bang Xô viết và khối Đông Âu chỉ là sụp đổ tạm thời” thì tôi cũng “cùi” luôn, không biết giải thích cái chữ “sụp đổ tạm thời” ra làm sao cả?
Còn chuyện tương lai chưa xảy ra, ai dám làm thầy bói sờ mu… rùa nói càn? Vì vậy hai “cái thì hiện tại và tương lai” tôi không dám chia “vẹc bờ ết tờ rờ”*.
Tôi đem cái chuyện ở “thì quá khứ” còn sờ sờ trước mắt mọi người ra mà nói là chắc ăn nhứt, khỏi sợ mấy đứa cháu ngoại, cháu nội bắt bẻ, chọc quê.
Lần này thì tôi nhớ về chuyện phe ta sau khi chạy toé phở sang ôm chân đế quốc mấy năm rồi mặc “Tất Xi Đồ, mang giầy A Đi Đát”* về làng.
“Áo gấm về làng” là cách nói ước lệ xưa quá rồi.
Mặc áo dài gấm có in chử thọ về làng Việt Cọng nó cười hở mười cái răng. Tôi nhất định không kể lại chuyện các ông Xã Xệ, Lý Toét hách xì xằng đời nay, không đội khăn đóng, áo dài, cặp nách cây dù đen, trên mép có lún phún ba cọng râu, mà là mang xắc cốt, đội nón cối, chân đi dép râu, vênh váo vào Nam đòi uống cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc.
Tôi cũng không nhắc lại chuyện Ba Giai, Tú Xuất năm bảy lăm, láu cá, vào Nam khoe nhặng xị xà ngầu ầm lên rằng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa cái gì cũng có. Ti vi chạy đầy đường. Cà chớn trái to bằng trái bí…
Và cũng nhất định không nhắc lại hình ảnh những Quận Hách, Xuân tóc đỏ, bà phán Phom mang nhãn hiệu Xã nghĩa đã từng làm nhà văn quá cố Vũ trọng Phụng ở dưới cữu tuyền mắc cỡ một thời, vào Nam ngoe ngoãy cách trưởng giả học làm sang, chó nhảy bàn độc.
Và đặc biệt hơn nữa là truyện tiếu lâm thời đại của ông nhà văn Lê Lựu kể chuyện đi Mỹ. Hồi còn ở Việt Nam đã nghe được, tôi cho là hay nhất. Mười ông Đặng Trần Huân cũng không đáng xách dép. Lúc ấy tôi thường bị táo bón. Nhờ nghe chuyện của ông mà tôi đi té re mấy ngày liền. Tôi cám ơn ông quá xá quà xa, mặc dù chưa biết ông Lựu là ai. Chỉ biết chuyện cải lương “Tàn đời cô Lựu”. Thôi thì, Cô Lựu hay ông Lựu gì cũng là lựu cả. Chỉ cần thấy lựu trắng thì biết đó là cô Lựu. Thấy đỏ thì trăm phần trăm là ông Lựu rồi. Không trật vào đâu được. Chỉ sợ gặp nửa lê, nửa lựu thì hơi phiền. Lại e nhầm lẫn với bình trà trong tuồng “Giả Đồ diệt Quắc”.
Tôi chỉ còn nhớ lỏm bỏm hai chuyện trong rất nhiều chuyện ông cùng với ông Nguỵ Ngữ du hành ở Mỹ về kể lại. Ông Ngữ thì nín khe, không hé môi. Chuyện thứ nhất là tại phi trường quốc tế Lốt Ăng Gờ Lét, tụi hải quan Mỹ cứ lom lom cái ba lô hành lý của ông Lựu. Chúng xét nét từ chân tơ tới kẻ tóc cái ba lô thiếu điều sứt quai. Nhưng ông đã kiên quyết, đấu tranh để giữ cho được toàn vẹn mấy củ sắn ăn đi đường, không cho bọn đế quốc Mỹ cướp cạn.
Chuyện thứ hai là ông gọi dây nói tới hỏi thăm người bạn. Gọi mãi mà người bạn không chịu bốc phôn trả lời. Ông chữi toáng lên:
- Mẹ nó chứ! Nó có ở nhà mà nó cứ giả vờ nói là bận không chịu cầm ống nghe, còn nói xin để lại lời nhắn, sẽ gọi lại sau! Cái đồ theo chân đế quốc làm phách! Ông đếch thèm vào!
Chuyện ông Lựu du hành sang Mỹ được “giải trình” ở quốc hội, thuộc loại “bí mật quốc gia” không hiểu sao lại được thu băng cát xét chuyền ra ngoài. Nhờ nó mà chữa được nhiều bệnh cho đời. Như cái bệnh táo bón của tôi đây. Bây giờ ngồi nghĩ lại những cái ngớ ngẩn, lố bịch bên Mỹ mà ông đã rao giảng, sợ sau này mai một, ông ôn lại và viết thành truyện có cái tựa là “Một thời xa vắng” làm cẩm nang cho các sinh viên du học, theo đó mà ca. Ai thuộc bài ca thì sẽ được Nhà nước ta đài thọ vé máy bay khứ hồi. Nghe đâu cũng đã làm thành phim để cho các “em bé quàng khăn đỏ” dễ bề nghe và thấy trong việc tiếp thu, học tập.
Tôi “kiên quyết” không nhắc những chuyện trên nữa, để tránh cho các bạn khỏi lôi câu danh ngôn “ Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi!” ra mà mắng.

Bây giờ xin trở lại cái xóm của tôi.
Ở trên, tôi đã hơi dài dòng về cái chuyện “ăn cục, nói hòn” và trốn học bình dân, nên hầu hết đều là con nhà “mít đặc”.
Ấy vậy mà vì cái may mắn cũng có, rũi ro cũng có, lại vô tình lọt sang “Tân Thế Giới” có mấy năm, lại mặc “Tất Xi Đồ, giầy A Đi Đát” về làng, nói tiếng Mỹ “Ô ke, Ô kè” bóc bóc.
May mắn là ăn hôi theo, làm gì có tiền năm bảy cây để chung. Thừa cơ tối trời, lội ào ra ghe leo lên, Chủ ghe ở cái thế “sự đã rồi” đâu dám quăng chúng xuống nước.
Rũi ro là đâu có dự định vượt biên, nhằm lúc tối trời, đi ra bãi làm cái công việc xả bầu tâm sự, đúng thời điểm đám người xuống ghe, sợ bại lộ nên bị bắt buộc phải đi theo.
Vào dạo bắt đầu từ năm 1978, Đảng và Nhà Nước ta phát động phong trào diệt tư bản do ngài Đỗ Thập Hoạn phóng tay xử dụng “tàn chi quái đao”. Thiên hạ, người nào có buôn bán tiền ra, tiền vào chút đỉnh bị liệt vào hạng tư sản, giống như hồi năm tư ngoài Bắc, liệt vô hạng địa chủ, đều bị chém hết. Chết như rạ. Ai né được hoặc bị chém trượt đều đổ xô ra biển chạy trốn. Nhất là dân Ba Tàu, một thời được Đảng ta o bế, yêu chiều là anh em đồng chí, đời đời không gì chia cách được. Đến năm 1979 thì tình hửu nghị Việt Trung bền vững như môi với răng trở chứng. Răng cắn dập môi chảy máu. Môi sưng vêu lên, nhe ra hàm răng mã tấu chơm chởm, trắng nhởn như răng cẩu. Thiên hạ càng sợ hãi cuống cuống, chạy ra biển càng dữ.

Xóm tôi chuyên nghề đánh cá nên có nhiều ghe, thuyền. Dân tư sản chết hụt, bỏ tiền ra mua hết để làm phương tiện chạy trốn. Ghe con, thuyền lớn gì cũng mua. Bao nhiêu cảnh hổn loạn, chen chúc xô đẩy nhau làm đắm ghe, làm chết chìm, chết đuối, từ trong bờ ra tới ngoài khơi vô số người, không sao kể xiếc.
Chết thì chết. Người ta vẫn cứ ùn ùn xuống nước trốn. Mỗi sáng thức dậy, dân xóm tôi lại tri hô thêm một chiếc mành biến mất. Con nhà Dần hai đứa, con nhà Tí một đứa … mất theo. Cứ thế cho đến năm tám mươi ba, số ghe thuyền xóm tôi còn lại lèo tèo vài chiếc ọp ẹp, cũ nát bị chê không ai mua. Và trẻ con xóm tôi chỉ còn lại chừng một phần mười.
Trên chuyến ghe chìm năm 1978, cách bờ có hơn trăm thước, số người không biết bơi ôm cứng người biết bơi cùng chết hơn trăm mạng. Gia đình chú tôi ăn theo, bảy người con, chết hết năm. Số người chết còn nằm dài trên bờ chưa kịp chôn, hai đứa còn sống sót, qua hôm sau theo đoàn người lên chuyến ghe khác chạy nữa.
Những năm đó người dân miền Nam sợ Bác và Đảng như sợ dịch hạch. Cả nước, từ trẻ tới già, từ giàu tới nghèo, từ trí thức cho tới dốt nát như dân xóm tôi đều cuống cuồng xô nhau chạy trốn.
Người dân xóm tôi nào biết gì về chính chị, chính em, chế độ này, chế độ khác! Họ chạy trốn chỉ vì cái đói. Những năm đó, dân xóm tôi đói khổ cùng cực chưa từng thấy. Cũng nhờ vậy mà họ được Nhà Nước xếp ngang hạng với “ bọn tư sản mại bản phản quốc và bọn Nguỵ quân, Nguỵ quyền ôm chân đế quốc để được ăn bơ thừa sữa cặn”.
Cũng hân hạnh cho dân xóm tôi lắm chớ?

Những người mặc “Tất Xi Đồ, giầy A đi Đát” trở về!

Năm 1981 tôi ra tù, về ở nhờ nhà cha mẹ, tính theo nghề “ kéo neo tát nước” kiếm cơm qua ngày. Nhưng ghe thuyền đâu còn nữa. Tất cả đều sung công vào Hợp tác xã Ngư nghiệp do Đảng quản lý. Thằng tù cải tạo như tôi liệu bề “đi chổ khác chơi” chứ ai cho vô đó làm một chân kéo neo hay tát nước?

Cha mẹ tôi đã già không làm gì ra tiền mà còn phải nuôi bầy con bốn đứa của tôi suốt những năm tôi được Nhà Nước ưu ái cho đi học…tập, bây giờ phải nuôi thêm cái thằng tôi vô dụng. Thiệt là đã quẫn bách lại càng thêm khốn khó. Dân xóm tôi có câu vè diển tả cảnh thắt ngặt này rất tục mà lại thâm trầm ý nghĩa:
Đã nghèo lại mắc cái eo,( tai vạ)
Cưới trúng con vợ cũng teo cái l…

Đang trong hồi đói rạc, bỗng có người đến báo tin, hai đứa em tôi bên Mỹ gởi tiền về. Thời điểm đó, cái tin tiền Mỹ gởi về là cái tin chấn động cả xóm. Mà lại là người từ Mỹ về, đích thân cầm đến, mới ghê gớm nữa chứ. Trước cửa nhà tôi, bà con hàng xóm bu đen đặc để chờ coi “người về từ Mỹ” nó ra làm sao. Lúc ấy chưa có danh từ âu yếm “Việt kiều”. Danh từ này do Nhà Nước ban cho khi đã có đô la xanh lai rai gửi về nước.

Chín giờ sáng, một ông “từ Mỹ về” mặc một bộ còm lê trắng, đi giầy trắng, đầu tóc hớt kiểu lạ lắm. Cái mai tóc cắt xéo lên khỏi mang tai. Anh đạp chiếc xe đạp cọc cạch, không thắng, không gạc đờ bu, đến nhà tôi. Tôi long trọng đón anh ta vào nhà. Anh còn trẻ, trạc tuổi thằng em thứ mười một của tôi, nghĩa là chừng hai mươi hai tuổi. Nhìn cách ăn mặc sang trọng lại cỡi một chiếc xe đạp cà tàng tôi không khỏi có sự so sánh ngạo ngược khôi hài trong bụng.

Cha tôi pha một bình trà lên mời. Anh ta cám ơn mà không cầm ly. Khi đưa tiền, những tờ đô la màu xanh in số một trăm, anh ta nói giọng có vẻ lơ lớ. Có lẽ ở Mỹ lâu ngày, nói tiếng Mỹ quen lưỡi, bây giờ nói tiếng Việt không rành. Tôi khen xã giao anh có bộ đồ Vét Tông đẹp và lịch sự quá. Anh chữa lại:
Không phải Vét đâu! Tất Xi Đồ đấy! Giầy A Đi Đát đấy! Toàn là đồ hiệu cả đấy!
- Anh nói tiếng Bắc nên cái gì cũng có chử “đấy” đi kèm, làm cho cách nói càng thêm vẽ chắc nịch và nặng ký. Tôi nghe mấy tiếng “ Tất Xi Đồ và A Đi Đát” không hiểu gì cả bèn tịt luôn, không dám nói thêm. Hồi lâu, lãng sang chuyện thăm hỏi quê quán và mối giao tình với mấy đứa em của tôi. Thì ra anh ta đi từ miền Bắc và quen với thằng em tôi trong lớp “ I Ết Eo”*. Anh ta đang làm “Lon Rô Mát”*. Mấy chử Mỹ anh ta nói kèm theo Ô ke, Ô kè làm tôi lùng bùng lỗ tai. Nhưng trong bụng cũng nghĩ thầm được cái thắc mắc mà không dám hỏi, sợ phạm húy. Trong Nam, người ta sợ Bác và Đảng nên đi vượt biên đã đành. Còn ngoài Bắc, sống trong thiên đường Cọng Sản mà cũng có người bỏ trốn là sao?

Cha mẹ tôi ngồi nghe mà cứ ngẫn tò te chẳng hiểu mô tê gì. Trước cửa nhà, trẻ con hàng chục đứa vừa ngồi, vừa đứng chen lấn nhau, lỏ mắt tho ló nhìn chăm bẳm vào “Ông Mỹ mình” như một con người từ trên trời rớt xuống. Phía sau lưng đám con nít là đám người lớn, già trẻ cũng đang bu quanh coi. Vừa coi vừa xầm xì bàn tán kính cẩn như thể thấy “ông lị”* ngoài biển. Hôm sau, tôi đạp xe qua Cồn giữa để đưa lá thư gia đình nhờ anh “người Mỹ mình” khi về lại Mỹ trao dùm cho mấy đứa em.

Anh đang ở gia đình nhà vợ. Nhà là một cái chòi nhỏ như cái tổ chim. Cái chòi vuông vức vừa đủ kê một cái giường ngủ và một lối đi, dẫn lên cầu thang gỗ, một cái gác bé tí. Anh vẫn còn nguyên trong bộ “Tất Xi Đồ và A Đi Đát” ngồi khom lưng trên đó. Cái đầu hớt cua kiểu lạ kỳ chạm sát mái tôn nóng hừng hực. Tôi len qua giữa đám đông con nít ở trần trùng trục đang bu quanh chiếc giường, ngắm nghía trầm trồ chị vợ anh đang giở va li soạn quần áo cho con bé vừa tắm xong để lên gác. Hết áo đầm xoè này tới áo đầm bung rua kia. Cứ mỗi cái giở ra, đám con nít lại ồ lên một tràng khâm phục và thèm thuồng. Tôi đưa thư và mời vợ chồng anh sáng mai ăn điểm tâm tại nhà hàng Lys góc đường Hoàng Tử Cảnh. Anh hỏi có máy điều hòa không khí không. Tôi nói có, anh mới nhận lời. Nhà hàng này không sang lắm nhưng tôi chưa bao giờ dám bước chân vô. Một ly cà phê đen giá tiền bằng tôi đạp xe ba gát một tuần.

Tôi và đứa em rễ thay mặt gia đình tiếp đãi và cám ơn vợ chồng anh. Buổi điễm tâm hôm ấy chỉ có bốn ly cà phê, bốn tô phở, một đĩa kem cho con bé và một gói thuốc Jet mà tờ giấy đô xanh một trăm mẻ gần một phần ba.
Cha mẹ tôi xót ruột mấy ngày.

Thời gian sau, những đứa trẻ con xóm tôi ngày nào mặc quần đùi, ở trần ra đi, bây giờ mặc đồ lớn, thắc nơ trên cổ, về ngày càng nhiều. Ngoài chòm xóm bu quanh trầm trồ ngắm nghía, còn có cả mấy anh Công An khu vực đến thăm sức khoẻ mỗi ngày và hít hà, xuýt xoa hút thuốc Man Bô Rô có đót. Ra về không quên khoèo thêm một gói bỏ túi.
Thằng Tèo con bà Sáu Hanh hồi mới “giải phóng” chạy lon ton theo mấy anh cán ngố để gạ bán đồng hồ “hai cửa sổ không người nái” dõm, giờ về dẫn thêm con vợ người Đan Mạch mắt xanh mũi lõ. Người bu quanh coi như xem hội. Con vợ Đan Mạch ngồi thu lu trong gian nhà trống huyếch, xua tay, xí xô, xí xào với thằng Tèo. Bà Sáu Hanh cứ nhướng đôi mắt kèm nhèm đầy ghèn lên nhìn con dâu, nghe nó nói ba xí, ba tú không hiểu gì cũng cứ nhe hàm răng xếu xáo, cái còn, cái mất cười toe toét ra chiều sung sướng hả hê lắm. Bữa cơm đầu tiên được dọn lên có cua xanh, có mực tươi, có tôm hùm sống, luộc lên đỏ au, đãi con dâu quí mến. Bữa ăn đắt tiền nhất, sau bảy lăm, xóm tôi tuy làm nghề biển đánh bắt ba cái thứ đó nhưng chỉ dành đem bán, nào dám ăn. Món “xi phút” xuất khẩu lấy nhiều đô la. Nhà nước nói vậy. Con dâu Đan Mạch nhìn mâm đồ biển thấy bầy ruồi sà vào bu đen như rãi đậu đen, hết hồn, giơ hai tay lên trời kêu thét lên: - Ối! Trời ơi! ( Nhìn điệu bộ, mọi người đoán ra như thế.) Rồi nó nhất định không ăn.

Hôm sau thằng Tèo dẫn vợ lên ở khách sạn và ăn cơm nhà hàng. Thằng Cu Em ở mé biển xóm trên, sau lưng nhà anh Hai Đến, từ Gia nã Đại về cũng bảnh chọe trong bộ đồ Vét sang trọng luôn luôn đóng trên người, dù trời có nóng nực cách mấy. Thằng này có nghĩa khí với anh em hồi còn ở truồng đi câu cá, nên đãi cả bọn uống “bia lên men” thả dàn. Mấy chú nhóc xóm tôi, sau ngày đổi đời bắt chước người lớn uống “đế mi tốc” giải sầu quanh năm. Nay được tha hồ nốc “bia lên cơn”, uống như uống nước lã. Uống xong, cho “chó ăn chè” đã đời. Lại uống tiếp. Cả bọn mười mấy thằng, uống từ sáng đến chiều, vỏ chai lăn lóc, bà chủ quán đếm mỏi miệng mà vẩn chưa hết một tờ trăm Canada.

Lần lượt những năm sau, người về càng nhiều. Lại xãy ra cảnh dành nhau đi đón, đi đưa. Cho tiền kẻ nhiều, người ít. Anh em trong nhà, bà con trong họ cãi nhau chí choé. Ban đầu còn tiếng to, tiếng nhỏ, sau biến thành hổn chiến đánh nhau bằng nắm đấm. Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay.
Con nhà Mắm, Muối làm công cho lò bánh mì Mỹ ở phố “Đọt”, bang “Mã Cha Chú Chệt”. Nó nói là làm “béc cơ ry”. Mỗi ngày, hai ca, mười sáu tiếng đứng lò, nóng như đứng cạnh Hỏa diệm Sơn, dành dụm được mớ tiền về thăm nhà. Gia đình nó gồm hơn hai chục người, gồm cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con, chen chúc nhau trên chiếc xe ca mướn, vào tận phi trường Tân Sơn Nhất đón. Cuộc khẩu chiến và quyền cước chiến bắt đầu từ phi trường về đến xóm, đã có hai người chảy máu mũi, và bốn người bầm mắt, sưng mỏ để dành được phần quà nhiều hơn. Vợ con thằng Mắm khóc như ri.

Sau chuyến đó, thằng Mắm trốn biệt không dám về nữa. Bốn năm sau nó đón vợ con sang Mỹ và ở tịt luôn tới giờ.
Những năm sau, từ tám mươi hai trở đi, kẻ vượt biên trở về thăm nhà ngày càng nhiều. Đây là dịp bở, Công An lại kiếm chác khá. Ai về cũng phải khai báo tạm trú ở đồn Công An. Bài ca con cá “ trụ sở Phường còn nhiều thiếu thốn tiện nghi, xin anh (chị) giúp đỡ” đem ra ca mãi vẫn có bội thu. Biết điều thì xùy ra một hai trăm đô mới lấy lại được giấy thông hành. Không biết luật thì cứ về, giấy tạm giữ tại đây để trình lên “cấp trên” cho ý kiến. Năm tám chín, chú em thứ mười một trong gia đình tôi, trở về.

Nhìn cảnh nó xúng xính trong bộ “ Tất Xi Đồ”, quì mọp trước tam cấp nhà, hai tay ôm lấy chân cha tôi mà khóc quều quào, khóc hù hụ, nước mắt, nước mũi chảy đầy mặt. Tôi dù đã khô hết nước mắt trong những năm tù đầy, cũng phải thổn thức theo, trước cái cảnh đầy cảm động ấy. Kỳ nữ Kim Cương phải thua xa nó.
Còn tình nào quí hơn tình cha mẹ, con cái hơn mười năm xa cách.
Ba hôm sau, nó quen được một cô gái rất xinh, không biết từ đâu. Thế là từ đó nó theo cô gái đi biệt tăm từ mười giờ sáng đến khuya lắc, khuya lơ mới về. Cha mẹ tôi đêm nào cũng canh cửa chờ thằng quí tử về để mở cửa với sự hồi hộp lo lắng không biết có chuyện gì xãy ra cho con mình không.
Hai tuần về thăm nhà, chú em tôi trở lại Mỹ, người nhẹ lâng lâng. Tình cảm đã để lại cho gia đình. Tiền bạc mang về bao nhiêu không rõ, đã để lại cho xã hội và cô bạn gái (?). Hôm tiễn ra bến xe, nó mượn lại con chị thứ bảy, ba trăm đô để đi đường, hẹn về Mỹ sẽ gửi trả.
Trước khi bước vô phòng cách ly, tôi dúi cho nó mẫu giấy, ghi vội mấy dòng: “ Trên đoạn đường dài trở về Mỹ, ngồi trên máy bay, tôi mong chú hãy hồi tưởng lại, suốt hai tuần về thăm gia đình, chú đã dành được bao nhiêu thời gian để trò chuyện cùng cha mẹ già. Tôi nghĩ là chú sẽ hối hận cho những ngày đã qua!”

Bức thư ngắn đó không có hồi âm. Và sau này nó trở thành bức tường lòng Bá Linh giữa hai anh em, khi tôi được qua Mỹ theo diện H.O.


Những “Việt Kiều” thập niên chín mươi.

Qua những năm chín mươi, chương trình “ra đi trong trật tự” gọi theo tiếng Mỹ là Ô Đi Bi (O.D.P) được Đảng ta ký kết với đế quốc Mỹ và các nước Âu Châu khác, người ra đi lại ồ ạt như những năm bảy lăm, tám mươi. Vài năm sau, tiền đô chảy ngược về Việt Nam như nước suối. Đảng ta đang hồi hấp hối như con bệnh trầm kha hết thuốc chữa, chờ ngày “chuyển sang từ trần” để theo Bác, bỗng nhiên được thuốc tiên, không những lành bệnh nhanh chóng mà còn khoẻ hơn trước có thể thi đấu đô vật với các lân bang hy vọng trở thành con rồng… lộn.
Để hốt đô la thêm càng nhiều càng tốt, Đảng ta hóa trang thành bà hiền mẫu, chiều chiều ra đứng cửa sau, trông về quê khách, ruột đau tám chiều, giang hai tay ra, miệng gào lên từng hồi thê thảm:
- Hỡi những người con xa xứ! Hỡi những khúc ruột ngàn dặm! Hỡi những bộ phận không thể tách lìa của đất nước! Hỡi những Việt kiều yêu nước! Hãy mau mau hướng về Tổ quốc, hướng về quê mẹ, đem tài năng trí tuệ và của cải về đầu tư, xây dựng đất nước để từng bước vững chắc tiến lên Xã hội Chủ nghĩa!

Thế là bỗng nhiên như một phép lạ, những kẻ năm xưa trốn chạy ra biển bị Đảng ta gán cho cái tội đĩ điếm, phản quốc, trây lười lao động, bây giờ được gọi âu yếm là khúc ruột … thừa ngàn dậm.
Ở hải ngoại, người vượt biển còn có tên là Ô Đi Ghe. Ai đi theo diện làm Sở Mỹ gọi là diện MÓM để liên hệ tới diện HÔ của tù cải tạo.
Bắt đầu từ ngày đó, tức ngày hốt đô la xanh, mỗi năm lên tới vài tỉ, Đảng ta ra văn bản đình huỳnh, buộc cán bộ nhà nước và đảng viên các cấp phải cung kính gọi mấy ngài Ô Đi Bi, Ô Đi Ghe, Hô, Móm bằng hai tiếng “Việt Kiều” trìu mến, thiết tha.

Một số nghe bùi tai, cảm động quá, bao nhiêu đô ký cóp bấy lâu, cày ngày hai “giốp” như trâu, ôm hết về quê làm “người Việt Kiều yêu nước” đầu tư xây dựng đất nước. Không biết làm ăn ra làm sao, hai năm sau, tất cả đều ôm đầu máu, bỏ của chạy lấy người. Về tới Mỹ chỉ còn cái quần lót. Mà cái quần lót đầy phân thối hoắc vì sợ quá, vừa chạy vừa té đái vãi cứt trong quần. Đến nay, mười năm sau, mặt hãy còn xanh mét chưa hoàn hồn.

Còn lại đa số thì nhìn rõ ngay bộ mặt hóa trang vụng của Đảng ta, sau lớp phấn rẻ tiền là cái mặt cáo già trong truyện “cô bé quàng khăn đỏ”, nên chỉ che miệng cười tủm: Chẳng ai dại hai lần!


Tôi bị trở thành “Việt kiều”!

Tôi rời nước chưa đầy hai năm thì mẹ tôi bị bạo bệnh qua đời. Tôi phải vội vả về lại để cư tang. Thời gian hai năm đầu ở xứ lạ quê người là quá ngắn để hội nhập và thích nghi cuộc sống. Từ ngôn ngữ, phong tục, đường đi, lối lại và nhất là tranh đua với người bản xứ để chen chân xin được một việc làm.

Tôi phải vừa đi học lại Anh ngữ, vừa học nghề mới, để kiếm việc. Cái nghề dạy học sang Mỹ thật vô dụng. Lỡ thầy lỡ thợ, không ai dùng. Mãn khóa ra trường, đúng lúc nền kinh tế Hoa Kỳ suy thoái trầm trọng. Nạn thất nghiệp tràn lan. Mãi bốn tháng sau tôi mới kiếm được một công việc trong hảng sản xuất hộp cạc tông. Lương bắt đầu chỉ có 6 đô rưỡi một giờ. Vậy mà vợ tôi mừng quá đổi vì từ nay đã có thể trả tiền thuê nhà. Cái lo bị đuổi ra khỏi chổ ở làm cho vợ chồng tôi bạc tóc.

Vừa nhận việc, thời gian còn đang tập sự đứng máy, tôi phải năn nỉ người trưởng xưởng hết lời với giấy chứng tử của mẹ tôi, ông ta mới chấp thuận cho tôi trở lại làm việc sau hai mươi ngày nghỉ phép. Thời buổi mật ít ruồi nhiều mà.

Về tới quê nhà, ngoài việc kiếm đủ tiền mua cái vé máy bay khứ hồi, trong túi tôi chỉ có vỏn vẹn sáu trăm đô nhẹ tênh.

Không kể lại những cái bực mình khi về tới phi trường Tân Sơn Nhất gặp những khuôn mặt hải quan luôn làm bộ khó đăm đăm để vòi tiền hành khách làm chi cho thêm nặng bài viết.

Chỉ nghe gọi hai tiếng “Việt kiều” là đã buồn nẫu ruột rồi. Mà lạ thật! Hầu như chín mươi phần trăm những người “áo gấm về làng” đều tỏ vẻ câng câng sung sướng khi được nghe bà con xung quanh kêu mình là Việt kiều. Chưa kể còn nhiều kẻ tìm cách ăn mặc, chải chuốt khác người cho lộ vẻ ta đây Việt kiều nữa. ( Như nói chuyện chen thêm Ô ke, Ô kè, nhún vai, vung tay ra hiệu như đang cầm điện thoại v.v…)

Họ không biết hay giả vờ không biết hai chử Việt kiều chỉ dành cho người ngoại quốc gọi người Việt sống trên đất nước họ. Như trước đây ta gọi người Tầu, người Ấn Độ, người Pháp… là Hoa Kiều, Ấn kiều, Pháp kiều… vậy. Giờ đây ta là người Việt với nhau, cùng ở trên đất nước mình sao lại gọi nhau là Việt kiều? Một là dốt chử hai là kỳ thị?

Tôi bỗng dưng bị trở thành Việt kiều bất đắc dĩ. Nhà Nước ta đặt ra hai chử Việt kiều là có lý do riêng. Đó là chính sách phân biệt đối xử. Hể bị dán cái nhãn Việt kiều vào trán là bất cứ sự mua bán, đổi chác, giao dịch nào cũng bị chém cái giá gấp đôi hay gấp ba.

- Việt kiều! Cho mày chết với chúng ông!

Gia đình tôi vào Sài Gòn đón tôi, khi về lại bằng xe lửa, riêng tôi phải trả tiền vé gấp hai khi không có thẻ CMND, mà vẫn phải ngồi chung với cái băng gỗ suốt mười tiếng đống hồ.


Buồn vui với vai kép “Việt kiều” .

Sau những ngày đau buồn lo tang ma cho mẹ xong, tôi bắt đầu đối mặt với hai chử Việt kiều.

Đầu tiên là chú Công an khu vực “ngày xưa thân ái” hồi tôi mới đi tù cải tạo về. Chiều nào chú ta cũng “mời” tôi ra quán nhậu làm vài ve. Chú ta thì uống vài chai “con cọp” cho đỡ khát và nhâm nhi dĩa thịt bò lúc lắc. Còn tôi thì uống “bia lên cơn” vì hay “đau bụng” và chỉ nhắm suông gói đậu phụng rang để thực thi chính sách tiết kiệm túi tiền của nhân dân. Nhưng lần nào cũng vì sự tế nhị chú ta đều dành phần thanh toán tiền cho tôi trả.

Hôm tôi về, chú ta rất thính hơi, tới ngay. Rất vồn vã, nhiệt tình, bắt bằng hai tay, cười nói luôn miệng và cuối cùng “cho em xin cây thuốc Man Bô Rô có đót” mới chịu ra về. Mấy lần sau vẫn “anh khoẻ không ạ?” bòn thêm một hai gói thuốc nữa. Chuyện vặt. Cán bộ ta có cùng khổ mới làm như thế chứ! Chỉ tiếc một điều là không có cách nào “mời” tôi ra quán nhậu như trước nữa. Tiếc thật!

Hôm đám tang mẹ tôi, ngoài một số bà con nội, ngoại ra còn rất nhiều người mà tôi chưa hề quen hay biết mặt cũng đến thắp nhang, kính viếng. Thật là an ủi cho vong linh mẹ tôi. Không ngờ thuở sinh tiền, mẹ tôi có quá nhiều người yêu mến như vậy. Nhưng sau đó họ ở lỳ không chịu ra về. Đãi ăn buổi trưa, lại buổi chiều. Cũng không về. Em tôi bấm nhỏ:

- Bọn họ thấy Việt kiều về nên làm bộ tới dần lân để xin tiền đó. Không cho chút ít thì không chịu về đâu!

Tôi đành phải giao cho người nhà giải quyết làm sao cho êm thì thôi. Cô em về một lượt với tôi, cương quyết không cho một xu. Cô nói:
- Đối với bọn lợi dụng, mình phải cứng rắn mới được!
Còn họ hàng tôi thì tôi hiểu rõ. Ai cũng cùng khổ cả. Biếu xén để cám ơn và làm quà là chuyện phải làm và nên làm. Thằng em rễ tôi lo vụ này. Nó đã sắp sẵn mấy chục phong bì tiễn đưa. Nó là cán bộ Nhà Nước nên rành cái vụ đi họp có phong bì lắm.

Tuy nhiên tôi cũng khá bất ngờ, không biết ứng xử sao cho phải, khi tôi mở vali lấy thuốc tây phải uống hàng ngày ra uống. Lọ đầu tiên là thuốc làm loãng máu. Bà cô tôi cũng nói có bệnh tim cần uống thuốc loãng máu. Lọ thứ hai là thuốc bao tử hai ba cô em họ cũng nói em đau bao tử, cho em vài viên. Lọ thứ ba là thuốc tiểu đường, mấy ông chú họ nói tao cũng đang tiểu đường cho tao mấy viên. Cứ thế, lấy ra lọ nào cũng có người xin. Không ông bác thì bà cô… Cơ khổ! Không lẽ lại không cho? Cái thế chẳng đặng đừng! Một hôm, tôi thả bộ ra phố để xem lại cái phố phường nó đã thay hình đổi dạng ra sao. Mới đi có hai năm thì phố chẳng có gì thay đổi mấy. Chỉ có điều nhộn nhịp ăn nhậu hơn xưa đôi chút.

Bất ngờ tôi gặp ông Thanh tra hồi tôi còn dạy học ở Bảo Lộc. Ông đang đi bán vé số dạo. Hai chúng tôi cùng ngạc nhiên. Lâu lắm, kể ra hơn hai mươi năm mới gặp lại. Ông bây giờ già yếu, không còn phong độ như xưa. Với bộ đồ cũ tàng và đôi dép Lào mòn vẹt gót, nách kẹp tập vé số, ông đang chào mời khách đi đường. Gặp tôi, ông cầm tay tôi lắc lắc:

- Nghe mi đi Mỹ rồi sao lại còn ở đây?
Có lẽ ông thấy tôi cũng xuềnh xoàng dép Lào, áo sơ mi cà tàng như ông nên ông không biết tôi đã là “Việt kiều” chăng? Tôi đùa ông:
- Ai nói với Thầy là tôi đi Mỹ? Mấy năm nay tôi theo về quê vợ ở trong Nam làm ruộng không khá nên trở về lại đây. Tính tìm chuyện gì làm bậy bạ kiếm sống.
- Ừ! Phải đó em! Đi Mỹ chi cho cực. Qua nghe nói có nhiều người qua bên đó khổ lắm!

Tôi định bụng sau khi nói đùa sẽ biếu Thầy ít tiền làm quà, nhưng Thầy lại nói “chận họng” làm tôi cũng cứng miệng luôn, không thể làm cái việc như ý định. Sau đó tôi cứ ân hận trong lòng mãi về cái chuyện nói đùa gạt Thầy. Mười năm sau, cha tôi mất, một lần nữa trở về cư tang, tìm lại Thầy để mong chuộc lỗi thì Thầy cũng đã mất từ lâu.
Một món nợ lòng vẫn còn trong tôi.
Sau khi xây mộ cho mẹ xong, gia đình chúng tôi đông đủ lên nghĩa địa để chụp mấy tấm ảnh lưu niệm. Suốt buổi, vị sư trụ trì ở ngôi chùa nhỏ trên đỉnh đồi nghĩa trang cứ theo cô em tôi nói chuyện cà kê dê ngỗng về sự đã cho người chăm sóc phần mộ cho mẹ tôi ấm cúng hương đèn trong suốt bảy, bảy bốn mươi chín ngày,(?) về sự khó khăn của chùa mấy năm nay không đủ tiền để xây thêm mặt trước chùa cho rộng rãi v.v…

Cô em tôi thì áo đầm xoè, thắc nơ to tướng sau lưng, một bước đi có mấy đứa cháu bên cạnh bung dù che nắng. Vị sư thì mồ hôi chảy ròng ròng trên trán đi theo sau. Tôi lửng thửng đi sau cùng, ngắm cái nghĩa địa u buồn đầy dãy mồ cao, mã thấp mà nghĩ tội cho mẹ tôi nằm hoang lạnh một mình nơi u tịch. Khi vào chùa thắp nhang Phật xong, sư thẳn thắn xin hẳn cô em tôi “cúng dường” cho chùa năm chục bao xi măng, gọi là góp phần công quả.
Cô em tôi chỉ qua tôi:
- Tôi không thể quyết định được chuyện này. Thầy hãy bàn với anh Hai tôi. Ảnh cũng về một lượt với tôi đó.
Vị sư bây giờ mới ngó mắt đến tôi và vồn vả tiếp chuyện. “Cái áo không làm nên thầy tu”. Câu này trong chừng mực nào đó đã không đúng với lúc này. Tôi ngao ngán. Sư mà còn như thế thì trách gì những người không quen biết nơi chốn trần tục đến nhà tôi vờ thắp một cây nhang trên bàn thờ mẹ tôi để mong kiếm chút cháo của “Việt kiều”!

Khi tôi trở về Mỹ được mấy tuần thì cha tôi gọi điện thoại trách cứ tôi: - Mày về thăm tao với má mày hóa ra mày lại hại tao. Mày đi rồi bao nhiêu người còn đến đây quấy rầy tao chuyện tiền bạc. Kẻ cho, người không. Kẻ ít người nhiều. Họ mắng vốn tao. Nghe tao dặn nè! Lần sau về cho “lịch” thì mới về! Bằng không thì đừng về!

Tôi đau lòng và thấm thía chử “lịch” của cha tôi. Lịch tức là phải giàu có, sang trọng, vung tiền ra đều khắp đối với khắp bà con họ hàng. Ai ai đến nhà cũng phải có phong bì. Mà phải phong bì có “chất lượng”. Phong bì nhẹ tưng cũng bị chữi sau lưng là đồ “Việt kiều keo kiệt bần tiện”.

Tôi trốn biệt. Mười năm sau cha tôi qua đời thình lình tôi mới phải trở về lo đám tang cho ông. Mặc dù tôi vẫn chưa thể nào “lịch” nổi với đồng lương lao động tay chân.
Suốt mười năm bao nhiêu là nhớ nhung quay quắt nung nấu trong tôi, tôi vẫn nuốt nước mắt vào bụng mà ngậm ngùi, không dám mơ một ngày “áo gấm về làng” với cái túi lép kẹp.
- Về cho lịch mới về! Bằng không thì đừng về! Lời cha tôi dặn vẫn còn vang vang bên tai tôi.


Việt kiều thua Việt Cọng!

Mười năm sau tôi lại phải trở về để cư tang cha. Mặc dù tôi vẫn chưa “lịch” nổi. Và lời cha tôi vẫn còn vang rõ trong tôi.
Họ hàng tôi lần này đông vô số kể bởi tới bốn anh em tôi về một lượt. Bài học lần trước giúp cho tôi tránh được vết xe đổ trong tộc họ thì tôi lại vấp phải lỗ chân trâu lần này.
Chỉ trong vòng mười năm, 1993-2003, Nha Trang tôi nói riêng, cả nước nói chung bỗng trở nên giàu sụ. Giàu quá sức tưởng tượng. Nhà lầu hai, ba tầng mọc lên khắp nơi như nấm gặp mưa dông. Sau một đêm thức dậy, khách sạn từ không sao cho tới năm sao đếm không xuể. Nhà hàng ăn uống hạng sang hai bàn tay, hai bàn chân không đủ ngón mà tính. Người người ăn nhậu. Lớn bé trẻ già đều ăn nhậu. Quán ăn tấp nập từ lúc mở cửa cho tới lúc đóng cửa. Tiền nhậu tính từ triệu trở lên chục triệu. Vừa nhậu vừa vỗ mông, rờ đùi nữ tiếp viên thoải mái. Tiền “bo” vung ra như mưa xuân cho các em.

Hôm tôi đãi các bạn học cũ một chầu gọi là “ ngộ cố tri” ở một nhà hàng nghe nói cũng kha khá ở gần sân bay, bên cạnh cũng có một tiệc chiêu đãi của cơ quan nào đó, số lượng khách gần bằng nhau cỡ ba chục. Trong lúc bên bàn chúng tôi ăn uống nói chuyện cũng vui vẻ râm ran thì dãy bàn bên tiếng “dô, dô, chăm phần chăm” nổ vang như pháo liên châu. Thoáng một lúc vỏ bia Heinekein ngập bàn, ngập đất. Tiếp viên nam, nữ năm sáu người lăng xăng phục vụ. Anh bạn ngồi cạnh tôi gõ ly leng keng gần muốn bể ly để xin cục nước đá, hồi lâu vẫn không ai đoái hoài. Anh chửi đổng:

- Đù má! Rõ ràng Việt kiều thua Việt Cọng!
Thật là lạ tai, tôi mới nghe thấy lần đầu. Tôi hỏi anh bạn:
- Họ là ai mà anh nói nghe “sướng cái lỗ tai” vậy?
- Thì bọn tư bản đỏ đó chứ còn ai!
- Tư bản đỏ? Tư bản đỏ nào?
- Thế từ hôm anh về tới giờ, anh không thấy bộ mặt thành phố Nha Trang à?
- Thấy! Khá lắm! Nha Trang mình bây giờ đột nhiên giàu quá. Nhưng vẫn thắc mắc không biết tiền ở đâu mà lắm thế?
- Thì còn ở đâu nữa! Anh không biết hay giả vờ không biết đây? Anh bạn tôi lợi dụng cái không khí ồn ào “dô,dô” của bàn bên, xả xú bắp vô tai tôi một “tăng” cho hả cơn :
- Mẹ nó chứ! Tiền ở đâu mà đám cưới chi ra cả tỉ đãi nhà hàng. Con Nỡm còn tặng cho cả lô bạn hơn chục chiếc xe “A Còng” mới cáo cạnh. Lại còn có thằng tổ chức làm đám tang cho chó, xe con, quan lớn đi đưa tiễn dài hàng cây số. Khốn nạn đến thế là cùng! Báo chí đăng dài dài chuyện lãng phí hàng ngày như chuyện chó cán xe mà đâu rồi cũng vào đấy. Chẳng thấy nhúc nhích, cục cựa thằng tây đen nào. Rõ chán mớ đời
- Này này ông bạn! Ông nói thế không sợ cái mạng già của ông sao? Lại liên luỵ đến tôi nữa đấy nhé. Chúng mà “thóp” cái Passport của tôi là tôi khốn nạn ngay đấy!
- Sợ chó gì! Ông tưởng Việt kiều bây giờ có giá như mười năm trước à? Chúng chả để mắt gì tới ông đâu. Bây giờ đâu đâu người ta cũng nói “Việt kiều thua Việt Cọng” xa!
- Đúng là vậy! Ai thì tôi không biết, chứ cá nhân tôi, mười năm cày như trâu bên Mỹ, chưa hề dám có bữa tiệc nào như thế này!
- Ối dào! Nhà hàng này là đồ bỏ! Nhằm nhò gì! Ông ra bờ biển hoặc hải đảo mà xem! Chỉ cái vé bước lên đảo thôi là hai mươi đô rồi. Hai mươi đô là ba trăm năm chục ngàn đồng Việt Nam đấy nhé! Bọn này đi dạy một tháng chưa tới bốn trăm ngàn. Vô nhà hàng hải đảo, một bữa tiệc phải tính từ một ngàn đô cho tới năm mười ngàn đô đấy!
- Anh vô đó chưa mà rành quá vậy?
- Anh đùa với tôi chắc? Hạng như tôi, cái vé bước lên đảo đã mua nổi chưa mà còn nói vào nhà hàng? Không cần phải vào. Mấy năm nay dân nó chửi nghe cũng đủ thừa biết rồi.

Tôi nghe mà lặng người. Vợ chồng tôi cố sức già đi làm, cố ký cóp dành dụm mong sao được một hai chục ngàn đô để ấm lưng tuổi già mà vẫn chưa có nổi. Giờ đây, trong khi Nhà Nước ta đang còn bắt loa kêu gọi thế giới giúp đỡ dân Việt xóa đói giảm nghèo thì lại có nhiều cán bộ xài sang một đêm đốt cả ngàn đô la trong chuyện ăn nhậu. Anh bạn tôi là một trong hàng hà sa số những kẻ đói nghèo thầm lặng, muôn đời không ngóc đầu lên nổi khỏi chốn cơ cực lầm than. Anh không uất ức sao được?

Tôi ra dạo biển để được nhìn lại quang cảnh cũ. Sóng, nước những ngày bơi lội săn bắn cá nay không còn. Chỉ thấy nhà hàng từ trên xuống dưới. Vào cửa hàng ‘Bốn Mùa” uống chai nước giải khát lại vô tình gặp anh “Việt kiều trang phục Tất Xi Đồ-A Đi Đát” ngối uống bia với gói đậu rang. Xung quanh là đám trẻ con bán báo, bán mực tẩm, nhóng mỏ lên nghe anh “nổ” chuyện bên Mỹ. Chốc chốc anh lại đưa khăn lau mồ hôi và nới lỏng chiết cà vạt đang thắt chặt cái cần cổ. Thật là bi hài hết chổ nói.
Anh bạn đi cùng, khoèo tay tôi chỉ:
- Ngó bộ là biết Việt kiều liền!
- Tôi không là Việt kiều sao?
Anh bạn nhìn tôi từ đầu đến cuối, rồi phá ra cười:
- Anh cũng là Việt kiều! Nhưng là Việt kiều Căm pu Chia!
- Sao anh chê tôi quá mạng vậy?
- Người ta thì đóng cánh đủ bộ lệ, túi bao tử đàng trước bụng, vai trái máy quay phim, vai phải máy chụp hình. Giây chuyền vàng to như dây neo lủng lẳng trên cổ. Cườm tay hai cái lắc vàng y, mỗi cái cả lượng. Bàn tay năm ngón đầy nhẫn, vàng choé. Còn anh thì trụi lũi, trên răng dưới dép, sao gọi là Việt kiều được?
Cái câu “chiếc áo không làm nên thầy tu” một lần nữa lại trật.


Rừng vàng, biển bạc, đất kim cương!
Việt kiều té ngữa, hết đường về cố thổ.


Nói nào ngay, mấy anh bạn già mỗi khi có dịp ngồi lại với nhau lai rai ba sợi đều bàn tới chuyện đôi ba năm nữa đến tuổi “hết xài” thì kéo nhau về lại chốn chôn nhau cắt rún, kiếm một mảnh đất nho nhỏ, cất cái nhà nho nhỏ, ráng có đủ tiện nghi tối thiểu như điện nước, nhất là nhà vệ sinh. Anh nào cũng lắc đầu, xanh mặt khi nghĩ lại cái cảnh đi làm công việc “vệ sinh buổi sáng”. Như xóm tôi ở biển làm gì có nhà cầu. Sáng sớm tinh mơ, đàn ông, thanh niên, đàn bà, con gái ra sát mé nước lấy chân ngoáy dưới cát thành một lổ trũng, tụt quần ngồi xuống. Từ đầu bãi cho chí cuối bãi cứ ngồi sắp hàng một, lố nhố trông thật vui mắt. Bàn tiếp hậu quay ra ngoài
biển. Cái trắng, cái đen. Phần cửa chính quay vô xóm, có hai đầu gối chụm lại che chở, khó có cặp mắt nào xuyên qua được “phần nhạy cảm ”.
Ở nhà quê thì “đi đồng”. Tức là ra ngoài đồng, làm cái thú “nhất quận công, nhì ỉa đồng”. Vừa xả bầu tâm sự, vừa hưởng làn gió mang âm hưởng “hương đồng gió nội” mát rượi cái bàn tọa, tai lại nghe tiếng chim sơn ca hót véo von. Làm xong, sẵn tay quơ cục đất sét hay môt cái cây, cái que, nhánh lá nào đó “ cờ lin ấp”* cái sự đời. Hoặc trong vườn nhà thì có cái thú vác cuốc thăm vườn. Khuất sau vườn, ta cứ cuốc một lỗ rồi tha hồ bón phân tươi cho cây trái.

Nhà ở thành phố có nhà cầu nhưng bàn ngồi thì cổ lổ sĩ bệt xuống sát đất, ngồi mỏi hai đầu gối vô cùng. Chưa kể tới anh nào bụng bự thì càng khốn khổ.
Đó cũng là cái “chuyện hồi nẳm”. Cái hồi còn “nhiều khó khăn trước mắt”. Bây giờ ta đã chung đụng với thế giới văn minh rồi. Đã biết thế nào là “ ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn…” Thua hay hơn thì còn phải tùy theo con mắt mỗi người.
Có người thì cứ nhất định ta là nhất. Đóng cửa, mẹ hát con khen hay! Có người thì “ mở rộng tèm mét”, thấy ta lạc hậu quá. Thiệt là dở! Nhưng tóm lại, khi mơ một ngày về, ai cũng muốn mình sẽ có một “căn nhà màu tím” ở quê hương, an dưỡng tuổi già.
Trên đường về Việt Nam, tôi cũng mang theo mong ước đó và cũng đã bỏ ra vài ngày, đi quanh một vòng Nha Trang để “thăm dân cho biết sự tình”.
Xuýt một chút nữa là tôi bị sái khớp quai hàm, không ngậm lại được vì há to quá trước sự ngạc nhiên quá đổi. Ngạc nhiên đến độ không tưởng tượng được.
Chỉ trong vòng mười năm mà đất cát biến thành kim cương hết. Cái câu xưa cổ “đất nước ta rừng vàng biển bạc” nay sách giáo khoa phải thêm vào cái đuôi xã hội chủ nghĩa là “đất kim cương” nữa mới đủ ý nghĩa.
Hồi đi tù về, tôi làm công cho Hợp tác xã Ngân Hà đóng ghe tàu ở Bãi Dương, Hòn Chồng. Đất biển ở đây hoang dã đầy bụi gai và kỳ nhông. Nắng lóa mắt. Tắm dưới nước, chạy lên chổ để quần áo cát nóng muốn phỏng chân. Bãi vắng hoe, cả ngày đỏ con mắt không một ai lai vảng.
Bây giờ thì Nhà Nước Khánh Hoà làm kinh doanh du lịch, cắt đất ra từng “lô” để bán. Mỗi thước vuông từ hai ngàn cho đến năm ngàn đô, tùy vị trí xa hay gần biển. Nghe nói công tử Đỗ Anh con trai Ngài Đỗ Thập Hoạn dành ưu tiên mua hết cả bãi.

Việt kiều nào nhắm một lô chừng 60 mét vuông, sát biển để hóng gió đại dương, thì làm phép nhân lên thử: 60M2 x 5000USD = 300.000USD. Rồi xây lên một cái nhà coi cho được. Rồi nội thất bên trong cho…xứng với cái nhà nữa. Tính sơ sơ gần cả triệu đô. Dân Ô Đi Ghe, Ô Đi Bi, diện Móm, diện Hô… có nước ăn cướp nhà băng Mỹ mới có chừng ấy tiền.
Anh bạn chở tôi đi, bình lựng:
- Tụi tư bản đỏ bây giờ thằng nào cũng giàu ngất trời, đều nhờ ăn cắp và bán đất hết. Bà Mẹ Việt Nam còm cõi cũa mình bi giờ bị tụi nó phanh thây, xe thịt bán lần, bán hồi cho ngoại quốc để thủ lợi cho đầy túi. - Người dân thườ
ng của mình ai nấy cũng khá lên thấy rõ mà! - Khá cái con tiều! Nghề ngỗng gì mà khá? Cũng nhờ bán đất mà ăn. Lúc nào đó hết tiền, không biết chừng bán luôn nhà Tự nữa!
- Nghĩa là sao?
- Anh không thấy à? Nhà nào có đất chừng sáu thước bề ngang là cắt ra ba thước bán bớt, lấy vài ba chục cây, xây cái nhà mới hai tầng để con cái có chổ để ở. Còn dư một ít cây thì dành ăn dần. Ai mới về cũng đều giật mình thấy xóm làng bây giờ đâu đâu cũng nhà mới, nhà lầu hềt trơn. Đâu ai hay rằng đó chỉ là giật gấu vá vai. Hồi xưa Cách Mạng ta kêu thời Mỹ Thiệu là “phồn vinh giả tạo”. Bây giờ người dân gọi ngược lại là “vinh phồn tạo giả” để chỉ bộ mặt ngày nay.
- Ở thành phố thì vậy đã đành! Còn về nông thôn thì sao?
- Dọc theo hai bên quốc lộ thì đất cũng thành kim cương hết. Đi sâu vào núi mới tới cái giá vàng. Vàng bốn số chín chính hiệu chớ không phải vàng tây đâu nhá!

Hôm lên chơi Phú Vinh, chổ ngã ba xe lửa. Nhà anh bạn tôi treo bảng bán. Nhà anh bây giờ lạ lắm. Trước khi tôi đi, căn nhà vẫn mái ngói âm dương. Tường vây xây bằng vôi và mật. Nay thì thành căn lầu đúc, hai tầng xây theo nửa quê, nửa tỉnh. Anh cho biết:
- Nhà Nước mở rộng quốc lộ, lấn vô hết nửa căn nhà cũ, được bồi thường một mớ nhưng không đủ xây lại nhà. Đành phải cắt bớt một nửa đất bán mới có đủ tiền xây.
- Sao lại treo bảng bán?
- Mấy đứa con tôi bây giờ lớn có gia đình hết nhưng vẫn còn ở nhờ nhà cha mẹ. Nhân khẩu ngày càng đông. Tôi tính bán rồi chia cho mỗi đứa một ít để chúng tìm nơi khác ở. Vợ chồng già tôi thì rút sâu vô ruộng, kiếm chổ nào re rẻ mua lại để ở.
- Anh định bán bao nhiêu? Tôi dò ý để coi có thể mua được không.
- Tôi định giá thấp nhứt cũng phải tám trăm cây!
Nghe anh nói, tôi sững người. Tám trăm cây! Óc tôi làm một bài toán nhân nhanh hơn vi tính. Một cây đổ đồng là 500Mỹ Kim.
800cây x 500USD = 400.000USD
Trời thần đất lở ơi! Thiên địa ơi! Việt kiều ơi là Việt kiều!
Gần hai triệu người lưu lạc nơi đất khách quê người, được mấy người thành triệu phú? Được mấy người có tài sản trăm ngàn đô?
Đó là nói những người nhanh chân, cao bay xa chạy, từ cái ngày 30 tháng 4 khốn nạn đến nay gần ba chục năm chắc đã có bốn trăm ngàn chưa? Huống hồ cái đám Hô, đám Móm đi từ năm 1990 đến giờ, trâu chậm uống nước đục, đào đâu ra mà có số tiền ấy với đồng lương lao động bảy đô la một giờ? Bây giờ thì tôi mới thật sự hiểu ra vì sao “sau một đêm ngủ đổ” thức dậy thấy rất nhiều người giàu phất lên nhanh chóng.
Như anh bạn tôi đây, gia tài cha mẹ để lại một căn nhà xưa ngói âm dương ngày càng đổ nát với một vườn chanh lèo tèo mươi cây bên hông nhà. Bây giờ anh cắt khu vườn bề ngang bốn mét bề dài hai mươi mét, bán bớt, xây được một căn lầu mới với giá tám trăm cây vàng!
Còn những bạn tôi ở ngay tại NhaTrang thì căn nhà của họ trị giá biết mấy lần hơn nữa?
Hóa ra bạn tôi ai nấy đều giàu. Dân Nha Trang ai nấy đều giàu. Ai ai cũng đều có hàng mấy trăm cây vàng trong nhà thủ thân. Vậy mà từ ngày về đến giờ, tôi cứ “ba ngày tiểu yến”, “bảy ngày đại yến” chiêu đãi họ.
Thật không bỏ làm trò cười. Nghĩ lại thật xấu hổ quá!
Từ đó suy rộng ra, các quan chức giàu nức đố đổ vách là phải. Đất nước gì của họ. Giang sơn gấm vóc gì của họ. Bây giờ là thế giới đại đồng. Thế giới của xã hội chủ nghĩa, thế giới Cọng Sản. Đất đai không còn là của riêng Việt Nam. Họ đã có công dành lại đất từ tay bọn tư bản thì bây giờ họ có quyền xà xẻo, cắt đất bán vài lô, vài chục lô hay vài trăm lô lấy tiền tỉ cũng là chuyện đương nhiên và công bằng thôi.

Có điều họ tế nhị không ra văn bản minh bạch cho dân chúng khốn khổ thấy rằng: Phường Ủy được quyền cắt bao nhiêu đất bỏ túi, Quận Ủy được tóm thâu bao nhiêu mẫu, Tỉnh Ủy, Bí Thư, Ủy Viên Trung Ương bao nhiêu…
Đất hóa kim cương là vậy. Cũng không lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ ngự trên những chiếc xe hơi trị giá từ ba trăm ngàn đến năm trăm ngàn đô la. Còn mấy anh được xưng tụng là Việt kiều ở cái xứ ra một bước là xe hơi, thử hỏi được bao nhiêu anh đi nổi chiếc xe ba bốn chục ngàn đô? Đừng nói tới con số trăm! Đa số có phải là ngày ngày đi cày trên chiếc xe cà khổ “ yêu ca”(used car) giá chưa tới ngàn đô?

Nhưng thôi! Đừng nghĩ ngợi nhiều thành ra bi quan! Từ xưa tới giờ “ Người bỏ đất chớ đất không bỏ người”.
Muôn đời đất vẫn còn đó. Đời đời kiếp kiếp bao nhiêu là tranh dành, bao nhiêu là hưng phế. Ông vua này, triều đại kia, chế độ nọ, đã thay nhau ngã xuống, đi vào lịch sử, tan theo cát bụi…
Biết bao công hầu, danh tướng nay may lắm còn chăng cái mộ bia cỏ mọc phủ bốn bề.
Đỉnh cao trí tuệ loài người, anh hùng vĩ đại muôn năm, vạn tuế, đời đời… chẳng qua chỉ là lời nịnh bợ nhất thời rồi cũng lần lượt nằm xuống hai bàn tay trắng. Có ai mang theo cho mình một hột nút chăng?


Sinh ký tử qui. Sống gửi thác về.

Từ khi nghe anh bạn ra giá căn nhà tám trăm cây vàng, tôi “ngộ” được điều “sắc sắc, không không”. Có đó mà không đó.
Tôi không còn lo nghĩ vớ vẫn đi tìm một miếng đất nho nhỏ, cất cái nhà nho nhỏ nữa. Căn nhà cha mẹ tôi để lại, nay thành nhà Từ, giao cho vợ chồng cô em còn ở lại trông coi và thắp hương bàn thờ hôm sớm. Anh em tôi nay tản lạc mỗi kẻ mỗi nơi. Họa hoằn đôi ba năm mới có người có chút tiền dư làm một chuyến về quê thăm nhà vài ngày rồi lại đi.
Bây giờ cái câu nói “về Việt Nam, đi Mỹ, đi Úc đi Gia Nã đại…” hình như không còn đúng nữa. Giờ người ta nói “đi Việt Nam ít lâu rồi về lại Mỹ…” đã chứng đó ít nhiều rằng Việt Nam không còn là chốn quê hương nữa.
Đất lành chim đậu. Ở đâu có tình người, có tự do hạnh phúc thì nơi đó sẽ là quê hương.
Tôi có ý định ngày nghỉ hưu sẽ về ở hẳn Việt Nam. Nhưng ông nhạc tôi ( người đã từng bị qui là địa chủ năm bốn lăm) khuyên không nên. Ông nói :
- Giờ chưa phải lúc con à !
- Đã hơn ba mươi năm rồi còn gì chưa phải lúc? Thưa Ba!
- Với chế độ Cọng sản, một trăm năm vẫn không thay đổi, vẫn sắc máu y nguyên. Ba mươi năm không là gì đâu con!

Vậy thì rõ ràng tôi không còn cách lựa chọn nào khác hơn là đành làm một du khách, lâu lâu lại đi du lịch một chuyến thăm Việt Nam như những dân tộc khác trên thế giới đến du lịch Việt Nam.
Thật là khôi hài. Người ngoại quốc nếu biết được hiện nay vẫn còn một thứ dân lưu vong tản lạc trên khắp thế giới không thua gì dân Do Thái thuở xưa, có tên là người Việt Nam, có một đất nước Việt Nam đang mang khẩu hiệu “độc lập - tựdo - hạnh phúc” mà dân của nước ấy không có con đường trở về chốn chôn nhau cắt rốn, chắc họ cho là điều quái gỡ.
Nhưng đó chính là hiện tượng bi thảm nhất có thực hiện nay, trên hành tinh loài người.

Nguyễn Thanh Ty
Mùa Giáng Sinh 2005.

• Tất Xi Đồ: Tuxedos ( tiếng Mỹ tức áo Veston) A Đi Đát: Giầy hiệu Addidas
• I Ết EO: E.S.L = English as second language
• Lon rô mát: Laundromat= Tiệm giặt máy tự động
• Ông lị (luỵ)= Cá voi bị chết trôi dạt vào bờ. Dân làng chài thờ cá voi gọi một cách kính cẩn là Ông.
• Đọt: thành phố có tên Dorchester
• Mã cha chú chệt: Bang Massachusetts
• Béc cơ ry: Bakery= Lò bánh mì
• Cờ lin ấp: Clean up= Lau chùi