Cái xóm Cồn nhỏ xíu của tôi dân cư chưa quá ba trăm người, mà có tới ba ông thợ may. Không phải ba ông mở tiệm may một lượt. Mỗi ông xuất hiện theo từng thời kỳ thăng tiến của đất nước kéo theo cái tiến bộ và “bùng nổ” dân số của xóm tôi.
Từ lúc còn để chỏm, tôi bắt đầu ôm cặp đến trường Nam Tiểu học Nha Trang, học lớp Năm Nhỏ, cho tới khi leo lên được lớp Nhứt, tôi biết duy nhất chỉ có chú Tư Đạm là làm nghề thợ may mà thôi.
Còn hai thợ khác là chú Ba Nhóm và ông Bảy Lời lần lượt xuất hiện, thì mãi về sau này, khi tôi lên Trung học và dân cư trong xóm đã đông dần lên một cách bất ngờ. Đó là năm năm mươi tư. Người Bắc ào ạt di cư vào Nam tránh họa Cọng Sản.
Tôi thân thuộc với chú Tư Đạm lắm.
Chú Tư Đạm bận bịu quanh năm suốt tháng với cái máy may Singer màu đen có cái cần cổ ốm nhách, liền với cái đầu máy trông giống như cái đầu con ngựa trời.
Chú chỉ nghỉ tay, nghỉ chân vào khuya đêm ba mươi giao thừa, trước giờ trừ tịch, khi giao bộ đồ cuối cùng cho người đặt may để ngày mai họ ăn Tết.
Gia đình tôi cũng như gần hết cả xóm đều là thân chủ của chú.
Nghỉ ba ngày Tết xong, chú bắt tay vào việc ngay.
Từ mồng bốn gọi là tốt ngày khai trương cho đến ba mươi Tết năm sau, chú lại tất bật công việc. Không có năm nào chú nghỉ ngơi lâu lâu một chút. Ngày mồng năm phải kiêng cử. “Mồng năm, mười bốn, hăm ba. Đi chơi cũng lỗ lựa là đi buôn”. Chú cử. Mồng sáu còn hơi hám cái xúi quẩy mồng năm. Kiêng luôn cho chắc ăn. Mồng bảy mở cửa thì trễ quá. Vì vậy, năm nào cũng mồng bốn là tốt nhứt.
Nhà chú Bốn tôi sát nhà chú. Tôi thường xuống nhà chú tôi chơi nên lân la qua bên chú để ngắm chú làm việc và nhất là tò mò theo dõi cách hoạt động của cái máy may.
Tôi mê mãi ngắm cái máy chú Tư Đạm điều khiển hằng giờ mà không biết chán. Và ghiền nghe cái tiếng máy kêu xành xạch rất vui tai khi máy chạy tít mù.
Trước tiên, chú giở cái nắp thùng đậy đầu máy ra, để sau lưng. Chú thò tay vào bụng máy lôi ra một bình dầu để xịt vô những cái lỗ bé tí trên đầu máy. Cái bình dầu hình thù cũng lạ lắm. Cái bụng chứa dầu tròn và bẹt ra giống như hủ mực. Cái vòi châm dầu thì nhỏ xíu và nhọn hoắt. Ở đầu vòi nó hơi cong cong như mỏ két. Chú thong thả dốc ngược bình dầu tẳn mẳn xịt dầu vô máy. Hai ngón tay trỏ và giữa chú kẹp cái vòi, ngón tay cái chú bóp cái bụng cũng là cái đít bình dầu. Mỗi lần bóp tôi nghe có tiếng kêu “ khịt khịt” nho nhỏ.
Xịt dầu xong, chú quơ mấy miếng giẻ dưới chân lau sạch mấy vết dầu loang ra mặt bàn may. Đoạn chú cho máy chạy thử coi có êm không. Tay mặt chú quay cái bánh trớn của máy, chân chú nhắp nhắp mấy cái trên cái bàn đạp. Cái bánh trớn lớn bên dưới nối liền bánh trớn nhỏ ở trên bằng sợi giây da quay tít mù làm cho cái đầu máy hoạt động liên tục. Con cò xỏ chỉ cứ gục gặc lên xuống liên hồi lôi sợi chỉ từ ống chỉ cắm trên lưng máy xoay vòng vòng nhả chỉ ra. Cây kim may có lỗ ngược ở đầu mang sợi chỉ đâm phầm phập lên xuống nhanh như cò mổ.
Tới lui chỉ có bao nhiêu đó mà lúc nào có dịp xuống nhà chú tôi chơi, tôi cứ vẫn say mê ngồi nhìn.
Chú Tư Đạm cứ yên lặng chăm chú trong công việc. Chú không để mắt đến tôi bao giờ. Vã lại, tôi chỉ ngồi ngắm thôi không làm phiền gì chú.
Tuy chú làm quần quật như vậy mà cũng chỉ đủ ăn chớ không khá giả như những nhà có mành. Nghề may vá của chú, chủ yếu là vá chớ ít may. Gần cuối năm mới thực sự là may. Áo quần bị rách ống, rách vai , mòn đít đều đem tới nhờ chú vá lại. Áo bành tô rộng phùng phình bán ở chợ mua về cũng đem đến nhờ chú sửa lại cho vừa vặn để mặc đi biển cho ấm.
Sợi dây bằng vải xe lại, giăng sau lưng chú, từ đầu vách này sang đầu vách kia, vắt đầy quần áo rách. Chú vá từ ngày này sang tháng kia vẫn không hết.
Anh em chúng tôi mỗi năm đều được cha mẹ may cho một bộ đồ mới để ăn Tết. Một năm một bộ duy nhất.
Mấy cái quần “soọc” xanh của tôi mòn đít, đều nhờ chú vá cho hai miếng mới to bằng bàn tay. Mòn lần thứ hai thì hết mặc được.
Anh em chúng tôi từ lúc ba đứa rồi năm đứa, bảy đứa đều mặc đồng phục như nhau. Có năm là vải ú đen. Có năm vải in bông lấm tấm. Có năm vải sọc rằn. Mồng một tết anh em chúng tôi bồng bế nhau đi chơi Tết, kéo nhau ra biển, bên cạnh Toà Hành Chánh Tỉnh, đi lên đi xuống giống như một đội banh.
Vào khoảng từ rằm cho tới hai mươi tháng chạp, cha tôi đến hỏi thăm chú Tư Đạm cho biết chừng, năm hay bảy anh em, tùy theo nhân số gia tăng từng thời gian, mua cở bao nhiêu thước vải. Chú Tư Đạm lẩm nhẩm tính một hồi rồi cho cha tôi con số. Tối đó, trong lúc ăn cơm cha mẹ tôi bàn qua tính lại hồi lâu nên mua cho con vải gì, tốn hết bao nhiêu, liệu mượn ai đây, khả năng chừng nào trả được, trả góp bao nhiêu tháng. Hai ông bà ngồi chau mày tính toán. Chúng tôi ngóng mỏ nghe chỉ biết mừng rơn trong bụng là mình sắp có quần áo mới chứ nào biết nỗi lo âu của cha mẹ.
Mấy ngày sau, mẹ tôi mang về một xấp vải. Cha tôi kêu chú Tư Đạm lên nhà đo cho chúng tôi. Chú Tư vắt vai chiếc thước giây, vành tai giắt cây viết chì, tay cầm cuốn vở học trò mấy góc vở trang nào cũng cong, cuốn vào bên trong. Chú đo tới đâu, ghi con số tới đó vô cuốn vở. Vậy là nay mai chúng tôi sẽ có quần áo mới. Chỉ ngửi mùi thơm của vải mới là tối ngủ tôi đã nằm mơ thấy mình lâng lâng sung sướng như trên cõi Tiên rồi.
Cái thuở đó chỉ rặc một kiểu áo Bà Ba gài nút đá. Quần Bà Ba cho phụ nữ thì may kiểu chân què, dưới đáy có nối một miếng vải xéo, hình tam giác, cột dây lưng bằng vải may lại.
Năm nào cũng một kiểu đó mà sao tôi cứ thấy sung sướng lạ thường khi sáng mồng một Tết được mặc nó lần đầu tiên. Chất hồ còn cứng, bước đi nghe tiếng sột soạt thật đê mê, ngây ngất.
Ngoài cái kiểu Bà Ba ra, chú Tư Đạm đâu biết may kiểu “Lơ Mia, Lơ Phổ”(*) tân thời như trên phố, tôi biết được sau này khi lên Trung Học.
Phụ giúp cho chú là vợ chú, thím Đạm. Thím chuyên làm khuy và đơm nút. Không biết có phải do công việc tẳn mẳn xe chỉ luồn kim hay không mà cặp mắt thím ngày càng nheo lại, hai bên khóe cứ rỉ nước như người mắt bét. Chốc chốc thím lại ngừng tay lau mắt. Hai vợ chồng yên lặng chăm chỉ trong công việc. Chỉ nghe có tiếng máy chạy xành xạch. Thỉnh thoảng chú Tư ngừng máy, đứng dậy vươn vai vài cái cho đở mõi và ra nhà sau uống một gáo nước lạnh.
Và chú cứ may như vậy cho đến khi con cái chú năm, bảy đứa ra đời, khôn lớn, lấy vợ, gã chồng.
Năm bảy mươi, tôi trở lại xóm, thì chú đã mất mấy năm rồi. Cái máy may bây giờ cũ nát, cái thùng đậy đầu máy không còn. Mặt bàn may làm bằng ván ép nay đã tróc vẫy, trầy vi xơ xác. Nước sơn đen cái đầu máy bong ra, loang lỗ từng khoanh như cái đầu ngựa bị ghẻ lác. Bán không ai mua nên thím Đạm giữ nó lại bên bàn thờ của chú để làm kỷ niệm
Đứng ngắm cái hình chú trên bàn thờ và cái máy may, tôi chợt có ý nghĩ buồn rầu. Đời chú cũng giống chiếc máy may. Đều đặn, êm ả như giòng sông trôi chảy. Như tiếng máy xành xạch đều đều năm này qua năm khác. Chú có vui buồn, sung sướng, hạnh phúc, khổ đau với những xáo trộn thời cuộc không? Chú ngồi đó với chiếc máy may cho đến tận cuối đời.
Một đời người rút lại chỉ ngần ấy sao?
Những năm sau tôi đi học xa nhà và đi làm việc ở tỉnh khác, bầy em tôi có còn may áo mới ở chú nữa không? Tôi cũng quên lững, không han hỏi mấy đứa em tôi. Có lẽ không thì đúng hơn. Những kỳ nghỉ hè tôi về thăm nhà thấy bọn chúng mặc quần áo kiểu cọ rồi.
Chú Đạm chỉ duy nhất có mỗi kiểu Bà Ba, Ông Ba mà thôi.
*
Lúc tôi lên Trung Học Đệ Nhất cấp thì chú Ba Nhóm từ Phú Yên tắp vô làng tôi lập nghiệp đã được mấy năm rồi. Tôi nhớ rõ như vậy là vì ở Trung Học phải mặc quần tây và áo sơ mi. Leo lên Đệ Thất là tôi phải chuyển sang chú Ba Nhóm để may áo quần. Bầy em tôi vẫn còn đeo theo chú Tư Đạm nhiều năm nữa.
Chú Ba Nhóm cao như cây tre miễu, nước da trắng mai mái. Dân xóm tôi nói đa phần người Phú Yên có nước da bông bí. Con gái Phú Yên rất đẹp.
Lúc mới vô, chú dựng một cái nhà sàn ngay đầu bến cá. Bến cá xây bằng đá chẻ, cao năm bậc lên xuống. Nơi đó nước sâu lắm nên ghe mành tắp sát vô bến để “rổi” từ kè đá có thể bước lên mành bằng tấm ván bắt nối để đong cá.
Những cây cột chống nhà sàn của chú cũng cao lêu khêu và ốm nhom như thân hình chú vậy.
Chú mở một quán may đồ tây, chuyên may áo sơ mi và quần tây. Dân xóm tôi tự động âm thầm chia ra làm hai để thành khách của hai ông thợ may. Đám người già và con nít thuộc quyền chú Tư Đạm. Đám thanh niên, thiếu nữ choai choai đổ sang chú Ba Nhóm.
Quán may của chú Ba Nhóm nằm phía bờ sông nhìn xéo về mé biển một dãy nhà đối diện là quán may của chú Tư Đạm.
Nước sông không phạm nước hồ. Ai đưa đồ Bà Ba, chú Ba Nhóm chỉ qua chú Tư Đạm. Ngược lại, ai đưa đồ tây, chú Tư Đạm chỉ lại chú Ba Nhóm. Quần đùi, áo lá không kể. Ai may cũng được.
Tuy chú Ba Nhóm cũng rất đắt khách, vải may chú nhận vắt đầy giây treo nhưng chú ít may ban ngày. Chú chỉ may vào ban đêm dưới ánh đèn “măng sông” sáng quắt. Ban ngày chú lo o bế mấy con gà nòi nhốt trong cái giỏ trước quán may.
Chú có cái thú đá gà. Chủ nhật nào chú cũng ôm gà lên trường gà ở chợ Mới để cáp độ. Cha tôi khen chú hết lời
:
- Cái thằng Ba Nhóm hễ mỗi lần mang gà đi cáp là nhứt ăn, nhứt huề! Thiệt là dân Phú Yên nổi tiếng về môn đá gà có khác.
Tuy chú Ba lúc nào cũng vui vẻ với mọi người. Chú cười hề hề sau mỗi câu nói, nhưng tôi vẫn cảm thấy xa cách và nhìn chú với vẻ sờ sợ vô cớ. Vì vậy, tuy năm nào tôi cũng đứng thẳng trước chú, giang tay, quay lưng cho chú đo để may đồ mới, tôi vẫn không thân thiện với chú bằng chú Tư Đạm được.
Những ý niệm gợi nhớ về chú Ba Nhóm làm tôi nhớ đám gà nòi của chú hơn là cái máy may.
Mỗi khi rãnh rỗi, tôi xuống nhà chú Bốn tôi chơi, bắt buộc tôi phải ngồi lại một lúc trước nhà chú Ba Nhóm để coi chú tẳn mẳn, tỉ mỉ chăm sóc hai con gà mà chú gọi là “đại tướng quân” của chú. Tôi không ham thích coi đá gà như những đứa trẻ khác trong làng. Tôi thấy cảnh đá gà tàn nhẫn và dã man quá. Sau những tiếng hò reo của đám người vây vòng tròn, hai con gà nòi đâm vào nhau xòe lông cổ, mắt long lanh, lừa miếng, đá phành phạch vào nhau bằng những cái cựa nhọn hoắt. Một lúc sau, con nào cũng máu me đầm đìa. Và cuối cùng, một con phải nằm chết ngay đơ dưới đất một cách tội nghiệp. Mỗi lần như vậy tôi lại chảy nước mắt.
Có phải vì cái cảnh đá nhau man rợ và cái chết đau thương của những con gà chọi thua cuộc đã ảnh hưởng tới tâm lý, làm cho tôi sờ sợ và không thân thiện với chú Ba Nhóm không? Tôi không biết!
Có điều, mỗi lần thấy tôi ngồi xổm, chò hỏ theo dõi cách o bế gà của chú, chú quay sang tôi, đặt bàn tay có những ngón dài xương xẫu lên cái đầu hớt ca rê của tôi xoa xoa và tủm tỉm cười khen tôi :
- Thằng Hai mầy học giỏi cho anh Hai (cha tôi) được nhờ! Muốn học cách đá gà không, chú bày cho?
Mỗi lần như thế, tôi lại thấy ấm lòng và cảm động. Nhưng tôi vẫn lắc đầu nói không thích.
Tình cảm giữa tôi với chú vẫn có một bức tường vô hình xa cách.
*
Tôi không nhớ rõ là tháng nào của năm năm mươi tư, lúc cả triệu người Bắc di cư vào Nam để lánh nạn Cọng Sản, một số đông gia đình đã kéo về tá túc ở xóm tôi, trong đó có ông Bảy Lời.
Ông Bảy Lời lại không phải người Bắc. Ông nói tiếng Quảng Nam “lòm eng”, “như ri, như rứa”.
Ông Bảy Lời xuất hiện ở xóm tôi là một hiện tượng rất lạ. Nhất là đối với những đứa học trò nghịch phá như quỉ và tò mò như chúng tôi.
Cái lạ thứ nhất là thình lình ông mở một tiệm may sang trọng trong nhà anh Tịnh, em chị Cang cho thuê truyện Tàu “Tín Đức Thư Xã”, cháu bà Xã Tả.
Riêng cái chuyện ông mướn được một nửa gian nhà phía trước của anh Tịnh để mở tiệm may đã làm cho chúng tôi ngạc nhiên lắm rồi.
Anh Tịnh là một nhân vật “thần bí” ở xóm tôi. Anh trạc cỡ tuổi anh Minh con cậu Sáu tôi. Hay lớn hơn một hai tuổi, nghĩa là lớn hơn tôi chừng năm tuổi. Tôi không rõ anh học đến lớp mấy. Trừ anh Bảy Dẹo ra, cả xóm ai cũng đã biết anh học giỏi, nói tiếng Tây bóc bóc, riêng anh Tịnh thì không một ai biết. Người trong xóm chỉ thấy buổi sáng anh quần áo chỉnh tề, đạp chiếc xe đạp bằng nhôm “đuya ra” sáng loáng ra đi, trưa đạp về.
Anh làm cái gì, ở đâu, không ai biết.
Năm ấy, anh xây cái nhà bằng gạch, xi măng, mái ngói đỏ, to nhất xóm. Cái nhà xây theo kiểu rất lạ do anh tự vẻ lấy. Anh nói đã có học về “kiến trúc sư”. Ngôi nhà hình chữ nhật, một mái, chạy dài theo mặt đường. Miếng “đanh” nhô ra trước hiên, thay vì chạy thẳng theo chiều dài cái nhà để che mưa khỏi tạt vô mấy khung cửa, như nhà trên phố. Miếng “đanh” kiểu của anh lại chạy xéo từ đỉnh đầu hồi này đến nửa đầu hồi kia, giống như tướng cướp Độc Nhãn Long đeo miếng da che con mắt chột vậy. Phía trên miếng đanh, anh cho kẻ những hình chử nhật, hình vuông, hình tam giác nhiều kiểu, đan chéo nhau, lồng vào nhau. Anh nói đó “kỷ hà học”.
Thực tình chúng tôi không biết “kỷ hà học” là cái gì nhưng đứa nào cũng cho là cái nhà kỳ dị.
Đặc biệt là giọng nói của anh. Nó khào khào, không có âm sắc và không nói lớn tiếng và rõ ràng được. Anh ít nói và đúng hơn là anh ít giao thiệp với ai. Mỗi khi tôi đi đổi truyện cho Má tôi ở gian bên chị Cang ở, tôi len lén nhìn sang gian bên anh, tôi thấy anh luôn luôn nằm trên cái trường kỷ chăm chú đọc sách. Lòng tôi khâm phục anh vô cùng.
Anh sống lặng lẽ, không vợ con, không bạn bè, không trà đình tửu điếm, không la cà nhậu nhẹt. Cuộc đời của anh quả là một sâu thẳm bí mật như đáy biển, kích thích trí tò mò cho bọn nhóc chúng tôi.
Khoảng năm sáu mươi, Nhà Nước cho bắt ống nước máy chạy xuống xóm tôi. Nhà anh là một trong những nhà đầu tiên có nước máy.
Để có nước “đổi” cho cư dân trong xóm xài, anh vẻ kiểu một cái hồ hai ngăn phía sau nhà anh và kêu thợ hồ xây theo cái “lập lăng” đó.
Cái hồ lớn lắm. Bề cao một thước rưỡi, bề dài năm thước. Chính giữa có một bức tường ngăn đôi . Dưới đáy tường có lỗ thông nhau được đậy kín bằng nút cao su. Khi nước máy chảy đầy nửa hồ phía bên này, anh rút nút cho nước chảy chuyền qua hồ bên kia. Dân trong xóm cứ kê thùng thiếc vào cái “rô bi nê” phía hồ bên ngoài mà hứng. Một đôi nước, một đồng.
Hồ xây xong, một tuần sau, anh cho nước máy chảy vào. Khi nửa hồ phía trong vừa đầy, anh leo xuống hồ rút cái nút cao su ra cho nước chảy chuyền sang. Được mấy phút, bất ngờ bức tường chính giữa nứt ra, đổ ập xuống, đè bẹp anh bên dưới. Xương sườn anh bị gãy nát hết. Anh chết liền trong hồ.
Người dân trong xóm chưa hứng được thùng nước nào của anh.
Chôn cất người anh trai xong, chị Cang mướn toán thợ hồ trước kia, đập phá cái hồ. Bao nhiêu gạch vữa chuyên chở đổ xuống sông hết.
Những người lớn tuổi trong làng bàn tán xôn xao về cái chết của anh. Ai cũng đều cho là khùng điên. Anh đã tự cao, tự đại, tự xưng mình là “kiến trúc sư” để rồi chết lãng xẹt vì cái cái sự hiểu biết kém cõi của mình.
Mấy người thợ hồ cho biết họ đã khuyên anh ta nên “kiềng” sắt dọc theo bức tường ngăn nhưng anh ta không nghe và bảo rằng :
- “Bức tường xây “đúp bờ lê” bằng hai lớp gạch làm sao mà bể nổi!
(Sau này lên Trung Học tôi mới biết về nguyên lý áp lực của nước đã xô bức tường ngã. Anh Tịnh lúc đó chắc chỉ biết về thể tích nước chứ không biết một chút gì về áp suất và áp lực)
Nhưng đó là chuyện của anh Tịnh mãi về sau này.
Bây giờ đang nói về Ông Bảy Lời.
Không biết ông Bảy quen với anh Tịnh trong dịp nào và mối giao tình ra sao mà anh lại chịu cho ông Bảy thuê gian phía trước, cả nửa ngôi nhà để mở tiệm may tân thời. Tuy tiệm không có bảng hiệu nhưng ai cũng kêu là tiệm “tân thời” của ông Bảy Lời. Lâu ngày chết cái tên.
Tiệm ông rất bề thế. Ngoài cái bàn vuông to dùng để trãi vải ra đo, cắt và cái máy may Singer mới keng ra, phía trước tiệm chưng một cái tủ kính sáng choang. Bên trong để đầy vải âu phục như “tê-tơ-rông”, “ga-bạc-đin”, “xẹc”, “nỉ”, v.v... dùng để may “đồ lớn”. Và bắt mắt mọi người nhất là một hình nộm bán thân đàn ông rất đẹp, to bằng người thật. Mỗi lần may áo lớn cho ai, ông máng áo vào đó làm mẫu. Ông gọi cái hình nộm đó bằng tiếng Tây là “ma-nơ-canh”.
Nhìn cái tiệm của ông Bảy Lời xong, ngó qua hai cái quán may của chú Tư Đạm và chú Ba Nhóm thiệt là nghèo nàn, quê mùa, bình dân quá đỗi.
Nội cái cách ăn mặc chải chuốt và đi đứng, sinh hoạt của ông Bảy Lời không thôi, cũng đã ăn đứt hai chú Đạm và Nhóm của tôi rồi.
Chú Đạm và chú Nhóm quanh năm đi dép và quần áo Bà ba xuyềnh xoàng.
Giống như anh Tịnh, ông Bảy Lời lúc nào cũng “tém thùng”, nghĩa là áo bỏ trong quần, quần ủi hai “li” thẳng ro, giầy, nịt bóng loáng.
Ông còn hơn anh Tịnh về đôi giầy “đơ-cu-lơ” đen trắng.
Anh Tịnh chỉ được giầy săn đan mà thôi. Ông không đi xe đạp, chỉ đi bộ. Thỉnh thoảng trên phố về, ông đi bằng xe xích lô.
Khổ người ông cũng cao và xương xương như chú Ba Nhóm. Đầu tóc ông chải rẽ ngôi bảy ba trông rất lịch sự. Ông hút thuốc điếu bằng cái ống đót làm bằng ngà voi màu vàng ngà, dài hơn ngón tay một chút. Khi gắn điếu thuốc vô ống đót, đứng xa nhìn vào, thấy điếu thuốc trước miệng ông bay khói lên giống như mấy Tiên ông, trông thật phong lưu tài tử.
Nhìn dáng ông đi vung vẫy, hai chân dài của ông cứ mỗi lần bước tới hình như nhún một cái, tôi cứ có cảm tưởng dưới gót giầy ông có gắn lò xo.
Nhưng điều mà cả xóm tôi nể ông nhứt là ông luôn luôn có tờ “nhựt trình” trên tay. Ông đọc nhựt trình hàng ngày. Ông thông thạo “ba-tê”(*) trên thế giới. Nhựt Bổn đầu hàng hồi nào, Mỹ bỏ bom nguyên tử mấy trái ở đâu, Pháp thua Điện Biên Phủ chết mất mấy tướng, tại đâu, v.v... Ông nói thao thao bất tuyệt cho mấy ông già trong xóm ham theo dõi thời cuộc nghe mê tơi.
Sáng nào mấy ông già đó cũng ngồi chơi trước tiệm ông Bảy, chờ ông Bảy đi uống cà phê, cà pháo về là xáp vô hỏi thăm tin tức.
Ngày nào cũng y ngày nấy, mấy ông già mở đầu bằng câu chào :
- “Chú Bảy Lời bữa nay làm xong mấy ly cà phê, mấy cái bánh bao rồi dìa đó hả? Có tin gì mới không chú? Coi bộ thời sự lóng rày nóng hổi dữ!”
Ông Bảy Lời vừa cười chúm chím, vừa giả giọng chú Ba Chệt tiệm cà phê cóc, góc đường Nguyễn Du và Phan bội Châu, hiệu Đông Thành :
- “Dạ, sáng nay sơ sơ chỉ có “dách cô phế nại, lưỡng cô tài páo”(*) thôi. Tại ngồi đọc cho xong mấy cái tin tức sốt dẽo nên về hơi trưa một chút đó mấy bác, mấy chú á!”
Sau thủ tục chào hỏi cho có lề lối xong, mấy ông già xóm tôi, kẻ quần đùi, người quần dài cháo lòng, cuộn lưng một cục to trước bụng, tất cả đều ở trần, da nhăn nheo sạm nắng chảy xệ xuống từng vòng, xáp vô trước bàn may đo, ngồi sắp hàng trên bậc tam cấp, nghếch hàm răng rụng lên nghe chú Bảy Lời vừa làm việc, vừa tường thuật tin mới nhứt, đăng sáng nay trên tờ nhựt trình Thần Chung. Chừng đâu nửa giờ thì “bản tin buổi sáng” chấm dứt. Mọi người hả hê tản hàng. Lại còn hẹn nhau buổi chiều tụ thêm lần nữa nghe ké thêm tin giờ chót ở cái “la-dô Phi-Líp bốn đèn ” của chú Bảy lúc năm giờ.
Nhờ vậy mà tiệm may tân thời của chú Bảy Lời luôn luôn đông người vào ra nhộn nhịp.
Hai quán may của chú Tư Đạm và chú Ba Nhóm vẫn đông khách như xưa nhưng quang cảnh im lìm, vắng vẻ và buồn hiu không tươi vui bằng tiệm ông Bảy Lời. Chỉ nghe có tiếng máy chạy xành xạch đều đều.
Những cái áo “Vét”, dân xóm tôi kêu là áo “bành tô”, ông Bảy nhận ở trên phố về may chứ dân làng tôi ai đâu có đủ tư cách và đủ tiền để may một bộ. Mà may để làm gì? Quanh năm suốt tháng cứ ở trần trùng trục, hết dưới nước rồi lên nắng. Tóc cháy vàng hoe, da cháy nắng đen nhẽm. Chân đi đất quanh năm to bè, có biết giầy dép là gì?
Nhưng dần dần cũng có vài ông may thử bộ đồ bốn túi. Kiểu này do ông Bảy may giới thiệu, quảng cáo trên cái hình nộm. Ông cũng nói tiếng Tây đó là kiểu “Vét Can”. (Kiểu sau này Cố vấn Hoàng Đức Nhã hay mặc)
Chiếc áo bốn túi đi với quần tây mặc thấy cũng sang nhưng không “long trọng” bằng áo “bành tô” có dựng vải lót bên trong, mặc thấy rất “gồ ghề”, “nhột nhạt”.
- “Mình là dân làm ăn mà! Đâu phải ông to, bà lớn gì mà bận “bành tô”! Lâu lâu có ngày tư, ngày Tết tới với bà con thì cũng bận chút đỉnh cho nó “trượng”.
Nói cho đúng ra, là cũng nhờ biển trúng mấy năm liền, bà con bạn mành có rủng rỉnh chút tiền dư mới mơ tới bộ đồ bốn túi. Cha tôi cũng mày mò dành dụm sắm được một bộ. Ông khoe với mẹ tôi :
- “Anh Bảy Lời đích thân đi lên tiệm “Chà Dà” lựa vải cho tôi đó bà !
Hôm đem bộ đồ về, cha tôi đợi đến tối cơm nước xong, mới mặc vô khoe với mẹ tôi. Cả nhà trầm trồ rối rít. Cha tôi trông càng bảnh chọe với bộ đồ bốn túi màu nâu sậm. Chân ông đi giầy rọ heo. Mẹ tôi vuốt ve từng nếp ủi, từng lằn chỉ may. Bà cũng xuýt xoa :
- “Anh Bảy Lời may thiệt khéo! Ông mặc bộ này vô người coi bộ trẻ ra tới mấy tuổi. Không khéo bà Mãng lại mê mệt !
Cha tôi nghe khen nở mũi, nhưng cũng e hèm vì mẹ tôi lại nhắc chuyện xưa. Cái chuyện “hồi nẳm” mẹ tôi sinh đứa em thứ bảy, cha tôi mướn bà Mãng về nuôi đẻ, chăm sóc em bé. Bà Mãng goá chồng. Được chừng một tháng, mẹ tôi đánh hơi thấy có điều gì không ổn giữa hai người, có ướm hỏi. Cả hai đều chối phăng. Một đêm kia, mẹ tôi nghe có tiếng động lạ ở giường ngoài, bà đang bị bệnh tê chân nhưng cũng ráng chống gậy lần tới cái công tắc điện, bật lên, bắt quả tang hai người, cha tôi và bà Mãng đang “rèo” nhau. Bà chỉ nói :
- “Rõ ràng rồi đừng có chối nghen!”
Rồi bà tắt đèn. Mẹ tôi không ghen tương. Sau lần đó, hai người không dám “tù ti tút tít” nữa. Mẹ tôi lâu lâu lại kể chuyện đó cho chúng tôi nghe. Trong lúc chúng tôi cùng cười ngặt nghẽo, cha tôi lãng xuống bếp vờ làm cái gì đó một lúc để lánh nạn.
Mẹ tôi ngắm nghía cha tôi xong, nói với chúng tôi :
- “Kể cũng tội cho cha các con! Từ ngày cưới má cho đến nay cha con chỉ có cái áo dài đen. Đã mười mấy năm cất trong rương có bỏ long não vậy mà dán cứ nhấm lũng hết.
Mấy ông bạn mành lâu lâu lại rũ nhau bận đồ bốn túi, mang giầy rọ heo lên Đầm coi hát bội rạp Thạnh Xương. Tối khuya về anh nào cũng giầy cầm tay, đi chưn đất. Giầy mới, ít đi, da bò cứng làm phồng mấy ngón chưn.
Năm tôi lên Đệ Ngũ thì không biết ông ôn con nào trong bọn quỉ chúng tôi phát giác ra một cái tin động trời làm chấn động mọi người trong làng. Nhất là mấy ông già ham theo dõi chuyện “ba tê” thế giới càng bàng hoàng ngơ ngác. Mấy ông nhất định không tin cái tin đó và mắng lũ chúng tôi là cái bọn rắn mắt chuyên đi chọc phá hết người này đến người kia. Cha tôi thường hay mắng bọn chúng tôi bằng câu :
- “Tụi mày ăn no xong là lo đi chọc cho thiên hạ chữi !
Đó là cái tin: “Ông Bảy Lời dốt chữ !”
- “Ông Bảy Lời không biết đọc chữ ?”
Ai mà tin cho được. Ông Bảy Lời xưa nay là nhà thông thái. Ngày ngày ông đọc nhựt trình, báo Thần Chung. Tin tức trong nước, trên thế giới đều rành. Tin gì trong “la dô” loan ra ông cũng đều “bình lựng” ngon lành mà lại không biết chữ à? Không biết chữ mà may đo được à ?
- Rõ là cái đám “ nhứt quỉ, nhì ma thứ ba học trò” là tụi mày mà !
Người nào cũng mắng át chúng tôi khi nghe chúng tôi khỉ khọt cái tin đó.
Chẳng là một hôm, không biết thằng So hay thằng Phát, tình cờ đi ngang tiệm ông Bảy Lời giữa trưa, nó liếc vô thấy ông Bảy đang vắt đốc chân chữ ngũ trên chiếc ghế mây, đọc báo. Ông đọc to tiếng lắm khiến nó chú ý. Nó đi sát vô cửa thì thấy chử Thần Chung to tướng nằm lộn ngược. Nó nghi ngờ nên chạy về kêu thêm hai ba thằng ôn dịch nữa xuống coi cho hãn. Thế là cái tin ông Bảy Lời không biết chữ loan ra một cách nhanh hơn “Bà xẹt”.
Ông Bảy Lời vẫn điềm nhiên tọa thị, không hề hay biết về cái tin đó. Sáng sáng ông vẫn “dách cô phế nại, lưỡng cô tài páo” và ra về với tờ nhựt trình trên tay. Dáng ông đi vẫn nhún nhảy trong bộ đồ “tém thùng”, cái đót vẫn vắt vẻo trên môi. Và đôi giầy “đơ-cu-lơ”(*) vẫn bóng lưỡng như mọi ngày.
Nhưng những ông già thường ngày “ăn theo tin tức” từ ông Bảy Lời đã có những ánh mắt là lạ khi nhìn ông Bảy. Bây giờ họ nhận ra ông Bảy chỉ nói không thôi chứ chưa bao giờ nhìn trong tờ nhựt trình hay trích đọc một tin gì trong tờ báo. Nhưng mấy ông già đó cũng “ni a, ni bê” thì lấy gì làm chứng cái sự ông Bảy Lời “mít đặc”?
Sau cùng cũng có một người vì bán tín, bán nghi cái tin “trời ơi, đất hỡi” do cái lũ “ăn no lo đi chọc thiên hạ chữi” đã âm thầm làm cái chuyện điều tra thú vị này.
Đó là bác Cao Đề. Bác Đề ngày xưa vừa làm hương chức trong Đình Xương Huân cũng vừa là thợ may tại nhà. Bác chuyên may áo dài cho các ông.
Cái áo dài đen cha tôi trịnh trọng mặc lần đầu tiên, hai tay bưng khay trầu rượu theo ông ngoại Cheo làm mai, đến quì thưa bà ngoại tôi để xin cưới mẹ tôi là do bác Đề may.
Sau ngày vợ bác mất, bác tục huyền với bà sau. Bà này giỏi buôn bán nuôi bác và mấy đứa con riêng của bác nên bác không may nữa. Bác chỉ lo việc làng thôi. Thật ra, sau này ít ai mặc áo dài nữa. Ế quá nên bác nghỉ hẵn cái nghề may.
Bác đã nhiều buổi sáng sau, đó vô tiệm cà phê của tiệm Đông Thành, ngồi khuất trong góc xa, vừa uống cà phê vừa theo dõi nhứt, cử nhứt động của ông Bảy Lời.
Hóa ra đám bạn thợ may của ông Bảy Lời đông lắm. Sáng nào họ cũng tụ ở cái bàn tròn án ngữ ngay trước cửa tiệm, vừa ăn sáng, uống cà phê vừa bàn tán tin tức đăng trong báo. Ông Bảy Lời ngồi nghe, thu gom tin tức. Trước khi ra về, tạt ngang sạp báo, ông mua một tờ cầm tay cho nó “oách” chớ chẳng đọc được bao giờ.
Nhưng bác Đề chỉ rỉ tai cho những ai quen thân thôi chứ không nói hở tùm lum. Bác bảo :
- “Đó cũng là cái cách người ta tạo uy tín để làm ăn! Làm cho người ta “ê càng” là ác đức. Với lại ông Bảy Lời biết chữ hay không đâu có hại gì cho bà con xóm mình?”
Nhưng chuyện đời đâu có gì che mắt được thế gian lâu dài được.
Về sau, người ta không thấy ông Bảy Lời cầm nhựt trình trên tay nữa.
Có lẽ ông đã biết chuyện ?
Nhưng sáng sáng, cái đám thính giả hâm mộ chuyện “thời sự” trong làng, ngoài xã vẫn cứ đông đúc như xưa.
*
- “Này ông bạn! Chuyện ba ông thợ may nhạt thếch như nước ốc có cái gì lâm ly, gay cấn đâu, mà ông khề khà, dây cà ra dây mướp vậy? Làng tôi số thợ may còn nhiều hơn mấy lần nữa kìa! Theo cái cách kể của ông thì tui đây, kể từ sáng đến tối cũng không hết chuyện !”
- “Vâng! Đúng vậy! Chuyện ở làng xóm Cồn tôi nó như vậy. Chuyện nào nó cũng nhàn nhạt, đều đều, không có gì gọi là lâm ly, bi đát hay giật gân, gay cấn, hấp dẫn, mê ly như tiểu thuyết đường rừng hay ái tình nước mắt cả. Nhưng tôi muốn mượn chuyện ba ông thợ may, đúng ra là bốn ông thợ may để “túm” lại cái lịch sử thăng trầm của xóm tôi, để mỗi lần ngước nhìn trời theo đám mây trắng bay vật vờ, tôi vẫn thấy cái xóm của tôi tuy mất tích trong bản đồ thành phố Nha-Trang nhưng trong tâm thức tôi nó vẫn còn hiển hiện rõ ràng từng nét ở trên đó.
Từ cái lúc mới lập làng với vài ba trăm người tứ xứ tụ về đây có ông Hào Hai, ông Hương Phẩm, ông Hương Đề, ông Xã Tả, ông Xã Thanh, ông Xã Phụ. v.v... Ban hương hội trong Đình xử kiện anh em nhà họ Ngô: Có tên rất thô tục là Ngô C... , Ngô L... dành nhà cửa đánh lộn lẫn nhau. Bà con kéo nhau vô Đình coi rất đông.
Ông Hào Hai khi nghe hai anh em khai tên là C... và L... nổi giận, đập bàn :
- “Chốn công đường mà bọn mi dám đùa với bản quan à ?”
Mấy người già kêu lên :
- “Bẩm ông Hào! Cha mẹ tụi nó đặt tên như “dị” đó !”
Ông Hào Hai nghe cũng thắc cười khan, truyền đánh mỗi người năm roi ngựa rồi đuổi về không xử...
Từ cái thuở Bác Hương Cao Đề may áo dài vạt dài, vạt ngắn tiến dần tới chú Tư Đạm may áo quần Bà Ba, Ông Ba, quần đùi, xà lỏn.
Tiến thêm một bước nữa, chú Ba Nhóm vừa may đồ tây “Lơ-Mia, Lơ-Phổ” vừa đá gà và sau hết là ông Bảy Lời may âu phục áo “bành tô”, may áo “Vét Can” bốn túi. Sáng sáng nói chuyện thời sự, tin tức cho bạn già nghe như một đài phát thanh miễn phí... Xóm tôi cứ như thế tiến dần lên, đông dần lên. Nhà ngói bắt đầu thay nhà tranh ngày càng nhiều. Đời sống dân làng tôi ngày càng khá giả. Trẻ con đã có một số ôm vở đền trường cả trai lẫn gái.
Người trên Đầm cứ nhìn các ăn mặc của người xóm tôi là biết ngay năm nào mành đói, mành no. Năm nào khá giả, năm nào túng nghèo.
Cái cách ăn mặc của người dân xóm tôi cũng là một trong những nét đặc trưng văn hóa của làng trong tiến trình thăng tiến xã hội.
Ấy! Xóm tôi đã có những lúc thăng, những lúc trầm theo thời cuộc biến đổi của đất nước nhưng vẫn tồn tại hàng trăm năm và sẽ tồn tại lâu dài nhiều thế kỷ nữa nếu không có những chiếc áo “đại cán” xuất hiện...
Năm bảy mươi lăm, lão Tư Bền, tên cúng cơm là Ngô Bền, em của Ngô L... , Ngô C... “nhảy núi” từ năm năm tư, từ Bắc trở về với cái áo “đại cán” bốn túi may theo kiểu của “Bác Hồ vĩ đại”, đúng hơn là kiểu của “Bác Mao vĩ đại”.
Cái áo “đại cán” đó hợp cùng cái nón cối và đôi dép râu đã làm cho xóm tôi mỗi ngày mỗi lụn bại dần.
Thêm thành phần “Cách mạng ba mươi” do quí Ngài Nguỵ quân Trung Sĩ, Hạ sĩ nhảy lên làm Phường trưởng, Khóm trưởng, hăng hái, nhiệt tình quá mức “cách mạng”, góp tay làm kiệt quệ dân xóm tôi thêm nghèo đói thêm khổ sở trăm chìu.
Ông Bảy Lời phải trở về xứ Quảng, chú Ba Nhóm phải về lại Phú Yên như qui định của Đảng ta: “Ai ở đâu về quê nấy. Nếu không thì phải đi xây dựng kinh tế mới”.
Làng tôi không còn thợ may. Những cô, chú nhỏ mới học nghề may đâu biết may áo “đại cán, tiểu cán” là gì. Vả lại cơm còn không có ăn, tiền đâu mua vải? Những năm đó dù cho có tiền cũng không có vải để mua. Nhà nước mỗi năm chỉ bán có hai thước vải nên mới có câu đồng dao :
“Mỗi năm hai thước vải thô... ”
Những bộ đồ “Vét Can” bốn túi lần lượt nối bước nhau ra chợ trời để đổi lấy vài ký gạo nấu cháo qua ngày. Những đôi giầy rọ heo cũng tiếp tục nối bước ra Bắc cho có bạn...
Người dân xóm tôi một phần bị đưa đi kinh tế mới. Một phần vượt biên. Một phần ở tù vì tội chế độ cũ. Như một bầy chim vỡ tổ, tan tác khắp nơi.
Cuối cùng, xóm tôi bị san bằng và một chiếc cầu bê tông, cốt sắt đúc lên, nối liền con đường Duy Tân bờ biển (Ông vua này không có công dựng nước bằng ông Trần Phú nào đó của Đảng Cọng Sản Việt Nam, nên bị thay tên đường) qua bên kia xóm Bóng để xây dựng khu du lịch.
Tóm lại một câu: “Làng xóm Cồn” tôi được ông cha từ mấy đời xây dựng lên từ cái thời còn quần đùi, áo lá, tới áo dài thâm, áo Bà Ba, áo quần tây Lơ-Mia Lơ-Phổ và tột bực tân tiến là áo lớn bốn túi.
Và giờ đây, làng tôi bị hủy diệt và biến mất trên bản đồ địa lý Nha Trang chỉ vì cái áo “đại cán” của “Bác Hồ muôn vàn kính yêu”.
Nguyễn Thanh Ty
Đêm Giáng Sinh 23 tháng 12 năm 2004
• Lơ Mia: Họa sĩ Cát Tường vẻ kiểu áo dài theo lối mới, lấy tên là Le Mur ( Bức tường)
• Lơ Phổ: Tên một thợ may, tiếp nối đường cách tân quần áo củ Le Mur.
• Dách cô phế nại, lưởng cô tài páo: Một ly cà phê sữa, hai cái bánh bao.
• Vét Can: Tiếng Pháp kiểu Demi-Veston
• Ma nơ canh: Tiếng Pháp: Manequin
• Đơ cu lơ : Tiếng Pháp Deux couleur.
• Ba tê: Pathée: Thời sự. Từ 1955 trở về trước, các rạp xi nê trước khi chiếu phim chính đều chiếu một đoạn tin tức thời sự thế giới chớ không chiếu quãng cáo như bây giờ.