free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

Trang Nguyễn Thanh Ty

Ông Bảy Nha Trang
Nguyễn Thanh Ty

Ông Bảy Nha Trang là chú ruột của tôi.
Tên thật của chú là Phạm Hoàng Hải.
Khi mới vào ở nhờ nhà tôi, chú đi làm phu cho Sở Lục Lộ Nha Trang, chuyên trách việc nấu dầu hắc để rải đường. Bạn đồng nghề kêu chú là Ông Bảy Lục lộ.
Làm được gần ba năm với cái công việc cơ cực này, ngày ngày đi theo xe hủ lô cán đường để nấu dầu hắc trong những thùng tô nô bắc chông chênh trên ba hòn đá chẻ rất nguy hiểm đến tính mạng, nếu thình lình thùng dầu đang sôi mà nghiêng đổ qua một bên, chú bỏ nghề. Tiển dành dụm bấy lâu, chú dốc hết ra mua lại một chiếc xe lam ba bánh cũ để chở khách tuyến đường Nha Trang - Thành.
Chú lại có thêm một cái tên mới ở bến xe là Ông Bảy Xe Lam.
Và cái tên cuối cùng, sau năm bảy lăm, chú dọn nhà vô Cây Số Chín - Cam Ranh, ẩn cư trong núi sâu, sống biệt lập với đời. Người dân làm rẫy kêu chú là Ông Bảy Nha Trang.
Tôi không hiễu vì sao, những nơi chú làm việc, những người quen chú, ai ai cũng kiêng cái tên cúng cơm của chú mà lại kêu bằng cái tên bình dân, thân thương như vậy.
Có lần tôi thắc mắc hỏi, chú nói :
- Ai muốn kêu sao thì sao! Miễn chú vẫn là chú của cháu là được rồi !
Rồi chú xoa đầu tôi và cười. Hàm răng chú có những chiếc răng dài và có cả ba cái răng bịt vàng hình con bài bích.
Nhưng lúc ấy với cái trí non nớt của đứa trẻ mười hai, mười ba tôi nhìn khuôn mặt chú có nhiều nét giống y như hình ông Hồ chí Minh gầy gò, trơ xương sườn đang còng lưng kéo chiếc xe kéo, trên xe có tên Tàu Phù béo phệ với cái bụng bự và cái đuôi sam trên đầu, ngồi dựa ngữa, miệng ngậm ống điếu ngà , chân bắt chử ngũ vắt vẽo. Dưới bức hình có chua :
- Đả đảo Hồ chí Minh bán nước !
- Hồ chí Minh cõng rắn cắn gà nhà !
Những hình loại này, hồi đó Ty Thông Tin dán khắp nơi và in thành tờ bươm bướm, cho xe ngựa đi rãi tận hang cùng ngõ hẽm để tuyên truyền chống lại cuộc Tổng Tuyển cử Nam Bắc thống nhất một nhà.
Chú cũng có cái trán hói tận giữa đầu và hàm râu ba chòm lưa thưa dưới cằm y như hình vẻ ông Hồ. Mặc dù năm ấy chú chưa đầy bốn mươi tuổi.
Nhưng chú Bảy tôi to ngang và mập mạp, đẹp hơn hơn ông Hồ nhiều.

•••

Từ nhỏ tôi chỉ biết có chú Bốn Phát là em ruột của cha tôi mà thôi. Nhà Chú Bốn cách nhà tôi chừng năm trăm thước, ở sát nhà chú Tư Đạm thợ may. Chú cũng có một bầy con đông không kém gì nhà tôi. Thằng Phát, thằng Hùng, con Mai, con Phụng… mấy đứa nhỏ nữa tôi không nhớ hết.
Bốn đứa lớn, tôi có thời dạy chúng học kèm nên mới nhớ tên.
Lâu lắm rồi, tôi còn nhớ mày mạy, không biết cha tôi kể lại hồi nào, tôi còn có mấy ông chú nữa.
Cha tôi là anh cả, thứ hai. Chú Ba thì chết hồi nhỏ lúc còn ở Bình Tây, Hòn Khói. Chú Năm thì đi lính Thủy “ma ta lô” cho Pháp. Cái ngày chú đem gia đình đến thăm cha tôi để từ giả xuống tàu đi qua Pháp, chú xin cha mẹ tôi gửi lại bà vợ trẻ và thằng con trai bốn tuổi tên Cang, nhờ chăm sóc dùm, không ngờ lại là ngày chú ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở về.
Chiếc tàu thủy bằng sắt có hai ống khói to kềnh đậu gần hòn Chà Là trước bãi Nha Trang bị Nhật bắn chìm trong đêm ấy.
Dầu ở dưới tàu nổi lên màng màng mấy tháng vẫn còn.
- Mỗi lần ghe mành chạy ngang chổ đó, màng dầu nổi lên, tui lại thấy hình ảnh chú Năm nó nổi theo mặt nước, nước mắt tui lại chảy theo.
Cha tôi cứ kể chuyện đó cho má tôi nghe hoài.
Ông nội tôi bệnh, chết rất trẻ, lúc chưa đầy ba mươi lăm tuổi. Cha tôi kể. Sau hai năm, còn gọi là ba năm, mãn tang, bà nội tôi một ngày kia bỏ lại bầy con còn thơ dại cuốn gói đi mất biệt. Không ai biết tung tích. Cha tôi phải dẫn bầy em vô Nha Trang kiếm sống. Và ba anh em tắp vô làng xóm Cồn, mạnh ai bương chải nấy để sống còn. Năm ấy cha tôi mới mười một tuổi.

•••

Một ngày mùa hè năm 1954, cha tôi dẫn về nhà một người đàn ông lạ. Cha tôi giới thiệu người này với má tôi và cả những người hàng xóm đang bu đông trước cửa là em trai của mình đã thất lạc mấy chục năm nay mới tìm lại được. Cha tôi bảo chúng tôi tới vòng tay chào và kêu là chú Bảy.
Chú nhìn chúng tôi và cười. Cái cười rất hiền. Lần đâu tiên tôi mới thấy những chiếc răng vàng của người miền Trung. Xóm tôi cũng có mấy bà bịt răng vàng nhưng toàn là người Nam. Dân xóm tôi không có ai bịt. Sau này tôi có hỏi tại sao chú là người “mình” ngoài này lại biết bịt răng vàng làm duyên. Chú cười ngất và bảo không phải chú bịt vàng để làm duyên.
- Chú bị Việt Minh bắt và đánh đập tàn nhẫn. Hàm răng chú bị lung lay hết nên chú phải bịt lại cho nó chắc, chớ không phải để làm đẹp đâu. Tốn tiền lắm.
- Việt Minh là ai vậy chú? Sao họ lại ác quá vậy?
- Cháu còn nhỏ chưa hiểu đâu. Khi nào lớn, chú kể cho nghe.
Ngoại hình, chú Bảy không giống cha tôi và chú Bốn Phát chút nào hết. Chú hói đầu. Tóc cha tôi đen mượt và xum xuê. Chú lớn con và có cái lưng hơi gù. Cái đầu chú hơi nhô về phía trước. Cha tôi nhỏ con và tròn lẵn, gọn gàng. Chân chú đi hơi vòng kiềng. Cha tôi và chú Bốn Phát đi thẳng. Hai chân song song. Cha tôi nói giọng Nha Trang. Chú nói giọng Phú Yên “nẫu và dẫy na”.
Hóa ra chú Bảy là con một mẹ khác cha với cha tôi và mấy chú tôi. Bà nội tôi hồi đó bỏ bầy con lại nơi chốn quê nghèo muối mặn, đất Hòn Khói, đi một lèo ra tận Phú Yên xa lắc, xa lơ. Sau, tái giá với người chồng thứ hai ở đất Gò Duối. Bà sinh thêm với người chồng này hai con trai nữa. Để cho liên tục, bà gọi là thằng Sáu, thằng Bảy. Chú Sáu lại chết lúc mới mấy tuổi.
Cha tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện gặp gỡ ly kỳ giữa ông với chú Bảy cho cả nhà nghe.

… Những năm đầu thập niên năm mươi cha tôi đi làm mướn trên chợ Đầm. Ai mướn gì làm nấy. Trong lúc chờ việc, đám người cu li thường tập trung ở trước sân nhà ông Xã Đôi, khoảng giữa đường Lý thường Kiệt đi tới chợ Đầm, để xem đánh bi sắt. Môn chơi này do người Pháp truyền sang, rất thịnh hành hồi ấy. Ở sân nhà ông Xã Đôi có một ông Tây già thường đến chơi. Ông chọi bi rất thiện nghệ. Thường thắng hơn là thua. Một hôm cậu Tám tôi chổng mông theo dõi trận đấu giữa ông và người khác, lúc thấy ông chọi trái bi sắt của đối thủ văng xa chổ khác, trái bi ông thay thế vào vị trí đó, sát với hòn bi nhỏ làm đích, cậu tôi vỗ tay la lớn lên khen hay.
Bất ngờ cậu tôi làm xấu, đánh một tiếng “bủm” thiệt to. Trong lúc cậu tôi đang xanh mặt sợ ông Tây quở mắng là vô phép thì ông Tây lại quay sang khen :
- Biên ! Xanh Pi át ! Đôn nê on Ca đô! *
Ông rút bóp, lấy tờ giấy năm đồng trao cho cậu tôi.
Cậu tôi thình lình không ngờ được thưởng tiền như vậy mừng quá hóa quýnh quáng, hậu môn lại lọt ra một tiếng “bủm” nữa. Phen này thì chắc chết. Nhưng không, ông Tây lại khen :
- Tre biên ! Cho năm đồng nữa ! *

Câu chuyện khó tin tưởng chừng như tiếu lâm này được kể đi, kể lại rất lâu trong sân nhà ông Xã Đôi. Có người biết phong tục của Tây Phương, cho biết người Tây họ coi chuyện đánh hơi là bình thường. Ai đánh hơi được là chuyện mừng vì chứng tỏ có sức khoẻ tốt mới thường hay đánh hơi. Không phải như người mình phải nín nhịn, cho đó là xấu và vô phép nếu thình lình đánh hơi trước đám đông. Bởi vậy mới có thành ngữ :
- Nín như nín địt!
Sân bi nhà ông Xã Đôi gần nhà lao Nha Trang có tên là “Cải Hối Thất”. Mỗi sáng, cánh cổng bằng gỗ lim nặng nề của Nhà Lao hé mở, một lính Khố Xanh dẫn chừng mười lăm “phạm” đi làm “cỏ vê” và đi chợ mua thực phẩm.
Tôi cứ thắc mắc không hiểu tại sao mấy người tù đi làm cỏ chung quanh tường thành Nhà Lao lại có thêm chử “vê” . Làm cỏ là đủ nghĩa rồi. Còn làm cỏ vê là làm cỏ gì? Tôi hỏi mấy đứa bạn, bọn chúng giải nghĩa :
- Dễ ợt vậy mà không biết! Thì người ta đi cào, cuốc cho sạch cái loại cỏ có tên là “cỏ vê”. Loại cỏ này mọc quanh tường Nhà Lao làm cho tường mau mục lắm. Tường mục thì tù nhốt trong đó xô ngã tường để chạy trốn.
Tôi cứ đinh ninh như vậy cho tới lớp Nhứt mới biết nó không phải tên của loài cỏ mà nó là tiếng Tây “cọt vê”* nghĩa là đi làm lao dịch. Mấy ông Thần nước mặn của tôi giải nghĩa trời ơi đất hởi cứ như là nhà thông thái.
Một hôm, đám “phạm” làm “cỏ vê” xong, được dẫn cho đi chợ. Khi đi ngang sân nhà Xã Đôi, có một người trong đám nói vọng vô đám đông đang tụ tập coi đánh bi sắt :
- Mấy anh ơi! Làm ơn cho tôi hỏi thăm chút chuyện được không?
- Được! Được! Nói gì anh cứ nói ! Muốn tụi này giúp được chuyện gì cứ nói ! Cả đám người trả lời. Người đó tiếp tục nói:
- Tôi muốn hỏi thăm mấy anh ở đây, có ai biết một anh tên là Bổ không?
- Ở đây không có ai tên Bổ hết ! Mà anh Bổ đó người xứ nào, bao nhiêu tuổi, làm nghề gì ?
- Dạ người gốc Hòn Khói, Bình Tây ! Độ chừng ba mươi hay hơn một chút. Còn làm nghề gì thì tôi không biết !
Cha tôi giật mình kinh ngạc. Tên Bổ là tên của ông hồi còn nhỏ ở quê. Khi vô Nha Trang ông làm khai sinh thì lấy tuổi thìn của mình làm tên cho dễ nhớ. Ngoài các chú tôi ra không ai biết ông có tên Bổ. Người ta chỉ biết có anh Thìn. Mà người này làm sao biết tên mình ? Anh ta làm gì bị tù đày? Anh ta tìm mình có chuyện chi đây ? Bao nhiêu câu hỏi đầy ngờ vực và thắc mắc cứ quay mòng mòng trong đầu. Phải tìm hiểu cho ra căn cơ mới được.
Cha tôi mua một gói thuốc “Mê Li A vàng” đem tới biếu anh lính Khố Xanh và xin phép được nói chuyện với anh tù hỏi thăm lúc nãy. Anh lính canh tù nhận được gói thuốc thơm nên dễ dãi cho cha tôi nói chuyện tự nhiên.
Cha tôi hỏi dò :
- Anh ở đâu, làm sao biết anh Bổ ở Hòn Khói, làm sao bị tù ?
- Thưa anh chuyện dài lắm, không thể nói chốc lát được. Tôi xin nói vắn tắt là tôi là con của bà Tiết quê Hòn Khói. Nay bà đang còn ở Phú Yên. Bà cho biết là ở Nha Trang tôi còn có mấy người anh cùng mẹ khác cha nữa. Mấy người đó tên là…
- Ối trời ôi ! Vậy là đúng rồi! Vậy là Mẹ tôi còn sống ! Mấy chục năm xa cách, không ngờ lại gặp trong cảnh này.
- Vậy anh là anh Hai Bổ ?
- Phải ! Là anh đây ! Em bị tù lâu chưa? Chừng nào được tha?
- Em bị tù gần hai năm rồi ! Tháng tới thì mãn ! Còn vì sao bị tù thì khi nào ra em kể anh nghe.
Hết giờ, phải dẫn tù về. Cha tôi đành bịn rịn chia tay và hẹn đến ngày mãn tù sẽ đến đón về nhà.
Ngày đón chú Bảy về nhà, cả xóm xúm lại thăm hỏi đông đảo. Khi biết chuyện ai cũng cho là lạ. Mấy bà đi chùa cứ trầm trồ cho đó là cái duyên. Có duyên mới gặp. Không có duyên chưa dễ gì đốt đuốc đi tìm ban ngày đã gặp.
Tối đó cha tôi với chú Bảy rầm rì nói chuyệt suốt đêm. Chú kể chuyện chú. Cha tôi kể chuyện nhà. Tôi nằm bên cạnh lắng tai theo dõi.

… Bà nội tôi khi ấy còn quá trẻ, tuổi xuân chưa quá hai mươi lăm, một nách bốn con, không biết làm ăn gì ở cái xứ chỉ có mỗi một nghề làm muối thuê cho diêm chủ nên đành dứt ruột bỏ con lại cho các chú, các bác nuôi dùm. Một mình với hai bộ đồ cũ nát trốn đi xứ người để kiếm cơm qua ngày. Qua bao nhiêu ngày tháng trèo đèo, lội suối, đói khát, bà ra tới cái nơi cũng nghèo khổ không kém gì cái làng nước mặn Hòn Khói có tên là Gò Duối ở một thôn nào đó của cái xứ Phú Yên xa thăm thẵm ngàn trùng. Tại đây bà may mắn có được một thanh niên trai cày đem lòng thương yêu và đùm bọc. Mấy năm sau, bà sanh được hai con thì người chồng kia lại vắn số ra đi. Bà lại mẹ góa con côi. Khi chú Bảy lớn lên có vợ vẫn ở chung với bà và tháng tháng đi buôn hàng chuyến để nuôi gia đình và nuôi mẹ.
Nhưng đi buôn chuyến cũng cơ cực và nguy hiểm vô cùng. Chú phải đi từ vùng này sang vùng nọ để trao đổi hàng hoá. Việt Minh thì nghi chú làm Việt Gian cho Tây. Tây thì nghi chú là Việt Minh ra vùng tề dọ thám tin tức.
Muốn yên thân, tiền lời mỗi chuyến hàng chú phải chia ba. Một nộp cho du kích. Môt nộp cho mật thám Tây. Còn lại tí chút nuôi gia đình rau cháo qua ngày. Ở vùng quê còn bị nạn đóng góp cho kháng chiến nữa. Không biết bao nhiêu cho đủ. Nay tuần lễ vàng, mai tuần lễ bạc. Hết đợt này đến đợt khác. Việt Minh đêm đêm đốt đuốc, vác loa hô hào tham gia giúp kháng chiến đánh giặc. Ai không chịu đóng thì lập tức bị thủ tiêu để trừng trị làm gương. Ai trù trừ hoặc không tích cực thì bị qui là phản động, Việt Gian…
Có lần buôn bán lỗ lã không có tiền đóng thuế Cứu Nước, chú bị du kích bắt vô rừng đánh đập, tra khảo với tội danh là Việt Gian. Trận đòn này làm chú mang bệnh hậu suốt đời.
Cách sau hai năm, chú bị Tây bắt trong lúc gánh hàng trở về làng. Chú bị ghép tội tiếp tế cho Việt Minh. Chú bị đưa từ Phú Yên vô Nha Trang nhốt hơn hai năm. Thời gian này chú tìm cách để liên lạc với cha tôi. Nhưng không có ai quen biết trong Nhà Lao nên đành chịu. Cũng nhờ gần ngày mãn án nên được cho ra ngoài đi làm tạp dịch mới có cơ hội hỏi thăm.
May sao lại gặp.

•••

Chú Bảy ở nhà tôi chơi hơn một tuần. Cha mẹ tôi sắm sửa quần áo giầy, dép mới cho chú trước khi chú xin phép về lại Gò Duối, Phú Yên để đón bà nội tôi và gia đình chú vào đây ở luôn theo như đề nghị của cha mẹ tôi.
Khi chú đi rồi, chúng tôi nóng lòng trông đợi cái ngày xum họp gia đình để biết mình có thêm một bà nội và một gia đình khác về ở chung. Chắc là vui lắm.
Mãi gần ba tháng sau, chú trở vô với một bà già ốm tong teo và một người vợ trẻ tay dắt theo môt đứa bé gái chừng bốn tuổi. Hành trang mang theo chỉ có một đôi “nừng” giống như đôi “nừng” mấy người miền ngoài đi bán cốm vắt dạo.
Cả đoàn người vừa bước chưn vô nhà còn đang ngơ ngác thì cha tôi đã nhào ra ôm lấy bà già ốm quắc queo đó kêu lên: - Má ôi ! Rồi ông khóc thảm thiết. Bà già đó là bà nội chúng tôi. Trong lúc bà và cha tôi cùng ôm nhau khóc lóc, kể lể nước mắt giọt vắn, giọt dài thì chúng tôi đứng trân trân nhìn cái cảnh vừa vui mừng, vừa cảm động mà không biết phải làm gì và nói gì. Má tôi thì nắm tay bà vợ chú Bảy kéo tới giường ngồi nhẹ nhàng hỏi thăm chuyện nọ chuyện kia. Con bé Hoa, con chú thím Bảy có khuôn mặt tròn, nước da trắng mai mái, giương đôi mắt to nhìn anh em chúng tôi, hết đứa này sang đứa khác rồi thình lình bò lăn ra dưới đất khóc ngằn ngặt.
Thím Bảy lật đật chạy tới bế con bé lên dỗ dành. Bà nội tôi cũng ngưng khóc, quay sang nói gì đó với chú Bảy. Một mớ âm thanh líu lo hổn độn nghe rất lạ lẫm. Tôi cứ nghe những tiếng “nẫu”, “dẫy”, “dẫy na”, dẫy đấy” lẫn trong câu nói rất vui tai mà không hiễu gì.
Cha tôi dành cho gia đình chú Bảy và nội tôi một cái chái bên hông nhà để ở tạm. Cái chái tuy hơi nhỏ bề ngang nhưng được cái bề dài gần năm thước nên mọi người cũng có chổ nằm rộng rãi. Bếp thì nấu chung.
Một tháng sau, chú Bảy xin được việc làm ở Sở Lục Lộ.
Ngày ngày, cha tôi, chú Bảy, má tôi đi làm. Nhà chỉ còn bà nội và thím Bảy. Thím Bảy thì bận bịu với bếp núc và con bé Hoa lúc nào cũng mè nheo khóc nhề nhệ. Hể buông xuống đất chơi thì nó cứ bốc đất nhét vào miệng ăn. Thím Bảy cứ khẻ tay nó hoài. Nhưng thoáng cái lơ đễnh nó lại bốc đất cho vào miệng. Chúng tôi thấy cũng tức mình. Tự hỏi sao con bé ngu quá vậy. Đất cát có cái gì ngon đâu, gớm nữa là đàng khác, sao lại cứ bốc mà ăn. Không khéo có con gà ỉa bậy trong nhà, nó cũng dám bốc ăn lắm. Eo ôi !
Chúng tôi thường quấn quít theo chân bà nội nói chuyện. Hỏi hết chuyện này đến chuyện kia. Nhìn khuôn mặt nhăn nheo và cái miệng móm mém của bà tôi hình dung ra bức tranh trong sách Quốc văn Giáo khoa thư vẽ minh họa bài “ Bà và cháu trưa hè”. Nhưng nội tôi không có đội khăn mỏ quạ. Bà ăn trầu bằng ống ngoáy. Lúc nào bà ăn trầu tôi cũng tò mò quan sát cách bà ngoáy trầu một cách rất vui thích. Bà có một cái túi vải to hơn bàn tay môt chút. Miệng bao thắt lại bằng sợi giây vải. Trong đó bà để đủ thứ trầu cau, thuốc xỉa và bộ ống ngoáy bằng đồng. Vôi thì bà đựng trong một cái hũ bằng sành tráng nước men xanh, nhỏ tí tẹo bằng nắm tay của tôi, rất xinh xắn. Cái miệng hũ, vôi bám lâu ngày bé lại còn một lổ nhỏ chỉ vừa đủ cái chìa vôi ngoáy vào. Miệng hũ ngày càng bé lại thì cái chìa vôi ngày càng phình ra to gần bằng ngón tay út. Lâu lâu bà phải lấy dao gọt lớp vôi bám chết ở đó ra.

Bà làm cái việc ngoáy trầu rất từ tốn, nhẹ nhàng và theo thứ tự lớp lang. Trước tiên, bà phải ngồi xuống giường, một chân thòng xuống đất, một chân co lên lên giường. Rồi bà thong thả mở miệng cái bao vải, lấy hai ngón tay nong dần dần cho miệng túi rộng ra, lôi cái ống đồng ra trước. Miệng ống đồng có một lỗ nhỏ xỏ cột một sợi dây nhợ kéo theo toòng teng cái chìa vôi. Bà nói :
- Nếu không cột tụi nó lại dính chùm với nhau như “dẫy đấy” thì cái chìa ưa đi bậy bạ lắm ! Lúc cần ăn trầu “nẫu” kiếm nó muốn khùng luôn !
Tiếp theo bà xé một nửa lá trầu, ngắt bỏ cái đuôi, quệt một ít vôi trắng lên trên ( sau này bà thay bằng vôi màu đỏ) rồi cuốn một phần tư trái cau và một khúc “giẻ giún” đã đập tơ ra, vào trong. Tất cả bà cho vào ống và bắt đầu ngoáy. Bà ngoáy chầm chậm, thong thả. Hồi lâu, cái hổn hợp trầu, cau, vôi đó nát thành một thứ bùi nhùi, bà trút ra lòng bàn tay và cho vào miệng nhai. Miệng bà chỉ còn hai cái lợi mà nhai sao coi ngon lành quá. Trưa trưa bà còn nhâm được cả mía cây nữa. Thiệt là lạ quá chừng. Đến khi cái nhúm bùi nhùi đó tiết ra màu đo đỏ tràn ra ngoài hai bên mép miệng thì bà thò tay vào bao vải nhón ra một nhúm thuốc rê, vo tròn lại bằng ba ngón tay cái, ngón trỏ và giữa và bắt đầu lau mép. Lau xong bà lại dùng viên thuốc đó lau qua, lau lại hai cái lợi mà bà gọi là “xỉa thuốc”. Tôi tò mò thắc mắc :
- Nội à! Nội ăn trầu chi vậy? Đã ăn trầu rồi còn xỉa thuốc nữa làm chi nội ?
- Ăn trầu cho thơm miệng, vôi làm cho cay và ngứa chưn răng, ngứa lợi nên “nẫu” phải xỉa thuốc cho đã ngứa cháu à !
Xỉa xong, bà nhét viên thuốc vào giữa lợi và môi trên, u thành một cục, để dành. Chốc chốc lại lấy ra xỉa tiếp.
Tôi lại có thêm việc “lấy ống nhổ” nhả bả trầu để nội sai biểu.

Mỗi lần cầm cái ống nhổ dưới gầm giường đem đến cho nội tôi cứ gơm gớm không dám nhìn vào bên trong. Nhưng lâu lâu vì tò mò cũng cứ len lén liếc vào. Toàn là một thứ nhớt rãi bầy nhầy đỏ lòm bên trong. Gớm ghiếc như vậy mà sao hồi xưa Tôn Ngộ Không dám uống hết cả ống nhổ đầy đờm rãi của Sư Phụ để có được bảy mươi hai phép thần thông biến hoá mà trở thành Tề Thiên Đại Thánh đại náo Thiên Cung?
Tôi thì có cho vàng và được bảy trăm hai chục phép biến hoá thần thông đi nữa chắc cũng không dám uống !
Nội tôi ăn uống rất ít mà ăn trầu thì nhiều. Thím Bảy nói “Cụ” rất kén ăn. Cả chú Bảy cũng kêu nội bằng “Cụ”. Tôi hỏi chú Bảy :
- Sao chú, thím Bảy gọi nội bằng Cụ mà không kêu bằng Má như cha mẹ cháu kêu?
Chú Bảy giải thích :
- Từ Phú Yên Bình Định trở ra đến Bắc ai cũng kêu ông Hồ bằng Cụ, “Cụ Hồ”, mặc dầu lúc ấy ông Hồ chưa đầy năm mươi tuổi. Nội của cháu bây giờ đã hơn sáu chục rồi, không kêu bằng cụ thì kêu bằng gì? Chú phải kêu nội của cháu bằng Cụ trước rồi mới kêu ông Hồ bằng Cụ sau. Như vậy mới đúng tôn ti trật tự người mình.
- Vậy sao người trong Nha Trang mình không thấy ai kêu ông Hồ bằng Cụ cả vậy chú?
- Không phải ai ai cũng tôn sùng rồi thần tượng, thần thánh hóa ông Hồ như người miền Bắc và vùng mất an ninh như ngoài chú đâu !
- Cháu thấy Thông Tin người ta nói ông Hồ bán nước cho Tàu và cõng rắn cắn gà nhà nghĩa là sao hở chú ?
- Mai mốt cháu lớn lên học Trung Học rồi chú kể nhiều chuyện về Cụ Hồ cho cháu biết. Cụ độc lắm! Bao nhiêu là người đã chết vì tay Cụ đó cháu à ! Chú đây suýt chút nữa cũng chết dưới tay con cháu của Cụ đấy.
Tôi mới học Tiểu học, còn nhỏ quá, không hiểu hết những gì chú nói. Nội tôi không biết chuyện ông Hồ giết người. Nội chỉ biết du kích trốn trên núi, trốn dưới hầm, đêm đêm mò về thu lúa gạo của dân rồi vội vã mang đi. Thỉnh thoảng có người trong làng bị giết chết, thây bỏ ngoài đồng. Trên ngực có ghim mảnh giấy đề hai chữ Việt Gian. Ban đêm có tiếng người gọi cửa là sáng hôm sau có người chết. Người người sống trong lo âu, hốt hoảng. Lúc nào cũng sợ sệt. Nội nói :
- Nẫu khủng bố tinh thần !
Chú Bảy ngăn không cho nội nói: - Cháu nó hãy còn nhỏ, Cụ đừng kể ba cái chuyện đấy ! Đầu óc nó dễ bị hoang mang ! Mai mốt nó lớn con sẽ kể hết cho nó nghe !
Hai năm sau thím Bảy sinh thêm một đứa bé trai đặt tên là Hoàng. Nhà thêm chật. Chú mua được miếng đất nhỏ ở Xóm Mới, đường Thủ Khoa Huân, gần bến xe Nguyễn Hoàng. Chú xin cha mẹ tôi dời xuống đó cất nhà ở. Bà nội đi theo gia đình chú. Cha tôi cố giữ mà bà vẫn không chịu.
Có hai lý do mà nội không chịu ở lại với gia đình tôi.
Thứ nhất là bà thương chú Bảy nhiều hơn cha tôi vì đã xa cách mấy chục năm nên tình mẹ con đối với cha tôi không còn đậm đà như trước.
Thứ hai là, sau mấy tháng, người làng Gò Duối kéo vô thăm nội tôi đông lắm rồi ở lại luôn tới sáu bảy người. Ban ngày họ tản đi đâu mất. Giỏ lát họ gửi cho nội tôi giữ. Chiều sẫm tối, họ kéo về, nằm trước hiên nhà tôi, ngủ la liệt. Cha tôi hỏi nội họ là ai. Nội nói người cùng làng. Họ nghèo khổ vô đây kiếm ăn. Nhưng chú Bảy nói riêng với cha tôi là hãy coi chừng trong số đó có người trà trộn nằm vùng. Cha tôi sợ liên lụy nên không chịu chứa chấp. Nội tôi giận cha tôi từ đó nên ít nói chuyện với ông . Khi chú Bảy dời nhà là bà nhất quyết đi theo.
Tôi không biết trong số những người ngủ tại nhà tôi hơn một tháng, có bao nhiêu người lộ mặt là Cọng Sản nằm vùng sau năm bảy lăm, nhưng tôi thấy rõ trong làng tôi có một người hiện nguyên hình là cán bộ nằm vùng.
Đó là thằng Nam, con nuôi ông Bảy Bông. Trước ông làm Xã nên người làng vẫn gọi là Xã Bông. Ông thấy thằng bé Nam trắng trẻo dể thương, mồ côi cha mẹ, nên nhận làm con nuôi cho ăn học đàng hoàng.
Nó cùng trang lứa với chúng tôi, nhưng khi đi học nó lẫn tránh và không chơi chung. Chúng tôi cũng thông cảm cho nó. Có lẽ nó tự ti mặc cảm con nhà mồ côi nên không đàn đúm ngoài giờ học mà lo giúp ông Bảy Bông làm sổ sách trong chuyện buôn bán cá, ghe mành.
Ai ngờ nó bị cảnh sát bắt tại trận khi ban đêm nó đi rãi truyền đơn cho Việt Cọng trong chợ Đầm. Ông Bảy Bông chạy chọt nhiều tiền cho nó được tha ra với lý do còn nhỏ mới hơn mười ba tuổi bị người ta lợi dụng dụ dỗ.
Mãi đến ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, nó đột nhiên trở thành Phường Trưởng, đội nón cối, mang dép râu đi họp ở Tỉnh, ai nấy đều ngã ngữa. Nhất là ông Bảy Bông.
Trong trụ sở phường, căn nhà của Bác Hai Si, suôi gia với ông Bảy Bông bị tịch thu, treo đầy bằng khen của Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh, cái tên Nguyễn Văn Nam được đóng dấu đỏ lòm.
Chú Bảy tôi dọn về Xóm Mới được một năm thì bỏ nghề Lục Lộ và chạy xe lam ba bánh.
Một tuần, chú nghỉ xe một ngày, theo luân phiên sắp xếp của qui tắc bến xe.
Những ngày này, nếu được rãnh, tôi đi bộ lên thăm nội và gia đình chú. Đây là những dịp chú kể cho tôi nghe nhiều chuyện về ông Hồ. Đúng ra không phải là chuyện trực tiếp về ông Hồ mà là gián tiếp qua các cách hành xử của cán bộ ông Hồ.
Họ, ban ngày có những hành động, lời nói rất tuyên truyền hợp lòng dân, khiến ai cũng mê đắm và tin tưởng tuyệt đối vào đường lối cách mạng, nhân ái, cứu nước do “ Cụ Hồ đề xướng và lãnh đạo”.
Đêm về, họ hoàn toàn khác. Dao găm, mã tấu, lựu đạn, dây kẽm gai sẵn sàng bắn chết, cắt cổ, thủ tiêu, trói thút ké thả trôi sông bất cứ ai tỏ ra nghi kỵ và chống đối với họ.
Ban ngày họ đi làm công tác dân vận như tu bổ dùm hàng rào bà A neo đơn, buộc lại cái chuồng heo cho bà B có con thoát ly, làm dùm đám cỏ mía cho bà C có con hy sinh vì cách mạng…
Đêm về, họ nhờ bà A mua dùm con gà nấu cháo cho cán bộ ăn đỡ đói. Con gà đáng giá năm đồng, họ đưa ra có hai đồng và nói rất tội nghiệp :
- Thưa Má ! Bọn con lâu nay đói quá mà cũng thèm thịt gà nhưng bọn con gom góp hết thảy chỉ có được hai đồng mong Má giúp dùm !
Dĩ nhiên bà A cảm động quá, hơn nữa, sáng nay bọn chúng vừa giúp bà sửa cái hàng rào mà, ai lại nỡ lấy tiền. Thế là có mỗi con gà mái đẻ, cắc củm nuôi lấy trứng, đành phải bóp bụng đè ra cắt cổ để đãi các con của Cụ Hồ.
Cũng cái sách đó, nhà bà B phải nấu một nồi cơm nếp thật to đãi các con đã hết lòng giúp “Mẹ Chiến sĩ” buộc cái chuồng heo hồi sáng.
Đám mía nhà bà C, tối đó cán bộ ta lẽn vào giữa, xơi hết một mớ, mà hồi sáng bà C nói các con có khát nước thì chặt vài cây ăn, cán bộ từ chối đây đẩy:
- Làm dùm cho Má một chút mà! Chúng con ai nỡ ăn mía của Má !
Tôi hỏi chú một cách ngây thơ :
- Sao ban ngày họ làm khác mà ban đêm họ lại làm khác hở chú?
- Cái bá đạo nó là như thế cháu ạ !
- Mà bá đạo là gì chú?
- Đó là cái đạo hạ cấp nhất người ta dùng nó để đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn và phương tiện thi hành.
Tôi nghe chú giải nghĩa mà tâm trí rất mơ hồ, không hiểu rõ lắm bá đạo là gì. Tôi chỉ mang máng hiểu rằng Cọng Sản nói vậy mà không bao giờ làm như vậy.
Mấy người lớn hay đùa với nhau : - “Nói như Vẹm”! để chỉ những ai hay nói dối.
Cái chuyện ma mãnh này nhiều người biết tỏng nhưng chẳng ai dám hở môi. Có mà chết không kịp trối !
Tôi không biết chú đọc bao nhiêu sách và học đến lớp mấy nhưng khi nói chuyện, chú thao thao, lưu loát bằng cái giọng trầm trầm, đều đều như ông sư tụng kinh. Chuyện cổ, chuyện kim gì chú cũng rành rọt. Tôi thích nhất là cách chú đem chuyện xưa so sánh với chuyện nay rồi đi đến kết luận đầy tính thuyết phục. Mỗi lần nói chuyện, chú thường bắt đầu :
- Chú tiếc là mình ít học nên không biết được nhiều !
Nhưng tôi cứ nghe mãi mà chú vẫn có chuyện để kể. Nhất là chuyện đế đạo, vương đạo và bá đạo. Mỗi lần như thế tôi cứ chăm chăm nhìn cái trán cao của chú rồi thầm đoán thử trong ấy còn bao nhiêu chuyện.
Tôi còn nhớ chú nói :
- Cái chủ nghĩa Cọng Sản bá đạo không ai diệt được nó đâu. Chỉ có nó diệt được nó mà thôi cháu à ! Dòi trong xương dòi ra !
Có lần tôi hỏi chú lâu nay sao không về thăm làng cũ, chú cười buồn :
- Chú mang được gia đình vô đây là mừng như chết đi sống lại rồi, có còn dám trở lại cái chổ chết ấy nữa sao? Nói thiệt với cháu, mỗi lần có ý nghĩ về quê là chú sợ đổ mồ hôi hột.
- Thế còn nhà cửa, tài sản, ruộng đất của chú ngoài đó ai trông coi ?
- Làm gì còn nhà cửa, ruộng đất ! Chú bán hết gia tài gom được hai gánh bạc Tín Phiếu của Cụ. Đùng một cái Tín Phiếu mất giá. Hai gánh bạc chỉ mua được môt rổ trứng gà.
- Tín Phiếu là cái gì hả chú ?
- Đó là tiền của Cụ. In trên giấy bổi. Giấy bổi y như giấy vàng mã nhưng đen và xấu xí hơn nhiều. Họ in bằng thạch bản, lem luốc. Muốn in ra bao nhiêu cũng được. Họ lưu hành trong dân để đổi lấy lúa gạo và đủ thứ cần dùng.
Tuổi thơ của tôi nhiều năm trôi trong dòng chuyện của chú như trôi trên dòng sông Cái có lúc êm đềm thơ mộng mùa hè, có lúc như phong ba dậy sóng mùa nước lụt tháng chín, tháng mười.
Tôi nghe nhưng không hiểu hết ý nghĩa những câu truyện chú kể. Nhưng tôi nghiệm ra được tại sao bạn bè chú, ngành nghề nào cũng gọi chú là Ông Bảy một cách bình dị thân thương như vậy. Khi thì Ông Bảy Lục Lộ, khi thì Ông Bảy xe lam.
Nhất là cái tên Ông Bảy Nha Trang sau bảy lăm tôi càng hiểu rõ chú tôi hơn.
Người ta đã kính trọng cái sự hiểu biết sâu sắc và con người bình dị của chú.

•••

Năm 1981 tôi ở tù cải tạo về, lên Thủ khoa Huân thăm chú.
Nội tôi đã mất.
Nhà chú bây giờ giao cho vợ chồng đứa con cả là thằng Hoàng ở. Chú mang hết gia đình vào Cây Số Chín Cam Ranh, tận trong núi sâu, cách đường lộ hơn năm cây số. Chú sống biệt lập trong đó.
Thật ra, chú có một cái nhà tranh gần quốc lộ, nhưng chú chỉ để cho vợ và các con ở. Còn chú một mình cất một cái chòi ẩn cư trong đó. Ngày ngày làm rẫy. Những đứa lớn, sáng vào giúp chú chặt cây phát rẫy, cuốc đất, chiều lại về nhà. Khi tôi vào tìm chú, thím Bảy dặn :
- Cháu chạy xe vô đụng chưn núi, hỏi rẫy ông Bảy Nha Trang thì ai cũng chỉ cho. Cháu hỏi ông Hải thì không ai biết đâu.
Mới nghe thím nói tôi cũng thắc cười. Ai lại không phải là người Nha Trang. Mà lại khéo kêu cái tên Nha Trang. Nhưng lúc lái xe chạy vào núi, đường gập gềnh theo vết xe trâu, lên dốc, xuống dốc ngoằn ngoèo, tôi hồi tưởng lại mấy mươi năm trước hai cái tên Ông Bảy Lục Lộ và Ông Bảy Xe Lam, nay với cái tên Ông Bảy Nha Trang nữa thì không có gì là lạ và thắc cười. Chú Bảy tôi lại chiếm được cảm tình của người dân ruộng rẫy ở đây rồi.
Quả nhiên như thế. Trong núi biết bao nhiêu là rẫy, biết đâu mà tìm. Ấy mà, cứ gặp ai vác rựa đi, tôi hỏi thăm rẫy ông Bảy Nha Trang ở đâu thì người ta chỉ vẻ rất tận tình.
Gặp lại chú, tôi hết sức ngỡ ngàng. Chú đang cuốc cỏ mía. Chiếc nón cời rách te tua không che kín được mớ tóc còn lại lưa thưa đã bạc phiếu. Hàm râu ba chòm của chú bây giờ dài tận ngực cũng trắng như cước. Lưng chú còng thêm nhiều. Chú gầy đi nhiều lắm và da thì đen mốc thếch như da con trâu già. Chú nhìn tôi cũng ngỡ ngàng.
Chú buông cuốc, ôm chầm lấy tôi, nói trong tiếng nghẹn ngào :
- Trời ơi ! Cháu tôi đến nông nổi này!
Chú cầm tay tôi dẫn vào chòi. Cái chòi nhỏ như cái tổ chim sâu. Bên trong chòi chỉ vỏn vẹn một cái sạp nứa thấp lè tè gần sát đất, rộng vừa đủ cho chú nằm ngủ. Hai chú cháu ngồi trên cái sạp đó nói chuyện hồi lâu. Sực nhớ ra, tôi hỏi mấy đứa em. Chú bảo chúng đang cuốc đất phía bên kia đám mía để trồng khoai mì.
Đất rẫy trắng hếu một màu. Mía còi cọc xơ xác. Mấy đám khoai mì dọc đường tôi đi ngang qua đều ốm tong, lưa thưa lá. Cây như vậy làm sao có củ to được. Đất như thế này làm sao trồng có cái ăn. Tôi liên tưởng tới cái đồi Mai Liên ở A.30, giam lỏng tù được tha, cũng còi cọc y như thế. Trong lúc ruộng đất của trại thì màu mỡ phì nhiêu tươi tốt.
Tôi ái ngại hỏi chú :
- Mấy năm nay chú sống như thế này sao?
- Cháu tính ! Không thế này thì thế nào khác được nữa. Nếu không thì đi kinh tế mới còn tệ hại hơn nhiều! Có thể bỏ thây trên rừng sâu nước độc không biết chừng !
- Sao tự dưng chú lại bỏ Nha Trang trốn vào đây ẩn cư giống như hai ông Bá Di và Thúc Tề ngày xưa trốn lên núi Thú Dương hái rau Vi mà ăn, thề không ăn thóc nhà Chu vậy?
- Chú làm sao mà sánh với hai ông Bá Di, Thúc Tề? Nhưng chú biết sợ Cụ Hồ. Chú sợ lắm! Năm năm tư chú đã bỏ làng Gò Duối vô Nha Trang là để tránh Cụ. Nay Cụ lại theo đến nơi, chú phải trốn.
- Chú trốn ông Hồ nhưng còn các em, chú cũng mang theo luôn thì việc học hành các em ra sao?
- Thà nó ít biết chữ còn hơn là để chúng ngoài đó ngày ngày phải quàng khăn đỏ học những điều bá đạo cháu à.
- Sao chú lại cho giáo dục bây giờ là bá đạo ?
- Cháu đã có thời dạy học thì cháu dư biết ! Bá đạo là dạy những điều bịa đặt ngược lại với sự thực, thay đổi lại lịch sử, ngụy tạo ra những nhân vật anh hùng theo chiều hướng chính trị của họ rồi nhồi nhét chúng vào đầu óc trẻ con từ năm này qua năm khác để tạo nên một thế hệ mới cuồng tín với chủ nghĩa và biến chúng thành một đạo quân người máy không tim, nhắm mắt bảo vệ chế độ.
- Quả là có những điều đó. Nhưng lũ trẻ đi học về, còn có chúng ta, những người biết đâu là phải, đâu là trái có thể chỉ cho chúng biết để mà tránh chứ !
- Nói như cháu thì làm sao lại có cảnh con tố cha, trò tố thầy như ở ngoài Bắc! Trẻ con chúng tin Thầy, Cô hơn cha mẹ.
- Nếu như thế thì không lẽ chú lại nỡ để lũ em con dốt hết sao ?
- Thà để chúng dốt, còn hơn bị nhồi sọ còn nguy hiểm hơn nhiều cháu à ! Nhân chi sơ tính bản thiện. Ngày xưa người ta ít học, đời càng yên ổn thái bình. Người ta sống chân thật với nhau chứ không sống dối trá như thời bây giờ.
Chú Bảy nói không phải là không có lý. Nhưng chú đem hết con cái vô núi ở để tránh cái họa “Cụ Hồ” thì cũng hơi quá cực đoan . Chú chống đối chế độ bằng thái độ tiêu cực. Mai mốt những đứa em họ tôi lớn lên, tương lai chúng sẽ ra sao ? Không lẽ chúng sẽ trở thành cỏ cây theo năm tháng rồi tàn lụi với năm tháng trong cái hốc núi này sao? Tôi cứ ngổn ngang bao nhiêu lo lắng trong lòng.
Ngẫm lại câu: “Kinh cung chi điểu” mới thấy thương và cảm thông chú vô cùng. Chú đã là con chim bị cung bắn một lần, giờ cứ thấy cành cây cong thì sợ chết khiếp là phải. Còn tôi là kẻ đã “Điếc không sợ súng” “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” nên đã bị dập vùi trong trại cải tạo gần sáu năm. Bây giờ tôi cũng biết sợ không kém gì chú tôi.
Dưới chế độ xã nghĩa, con người còn thua con sâu cái kiến. Nếu không khí đong đo được thì Nhà Nước cũng đã ban phát theo chế độ rồi.
Chú bảo tôi chở chú về nhà trước. Các em chiều sẽ về sau.
Trưa hôm đó, thím Bảy đãi tôi một bửa cơm Hữu Nghị Ba Lan.
Chú Bảy giải thích :
- Chính sách tuyên truyền của Cụ thích sính văn chương hoa hoè hoa sói, có vần có vẻ lắm. Như nói về đàn bà con gái thì: Ba đảm đang - Ba sẵn sàng. Nói về thanh niên thì: Nơi nào cần, thanh niên có. Nơi nào khó, có thanh niên. Cho nên chú cũng bị nhiễm lây. Vịt ở với gà lâu ngày cũng biết gáy chớ. Cũng cũng học đòi nói chữ.Vậy cháu có biết cơm Hữu nghị Ba Lan là gì không?
Tôi nhìn vào chén cơm thấy vừa cơm, vừa khoai, vừa đậu đen lẫn với nhau nhưng không hiểu ý nghĩa. Tôi đưa mắt nhìn chú chờ sự giải thích :
- Trước năm năm tư, hồi chú còn ở Phú Yên đã thường xuyên ăn cơm đặc biệt này rồi. Bây giờ Cụ lại mang vào đãi tiếp dân miền Nam. Cơm Ba Lan là một hột cơm phải cõng ba lát khoai lang. Còn Hữu nghị, nói tròn chữ là “hữu nghị quốc tế vô sản” tức trộn hầm bà lằng xá cấu với nhau, có gì độn nấy, ăn cho đầy bụng.
Nghe chú giải nghĩa tôi không thể nín cười. Suốt thời gian trong trại cải tạo tôi quanh năm thưởng thức món cơm hữu nghị này và còn có cả món “ bánh xe tiến hoá loài người ”* nữa. Chắc chú chưa có cơ hội ăn món “ngự trù” này.
Trong tù còn có món canh “Toàn quốc kháng chiến”, và canh “có người lái” nữa đấy. Cách chơi chữ của chú thể hiện rõ tính ưu việt của Đảng ta.
Ăn cơm xong, hai chú cháu ra đầu hè ngồi hóng mát nói chuyện tiếp.
Cái nắng trưa hừng hực nóng. Thỉnh thoảng một làn gió nhẹ lướt qua đem theo cái mùi hăng hắc, khai nồng từ chuồng bò phía góc vườn, xộc vào mũi, làm tôi lâu lâu phải nín thở.
Chú hỏi tôi về đời sống trong trại cải tạo. Tôi kể qua loa, tránh cho chú mối thương tâm những đọa đày tôi đã hứng chịu. Nhưng không dè chú đã biết trước từ lâu rồi. Chú nói :
- Chú hỏi cháu là để nghiệm lại coi có giống như những ngày tháng chú sống ở Gò Duối mà Cụ gọi là vùng giải phóng không? Té ra cũng y sì !
- Đời sống trong tù khác ngoài đời chớ chú! Sao y sì được ?
- Trại cải tạo là nhà tù nhỏ. Xã hội là nhà tù lớn. Khác nhau ở chổ nhỏ và lớn. Còn cách thức thì y sì !
- Làm sao họ có thể canh giữ hết được mọi người ?
- Thế cháu mới từ trại tù về, vào đây thăm chú cháu có báo cho công an khu vực biết không ?
- Dạ có ! Cháu còn đang trong thời hạn quản chế mà !
- Quản chế suốt đời đấy! Không có thời hạn đâu! Mai mốt cháu thử đi vô Sài Gòn hay ở đâu mà không khai báo tạm trú, tạm vắng thì biết liền. Cháu đọc sách có biết Vệ Ưởng và Lý Tư không?
- Dạ có biết. Vệ Ưởng là người đầu tiên thời nhà Chu giúp Tần Hiếu công bày ra pháp trị thay cho nhân trị, một ngày giết bảy trăm người ở bờ sông Vị máu chảy đỏ cả dòng sông và Lý Tư là người bày kế sách cho Tần Thỉ Hoàng đốt sách chôn học trò khi Tần gồm thâu sáu nước.
- Vậy cháu có biết chế độ Nhà Nước ta hiện nay là gì không?
- Là Xã hội chủ nghĩa Mác Lê Nin và Mao, rập khuôn Nga Tàu !
- Cháu chỉ thấy có một nửa thôi. XHCN Việt Nam còn ghê gớm hơn Nga và Tàu nhiều. Cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn cái phép kềm kẹp nhân dân của Vệ Ưởng, cái sắt máu của Lý Tư (mà bây giờ gọi là chuyên chính vô sản) và cái hệ thống khoa học tinh vi của Các Mác thành cái “tối độc chiêu” của Việt Nam mà bất cứ nước Cọng Sản nào trên thế giới cũng không sánh kịp.
Nghe chú giảng giải tôi mới hiểu thấu đáo và rùng mình kinh sợ. Thảo nào chú bỏ trốn vào rừng sâu tránh họa trước là phải.
Vệ Ưởng chỉ lập ra phép “bảo”* và “liên” * để dân kiểm soát lẫn nhau. Lý Tư chỉ tàn ác đốt sách, chôn học trò để thi hành chính sách ngu dân. Các Mác chỉ kêu gọi giới công nhân thợ thuyền bị giới chủ nhân tư bản bóc lột vùng lên đấu tranh mà thôi.
Cọng Sản Việt Nam một lúc thi hành cả ba thủ đoạn và nhiều sách lược ghê gớm khác nữa với sự sáng tạo của Đảng ta.
Dùng dao găm, mã tấu để khủng bố cướp chính quyền. Phát động bộ máy chiến tranh khổng lồ, dốc hết nhân lực, vật lực miền Bắc đổ vào Trường Sơn để chiếm cho được miền Nam. Sau khi chiếm xong, ngoài việc chiếm đoạt toàn bộ tài sản của dân, cho thi hành ngay việc đốt sách, không chôn học trò cho mang tiếng với thế giới mà cho đi “học tập cải tạo” nơi rừng sâu nước độc, để chết dần chết mòn không ai bên ngoài hay biết. Hàng triệu người đã bị đẫy vào các lò học tập không thua gì thời Đức quốc xã.
Kế đó là chính sách “ kiểm tra hộ khẩu” nắm bao tử từng người. Không sót một con mén.
Bước tiếp theo là chiêu bài “đánh tư sản”. Chiêu bài tối độc này đã lùa thêm hàng triệu người chạy trốn ra biển. Và hơn một nửa đã bỏ xác trên đại dương.
Tất cả những sự tàn ác trên, Cụ và Đảng đổ hết lên đầu nhân dân để né tránh búa rìu dư luận. Đánh giặc là do Quân đội nhân dân. Bắt giam tù đày con người là do Toà Án Nhân dân. Quản lý mọi người là do Uỷ Ban Nhân dân các cấp từ Xã cho đến Trung Ương. Nhất nhất mọi cơ quan đều là của nhân dân, do nhân dân làm ra chớ không phải của Đảng.
Đảng do Cụ lãnh đạo một đời chỉ lo cho dân được độc lập tự do hạnh phúc mà thôi. Cho nên trẻ con mới: “ … ai yêu Bác Hồ chí Minh bằng các em nhi đồng…” Thanh niên thì quyết một lòng “ Bác cùng chúng cháu hành quân”. Dân miền Nam thì: “ Trong đầm đẹp nhất hoa sen. Miền Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Miền Bắc thì: “ Bác là mặt trời chân lý chói qua tim”…
Ôi chao ơi! Bao nhiêu là mĩ từ tốt đẹp nhất trên thế gian này đều dành hết cho Cụ. Ai mà dám dùng đến hai chữ “vĩ đại” ngoài bốn chữ “Bác Hồ vĩ đại” ra đều bị kết tội phạm thượng. Hỏi ai mà không sợ.
Hèn chi sau này, Trần Dần còn sống sót sau vụ Nhân Văn giai phẩm, chống gậy vào Nam, có người hỏi :
- Làm sao mà nhà văn còn sống được đến ngày nay vậy?
- Ấy là do tôi biết sợ! Trần Dần tiên sinh vừa thì thầm đáp, vừa lấm lét nhìn xung quanh.
Còn ông thi sĩ Lưu Trọng Lư tác giả bài thơ “Tiếng thu” nổi tiếng, đã một thời là thần tượng của tuổi thơ của tôi, sau ngày 30 tháng tư, vào nói chuyện tại trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang, trước đông đảo hàng ngàn giáo sư và học sinh đã làm tôi và bao nhiêu người thất vọng vô cùng. Ngoài cái câu “ Con nai vàng ngơ ngác đạp lên lá vàng khô” đầy thơ mộng của mùa Thu, bị ông sửa lại thành “Con nai vàng không còn ngơ ngác nữa em ơi” được ông giải thích là: - Nhờ đi theo Bác và Đảng, và nhờ giác ngộ cách mạng nên “ con nai vàng phải biết đấu tranh để tiến tới chủ nghĩa Cọng Sản chứ không được phép ủy mị lãng mạn kiểu tiểu tư sản phong kiến nữa”.
Cách giải thích của ông đã làm cho cử tọa hôm ấy được một trận cười thỏa thuê. Còn cái cách nói chuyện của ông cũng thê thảm không kém. Đang thao thao bất tuyệt về văn thơ lai láng, ông vung tay, nghiêng mình bên này, nghiêng vai bên kia, chồm về phía trước… để diễn đạt lời thơ một cách say sưa đầy biểu cảm, thình lình nói đến Bác, thái độ ông đột ngột thay đổi mau lẹ như người máy Rô Bô bị bấm nút ngưng điện. Ông đứng nghiêm, hai vai xụi xuống, hai bàn tay ép sát vào đùi, thân hình đờ ra như khúc gổ, hai mắt nhìn thẳng về phía trước một cách kính cẩn. Người nghe chỉ thấy cái miệng ông mấp máy, nhót nhép và lời lẽ tuôn ra từ cái loa một cách êm ái nhẹ nhàng. Hết giây phút “lên đồng” đó, ông lại nói hăng tiết vịt trở lại như trước. Rõ là ông có hai con người khác biệt trong ông: Một là nhà thơ thuần hậu. Một là đảng viên tín điều.
Sau này, tôi còn gặp nhiều Đảng viên trong lúc “báo cáo học tập” cũng có cung cách y như vậy. Cả một miền Bắc, người người đều rập khuôn như thời đại phong kiến khi nói đến “Bác” thì phải vòng hai tay cung kính đưa lên ngang trán, xá xá mấy cái, mặc dù “ Vua Bác” ở cách xa hàng ngàn dặm.
Chế độ Xã Hội Chủ nghĩa đã kềm kẹp con người trở lại thời phong kiến. Phong kiến hơn ngàn lần phong kiến xưa nữa.
Trong lúc tôi đang đắm chìm về quá khứ, chú chợt hỏi tôi :
- Thế cháu có còn nhớ kết cục cuộc đời của Vệ Ưởng và Tần Thỉ Hoàng không ?
- Dạ nhớ chứ. Vệ Ưởng bị chính con của Tần Hiếu công ra lệnh ngũ mã phanh thây ngay sau khi lên ngôi, để trả thù cho trăm họ cái tàn ác mà Vệ Ưởng đã thi hành mấy năm. Còn Tần thỉ Hoàng thì bị tên thái giám Triệu Cao giết khi ngồi trên ngai chưa kịp ấm ghế.
- Đó! Cháu thấy không! Dòi trong xương dòi ra cả đấy ! Cháu có nghe câu sấm “ Mã đề, Dương cước anh hùng tận. Thân Dậu niên lai kiến thái bình” không?
- Hiện giờ trong dân gian ai ai cũng đang loan truyền câu sấm này. Nó ám chỉ điều gì vậy chú !
- Sấm ký chỉ hiểu được khi nó ứng nghiệm. Không thể hiểu hết được. Nhưng hiện nay thì Đảng ta có quá nhiều anh hùng. Nhiều đến nổi “ra ngõ gặp anh hùng”. Chú ngờ rằng câu sấm trên đã ứng nghiệm vế đầu. Còn vế sau thì chú cháu mình chờ năm Thân và năm Dậu đến để xem ra sao.
Thoáng chốc trời đã ngã về chiều. Ba thằng con trai của chú đã lục tục lùa bò về nhà. Tôi đi làm việc và đi lính xa nhà hơn tám năm mới trở lại Nha Trang. Chú đã có thêm ba trai một gái nữa. Tổng cộng là sáu đứa. Trừ vợ chồng thằng Hoàng, đang ở tại nhà Thủ Khoa Huân, còn lại, Chú lùa hết cả bầy con vào núi như lùa bò.
Ba thằng em họ vừa thấy tôi vội vàng vòng tay, khom lưng, cung kính chào:
- Thưa anh Hai mới vào chơi !
Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn chúng. Ba đứa em tôi đứa nào cũng ốm tong teo, nước da xanh mét như người bị sốt rét và thiếu ăn lâu ngày. Đặc biệt nhất là đứa nào cũng búi tóc đằng sau gáy một cục to như củ tỏi. Tôi không nhớ tên chúng. Đứa nào chú cũng đặt tên theo vần H ở đầu. Hoa, Hoàng, Hường, Huy, Hậu, Học. Tôi cứ lẫn đứa này sang đứa khác.
- Sao chú lại để đầu tóc mấy em nó như vậy? Tôi buột miệng hỏi vô tình.
- Anh Hai không nên hỏi Ba em như vậy! - Một đứa trả lời thay cho chú Bảy chưa kịp nói.- Nhà em có Đạo thờ riêng! Nó nói tiếp.
Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa. Chỉ nghĩ thầm mà không hỏi tiếp.
- Cái Đạo gì nữa đây? Theo ông Đạo Dừa ở Cồn Phụng chăng? Hay là Đạo Cao Đài như ở Tây Ninh? Chỉ có hai Đạo đó mới để tóc búi thôi.
Chú Bảy biết tôi đang thắc mắc thầm trong bụng nên từ tốn nói :
- Gia đình chú thờ Bà Thánh Mẫu cháu à ! Bà linh thiêng lắm. Từ ngày chú đưa gia đình vào đây đến giờ đều nhờ Bà độ trì mà không đau ốm bệnh tật. Làm ăn suôn sẻ và tinh thần ngày càng minh mẫn sáng suốt. Cả nhà chú đều ăn chay trường theo lời dạy của Thánh Bà.
- Thế cái Đạo này do ai sáng lập ra hả chú? Lâu nay cháu không nghe ai nói tới ?
- Nói Đạo thì không đúng. Một đêm kia, chú nằm mơ, thấy Thánh Bà hiện ra chỉ bảo cho chú con đường tu học để có thể tránh họa “đại hồng thủy” sắp xãy ra cho nước Việt mình. Khi nào có dịp chú sẽ nói nhiều về những màu nhiệm linh thiêng của Thánh Bà cho cháu nghe. Chú tin rằng cháu sẽ cảm ứng và tin tưởng ngay.
Nhưng tôi khó mà tin và chấp nhận được cái tín ngưỡng của chú. Cứ nhìn những đầu tóc của mấy đứa em họ tôi cứ thấy ghê ghê. Nó vừa bẩn vừa đầy những con chí. Chúng bò nhởn nhơ ngay dưới gáy. Có lẽ lâu lắm rồi chúng không gội đầu. Ba thằng nhóc con tuổi chưa tới mười lăm, mười bảy mà trông khệnh khạng như mấy ông cụ non. Nhìn cách chúng đứng trước bàn thờ một cách nghiêm trang, hai tay chắp lại trước ngực, mắt lim dim, miệng lâm râm cầu nguyện Thánh Bà trong sự tuyệt đối tin tưởng, tôi thấy chúng là những kẻ cuồng tín hơn là sùng đạo.
Tại sao chú Bảy tôi là người từng trãi, trình độ hiểu biết khá cao mà mới có mấy năm lại sa vào chốn huyễn hoặc này một cách dễ dàng vậy sao? Vì nguyên cớ gì? Tôi đem thắc mắc này hỏi cha tôi. Ông nói :
- Chú Bảy Hải mày ở riết trong núi sâu lâu ngày, nó cứ tưởng nó là Thần thánh. Tao thì thấy nó quẫn trí hóa khùng thì đúng hơn. Mấy lần nó ra đây thuyết giảng và bảo tao tu theo đạo của nó. Tao có khuyên nó cho các cháu về Nha Trang đi học, nó vẫn cứ u u mê mê. Thiệt là tội nghiệp! - Con thấy mấy đứa con của chú Bảy nói chuyện rặc một giọng Thánh Thần Tiên Phật còn hơn cả chú nữa cha à !
- Tao lo cho gia đình chú mày quá, mà không biết phải làm sao! Chú mày cứng đầu lắm! Cái gì nó quyết làm là không ai cản nổi.
Vài lần sau, tôi trở lại thăm chú. Tình trạng “Thánh Thần” trong nhà chú ngày thêm trầm trọng. Con Hường bị bệnh suyển. Mỗi lần lên cơn, thở không được, cuống họng cứ kéo đờn khò khè, ò e mà chú nhất định không đem đi tới Bác sĩ khám. Chú cất một cái chòi tùm hụp thấp lè tè sát đất, nhỏ hơn cái chòi vịt, ngay bên cạnh nhà để cho con Hường ở riêng cho “tinh khiết”. Mỗi ngày con Hoa đưa cơm chay vào cho ăn và lấy nước lã cúng trên bàn thờ Thánh Bà cho uống để chữa bệnh. Con Hường ngày càng xanh mét và yếu lã dần. Tôi lo sợ cho tính mệnh em Hường nên khuyên chú :
- Chú đã chữa cho em nó bằng nước Thánh mấy tháng nay bệnh tình không thuyên giảm chút nào mà còn có mòi nặng hơn, chú nên cho về Nha Trang khám bệnh xem sao. Vã lại nó bị suyễn mà chú để nó nằm một mình ngoài sương gió như thế này không tốt đâu.
- Mỗi con người có nghiệp chướng riêng. Muốn giải trừ nghiệp chướng không dễ gì trong một ngày, hai bữa cháu à! Bộ cháu cho chú là người mê muội sao?
Đến nước này thì tôi không còn biết nói sao nữa. Đành ngậm ngùi ra về.
Ngày xưa tôi nhìn chú Bảy tôi bằng đôi mắt kính phục bao nhiêu, bây giờ tôi càng thất vọng bấy nhiêu. Tôi cứ tự hỏi :
- Vì sao nên nổi ? – Chú làm vậy có đúng không ?
Có tin thêm thằng Học lâm bệnh cả tuần bỏ ăn nằm im không cục cựa. Tôi và đứa em rễ là y tá vội vào thăm. Chú bảo :
- Em nó đang theo Thánh Bà tu luyện. Vài ngày nữa sẽ xuống núi. Các cháu đừng có lo. Đêm nào chú cũng được Bà mách bảo.
Đứa em rễ tôi vào khám hồi lâu và báo rằng thằng Học bị sưng gan trầm trọng và hối chú tôi mau mau chở vào bệnh viện cấp cứu. Chú Bảy chỉ cười mà không chịu cho chở đi. Chú bảo:
- Em nó dưỡng thần, xuất hồn theo Bà, xác cốt phải ở lại đây để trở về. Nếu đem đi, hồn nó về biết nhập vào đâu?
Mười hôm sau, con Hoa hộc tốc ra báo tin cho cha tôi, nó khóc bù lu, bù loa :
- Bác Hai ơi ! Thằng Học em con nó chết rồi.
Cha tôi bảo nó bình tỉnh kể đầu đuôi xem coi. Con Hoa vừa mếu máo vừa kể :
- Thằng Học nó bị bệnh lâu rồi không biết bệnh gì, da nó cứ ngày càng vàng ra mà Ba con cứ nói nó đang tu luyện nên thay xác cốt chớ có gì mà lạ. Hôm anh Hai với anh Ba vô thăm, nó đã bỏ ăn ba ngày rồi. Ba con vẫn không chịu nghe lời anh Ba chở nó vô nhà thương. Chừng tuần sau thì nó lạnh ngắt cả mình mẫy. Cái bụng thì phình to ra cứng ngắt. Tụi con nghi là nó đã chết rồi, la khóc lên báo cho Ba biết. Ba con cứ nói là nó “nhập đồng” cứ để nó yên tỉnh vài ngày là thức dậy. Dè đâu bây giờ xác nó bắt đầu có mùi hôi rồi. Nó chết thiệt rồi Bác Hai ơi!
Cha tôi nghe xong, ngồi ngẫn ngơ. Cái thằng Học này năm ngoái ra thăm ông. Cha tôi kể lại:
- Cái thằng thiệt là giống y như cha nó! Mới có mấy tuổi đầu mà nói chuyện Đạo, chuyện đời y như ông cụ tám mươi. Nó còn dụ tao theo Đạo của cha nó nữa chớ. Tao không thèm nghe nữa. Tao đuổi nó về lại Cam Ranh. Tóc tai gì thấy mà ớn!
Vậy mà bây giờ nó đã chết. Chết một cách oan uổng vì sự cuồng tín của chú tôi. Không khéo sẽ tới lượt con Hường và những đứa khác nữa. Cha tôi mướn xe cho cả nhà vào Cam Ranh.
Lúc chúng tôi đến nơi thì hàng xóm láng giềng đang bu trước nhà đông lắm. Trong nhà, đám người âm công đang liệm xác thằng Học vô hòm. Nhà nồng nặc mùi tử khí và mùi thuốc sát trùng. Chú Bảy ngồi trước bàn thờ Thánh Bà bất động như tảng đá. Thím Bảy thì vật vả kêu khóc. Hai mắt thím bị mù mấy năm nay không còn thấy đường nữa nên không thấy được mặt thằng Học ra sao khi chết. Bà cứ gào lên:
- Con ơi là con! Học ơi là Học! Sao con bỏ cha mẹ, bỏ anh chị em lại mà đi cho đành!
Khi đám ma xong xuôi, cha tôi bắt buộc phải đưa con Hường về Nha Trang để chữa bệnh. Nhờ vậy con Hường mới thoát hiểm.
Sau cái chết của thằng Học, chú tôi ở lỳ trong rẫy mấy tháng liền. Tôi không biết chú có còn cứng rắn giữ vững lập trường không. Nhưng hai thằng con còn lại đã hớt tóc ngắn và không nói tới chuyện linh thiêng của Thánh Bà nữa.

•••

Mười năm tôi xa quê hương không có dịp về thăm gia đình chú Bảy. Những đứa con trai chú đã có vợ, con và sống tự lập.
Chú đã mất cách đây bốn năm sau một cơn bạo bệnh.
Hai cô con gái Hoa và Hường thành gái lỡ thì. Cuộc đời chúng đã chôn vùi trong núi thẵm.
Tại sao? Tại ai?
Mỗi lần nhớ về chú, tôi lại tự hỏi như vậy. Chú tôi đâu có phải là người của thời tối tăm, lạc hậu, mù quáng để ra nông nổi như thế này. Chú đã hủy hoại cuộc đời và tương lai đám con của chú. Liệu việc làm của chú có đúng không? Hay là tôi chưa đủ kiến văn để hiểu được cách xử thế của chú?
Có thể là tôi nông nổi đã trách lầm chú nếu đem sự việc chú làm ngày hôm nay so lại với những cái chết tự sát của nhiều gia đình sau giờ phút oan nghiệt năm bảy lăm thì hơi trễ?
Sau cuộc đổi đời rất nhiều người phẩn chí mà hoá điên. Riêng chú tôi có lẽ sợ quá mà hóa rồ chăng? Chú đã từng nói:
- Chú sợ Cụ Hồ quá rồi! Chú đã trốn chạy vào Nha Trang lánh Cụ mà bây giờ Cụ còn đuổi theo thì chú phải trốn nữa.
Có lẽ tôi phải kết luận như thế mới ổn. Cả nước đều sợ Cụ Hồ, sợ luôn con cháu của Cụ. Nhưng “ sợ cọp thì ít mà sợ cứt cọp thì nhiều”.
“Cụ Hồ” theo chân Bác Lê, Bác Mác, Bác Mao từ lâu nhưng cứt của Cụ còn ghê gớm hơn lúc Cụ còn sinh thời.
Chú tôi mất lúc tuổi cũng đã cao. Năm ấy chú đã hơn bảy lăm thì phải. Cái chuyện “sinh ký tử qui” ai cũng phải gặp nó một lần.
Rồi cũng sẽ đến lượt tôi.
Tôi chỉ tiếc một điều là chú cháu tôi đã hẹn với nhau chờ coi thái bình. Nhưng đã mấy lần Thân Dậu đã đến rồi đi mà thái bình nước nhà vẫn còn mù mịt.
Chú đã mõi mòn chờ đợi và không đủ thời gian chờ đợi nữa. Chú đã bỏ ra đi trước.
Câu sấm Trạng Trình :
Mã đề, Dương cước anh hùng tận !
Thân, Dậu niên lai kiến thái bình !
vẫn còn đó.

Các anh hùng ở vế thứ nhất cũng đã phiêu diêu miền cực lạc khá nhiều rồi.
Còn bao nhiêu anh hùng nữa hãy mau mau làm ơn, làm phước tiến bước theo Bác để dân Việt Nam chóng được hưởng thái bình.
Mong lắm thay!

Tháng chạp năm Giáp Thân – 01/05
Nguyễn Thanh Ty.

-----------------------------------------------------------

• Ma ta lô : (Tiếng Pháp) Matelot: Lính Thủy
• Biên ! Xanh Pi át ! Đôn nê on Ca đô : Très bien ! Cinq Piastres ! Donner un Cadeau (Tiếng Pháp) Tốt! Thưởng cho năm đồng !
• Tre biên : Très bien ! Tốt lắm !
• Cỏ vê: Corvée ( Tiếng Pháp) Lao dịch
• Bánh xe tiến hoá loài người: Bánh làm bằng bột mì tròn và dẹp bằng bàn tay luộc chín phát cho tù thay cơm.
• Bảo: Đơn vị năm gia đình. Liên: Đơn vị mười gia đình. Vệ Ưởng lập ra để dân chúng kiểm soát và tố cáo lẫn nhau với chính quyền.