Buồn Vui Đất Khách Nguyễn Thanh Ty Boston, ngày... tháng...năm 2003 Anh chị Lãng thân mến, Vẫn còn nhớ trong bữa ăn trưa chia tay nhau tại Sài Gòn một ngày cuối năm, năm 1991, anh chị cứ dặn dò nhiều lần là khi qua tới nơi đất khách quê người, có gì vui buồn, hãy viết thư về kể cho “ tụi này” nghe để cùng nhau có thể chia xẻ nổi niềm. Tôi cứ lòng nhủ lòng là sẽ viết ngay cho anh chị một bức thư thật dài khi vừa đặt chân lên đất Mỹ. Và ngay lúc đó tôi đã hình dung ra những điều vui tươi, đẹp đẻ nơi xứ lạ, đường xa để mà tha hồ vẽ vời trong những bức thư sẽ viết về cho anh chị. “Đi xa tha hồ mà nói khoác”. Cái câu này tôi nằm lòng khi học trong “Quốc Văn Giáo khoa thư ” cái thuở còn ê a ở Tiểu học. Thế mà từ ấy đến nay, tôi chưa hề cầm được cây viết lần nào để viết về cho anh chị một bức thư như lòng đã dặn lòng. Cho nên, cứ mỗi lần Tết sắp đến, một năm sắp qua, là lòng tôi cứ bứt rứt không yên. Cứ hẹn lần, hẹn lửa. Thế mà thoắt cái nháy mắt, đã hơn mười ba năm. Ngày đi tóc hãy còn xanh. Giờ tóc đã hai màu tiêu, muối. Anh chị Lãng thân, Bây giờ ngồi hồi tưởng lại những gì tôi đã trãi qua trong khoãng thời gian tuy dài mà ngắn này, chợt thấy đời như giấc chiêm bao. Quả thật “sực tỉnh giấc, nồi kê chưa chín”. Ôi ! Đời người ngắn ngủi làm sao ! Rất nhiều lần, ngẫm lại từ cái thuở xuân xanh cho đến bây giờ tóc bạc, tôi chợt bàng hoàng, thảng thốt nhận ra cái bóng câu thời gian vô tình trôi nhanh một cách lạnh lùng của cuộc đời. Anh còn nhớ không? Cái năm 1964, khi lên Bảo Lộc dạy học, gặp anh ngày đầu tiên ở ngõ Tiên Dung, tôi vừa tròn hai mươi bốn tuổi. Cái tuổi tràn trề nhựa sống và yêu đời. Nhưng chúng ta chỉ vui vẻ với nhau được có ba năm rồi phải chia tay lên đường nhập ngũ. Năm bảy mươi, chúng ta lại mừng mừng, tủi tủi gặp lại nhau lúc không ngờ nhất, ở chốn xưa Bảo Lộc. Cũng cái Câu lạc bộ ấy, bên cạnh cái hồ nước ấy, chúng ta uống cùng nhau ly rượu tẩy trần. Rồi mùa hè tới, chúng ta lại chia tay nhau lần nữa, ai về quê nấy, hẹn hò với nhau sẽ đi khắp từ Nam ra Trung thăm nhau cho thỏa tình mây nước, sông hồ. Ai có ngờ đâu, cái ngày đen tối, đau buồn của tháng tư, bảy lăm đã chôn vùi tất cả tuổi trẻ chúng ta trong chốn lao tù nghiệt ngã, trong tận cùng của đáy hận thù. Khi ra khỏi tù, tuổi đã gần nửa đời người. Với tấm thân tàn tạ, sống dở, chết dở, chúng ta đã lê lết, cúi gằm mặt xuống đất đen chịu nhục, để kiếm từng hột cơm, củ sắn sống sót qua ngày, hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn. Vậy mà cũng kéo dài hơn mười năm sống nhục. Người không ra người. Vật không ra vật. Cái ngày anh chị tiễn chúng tôi lên đường, tuổi xuân của tôi đã mất hết rồi. Năm ấy tôi đã ngoài năm mươi. Năm mươi mà đã là ông cụ trước tuổi. Một cụ ông ỉ xác xơ như cây chổi cùn vô dụng lăn lóc ở xó hè. Qua đến đất Mỹ, một đất nước mênh mông với muôn ngàn điều, khác hẵn với đất nước chúng ta. Từ phong thổ đến tập quán, văn hóa... thảy thảy đều khác. Tất cả những gì tôi tưởng tượng và chuẩn bị tinh thần trước khi đi, đều trật lất hết. Ban đầu là bị choáng ngợp bởi sự giàu sang, tráng lệ của nó mà nhiều người đã ví như thiên đàng. Đi giữa ban ngày mà cứ tưởng như trong mơ. Phố xá thênh thang với những tòa nhà cao vút. Công viên xanh tươi, hoa muôn màu, muôn sắc. Xa xa ngoại ô, nhà cửa của cư dân đủ màu sắc, nằm trong từng ô vườn, cỏ xanh, giống như tranh vẽ. Đường nhựa sạch bóng, phẵng lì, xe chạy êm như ru. Xe hơi hàng hàng, lớp lớp nối đuôi nhau chạy trong trật tự. Cảnh trí hai bên đường thơ mộng với những rừng thông uốn lượn theo đồi núi chập chùng. Đường trong phố xuyên qua, đan lại vuông vức như bàn cờ. Nhộn nhịp nhưng rất trật tự. Không ồn ào, náo loạn như ở ta. Nhất là không hề có tiếng còi xe inh ỏi, vang tai, nhứt óc. Lại càng không có cảnh xe đạp, xe xích lô, ba gát luồn lách chen giành lên trước. Chỉ có xe hơi và xe hơi. Người đi bộ rất thưa thớt nhưng đều hối hả, sãi chân đến trạm xe buýt hay tàu điện ngầm cho kịp giờ đi làm. Tuyệt nhiên không thấy ai chắp tay sau đít, lửng thửng đi dạo phố như ở Sài Gòn ta cả. Tìm đỏ mắt cũng không thấy trẻ con từng bầy, từng lũ, đi hàng năm, hàng bảy ngoài đường. Chúng nó đang ở trong lớp học. Sau giờ học, có xe buýt nhà trường, sơn màu vàng đậm, chở về tận nhà. Nếu không muốn đi bằng xe nhà trường thì có xe cha mẹ chực sẵn trước cửa trường để rước. Đó là những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ và đó cũng là những ghi nhận đầu tiên trong ký ức của tôi. Sau cái sự choáng ngợp ấy, tôi bắt đầu khốn khổ, loay hoay, vất vả với cái xã hội văn minh kỹ nghệ tiên tiến này và những cái phiền nhiễu, nhiêu khê của nó. Thiết tưởng không ai tránh khỏi tâm trạng “ngố” trong thời gian “hội nhập”. Thể hèn như tôi, cũng có chút chữ nghĩa còn sót lại trong bụng sau mấy chục năm không có cơ hội mang ra mài giũa, vẫn thấy mình như Mán về thành, như người câm điếc lạc vào thế giới người thường. Ra đường với tâm trạng lúc nào cũng hoang mang, ngơ ngác. Không biết làm sao để đi đến chổ mình muốn. Đến chổ rồi, không biết diễn đạt sao cho người ta hiểu đuợc những gì mình muốn nói. Lạc đường không biết cách để tìm đường về nhà v.v... Cứ than thầm : - Khổ ơi là khổ... Không phải một tuần hay một tháng mà hội nhập được ngay đâu. Tôi đã phải mất hơn nửa năm để nghiền ngẫm những câu chuẩn bị nói, ôn đi, ôn lại con đường mình sẽ lái xe qua, để còn nhớ đường về. Lạc đường một cái là lạc xa năm bảy chục cây số. Xe hết xăng nửa đường là... chết cửa tứ. Rồi những ngày tháng lo toan đi kiếm việc làm để có thể trả đủ tiền thuê nhà và mọi thứ. Khi có được việc, dù việc cu li lao động tay chân cực nhọc, cũng mừng như thấy cha chết sống lại. Lại phải cố cật lực làm để ôm được cái “giốp” ( job). Làm đúng giờ giấc và hết khả năng để khỏi bị “ lay ốp” (lay off), trong lúc kinh tế “ đao” ( down). Cái cảnh mật ít ruồi nhiều, kiếm được việc quét dọn, lau chùi ( clean up) sáu đô la một giờ là mừng rồi. Ấy, tôi cứ loay hoay như thế, anh chị hãy thông cảm cho cái cảnh con nhà khó, lỡ thầy, lỡ thợ kiếm được miếng ăn nơi quê người, đã đổ ra biết bao công sức và mồ hôi, thì còn thì giờ đâu mà nhớ tới bạn bè, nhớ tới cây bút, cái nghiên với những dòng thư lãng mạn mà tôi đã vẽ ra trong óc lúc lòng dặn lòng là tôi sẽ... tôi sẽ, khi ngồi ăn bữa cơm cuối cùng với nhau tại Sài Gòn năm xưa ... ... Bây giờ tuổi già xế bóng, muốn viết thư cho bạn bè thân thuộc thì óc mòn, tay run. Trí nhớ cùn nhụt lúc tốt, lúc không, giống như cái đồng hồ hoen rĩ lúc chạy, lúc ngừng. Thôi thì, nhớ được cái nào hay cái nấy, tôi cố viết ra đây, lộn xộn không theo thứ tự thời gian và không gian, buồn vui lẫn lộn suốt mười ba năm mỏi mệt không ngưng nghỉ. Tôi còn phải cố còng lưng thêm hai năm nữa để phủi tay đứng ngoài vòng cương tỏa của cái hèn mọn đời thường là miếng cơm manh áo. Hy vọng rồi ra sẽ có được những ngày an nhàn, khoẻ mạnh để gặp nhau tay bắt mặt mừng, uống lại chén rượu ngày xưa mà hàn huyên, tâm sự. Rồi bắt chước ông Tú Xương “ đem chuyện trăm năm giở lại bàn”. - Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay. Xã hội Việt Nam là xã hội nông nghiệp mà cũng khuyên người ta bằng một câu thực tiễn chí lý như vậy, huống hồ Mỹ là một xứ kỹ nghệ tiên tiến, mọi sinh hoạt hằng ngày đều lệ thuộc vào máy móc hết. Máy móc thì cần người điều khiển. Vậy phải nên đi học một nghề nào đó là chắc ăn. Tuần đầu tiên, anh Ba Lượng đến thăm tôi và khuyên tôi như vậy. Anh nói chí tình : - Chú Hai à ! Tôi nghĩ bây giờ chú đã ngoài năm mươi rồi mà còn ráng ôm cặp tới U MASS ( một trường đại học của Bang Massachusetts) để tiếp tục lấy thêm vài mãnh bằng. Lúc đó đã quá già không ai mướn chú nữa đâu ! Đúng vậy! Sau này tôi mới biết rõ sự thật. Kỹ nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi cải tiến, tiến bộ hơn ngày hôm qua, hoàn hảo hơn cái vừa phát minh tháng trước, ai không theo dõi để học thêm, để điều chỉnh làm giàu thêm kiến thức, đều dần dà bị đào thải. Từ ông bác sĩ cho chí ông kỹ sư đều không loại trừ .Lớp trẻ bao giờ cũng được trọng dụng hơn. Mấy ông bác sĩ Việt Nam nhà mình sang đây, phải học lại mấy năm sôi cơm, mửa máu, mới được cấp bằng hành nghề trở lại. Anh nào không kham nổi đành phải “ ô rờ voa” hoặc “ a đi ơ”, “gút bai” dao kéo, kim chích để đi kiếm nghề khác dễ hơn để kiếm cơm. Hồi sắp đi Mỹ, chiều chiều lúc “bóng ngã về tây” chị em Thúy Kiều, Thúy Vân sắp sửa “dang tay ra về ” thì cái đám H.O đang chuẩn bị hành trang lên đường tụ tập trước Viện Pasteur Nha trang, bàn luận đủ thứ chuyện trên đời cho tương lai sắp đến. Trong đó có bàn đến chuyện thủ sẵn một nghề trong túi cho chắc ăn. Sang đó tha hồ mà độc quyền, anh chột múa gậy vườn hoang. Mỹ nó xài cái gì cũng bằng máy móc hết trơn, hết trọi, nên nó quí những cái đồ làm bằng tay lắm. Mình qua bển làm được những cái nghề đó là hốt bạc! Có anh lẳng lặng bỏ ra năm ba, chỉ vàng lén đi học nghề thợ bạc, sợ mấy người khác biết, bắt chước thì mất cái “độc quyền”. Có anh còn cao tay ấn hơn, biết rõ Mỹ nó thích đồ thờ phượng phương Đông lắm, nhất là những bộ lư đồng trên bàn thờ, nên cũng bí mật đi sưu tầm mua, vài bộ tam sanh, ngũ sự, càng xưa càng tốt. Thế nào cũng trúng mánh lớn. Có gia đình toàn bộ đều ôm cặp đi học Anh Văn bỏ sẵn trong bụng để khi qua bển, bước xuống máy bay là đi làm liền để tranh thủ, bởi sợ cảnh “trâu chậm uống nước đục”. Cái chuyện học và nói tiếng Anh đúng giọng cũng là một đề tài bàn cãi sôi nổi mỗi chiều. Có mỗi chữ “ not ” là không, mà anh thì đọc là “ nốt” , anh kia không chịu, cho đọc như thế là sai, đó giọng của Pháp trong L’Anglais Vivant, phải đọc theo giọng English American là “nót” mới đúng. Nhưng có anh, hồi xưa có đi lãnh quân trang, quân cụ bên Mỹ ba tháng, cả quyết rằng hai anh kia phát âm đều trật lất hết. Mỹ nó phát âm là “ nát”. Lại một trận cười đến đau bụng. Nhưng ai đúng mới được chứ ? Hai anh trên đọc theo giọng “ lô can” làm sao đúng bằng giọng “ ngoại”. Người ta đã có ăn hem bơ gơ, xăng uých, hót đót tại chổ rồi, dám không tin, không theo à ? Cũng có anh lo xa, nghe nói qua bển đi toàn xe hơi, nên cũng trút hầu bao cho vợ con đi học lái xe. Lại có anh nhận được thư bạn đi trước, từ Mỹ gửi về, nói là đang làm nghề cắt cỏ, sống cũng khỏe ru, bà rù. Thế là trúng nghề anh ta , từ ngày ở tù về chuyên đi cắt cỏ, chăn trâu. Mặc ai bàn luận, lo âu cho cái nghề tương lai, anh cứ rung đùi ngâm ư ử : “ Tay cầm bán nguyệt xênh xang, Một trăm ngọn cỏ lai hàng tay ta”, Rồi anh ta tự nhủ : - Chỉ cần mang theo vài cái câu liêm là chắc ăn như bắp. Vừa nhẹ nhàng lại chẳng phí tổn bao nhiêu. Riêng các bà thì hăm hở đi học làm bánh, thêu thùa, làm móng tay, móng chân, làm tóc. Ôi đủ thứ! Rối xồm xồm. Nói người thì ngẫm đến ta! Lúc ấy tôi đang làm nghề dệt vải mùng, khăn lông và mền con công xuất khẩu sang... Hà Nội và Campuchia. Cái nghề độc đáo, ít ai có. Sang Mỹ mà ra tay nghề thì phải biết ! Nhất định là phất! Nhưng để cho chắc ăn một trăm phần trăm, cầu toàn mà, tôi còn nhờ anh Sở là bạn nhậu tri kỷ trong xóm, dạy thêm cho nghề làm bánh phở. Rủi mà không có đất dụng võ nghề dệt thì ta xoay ra làm bánh phở, đời cũng sẽ phè phởn chán. Mấy đứa con gái tôi, mỗi đứa một nghề. Đứa lớn học nghề làm tóc, nộp mạng ba chỉ. Đứa nhỏ hổng tiển, quyết học mánh buôn chợ trời, một vốn, bốn chục lần lời của các bà cô, tha hồ sang Mỹ mà quậy nát nước. Riêng bà vợ tôi, chỉ biết có mỗi nghề gõ đầu trẻ. Bỏ sang chuyện khác thì chịu chết. Tay chân quờ quạng, chậm chạp. Biết mình không ai bằng... mình. Thôi thì học nghề... quét nhà, lặt rau, rửa chén cho chắc ăn. Tưởng là đuà cho vui. Ai ngờ cái nghề này lại được trọng dụng khắp nơi trên đất Mỹ. Lúc nào cũng có việc mà khỏi phải phỏng vấn, phóng viếc. Không cần tiếng Anh, tiếng U. Chẳng cần phải cong lưỡi, chu mỏ, méo miệng mà nói “ nót ”, nốt” hay “ nát” gì cả. Cái nghề này có cái tên rất hay : Lái dĩa bay. ( Đa số sinh viên du học đều trãi qua thời kỳ lái loại dĩa bay này để kiếm cơm ăn học) Cuộc bàn cãi và tính toán còn nhiều nữa nhưng dài dòng và nhất là sợ lộ bí mật nghề nghiệp nên không chép ra đây làm gì cho tốn giấy và mồ hôi... . Khi tới Mỹ rồi mới bật ngữa ra, mới biết những cái lo xa, toan tính bao ngày tháng dưới biển, đều trôi theo biển cả. Cái suy nghỉ, lo toan của anh em chúng tôi rõ ràng là không giống ... con giáp nào trên cái xứ đại kỹ nghệ này. Anh chàng mang câu liêm lọt sang cái bang ở miền Đông Bắc như tôi đang ở là Massachusetts, sáu tháng băng tuyết lạnh lùng này, lấy đâu ra cỏ mà cắt ? Sáu tháng còn lại, dù có cỏ mọc chắc gì người ta cho anh cắt bằng cái câu liêm quê mùa, lạc hậu ở quê nhà. Cỏ người ta trồng là cỏ cảnh. Cỏ mượt mà như tấm thảm nhung, đâu thể cắt bằng cái câu liêm, chổ lồi, chổ lõm như chó liếm! Hư cỏ cảnh của người ta. Có mà đền à! Ác hại thay ! Ông bạn viết thư về không nói rõ, để anh chàng này cứ tưởng dễ ăn như cắt cỏ ở bờ ruộng quê nhà. Ngươì ta cắt cỏ ở bằng máy đẩy tay, nếu là bãi nhỏ. Bãi lớn phải cắt bằng xe lái, mất cả tuần mới xong. Mà phải có “ lai xần cắt cỏ” người ta mới mướn. Thế là mấy cái câu liêm đem vất đi thì đau lòng con quốc quốc. Mà để lại thì không biết dùng nó vào việc gì ? Hy vọng, trăm năm sau, nền văn minh nông nghiệp của ta tràn sang đây, thì lại có cơ tung hoành một thuở chăng ? Anh chàng ôm khệ nệ mấy bộ lư đồng, cồng kềnh nặng hàng tạ sang đây, té ngữa, trợn trắng con mắt. Không phải té vì sức nặng của mấy bộ lư mà là cái “apartment” bé tí xíu, vói tay đã đụng trần nhà, không đủ cho gia đình con cái ở, lấy chổ đâu mà trưng mấy cái tam sanh, ngũ sự lỉnh kỉnh to kềnh ? Để chật nhà mấy tháng, nhờ người quen dọ bán, chẳng ma nào mua. Bây giờ không biết mấy bộ lư đó đã tiêu thụ được chưa hay là bán ve chai cho người ta “ rì xai cồ” (recycle) ( Đám cưới, đám ma người ta cũng đốt đèn điện trên bàn thờ thay cho đèn sáp thật. Đèn thật cắm lên đã đụng trần nhà rồi. Đốt lên có mà cháy nhà à!) Còn cái anh thợ bạc, vừa nghỉ ngơi được vài ngày là xông ra cửa hàng vàng bạc để dạo coi cho biết sự tình, cũng trúng gió bất tỉnh nhân sự tại chổ. Cái nghề làm bằng tay thô sơ, gõ go,õ đập đập bằng cái búa tí tẹo với ngọn lử khè khè đạp bằng chân, ba ngày mới được một sợi dây chuyền làm sao địch lại với hàng kim hoàn tinh xảo làm bằng máy, sản xuất hàng loạt, bán rẽ rề hàng ký lô một. Bán không cần đếm! Hai con mắt anh lồi ra trước sự thật phủ phàng. Từ đó không thụt vô lại được như trước nữa. Còn cái nghề dệt mền con công ... ngủ của tôi thì sao ? Nói ra thiệt là xấu hổ! Khi ra đi, bà vợ tôi hí hửng lựa năm, bảy cái mền đẹp nhất vừa dệt xong, có hình con công đực đang gù con công mái, con công mái đang cong đuôi, liếc tình con công đực, xếp, gói cẩn thận để làm quà cho các chú, các cô ở bển. Đến nơi, đêm đầu tiên trên xứ lạnh, gặp mùa Đông, vợ chồng chú em mở “ cờ lô xịt” lôi ra một đống mền còn mới tinh cho đắp. Nhìn cái mền “ ngoại” nghỉ tới cái mền “ lô can” mình mang qua, chuẩn bị tặng, thiệt mắc cỡ hết sức. Đêm đó vợ chồng tôi bàn nhau, nhất trí dấu biệt mấy cái của nợ. Thiệt tình không dám dấu diếm, cái mền con công ... ngủ của tôi không đáng dùng làm khăn lau nhà. Sàn nhà làm bằng gỗ sồi ghép lại, bóng như gương, soi mặt được. Khi lau, lau bằng những cái khăn bông mềm mại. Còn cái mền của tôi dệt bằng chỉ sợi có tẩm hồ keo cứng như da trâu. Khi giặt vài nước , nhả hồ, nó trở thành miếng giẻ thảm não như cái nhau mèo, đâu dám đem chùi nhà, trầy hết nước vẹc ni bóng lưỡng sao. Hiện nay tôi vẫn còn cất dưới hầm làm kỷ niệm. Định chừng vài năm nữa, về Việt nam sống hết tuổi già sẽ “ gánh củi về rừng”. Còn cái nghề làm bánh phở sơ cua ? Thôi đừng nhắc lại làm chi cho tôi đây thêm sầu não ! Bánh phở khô, bánh phở ướt đủ loại, đóng gói, hạp vệ sanh, bán lềnh khênh chợ Tàu, chợ Việt Nam, rẽ rề. Còn cái chổ ở của tôi, vợ chồng con cái đi ra, đi vào, không cẩn thận rất dể va đầu vào nhau thì lấy chổ đâu mà xây bột, dựng lò, đốt lửa, tráng bánh... Chỉ cần thấy khói xịt lên khỏi nóc nhà là năm bảy xe chửa lữa hú còi rền trời chạy tới rồi, đằng trước thì xe cảnh sát chớp đèn vàng, xanh, đỏ, dẫn đường, cũng hú còi đinh tai, nhức óc... Còn bánh tráng ăn chả chiên , ăn bò nhúng dấm, không biết họ làm bằng cách nào mà mõng hơn giấy pơ luya, đều y chang như từ một khuôn ra, dẽo quẹo. Đem bánh tráng ở Việt Nam sang so sánh giống như gà đứng cạnh phượng hoàng vậy. Thôi đành giã từ hết mộng mơ như cô gái bán sữa trong truyện ngụ ngôn... Thế là tôi phải lội tuyết, suốt sáu tháng trời, tới trạm xe “ bus” và “ subway” để đến trường dạy nghề mà học lấy một nghề hộ thân. Không biết mấy ông bạn vàng trong cái hội “ Lo xa” dưới biển của tôi tản mác khắp các bang xoay xở ra sao! Chớ các dự tính “ múa kiếm vườn hoang” của gia đình tôi coi như “ọt giơ” hết. Mỹ làm gì có chợ trời bát nháo như ta mà tính sang để quậy! May ra cái nghề tóc, móng tay còn có cơ ! Nhưng phải có “lai xần” mới được hành nghề à nghen! Lạng quạng đi làm ẩu ( như ở ta) thì có ngày “ ủ tờ” dễ như chơi !. Nhưng không phải có nghề trong tay mà kiếm được việc ngay đâu nhé ! Đã bảo mật ít ruồi nhiều mà ! Ở Mỹ, bất cứ đi xin việc gì, ngoài khả năng chuyên môn của mình đã nộp đủ giấy tờ chứng minh ra, đều phải qua một cuộc “phỏng vấn” do cấp trên nơi mình xin việc, trực tiếp “làm việc”. Cũng xin mở dấu ngoặc ở đây nói rõ về hai từ ngữ “phỏng vấn” và “làm việc”. Phỏng vấn chứ không phải thẩm vấn của Công An hỏi cung như một ít người nhầm lẫn. ( Hay là ở một cái đất nước mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Sợ quá rồi phỏng hay thẩm đều có nghĩa như nhau ?) Phỏng vấn là một cuộc nói chuyện tay đôi giữa người xin việc và “ xếp”. Xếp vừa hỏi năm điều, ba chuyện về kinh nghiệm nghề nghiệp, vừa dò xét, coi giò, coi cẳng xem mình có đủ bản lãnh để làm việc không, rồi sau đó mới xét chuyện nhận hay không nhận. Dù anh có giỏi bằng trời mà khi phỏng vấn anh cứ run lẩy bẩy, nói không ra hơi. Hoặc hỏi một đằng trả lời một nẽo vân vân và vân vân thì coi như đi đứt. Làm việc nghĩa là... làm việc, đúng nghĩa của nó, chứ không phải như “ ta” dùng để ám chỉ việc điều tra xét hỏi, thẩm vấn lấy cung. Ở “ta” ( mà) nghe hoặc thấy giấy mời lên Phường hay lên đồn Công An “ làm việc” là “ són” đái trong quần rồi. Trong phần phỏng vấn, người xin việc phải học thuộc lòng và thực tập tại nhà tiết mục “ bán mình chuộc cha của Thúy Kiều” cho nhuần nhuyễn mới hy vọng qua mặt được xếp để bắt cái “ giốp”.(job) Nói thật đó. Không phải đùa cho vui đâu. Bạn hãy bán mình khi được phỏng vấn. “Let sell by yourself !” Đó là bài học cuối cùng của khóa thợ tiện của tôi để chuẩn bị đi xin việc. Bán mình nghĩa là sao ? Nói vắn tắt là mình hãy “nổ” hơn cái mình có một chút, cho thêm phần “ vẽ vang anh hùng, thừa thắng xông lên” mới có cơ “thắng lợi vẽ vang”. Còn lù đù “ thiệt thà khai báo” như năm 1975, chẳng hạn như : - Thưa ông ! Tôi mới ra trường, tay nghề còn yếu, bản thân chưa có kinh nghiệm ! Thì kết quả là đi cải tạo mút chỉ cà tha nếu ở Việt Nam. Còn ở đây thì muôn đời “Lục quân Việt Nam” cũng không ai mướn. Nhưng bạn “ nổ” to hơn tạc đạn thì cũng trớt móng heo luôn. Họ sẽ biết tỏng bạn là thằng nói dối. Hãy tập làm quen với những cái ngược đời khác ta ! A- Tên, họ ngày, tháng... Ngược đời ở đây không phải là ăn ngược, nói ngạo. Có nói thành không. Đen nói thành trắng. Điên đảo, ngược xuôi, trong cái thời kỳ hỗn mang, đạo đức suy đồi đến mức tận cùng sau ngày đổi đời, Trời làm một trận lăng nhăng đâu. Ngược đời ở đây là tập quán văn hóa của xứ cờ Hoa có những cái ngược với ta. Nhập gia phải tùy tục. Qua sông phải tùy khúc mà cởi quần. Trước tiên là phải tập viết, tập ký và nhất là tập nghe cái tên của mình cho quen. Tôi tên là Nguyễn văn Ổi. Ở quê nhà ai cũng kêu tôi là Ổi, thằng Ổi, ông Ổi. Khi ký tên lãnh lương hồi trước hay ký giấy đi ở tù sau bảy lăm tôi đều ký là Nguyễn văn Ổi. Sang đây ngày đầu đi làm thẻ xanh, tôi cứ mửng củ mà ký. Ai dè bị trả lui, làm lại, ký lại. Có người bên cạnh rành rẽ bày tôi phải ký là Ổi văn Nguyễn mới đúng cách con chuồn chuồn. Rồi đến cái “ ngày, tháng, năm” khi viết cũng đổi thành “tháng, ngày, năm”. Chẳng hạn, hôm nay tôi viết thư cho anh chị, trên đầu trang giấy tôi viết : Boston, ngày 12 tháng 11 năm 2003. Nhưng khi tôi viết thư cho anh mũi lõ thì tôi phải viết : Boston, November, 12th, 2003. Tập nghe tên mình cho quen cũng là một đại sự rắc rối không kém phần cười ra nước mắt. Bây giờ tôi không còn là ông Nguyễn văn Ổi một cách dễ thương, dễ ghét như xưa nữa mà là thành Oai Nhu Uyên. Mấy anh, chị mũi lõ không nói được vần NG. Họ phát âm thành NH. Tên Ổi bỗng thành Oai. Họ Nguyễn mất dấu ngã thành Nhu Uyên. Khi gọi tên mình, họ gọi tên trước, họ sau. Có khi chỉ gọi cái họ trống trơn, không có tên. Mà họ Nguyễn với họ Trần thì ở đất Mỹ nhiều vô số kể. Giở cuốn điện thoại niên giám ra xem thử biết liền. Chỉ hai họ này thôi cũng đã chiếm hơn sáu trang giấy in chữ nhỏ li ti rồi. Những cái tên đẹp đẽ như Dung, Phúc, Phát ... lại trở thành xấu và tục tĩu. Tên Dung họ họ phát âm thành “đâng” tiếng Mỹ có nghĩa là Cứt bò. Phúc hay Phát lại càng tệ hại hơn. Họ phát âm thành “ phất” ( fuck) nghĩa là tiếng chữi thề : Đ... má ! Mấy cô có tên Ngọc trở thành Ngốc hết ! Còn nhiều chuyện lắm kể ra không xiếc. Đó cũng là một trong những lý do mà khi thi vào quốc tịch Mỹ, nhiều người phải lấy thêm tên Mỹ cho dể gọi. Chuyện lấy tên Mỹ cũng thành đề tài tiếu lâm để cười cợt. Có anh chàng tên Việt Nam nghe rất hay là Cự văn Phát. Vì chữ Phát đọc sang tiếng Mỹ thành tục nên khi trở thành công dân Mỹ, anh đổi tên thành Bob ( giống Bob Hope). Khi Mỹ kêu tên anh thì ai cũng cười lên rần rần vì Cự văn Bob, bây giờ thành Bob Cu. Mỹ đọc nghe rõ rành rành là “bóp cu” . Hóa ra mèo vẫn hoàn mèo ! Chỉ dùng cái họ không thôi là một điều nhầm lẫn tệ hại cho những ai vướng phải. Vừa mất thì giờ vừa nhức đầu. Hồi tôi mới qua được hai năm, thình lình có cái giấy đòi nợ ba trăm tám chục ngàn đô la gởi tới nhà. Đọc cái giấy nợ, tôi tá hỏa tam tinh. Trợn mắt cho to ra, đọc đi, đọc lại mấy lần cho ky, vẫn thấy rõ ràng ràng tên mình, ngày tháng năm sinh y chang, số an sinh xã hội đúng y boong. Chắc là món nợ từ đời ông cố tổ để lại hay là kiếp trước mình là người Mỹ chăng ? Nếu quả thật vậy thì cái lá số tử vi của tôi chấm trúng cửa ăn mày rồi ! Dĩ nhiên là nổi lo lắng và sợ hãi nó hành hạ tôi mấy đêm không sao ngủ được, không kể ra đây anh chị cũng biết rồi. Tóm tắt sự việc được giải quyết ổn thỏa về sau là nhờ anh bạn Mỹ già hàng xóm cứu bồ một phen. Sau khi đọc cái giấy đòi nợ, anh bạn già giải nghĩa rành rẽ cái sự nhầm lẫn của cái còm piu tơ mắc dịch là : - Ông qua Mỹ năm 1991, giấy tờ ông có ghi rõ. Còn cái ông Oai Nhu Uyên nào đó mắc nợ từ năm 1988. Giấy nợ có ghi là vay tiền mua nhà năm 1988. Cái còm piu tơ cứ thấy họ Nguyễn là chạy ra một loạt dữ kiện giống như vẹt học nói vậy mà.Vậy là không phải ông. Ông chỉ cần photo copy cái thẻ xanh của ông kèm theo cái giấy nợ này gửi trả lại cho họ là xong. Thiệt là hú vía. Trút được gánh nặng ngàn cân. Ông bà mình có câu “chân ướt chân ráo” quả thật chí lý ! B- Ăn nhiều, ở chẳng bao nhiêu ! Ở nhiều, ăn chẳng bao nhiêu ! Câu này ngược một trăm phần trăm. Ở xứ ta, có người quần quật làm việc suốt đời như trâu cày, ngựa cởi mà vẫn không có đủ miếng ăn. Còn ở thì ở đâu cũng xong. Một túp lều, một mái tranh, cái chòi chăn vịt, dưới gầm cầu ... Chổ nào ngã lưng yên giấc là được. Ở Mỹ cái ăn thì dư thừa. Nhà từ thiện khắp nơi. Anh chỉ cần vào ghi tên họ, địa chỉ cư trú xong là tha hồ lấy bánh mì, sữa, cà phê, trà, bơ, bánh ngọt ... đủ ăn một tuần. Tuần sau hết, tới lấy nữa. Gia đình tôi lúc mới qua cũng tới “ hốt” mấy lần, khi chưa kịp lãnh tiền trợ cấp. Dĩ nhiên khi đã có công ăn việc làm rồi, không ai đi làm cái chuyện đi xin bao giờ. Một phần vì tự trọng, một phần vì thực phẩm rất rẻ. Anh đi làm một ngày đủ cho gia đình ăn một tháng. Cái chuyện ở mới cực, mới đau đầu! Không riêng gì cho người tị nạn mà cả cho người bản xứ nữa. Chẳng thế mà lại có thành ngữ : “American’s dream”. Người Mỹ luôn mơ ước được sở hửu một cái nhà. Hai phần ba dân Mỹ suốt đời đều ở nhà thuê. Nhà cửa rất mắc. Một cái nhà tí tẹo hai phòng ngủ, một phòng khách, một nhà bếp và vệ sinh giá hiện nay là hai trăm năm chục ngàn đô la. Với nhà đó, giá cho thuê là một ngàn năm trăm đô la một tháng. Nhà chỉ đủ cho hai vợ chồng và hai con trai hoặc hai con gái ở. Cũng xin nói rõ thêm về phong tục ăn ở của Mỹ. Cha mẹ ngủ phòng riêng. Con cái dù mấy tháng tuổi cũng phải ngủ phòng riêng. Anh em trai, hai đứa còn nhỏ có thể chung một phòng. Chị em gái cũng vậy. Nếu anh có hai con lớn, một gái, một trai, khi thuê nhà bắt buộc phải thuê nhà có ba phòng ngủ. Không thể “ba lăn chai” ra sàn ngủ lềnh khênh như ở ta được. Vì vậy, một người đi làm không thể nào trả nổi tiền thuê nhà. Chưa kể thêm nhiều khoản phải trả nữa như : điện thoại, tivi (không miễn phí như ở ta), điện, ga nấu bếp, nước, đổ xăng cho xe, bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm sức khoẻ ... Cho nên lâm vào cảnh thất nghiệp là chỉ có nước “chuồn” về Việt Nam làm ông Hoàng Nổ, với số tiền trợ cấp thất nghiệp ít ỏi. ( Người có công ăn việc làm vững chắc, không có thì giờ rỗi mà về Việt Nam du hí mỗi năm) C - Nhà lầu, xe hơi : niềm mơ ước ngàn đời ! Ai lại không mơ ước cảnh giàu sang đi xe hơi, ở nhà lầu ? Cái chổ này rõ ràng Đông,Tây không chịu gặp nhau. Hồi ở Việt Nam sắm được cái xe gắn máy là cả một gia tài kếch xù. Lơ đễnh, bọn lưu manh cuỗm mất là cuộc đời coi như khốn nạn ngay. Nào ai dám mơ rớ được tới cái xe hơi, được thênh thang bước những bước oai phong, lên từng lầu sân thượng, hóng gío mát ngắm trăng thanh ! Thế mà ngược lại, qua đây nghèo lõ kiết mới ở lầu cao. Kha khá tiền một chút thì mới được ở thấp thấp. Có máu mặt mới được ở nhà “ xinh gồ”. ( Single house). Có xách bao gạo hai mươi lăm ký leo lên tầng lầu bốn hay tầụng lầu năm, mới thấm thía cái mơ ước nhà cao, cửa rộng. Xe hơi là cái chân đi. Ai không có xe hơi coi như bị què. Làng ta, xóm ta, cần trái chanh, quả ớt, xị nước mắm, chai xì dầu... cứ cái quần xà lỏn, mình trần ra đầu ngõ là có ngay. Ở đây muốn có các thứ đó anh phải đi đôi hia bảy dặm cả nửa giờ mới có được. Cái xứ sở gì mà rộng mênh mông chi địa. Chổ này cách chổ kia hằng năm bảy chục cây số. Làm sao mà đi xe đạp. Lại mùa tuyết phủ, rét cóng làm sao mà đạp ? Xe đạp chỉ dành cho nhà giàu “hưỡn” đi “ éc xẹc xai” mà thôi. Còn nhà nghèo như tôi như mọi người, quanh năm phải dùng xe hơi thế cho cặp giò. Đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều người mới qua Mỹ chưa đầy năm, đã chụp hình gửi về cho cha mẹ khoe rằng “Xe con đây Ba, Má”. Thật đấy, không phải cảnh giả trong mấy cái “sờ tuy đi ô” ở Việt Nam vẽ phông để đứng chụp hình đâu ! Bởi ba trăm đô cũng có được một chiếc xe. Cũng có xe ba ngàn đô, ba chục ngàn đô, một trăm ba chục ngàn đô ... Tiền nào của ấy! Mới qua có sáu tháng, thằng em út tôi đã cho tôi một chiếc xe hơi rồi. Đã thì thôi ! Ngày xưa đi lính cũng có lái xe, nhưng xe nhà binh, của quân đội chớ không phải của riêng mình. Bây giờ mới thực sự làm chủ chiếc xe hơi. Tuy hơi cũ một chút nhưng ngó lui nơi quê nhà, anh em, bè bạn, và triệu triệu người khác nưã ai đã có được xe hơi như ta ? Ai chưa từng làm chủ và chưa dựa lưng vào cái ghế nhung êm ái đàng sau tay lái của cái xe mình vừa có, dù tả thế nào cũng không thấm được cái sự “thung thướng” lâng lâng trong người được. Bất giác anh mĩm cười một mình khi xoay qua xoay lại cái “ vô lăng”. Khi cái xe bắt đầu trườn tới và lăn bánh đi bon bon trên con đường tráng nhựa phẵng lì, không một chút gợn sóng thì cái sự “thung thướng” ấy càng tăng lên mạnh mẽ làm cho anh dần dần ham tốc độ. Bốn mươi lăm dặm, sáu mươi dặm, bảy mươi lăm dặm ... cây kim tốc độ trong đồng hồ cứ tăng lên, tăng lên ... Được vài tháng thì xe bắt đầu giở chứng. Tuần này hết trăm bạc cho cái này bị hư. Tuần sau trăm rưỡi cho cái kia bị hỏng. Sốt ruột, xót tiền cứ như túi bị lũng, rơi rụng dần, kêu mấy anh bạn hỏi thăm tại sao vậy ? Ai cũng nói một câu y chang : - Xe cũ nó là vậy đó ! Kêu thằng em hỏi, nó nói cũng không khác mấy : - Xe cũ anh đi đỡ ! Nếu có tiền, anh quăng nó đi mua chiếc khác. Đừng sửa nữa. Chiếc xe chưa đáng giá ba trăm mà anh sửa từ bửa giờ coi bộ hơn chiếc xe rồi thì phải ? Qua rồi cái giai đoạn “thung thướng” có xe hơi. Xe hơi bây giờ là cả một của nợ. Mua xe cũ thì lúc nào cũng hồi hộp, đau tim. Không biết nó giở chứng chết máy bất tử lúc nào và ở đâu. Mua xe mới thì khòm lưng trả nợ bốn năm mới hết. Tiền bảo hiểm xe mỗi tháng hết một phần tư tiền lương. Anh em nào còn mơ xe hơi, nhà lầu nữa không ? D – Cũi mục bà bỏ ngoài đường. Ai mà đụng đến: Trầm hương của bà ! Câu ca dao hay tục ngữ này có nghĩa bóng là cái gì của tôi cũng đều quí cả. Tỉ như ông chồng tôi, đừng thấy tôi mắng chữi, chê bai ông ta đủ điều mà tưởng bở, xông vào bợ, thì tôi cho ăn dao phay ngay. Nhưng ở Mỹ mới thấy cái nghĩa đen của nó thật là rõ và sâu sắc, sát sườn. Anh có thể tưởng tượng rằng cái câu ca dao : Chanh chua, khế cũng chua, Chanh bán được mùa, khế lại ủ ê ! sang đến đất Mỹ thì trật lất không ? Trong khi chanh xanh mọng nước, quả nào cũng to bằng nắm tay, một đô ba quả, có khi “on xeo” năm quả, thì trái khế chút xíu, một đô rưỡi một trái. Ăn thành tiên, tôi cũng không bao giờ mua ! Ngoài chanh ra còn trái cóc bán lềnh khênh ở ta, bán không hết, úng thúi đem đi đổ, vậy mà cũng một đô la một trái. Cũng có người mua ăn. Ăn để đỡ nhớ nhà, để tìm lại hương vị quê hương. Tất cả loại rau như húng, tía tô, ngò gai, ngò rí, dắp cá, rau răm... đều mắc như vàng. Mỗi bó năm cọng, hai đô rưỡi. Rau muống cũng đồng gía. Lâu lâu nấu món bún bò, không có bắp chuối xắc mõng thì không đủ vị quê nhà. Bấm bụng mua một bắp, bé bằng cổ cẳng thằng cu tí : hai đô rưỡi. Lại thèm món gà nướng lá chanh. Thấy đề giá ba mươi sáu đô, ơ pound ( 1 pound= 454 gr) lá chanh tươi, bỗng hết thèm. Ngược lại hàng rau Mỹ như xú lơ trắng, xú lơ xanh, cải xà lách búp, xà lách cây, bắp cải, dưa leo, cà dái dê, cà dĩa... đủ thứ trên đời, tươi xanh mời gọi lại rẽ như cho. Thôi đành làm người Mỹ, ăn rau Mỹ. Tháng tháng, bấm bụng mua tí rau thơm, tí ngò rí, ngò gai để còn nhớ mình là người Việt da vàng. Nói rau mà quên thịt gà là điều thiếu sót. Ngày giỗ kỵ, ta mới dám trút hầu bao mua con gà nhỡ nhỡ, về làm mâm cơm, trước cúng sau ăn, để đở thèm. Con gà chưa tới ký rưỡi mà chế ra năm bảy món, trộn đồ bổi hơi nhiều cho đở hao. Một năm mới dám có đôi lần. Ai có khả năng tuần nào cũng gà, cũng vịt, cũng bò heo ? Quanh năm chỉ cá với rau là quí rồi ! Thế mà từ ngày sang đây tới giờ, ngày nào gia đình tôi cũng xơi thịt gà. Thịt gà rẽ như biếu không. Toàn là thịt nạc. Đùi với ức. Còn những thứ đầu, cổ, cánh, xương xẩu là món nhậu “ hảo hạng” của thần lưu linh, họ vất bỏ mất tiêu. Mấy năm trở lại đây, chợ Việt Nam, chợ Tàu lượm lại, đóng gói bán riêng cho dân nhậu. Mấy anh mũi lõ, mắt xanh thấy là xanh máu mặt như thấy con heo quay nằm chễm chệ trên bàn cúng. Lại nhớ đến năm 1962, trên đường ra Qui Nhơn học Sư Phạm, lần đầu tiên ăn được dĩa xôi nếp với nửa con gà rô ti tại ga Diêu Trì Bình Định. Ôi nó ngon làm sao! Đó là nửa con gà đầu đời của tôi. Ở Nha Trang làm gì có nhiều gà và rẽ như Bình Định! Sau đó, khi trọ học và ăn cơm tháng được vài tuần tôi bắt đầu thấy sợ thịt gà. Ngày hai bữa cơm đều là thịt gà. Sáng gà kho, chiều canh gà. Mai gà xào, mốt gà xé phay rau răm , bữa kia gà luộc... Nghĩa là quanh năm, suốt tháng toàn gà là gà. Bây giờ ở cái xứ gà công nghiệp này thịt gà rẽ như bèo. Nhờ vậy mà dân An Nam Mít tị nạn như gia đình tôi, mới qua khỏi được mấy con trăng. Ngược lại cá là món thuộc hàng cao cấp xa xĩ. Tôi là dân làng chài, bốn mùa ăn cá mà lớn, cũng đành đầu hàng, giơ tay chịu thua, không mua nổi cá để ăn hàng ngày. Anh cứ thử tưởng tượng, năm đô la một lát cá thu, to bằng bàn tay, gắp được mấy miếng cho cả gia đình ? Nói chuyện ăn ,chuyện ở mãi nghe cũng mệt. Thôi ta quay sang chuyện làm, xem có chút thú vị nào không ? E - Phu xướng phụ tùy ! Phu xướng phụ tùy nói theo tiếng Hán... rộng, có nghĩa là chồng nói cái gì thì vợ phải ... hùa theo cái ấy. Chồng chỉ con hươu nói: Con nai. Vợ phải đáp : Dạ! Con nai. Nếu cãi lại thì ... “ cái xương bậu nát, cái da bậu mòn”. Nhưng ở Mỹ thì đừng hòng cái kiểu Khổng tử viết, tứ đức tam tòng. Ở Mỹ, đàn bà là “ nâm bờ oanh”. Địa vị trong xã hội được xếp theo thứ tự : Đàn bà – Trẻ con – Chó mèo – Đàn ông. Từ Tổng Thống cho chí phó thường dân khi nói chuyện chốn đông người đều phải lể phép thưa: - Lé đi en Gien tơn man ! ( Ladies and Gentlemen= Thưa quí Bà và quí Ông ) Bất cứ chổ nào cũng “Lé đi phớt” ( Lady first) Chồng không được quyền đánh vợ dù bằng cánh hoa hồng. ( Không thấy nói bằng củi tạ) Đó là tội bạo hành. Đàn bà và trẻ con được luật pháp bảo vệ kỹ lưỡng. Khi bị bạo hành cứ nhấc điện thoại gọi 911. Lập tức cảnh sát xuất hiện, chưa cần biết lý do, còng tay anh chồng hay ông cha trước đã. Sự việc hạ hồi phân giải. Nhiều bà lạm dụng cái quyền này, hở chút gì cũng gọi “ nai oanh oanh”. Nhiều anh chồng ngán ngẫm quá, bỏ nhà trốn sang bang khác, mất biệt luôn. Có anh đâm ra uống rượu để tiêu sầu, hát nghêu ngao cho hả cơn phẩn hận : “ Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu...!” G - Ti vi chạy đầy đường. Hồi cái nẫm, mấy anh răng hô mang dép râu, nón cối mới vô Nam vêu mõm ra tha hồ khoác lác, khoe “ngoài Bắc chúng ông” Xã hội chủ nghĩa, cái gì cũng có. Đang lúc trồng cà, thì bảo ngoài ấy có đủ loại cà. Có anh tù cải tạo hỏi xỏ : - Thưa cán bộ! Thế có loại cà chớn không ? - Sao lại không, thiếu khối gì ? Đã bảo Xã hội chủ nghĩa mà ! Nói về sự “ phồn vinh giả tạo” của Miền Nam, có anh lại hỏi : - Thưa cán bộ! Nghe nói ngoài Bắc chưa có Ti Vi phải không ? - Ối dào ! Ai bảo thế ? Ngoài Bắc Ti vi chạy đầy đường ! Hai chuyện tiếu lâm thời đại được anh em tù dùng làm thuốc chữa cơn đói. Mỗi lần đói quá lại kể hai chuyện này để anh em cười quặn ruột, quên đói. Tưởng là chuyện đùa Đông Tây kim cổ chỉ có ngoài Bắc ( chưa thấy) mới có, ai dè qua Mỹ lại thấy Ti vi “chạy đầy đường” thật. Nói cho đúng là bỏ đầy lề đường. Lần đầu tiên thấy, cứ tưởng lúc trong tù, “tầm mắt còn hạn hẹp” cứ nghi ngờ lời cán bộ nói khoác, bây giờ “ đi thực tế” mới thấy lời vàng ngọc của cán bộ đúng thật vàng y, bốn con số chín. Cán bộ nói lúc ấy là Ti vi bên Mỹ chạy đầy đường, tại mình đói quá, tai ù, mắt hoa nên nghe, cứ tưởng là ở miền Bắc. Thế mới cơ khổ ! Tội cho dân ở xứ nghèo lạc hậu. Cái tham nó vẫn luôn chực chờ, lúc nào cũng lăm le, hể có cơ hội thuận tiện là nhảy xồ ra khỏi lương tâm. Hồi mới qua được mấy tháng, vợ chồng cô em gái tôi áo gấm về Việt Nam một chuyến, nhờ tôi và một người anh rễ đi bỏ báo dùm. Cái “giốp” này gọi là “ paper boy”. Báo phát hành lúc giữa khuya, công nhân bỏ báo thức dậy từ bốn giờ sáng, chạy xe đến đại lý lấy báo về phân phối cho những gia đình đặt mua tháng. Chừng bảy giờ là hoàn tất, khoảng hai trăm nhà nằm rải rác trong khu vực mình trách nhiệm. Có ra đường sớm như vậy mới thấy Ti vi bỏ đầy đường trong những ngày xe rác đi thu rác. Không những Ti vi mà còn cát xét, đầu máy đa hệ, “đài hai phai”, loa thùng, loa thiếc, tủ lạnh, quạt máy... đủ thứ trên đời, để ngay ngắn trên lề, trước cửa nhà. Cái nào cũng còn như mới, còn đầy đủ cả giây nhợ, phụ tùng. Tôi ham quá, mắt sáng lên, bảo thằng em rễ : - Dượng Ba, ngừng xe lại, tôi lượm mấy cái Ti Vi và đầu máy về coi chơi ! Thằng em rễ cười ngất : - Về nhà em, anh muốn lấy bao nhiêu cái cũng có. Em đã “ó đơ” ( (order) đầy nhóc một “ bé giơ mần” ( basement) rồi. Quả nhiên, dưới cái “ bé giơ mần” của người em rễ tôi, chứa đầy các thứ kể trên, còn thêm vô khối “mai cờ quay” ( microwave), lò nướng bánh mì, máy lọc cà phê, máy hát quay dĩa 45 tua, 33 tua, đồng hồ treo tường có quả lắc, đồng hồ để bàn ... thứ nào cũng năm ba cái. Thấy hoa cả mắt. Hỏi cớ sự, được dượng nó giải thích : - Tiền công sửa chữa mắc gần bằng giá mua cái mới, nên khi có gì trục trặc, tụi Mỹ nó quăng để mua cái khác. Mình khéo tay, chịu khó, lượm về, sữa chút đỉnh, xài lại vẫn còn tốt chán. Quả đúng như vậy. Bèn nhớ lại, tuần đầu tiên mới qua, thằng cháu kêu bằng cậu, đem đến biếu cái “ Vi xi a” ( V.C.R) mà ta vẫn gọi là đầu máy đa hệ mua giá một cây vàng hồi miền Nam mới được “ giải phóng”. Biếu xong, nó nói thêm : - Cái vi xi a này còn tốt, chỉ đứt sợi giây “ beo” ( belt) thôi. Cậu đem tới tiệm thay là xài y như mới. Tưởng chừng năm ba đồng, ai dè nó chặt đẹp sáu chục đô. Trong khi cái mới chỉ có bảy mươi lăm đô. Đem về xài được mấy tháng, bịnh nó trở lại y như cũ. Hình ảnh cứ cà giựt như người mắc kinh phong, coi đau cả mắt. Thế là cái Vi xi a, lề đường lại trở về lề đường. Mấy năm sau có một anh quen, qua Mỹ nhờ con bảo lãnh, tuổi già không làm được nghề ngỗng gì, nên cũng đi bỏ báo. Hồi Cọng Sản mới chiếm miền Nam, anh theo đà xã hội bát nháo, nhảy ra chợ Đầm, theo giới chợ trời, buôn bán máy hát, ra dô, ti vi cũ cho mấy anh cán ngố mang về Bắc. Anh lùng mua máy cũ, máy hư, đem về lấy râu ông nọ, cắm cằm bà kia rồi nhờ thợ đánh bóng cái mã ngoài, chưng hàng hàng, lớp lớp trên sạp, gạt khách ngố. Chẳng mấy chốc mà phất lên. Mấy ngày sau, ngố đem trả lại vì không xử dụng được. Ngố khiếu nại “đài” kêu ọt ẹc nghe không rõ, ti vi hình cứ chớp nháy liên hồi. Thế là anh ta mồm năm, miệng mười, cả vú lấp miệng em, đổ cho ngố mua không biết cách xài nên máy hư, chứ lúc mua máy vẫn còn tốt. Anh ta khoe với tôi : - Tiền đã vô túi Bốn Biển này còn lâu mới lấy lại được ! Bốn Biển là tên cửa hàng đồ máy, kim khí của anh. Bây giờ qua đây đi bỏ báo, ngày nào anh cũng “ó đơ” ( lượm) về năm ba cái. Lúc thì Ti vi, lúc thì quạt máy, Vi xi a. Có hôm vài ba cái máy hát. Chất đầy dưới “ bé giơ mần”. Đứa con anh đã ở Mỹ hơn hai mươi lăm năm, nó chán cái cảnh này lắm rồi, nhưng không dám lên tiếng phản đối chỉ sợ làm buồn lòng ông già. Nhưng khổ nổi, hồi còn ở Việt Nam, mấy cái máy cũ từ thời Hoàng đế Bảo Đại còn ở truồng, xài bằng bóng đèn hay hơn một chút là “trăn sít to” đi lùng sục kiếm về, lấy cái nọ bỏ qua cái kia, khả dĩ còn được. Bây giờ máy móc toàn bằng đồ điện tử “di gi tồ” ( digital) thì anh Bốn Biển nhà mình chịu chết. Có mò đến rụng lông ... tay cũng không sữa được. Lại đem ra lề đường. Tuần nào đến ngày thứ ba đổ rác, trước nhà anh cũng thấy vài cái ti vi, mai cờ quay hay máy hát. Có khi nhậu vui tôi hỏi : - Anh Bốn Biển à ! Đã biết không sữa được, anh còn ôm cái của nợ về làm chi cho chật nhà rồi lại mất công đem ra bỏ lại ? - Tại ở đây tui không có đồ nghề để mò ! Nếu tui chở được hết về Việt Nam thì phải biết tay tui. Có điều gởi về, tụi hàng hải nó tính giá cước chuyên chở mắc như giá mua cái mới., tui mới chịu thua, chớ dễ gì với tui ! - Đã biết vậy thi đừng lượm nữa, đừng sữa nữa cho mất công ! - A! Có lẽ do thói quen nghề nghiệp. Mà cũng do cái tham anh à! Tui biết chớ, mà sao khi lái xe đi ngang, đừng thấy thì thôi. Hể thấy thì tức khắc tự động ngừng xe, xuống coi. Thấy còn tốt là tôi bợ lên xe, đem về nhà. Bữa sau lại đem ra bỏ lề đường. Ước gì Mỹ nó làm con đường nhựa từ đây về Việt Nam, tui dám lần hồi chở hết thảy, đem về bển cho thằng con tui, nó cũng giỏi như tui, mò sữa chút đỉnh là làm giàu mấy hồi ! Nói xong anh chép miệng tiếc rẽ. Bất giác, tôi cũng chép miệng theo, tiếc cho Mỹ không chịu làm con đường xuyên Thái Bình Dương để cho anh bạn tôi mất một cơ hội làm giàu. Nhất là không có cơ hội phát triễn tài năng, làm giàu cho nước nhà bằng một cái nghề không vốn. Uổng thay ! Tiếc thay ! Gian nan với cái “ lai xần” ( License). Phải nói không ở đâu nhiều luật cho bằng ở Mỹ. Đụng vô cái nào cũng có luật hết trọi. Đại diện cho luật là cái “lai xần”. Lai xần là cái quỉ quái gì ? Thưa đó là cái giấp phép hành nghề. Có cái phải thi trầy da tróc vẫy mới được. Có cái phải làm đơn xin phép. Sau khi ban thanh tra nhà nước kiểm tra, duyệt xét, thấy đủ tiêu chuẩn mới cấp. Nhiều trường hợp phải hỏi ý kiến cư dân chung quanh mới có quyền cho phép, nếu họ đều ưng thuận và nói “ yes”, như mở tiệm bán bia rượu hay mở bar chẳng hạn. Đầu tiên và cần nhất là anh phải có cái “ Đờ rai vờ Lai xần” ( Drive’s License), nghĩa là cái bằng lái xe. Bằng lái xe được xem như cái căn cước thời Cộng Hoà hay như cái Chứng minh nhân dân thời Cọng Sản vậy. Đi xin việc, câu phỏng vấn tiên quyết là : Anh có bằng lái xe và xe không ? Nếu anh không có một trong hai cái đó kể như về nhà đáp mền ngủ. Không ai mướn người không có bằng lái và không có xe cả. Cho nên, vừa đến nước Mỹ là phải ba chân bốn cẳng đi học lái xe đã. Mấy tháng học lái ở Việt Nam coi như trật bù lon hết. Ở Việt Nam làm gì có bảng đi đường nhiều như ở đây. Từ cái bảng “ Stop” ở các ngã ba, ngã tư cho đến các đèn vàng, đèn đỏ, chớp nháy một mình, bảng lưu ý có trường học, đường một chiều... hàng chục, hàng trăm thứ bảng. Nếu không thuộc bài, thi rớt là cái chắc. Nhiều ông sĩ quan xưa kia lái xe Jeep, phóng vèo vèo, bây giờ thi lại rớt đụi đụi mấy lần mới lấy được cái bằng bỏ túi. Thi bằng lái xe phải qua hai kỳ thi. Thi viết và thi thực hành. Thi viết, phải trả lời hai mươi câu hỏi về luật giao thông. Trúng mười hai câu trở lên là ăn điểm. Dĩ nhiên là thi kiểu A, B, C, khoanh. Thi thực hành là đem xe tới Ty Cảnh sát, Phòng Giao Thông, có anh cảnh sát Mỹ, có khi chị cảnh sát, lên ngồi bên cạnh ra lệnh chạy. Chạy tới, chạy lui, chạy vòng vòng, qua ngã ba, ngã tư, dừng lại, chạy tiếp. Qua đèn xanh, đèn đỏ, tấp vô lề, thò tay ra ngoài làm hiệu quẹo mặt, quẹo trái, đi thẳng... Cái quyết định cuối cùng đậu hay rớt là cái “ tri bon tơn” ( Three point turn) tức là anh xụt tới, xịt lui làm sao chỉ trong ba lần là phải quay được đầu xe ngược lại chiều đang đi. Nếu xe leo lề hoặc đủ ba lần mà xe vẫn cứ chưa quay đầu được thì “ a lê hấp” về học lại, kỳ sau thi tiếp. Chừng hai mươi tới ba mươi phút lái thực hành là đủ. Khi lái về lại chổ Ty cảnh sát mà nghe anh cảnh sát ngồi bên cạnh nói “Còng ra tu lấy sân” (Congratulation) là thấy khỏe re như bò kéo xe rồi. Một tiếng đồng hồ sau đã có “Đờ rai vờ lái xân” bỏ ấm túi rồi. Nhưng nghe nó nói “xó ri “ là tàn đời con nhện ! Bèn đi những bước âm thầm mà ca bài con cá: Thi không ăn ớt mà cay ! Nhân chuyện thi bằng lái xe, tưởng cũng nên kể thêm vài ba câu chuyện bên lề để anh chị mua vui thêm được một phần tám trống canh. Hồi tôi mới bắt đầu đi xin tài liệu về luật giao thông để học, chú em nhà tôi, qua trước mấy năm, diện Ô Đi Ghe ( không phải diện Ô Đi Pi= O.D.P) rất rành về chuyện thi viết, rĩ tai tôi : - Anh Hai đừng có học làm chi cho nhiệt ! Cứ nhậu lai rai với tụi em đi! Em sẽ đưa cho anh câu thần chú, anh học thuộc lòng nó là đậu liền ! Trời đất ! Nó dư biết thằng anh nó đã được Bác và Đảng giác ngộ gần sáu năm, đã một lòng theo cách mạng rồi, mà dám nói chuyện bùa chú với một cán bộ cách mạng nhiệt thành bảy lăm, đầu đội chủ trương, vai khiêng chính sách như tôi ? Có lẽ nó chưa nhìn rõ trong bao tử của tôi chứa đầy kinh điển Mác Lê và Hồng thư của Bác Mao ? Tôi bèn gạt phắt : - Bậy ! Chú đừng có nói chuyện mê tín với tôi! Tôi cho chú biết tôn giáo là thuốc hê rô in làm cho người ta dễ ngủ đó. Bác Hồ đã khổ cực lắm mới thuỗn được cái tư tưởng đó của ông Mác, ông Lê nơi hải giác thiên nhai về dạy cho dân ta đó ! Nhưng chú em tôi đã vượt biên từ năm bảy tám, không được “ ân sủng” học tập chính sách Nhà nước , trí óc còn đen tối, chưa được ánh sáng các nghị quyết soi rọi, nên phát ngôn rất bừa bãi : - Anh đi cải tạo lâu quá, bị mấy thằng Cọng Sản nhồi sọ, nên bây giờ anh nói cái gì nghe cũng giống như cái máy thâu băng hết bin. Quãi ( oải) quá ! Tôi tính nhảy lại bịt miệng nó, sợ tai vách mạch rừng, ông công an khu vực nghe được thì là cải tạo mút mùa Lệ Thủy. Nhưng kịp nhớ ra mình đang ngồi tại Mỹ, một đất nước tự do, người dân có quyền lên tiếng hoặc đăng báo phê phán, chỉ trích việc làm sai trái của chính phủ. May quá,không thì mấy tay nhậu ngồi gần đó tưởng tôi “mát giây”. Nhưng thằng em tôi nói thiệt và làm thiệt. Đang sừng sừng với mấy lon Henekein, nó phổ biến công khai câu thần chú trong bàn tiệc để ai có cơ duyên tu dưỡng, dụng tâm ghi nhớ, lúc ra phòng thi trổ tài. Lúc ấy trong bàn nhậu cũng có vài tay sắp đi thi. Mọi người đều nhao nhao : - Phải đó ! Mầy truyền lại câu thần chú cho anh Hai, tụi tao cũng học lóm, để sau này làm của hậu môn. Sau câu đùa dai đó ai cũng cười rần rần. Nhưng chú em tôi nói nghiêm chỉnh : - Mấy anh tưởng tôi nói chơi hả ? Nói xong nó rút cái bằng lái trong túi ra, giơ lên cho mọi người thấy, cái hình nó oai vệ ở một góc, lấp lánh dưới ánh đèn. Mọi người chồm lên coi cho rõ. Chừng đủ cho ai nấy đều tin, nó tiếp : - Hồi tôi đi thi, Thầy tôi cho tôi học thuộc lòng câu thần chú là... mấy anh nghe cho kỹ nghen. Nó lại bỏ lửng câu nói, cúi xuống cầm lon bia tu một hơi, xong đâu đó, nó đọc chậm rãi câu bùa chú cho mấy cặp mắt thò lõ đang nhìn nó chờ đợi : - Nghe cho kỹ nè : “ Con dơi ăn bắp, con dơi bay dù dù ( vù vù)”. - Ủa ! Hết rồi hả ? Thần chú gì kỳ vậy cha nội ? Bộ giỡn mặt với cảnh sát hả ? Không phải, nói lộn, giỡn mặt với Công An hả ? Chú em tôi, mặt cứ tỉnh queo, coi bộ còn quan trọng hơn mấy ông Chánh án toà án Nhân dân xử đấu tố ngày nào ở ngoài Bắc. - Mấy anh thuộc câu thần chú đó chưa ? Mấy anh nên nhớ, thi theo kiểu A.B.C khoanh. Mình không cần học bài vở làm chi. Chỉ cần nhớ cầu thần chú và lấy vần đầu tiên mỗi chữ khoanh theo thứ tự từ trên xuống dưới là ăn chắc. Câu đầu là “con”. Anh khoanh chữ “c”. Câu thứ hai là “ dơi”, anh khoanh chữ “d”. Cứ như thế cho hết bài thi. À! Té ra là vậy! Bùa chú gì ! Chỉ là mánh khoé của mấy tay có trường dạy lái xe, “ ăn dơ” với bọn Giao thông lấy đề thi về cho đệ tử mình học, thi cho dễ đậu. Nhưng tôi đã từng ra đề thi, từng đi coi thi, thời gian còn làm giáo viên, biết rành về chuyện thi cử. Đời nào người ta lại cứ bo bo một đề thi. Dù có một đề thi, hai mươi câu hỏi cần thiết về luật giao thông đi nữa, người ta vẫn cẩn thận xáo trộn thứ tự các câu hỏi mỗi năm. Vì vậy,tôi vẫn cặm cụi học thuộc một trăm câu tóm tắt trong tài liệu. Đến ngày thi, tôi đậu dễ dàng, mấy tay đem bùa “ con dơi ăn bắp...” ra phù phép, té bật ngữa hết. Thi và có kết quả ngay trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Đó là chuyện thi viết. Đến phần thi thực hành nhiều chuyện còn vui nữa. Thi rớt,về nhà nghĩ lại cũng tức cười cho mình. Tại mình không học bài kỹ. Chẳng hạn, trường hợp cô em thứ tư tôi, dượng nó kèm cặp lái rất giỏi, chạy trên “hai quay” ào ào. Hôm đem xe tới thi, thằng cảnh sát đã đứng chực sẵn ở lề đường trước Ty Giao thông. Xe vừa ngừng, cô em tôi xuất trình giấy chứng nhận đã đậu thi viết, miệng cười tươi như hoa mười giờ để lấy cảm tình. Ai dè nó nói “ Sorry! You failed!” ( Xin lỗi ! Bà rớt rồi !) Cả chồng lẫn vợ đều ngơ ngác không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, chưa thi gì cả mà nó lại đánh rớt mới kỳ ! Hỏi tại sao ? Nó thong thả giảng nghĩa : - Tôi thấy Bà lái xe từ nhà đến đây. Bà chưa có bằng lái mà đã lái, đáng lẽ phải phạt, nhưng tôi thông cảm, chỉ đánh rớt thôi. Hy vọng lần sau Bà cẩn thận hơn. Trời đất quỉ thần ơi ! Mụ vợ cằn nhằn anh chồng. Anh chồng vò vò cái đầu hói than thở : - Hồi giờ tôi “ bông xo” (sponsor) cho nhiều người đi thi, có thấy cái trường hợp này bao giờ ! Trường hợp anh bạn của tôi, Đại Úy hồi xưa, cũng buồn cười. Chuyện lái xe đối với anh dễ như húp cháo... bào ngư. Thế mà cũng rớt. Phải thi lần thứ hai mới đậu. Số là,sau khi đã lái lã lướt một vòng theo tất cả mệnh lệnh viên cảnh sát đưa ra đều được nó khen “ gút, gút”. Lúc về Ty, đậu lại, chuẩn bị lấy kết quả bỏ túi, ai dè nó cũng cho rớt. Tức quá, hỏi tại làm sao ? Nó chỉ chiếc xe đang đậu trên đường lên dốc, bảo rằng sao không kéo thắng tay khi ngừng. Không bẻ lái bánh xe nghiêng về phía lề đường, đề phòng xe tuột dốc. Đành phải chịu là nó nói đúng. Nhưng chuyện vui hơn cả là anh chàng người Việt gốc Chệt Chợ lớn. Anh ta thi bảy lần vẫn cứ rớt. Anh ta tức mình không thi nữa. Nhất định đi xe Bus và Subway. Mỗi lần nhậu, có ai nhắc tới chuyện thi lái xe là anh ta chữi õm tỏi : - Lụ mẹ nó! Mấy thằng Mỹ kỳ thị Á Châu mình ! Lụ mẹ nó ! Hỏi tại cớ làm sao ? Kể ra nghe thử tại sao tụi Mỹ nó kỳ thị Á Châu ? Anh ta kể : - Nó biểu tui “turn left”. Vì mấy lần nghe không rõ, lái bậy bạ, bị nó cho rớt, tui hỏi lại cho chắc: “left ?”. Nó lại nói “ right!” Thế là tui quẹo mặt. Nó biểu tui ngừng lại và đánh rớt. Nghĩ có tức ói máu không ? Lụ mẹ nó! ( Chữ “right” vừa có nghĩa là “bên mặt”, cũng có nghĩa là “ phải ! ” ) Hôm ấy chúng tôi được một trận cười no bụng. Có anh hứng nhạc, bèn cầm đũa gõ vào tô cà ri mà ứng tác một bài ca hồ quãng giao duyên với tân nhạc : - Buồn cười thay cho A Coón thi lái xe. Tơn rai ấy mà tơn lép. Tơn lép ấy mà tơn rai. Lép lép, rai rai. Nó biểu tơn lép , tui lại tơn rai. Lụ mẹ nó ! Rai lép, lép rai. A Coón ơi ! A Coón à ! Lái xe bảy lần ! Lép lép, rai rai. Cái “lai xần” nó dính liền với tất cả mọi ngành nghề trên đất Mỹ. Muốn hành nghề “ neo” ( nail) ? Phải học một khóa ba ngàn giờ. Phải qua một kỳ thi lý thuyết và thực hành y như lái xe mới được cấp bằng . Học lâu như vậy thì biết ngày tháng nào có thể bung ra kiếm tiền cho lẹ ? Không sao! Ở đâu có người Việt là ở đó có mánh mung! Bạn chỉ cần học căn bản vài ngày để biết cắt, dũa, đắp bột, dán móng, sơn màu là đủ. Nộp thêm hai ngàn đô cho trọn khóa học sáu tháng. Rồi về nhà đắp mền ngủ chờ tháng sau đi thi thực tập có lệ cho hợp pháp. Tuần sau cái “lai xần” ô tô ma tích được gởi về tận nhà. Người ở bang Mát Xa Xu Xét ( Massachusetts) miền Bắc, mà cái bằng thi đậu ở tận bang Cali ( California) miền Nam, cách nhau mấy chục ngàn dậm đường. Thế mới tài ! Cô Phượng,vợ chú Nam, quen với chúng tôi, đang làm “át xâm lơ” (assembler = công nhân làm điện tử theo phương pháp dây chuyền) đã lâu, thấy số người mới qua có mấy năm, nhờ làm “neo” khá lên quá xá, bèn bỏ nghề điện tử, nộp tiền đi học “neo”. Trong khi chờ ngày hẹn để thi thực hành, cô xách hộp đồ nghề mới cáo cạnh mà Nhà trường tặng cho học viên vừa tốt nghiệp, đến nhà dụ khị bà xã tôi đưa tay chân cho cô làm móng “ phi” ( free= miễn phí). Bà xã tôi tuổi dần lại cầm tinh con thỏ đế nên rất nhát gan. Hồi giờ chưa tốn đồng bạc nào đi làm móng, cứ sợ người ta cắt phạm da chảy máu. Nhưng nghe cô Phượng tốt bụng nài nĩ mãi, lại làm không tốn tiền ( ba mươi đô chứ ít à !) nên xiêu lòng, xìa mười ngón chân hột mít, mười ngón tay thiên thần như chuối sứ ra cho cô thực tập. Nhưng vẫn còn thắc mắc sao có người tử tế quá vậy : - Phượng à ! Sao em không biểu chú Nam và ba đứa con em đưa tay chân cho em thực hành ? - Dạ rồi chị Hai à! Em đã làm mấy lần rồi ! Tới bây giờ móng chưa còn kịp mọc. Mà tụi nó không chịu cho em làm nữa. Thì ra là vậy. Không có chó mới tới mèo ! Tôi ngồi xa xa đọc báo, liếc chừng xem công việc tiến hành, từng bước tiến lên, tiến mạnh, tiến vữõng chắc tới thành công vẽ vang... bỗng nghe bà xã tôi hỏi : - Ủa ! Sao lại mỗi móng dũa mỗi bên có ba cái vậy em ? - Dạ! Bài học nó vậy đó chị ! - Mình dũa năm hay bảy cái không được sao ? - Đâu có được chị ! Dũa hơn ba cái là bị rớt ! Thình lình tôi nghe bà vợ tôi kêu “ái” một tiếng rồi giựt tay lại đưa lên coi. Thấy máu tươm tươm chảy ra bên khóe ngón tay. Bả lấy cồn 90o bôi vào và lấy băng miếng, băng lại. Cô Phượng cười giả lả: - Tại cái kéo còn mới nên nó bén quá chị Hai à ! Bà xã tôi dứt dạt vấn đề : - Thôi! Bữa nào cái kéo nó cùn bớt rồi em làm lại nghe Phượng ! Bài thực hành đột ngột chấm dứt nửa chừng. Chưa kịp tiến lên thời kỳ quá độ. Vậy mà ba tháng sau, vợ chồng chú Nam, cô Phượng khai trương một tiệm “neo” mới toanh. Nghe kể lại là khá lắm. Khách Mỹ đen, Mỹ trắng vô ào ào, thợ làm không kịp. Tiền “ típ” khách cho cũng đủ trả tiền thuê tiệm. Mỗi tuần chia chác tứ lục cho thợ xong cũng được vài ngàn đô khẳm túi. Thiệt là cái cảnh ngồi mát ăn bát vàng. Ai mà không ham. Mười người Việt tị nạn, hết chín người rưỡi đã hay sắp làm “neo”. Một lần trong bữa nhậu, chú Nam “hồ hởi phấn khởi” bật mí nghề mới : - Vợ tôi dự tính mướn thêm thợ làm “ phe xồ” ( facial) và “ quác” ( wax). Nhưng tìm người có “lai xần” khó quá. Đám bợm nhậu đâu có ai trong nghề “neo” nên làm sao biết được “phe xồ” với “ quác” là cái quỉ quái gì, nên cũng tò mò hỏi hai cái đó là cái gì. Chú Nam bây giờ là ông chủ “ neo” nên rành sáu câu vọng cổ” : - “ Phe xồ” là làm mặt, là xoa bóp các bắp thịt trên mặt với các loại thuốc làm da mặt căng ra, mịn màng ra. Còn “ quác” là dùng thuốc, nhổ bớt đám cỏ gà rậm rạp của các cô, các bà, tỉa gọt cho ngay hàng thẳng lối. Anh Bồng nghe tới đây khoái chí tử : - Ê Nam ! Tao tình nguyện làm không ăn lương cái chuyện “ quác” đó nghe mậy ! Mầy nói với con Phượng để giốp đó cho tao nghe ! - Ý đâu được anh Bồng ! Cái giốp này chỉ dành cho đàn bà thôi. Làm không khéo, chảy máu, nó “xu” ( sue) cho thì có mà chết ! Nhưng chưa kịp mướn thợ thì lại nghe nói tiệm đã sang lại cho anh chàng Tú Vịt. Vợ hờ Tú Vịt là một trong hai người thợ làm ở đó. Theo nguồn tin rò rĩ từ anh chàng Tú Vịt xì ra là tiệm ế quá, không đủ tiền để trả tiền thuê nhà và các thứ điện nước. - Nếu ế như vậy sao chú mày còn sang lại làm chi mất mười lăm ngàn đô? - Em có mối rồi, nên mới dám bỏ mười lăm ngàn ra để sang. Vừa sang xong em sang lại cho thằng gà chết khác hai chục ngàn. Lấy năm ngàn bỏ túi. Nói nhỏ anh nghe thôi. Đừng cho vợ chồng thằng Nam biết. Nó tức ói máu chết. Cái sự dặn hờ của Tú Vịt là thừa. Ngay hôm sang lại cái tiệm lần thứ hai trong vòng một tuần, cả xứ Mỹ đều biết ráo trọi. Tin tức của giới làm “neo” còn nhanh gấp mấy lần các hãng thông tấn ngoại quốc. Vợ chồng Nam, Phượng biết mà đành ngậm bồ hòn khen ngọt. Dù cũng tiếc hùi hụi năm ngàn đô bị hớ, nhưng có người chịu sang lại cái tiệm ế chảy, ế thiu, lấy lại được vốn là mừng thấy ông bà ông vãi rồi. Giở mấy tờ báo chợ hàng tuần ra coi cái mục rao vặt thấy cũng buồn cười cho cái sự đời. Nửa trang bốn cột bên tay trái toàn là khai trương tiệm “neo” với những lời quảng cáo và rao tìm thợ, thấy thèm chảy nước miếng : - Tiệm mới khai trương, đầy đủ dụng cụ tối tân, hảo hạng. Có ghế tự động đấm bóp. Giá phải chăng. Cần nhiều thợ có kinh nghiệm năm năm trở lên. Lương cao, bao ăn ở. Nửa trang bên tay phải lại toàn là những mẫu rao sang tiệm “neo” với lời quãng cáo không kém phần hấp dẫn ( láo xạo ) : - Tiệm ở địa điểm tốt, đông khách, thu nhập cao nhưng thiếu người trông nom ( hoặc phải “ mu” đi nơi khác) đành phải sang lại với giá hạ. Xin liên lạc số điện thoại ... Tóm lại từ anh bán bong bóng, anh bán cà rem dạo ( rất ít) đẩy chiếc xe theo dọc đường trong những ngày lễ hội, ngày diễn hành, cho chí những anh cắt cỏ, thợ sữa nhà, ống nước v.v... đều phải có “ lai xần” cả. Ngoài cái nghề “ neo” ra, người Việt mình nhảy vô nghề “ còng trấc sần” (construction) cũng lắm. Nhưng chỉ dành cho phái nam, khoẻ mạnh. Nó là cái nghề sữa chửa nhà cửa, đánh bóng sàn nhà, lót gạch men, thay mái lợp, thay vách nhà v.v... Cái nghề này đòi hỏi phải có “lai xần” thứ thiệt chớ không được dỗm như “lai xần” nghề “ neo”. Một trăm anh Việt Nam ta làm “còng trấc sần”, rờ bụng chỉù một, hai anh có “lai xần”. Nếu vậy thì khó cho ta quá! Làm sao mà kiếm ăn được ? Ấy vậy mà nhiều người chỉ mấy năm sau đã phất lên thấy rõ. Chẳng là dân ta nổi tiếng cần cù, chăm chỉ, chịu khó, siêng năng, khéo tay, giỏi ăn cắp... nghề, nên sau một thời gian đi làm mướn cho các công ty hoặc nhà thầu Mỹ, biết hết mọi kỷ thuật và mánh lới nhà nghề, bèn bung ra làm ăn riêng. Nhưng không có “lai xần” đâu có ai dám mướn, trừ Việt Nam với nhau, hè nhau làm lậu,làm ẩu. Người Mỹ họ cẩn thận lắm. Họ luôn mướn người có “ lai xần” . Sau này có hư trật, sai trái điều gì trong hợp đồng thì họ có chổ để “ xu”, tức thưa kiện để bồi thường hay làm lại. Nắm anh có tóc chớ ai nắm kẻ trọc đầu ! Nhưng Viềt Nam mình có “mánh” riêng. Mánh đó là thầu “xấp con trắc” ( sub contract). Nghĩa là thầu lại một phần nhỏ trong công trình lớn của nhà thầu Mỹ, và được nhà thầu này bảo hộ. Tuy chỉ ăn có phân nửa giá chính thức thầu nhưng cả hai đều có lợi. Đây là sự thỏa thuận đôi bên không ai bóc lột ai. Phía Việt Nam có việc làm. Phía Mỹ khỏi phải mướn công nhân với sự chi trả quá cao. ( Ở Mỹ ngoài giá lương căn bản ra, chủ còn phải trả thêm các khoản như bảo hiểm sức khoẻ, tiền hưu trí, thuế liên bang, tiểu bang v.v...) LẠC VÀO XỨ TIÊU THỤ và HƯỞNG THỤ Theo luật nhân quả của Nhà Phật thì đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Không biết kiếp trước đời ông cha ta ăn mặn đến mức độ nào, mà theo lịch sư,ũ cứ kể từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh lấy giòng sông Gianh làm giới tuyến, chia Nam Bắc hai miền, nhân dân ta đói khổ triền miên vì cảnh nồi da xáo thịt. Chiến tranh kéo dài mãi đến thời kỳ “văn minh huy hoàng” của nhân loại, thời kỳ của các chủ thuyết ma vương nổi lên, ai cũng nói “ thuyết của tôi mang về là số một”, thuyết của tôi sẽ mang lại tự do độc lập, cơm no áo ấm cho mọi người, bèn chia đất nước trở lại lấy sông Bến Hải làm vết cắt đôi bờ. Kể từ đó, huynh đệ quyết tương tàn không phải bằng gươm dáo, cung tên thô sơ nữa,( ba cái thứ này giết người không nhiều,không đã tay, say máu ) mà quyết tàn sát lẫn nhau bằng bom đạn tối tân, giết người hàng loạt, của mấy ông đề xướng ra học thuyết cung cấp. Mỗi lần giết được nhiều người anh em là đám văn nghệ sĩ làm thơ, làm nhạc, làm truyện... thi nhau nhả ngọc phun châu ca tụng những dòng máu chảy lênh láng trên mặt đất, nhuộm thắm màu cờ ... Ôi đẹp làm sao máu thắm đỏ cờ ta ! Kể từ ngày ấy, ngày mà ông Tố Hữu sung sướng reo lên “trong tôi bừng nắng hạ” thì dân tộc tôi tang tóc khắp nơi. Gia đình nào cũng có người chết, Từ chết đói cho đến chết vì bom đạn. Ruộng vường bỏ hoang. Xóm làng xơ xác. Từng bầy, từng lũ bỏ xứ, đi khắp nơi kiếm ăn như những oan hồn vất vưởng... Còn cái xứ Mỹ này, ông cha họ ngày xưa chắc bị đọa đày cơ cực, bầm dập thảm thương, đói khát ghê gớm lắm nên đến đời nay, con cháu họ mới giàu sang, sung sướng đến như vậy ? Cứ nhìn hai nước láng giềng, bên trái và bên phải của xứ Mỹ thì rõ. Tại sao xứ Gia Nã Đại và Mễ tây Cơ lại nghèo ? Giống như Việt Nam cùng chung một giải đất hình cong chữ S mà miền Nam thì trù phú, giàu có, miền Bắc lại nghèo đói xác xơ ? Có phải vì phong thổ hay vì nhân sự ? Hay vì chính sự ? Tôi không ca tụng cái sự giàu sang và sự hưởng thụ hoang phí của Mỹ mà cứ lo dùm cho họ như lo bò trắng răng vậy. Tôi cứ áng chừng vài trăm năm nữa, cái vòng luân hồi sẽ quay đến giai đoạn đất nước Mỹ sẽ đói khổ cùng cực. Lúc đó họ sẽ nếm mùi cho biết thế nào là mùi Xã hội Chủ nghĩa. Một năm mười hai tháng, hầu như tháng nào cũng có lễ lạc để nghỉ ngơi và mua sắm tưng bừng. Thường thường ngày lễ được Nhà Nước xếp vào ngày thứ năm hay thứ sáu cuối tuần, để mọi người nghỉ suốt bốn năm ngày liền gọi là “lông quít kèn” ( long weekend ). Tha hồ mà “ sóp bing” và “ in roi”. ( shopping & enjoy). Thử đi một vòng các siêu thị làm người cữi ngựa xem hoa cũng đủ xây xẩm mặt mày. Cứ nghe nói kinh tế dạo này “ đao” quá. Thất nghiệp nhiều quá. Ngân sách Nhà Nước thâm thủng hằng tỉ tỉ đô la. Nhiều công ty phá sản. Nhiều xí nghiệp đóng cửa. Vậy mà mỗi lễ lạc dân Mỹ cứ ùn ùn mua sắm. Hàng ăn chơi, quần áo, giầy dép kiểu cọ, nữ trang... “on xeo” (on sale) năm chục phần trăm ốp, bảy chục phần trăm ốp... (50% -70 % off) cứ chất đầy xe, đẩy ra quầy mà tính tiền. Tiền đâu mà lắm thế ? Thẻ tín dụng đó! (Credit card) Cứ tha hồ mà cà! “ bai phớt- bay lây” ( buy first-pay late) Qua ngày lễ, lề đường lại đầy những thứ vừa mua xong. Xe rác lại thêm phần cực nhọc. Thấy muốn lượm về xài lại, mà trong nhà thì đã có nhiều rồi, mang về không biết để đâu ! Cứ tiếc ngẩn, tiếc ngơ hùi hụi ! Lẩn thẩn, nghĩ xa rồi lại nghĩ gần, nếu chính phủ Mỹ học được cái cần kiệm liêm chính của Đảng ta, cứ mỗi “lông quít kèn”, hô hào hai trăm triệu dân đổ ra đường trồng cây nhớ...ơn Mọi da đỏ, thì đất nước sẽ càng giàu mạnh hơn nữa. Còn nếu không trồng cây thì cũng phải biết biến thì giờ nhàn rỗi nghỉ ngơi, thành hành động cụ thể, làm việc bằng hai để lập thành tích chào mừng Đảng ...Cọng Hoà hay Đảng ... Dân Chủ có phải hay hơn không ? Cứ mỗi lần nghĩ ngợi như thế, không biết thố lộ “tâm tư, nguyện vọng” cùng ai, lại đè bà vợ già ra mà xổ bầu tâm sự. Ai dè bả chẳng những không thèm nghe mà còn mắng như tát nước vào mặt : - Rõ khéo ! Già lẩm cẩm ! CÀNG NỢ NHIỀU, UY TÍN CÀNG CAO ! Chuyện đâu có chuyện lạ đời ! Đã mắc nợ, người ta không khinh cho là may phước lại bảo là uy tín càng cao ? Ấy! cái xứ Mỹ nó ngược với ta ở chổ đó. Phải nói ngay rằng tám mươi phần trăm dân Mỹ đều mắc nợ, mà nợ suốt đời chưa chắc đã trả dứt. Lấy cái nhà làm ví dụ điển hình. Anh thuê nhà mãi cực quá. Hàng tháng làm được bao nhiêu tiền cứ đổ hết vào cái khoản nhà thuê. Mà tiền thuê nhà nó tới mau lắm. Vừa trả xong, chưa kịp ráo mực cái “séc” thì tháng kế đã tới. Thôi thì bao nhiêu năm dành dụm được năm ba ngàn đem “đao” xuống mà mua cái nhà để ở. Hai vợ chồng đều có công ăn việc làm, tuy lương không bao nhiêu, nhưng cũng đủ tiêu chuẩn Ngân hàng cho vay để mua nhà. Cái nhà nho nhỏ, hai phòng ngủ, giá hai trăm năm chục ngàn đô, chí ít anh phải “ đao” xuống 5%, tức mười hai ngàn năm trăm đô, còn lại bao nhiêu thì Ngân hàng cho vay. Anh cứ thong dong mà trả nợ trong vòng ba mươi năm. Mỗi tháng chừng hơn ngàn đô tiền lời. Ai cũng biết thời hạn ba mươi năm, mình đã chết rục xương rồi còn đâu mà trả nợ. Nhưng ai cũng đều chép miệng : - Thôi thì con mình nó có cái nhà nó ở, nó sẽ tiếp tục trả ! Nếu anh quịt không trả thì sao ? Dễ lắm ! Đã bảo Mỹ là cái xứ luật mà ! Khi anh đến văn phòng luật sư ký giấy tờ nhận chìa khóa nhà là lúc anh ký tên trên các thứ giấy tơ, đến mõi tay luôn. Anh cũng không có thì giờ đâu để đọc một chồng hàng trăm trang giấy chi chít điều lệ. Khi anh không chịu trả tiền trong ba tháng, lập tức những điều lệ ấy cho phép Ngân Hàng niêm phong nhà và bán đấu giá. Số tiền anh “đao” cái nẫm, coi như mất. Khi anh vừa làm chủ ( nợ ) cái nhà chừng một tuần, thì ối thôi, cái điện thoại nhà anh réo liên hồi, đủ thứ công ty kêu tới mời anh dùng thẻ tín dụng của họ với mọi điều kiện dễ dàng. Mỗi ngày anh nhận hàng đống thư với những tên Ngân hàng lớn mời anh vay tiền để sữa nhà, mua xe mới v.v... Ngay bà xã tôi cũng là người có uy tín lớn đối với thị trường thương mãi, nhất là các công ty xe hơi. Chẳng là hồi mới đi làm, ngày nào cũng đón xe buýt. Ngày nắng còn đỡ. Gặp ngày mưa hay bão tuyết thì rất cơ cực. Vợ chồng bàn nhau, ăn mắm mút vòi, dành dụm bấy lâu được vài ngàn, đem ra “ điêu lơ” ( dealer = nơi bán xe hơi) “đao” xuống để “ thỉnh” về một chiếc xe thường thường bậc trung chừng mười lăm, hai chục ngàn đô. Bà vợ tôi đứng tên chủ xe, vay tiền Nhà băng, tiền lời 11%/năm. Còng lưng trả bốn năm mới dứt nợ. Từ ngày có xe mới đến nay hơn sáu năm qua, ngày nào bả cũng nhận được thư mời mua xe của các hãng xe danh tiếng. Còn tôi chớ hề đườc một ai nhắc đến cái tên Ổi Nhu Uyên được một lần. Chỉ vì khi tôi mua xe “ yêu ca” ( used car = xe đã dùng rồi) trả bằng tiền mặt ( cash = tiền tươi ) nên không có “ cờ rế địt” ( credit) tức uy tín. Mấy năm gần đây kinh tế Mỹ “đao”, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều lý do giải thích vì sao tình hình ngày càng tồi tệ, lý do nào cũng rất “lô gíc”. Ban cố vấn kinh tế Nhà Nước khuyên Ngân Hàng hạ thấp lãi suất để khuyến khích người dân tiêu dùng nhiều hơn. Nhưng lãi suất lần lượt hạ bao nhiêu lần từ bảy chấm xuống còn một chấm rưỡi mà kinh tế vẫn cứ ì ạch không ngóc đầu lên nổi như lão già sáu mươi yếu sinh lý là cớ làm sao ? Cái vấn nạn này , các nhà kinh tế học Mỹ dù đọc bảy chục ngàn cuốn sách, đậu mười tám cái bằng thạc sĩ kinh tế, cũng không nghĩ ra nổi. Chỉ có người Á Châu nói chung và người An Nam ta và Tàu Chệt nói riêng mới biết được mà thôi. Biết mà dại gì nói ra. ( Nói ra thì xấu thiếp, hổ chàng ! ) Đó là cái tính hà tiện. Keo kiệt mới đúng. Nó di truyền từ đời ông cao tằng, cố tổ, trước cả ông Bành tổ cũng nên ! Trong số hơn hai trăm triệu dân Mỹ hiện nay, còn có được mấy chục phần trăm dân “Ăng gờ lô Xéc Xông” ( Anglo Xaxon = di dân đầu tiên) chính cống ? Dân này mới thực sự là dân tiêu dùng hoang phí và luôn hưởng thụ bất cần ngày mai sẽ “hôm lẹt” ( homeless = không nhà). Còn dân Á Châu, nhất là Tàu và An Nam ta ngày càng đông, bang nào cũng có mặt, mà thành phần mua sắm và tiêu dùng thì chỉ có mấy ngoe, còn bao nhiêu thì cứ “ thắt lưng, bó ống”. Làm được bao nhiêu cứ dắt lưng kè kè. Thấy nhà nào để bảng rao bán hôm trước, hôm sau có người mua liền. Chém chết, không Việt Nam thì Tàu. Thứ ba mới tới Chà Và Ấn Độ. Ba sắc dân này rất... rất ít khi đổ xô nhau đi mua sắm lắm. Chỉ chực chờ đi lượm những đồ của dân bản xứ xài xong vất ra đường. Hoặc chờ thứ bảy, chủ nhật đi tới mấy “da xeo” ( yard sale) để mua rẽ. Thứ nào cũng một đồng, hay vài đồng là cùng. Nói tới “da xeo”, tưởng cũng nên nói thêm về cái “chợ đặc trưng” này một tị để anh chị biết mà nhếch mép cười một cái cho vui đời. Cái thói ham của mới và rẽ thì ai cũng có. Nhưng riêng với mấy anh chị Hồng Mao mũi lõ thì càng biểu lộ rõ rệt. Xuân, Hạ,Thu, Đông bốn mùa, mỗi mùa ba tháng, tháng nào cũng có “ on xeo” tức đại hạ giá. Cứ thấy Ti Vi hay báo quãng cáo hạ giá từ 50% đến 80% các mặt hàng từ quần áo cho chí máy móc, thế là đổ xô nhau đi mua. Mua riết một hồi ngó lại đầy nhà, không còn chổ để, chổ trưng bày. Bèn gom hết những cái mua năm ngoái ( có thứ còn nguyên trong bao, trong hộp chưa dùng tới) đem ra bày ngoài sân cỏ trước nhà để bán tống, bán tháo, mỗi thứ vài ba đồng coi như vớt vát được đồng nào hay đồng nấy. Người đi xem, đi mua bu cũng đông. Mua xong, rồi cũng sẽ tới phiên mình bán “da xeo” hay vất đi trong một ngày nào đó. Đến chiều tối, không còn ai mua nữa, các thứ còn lại, được gom thành một đống ở lề đường, chờ xe rác tới hốt. Hoặc những anh Á Châu lò mò tới lượm. Trở lại chuyện kinh tế ngày càng xuống cũng là do một phần dân da vàng, mũi tẹt làm hại. Có những món buộc lòng phải mua như xe hơi, hay bàn ghế, giường nệm... thì phải xài năm, bảy năm mới chịu bỏ. Khi đã bỏ ra lề đường rồi thì chỉ có xe rác tới hốt chớ không ai thèm lượm. Nó đã tả tơi lắm rồi. Dân Mỹ, nhà giàu có, địa vị cao, không bao giờ mua xe hơi để đi làm. Họ chỉ thuê xe để đi. Chuyện khó tin quá ! Nhưng đó là điều thật hiển nhiên trên nước Mỹ. Dân nhà nghèo mới mua xe. Họ đi xe thuê, được nhiều điều lợi. Thứ nhất là xe luôn luôn đời mới. Không bị hư hỏng thình lình. Tiền thuê xe, hảng trả. Xe riêng của mình thì cất ở nhà, để dành đi “ vây cáy sân” ( vacation). Cuối năm hảng khai chi phí để được trừ thuế. Nhờ cái vòng lẩn quẩn này, nền kinh tế tiêu dùng, nói riêng, mới phát triễn mạnh. Từ ngày di dân Á Châu, Mỹ Châu tới ngày càng đông thì kinh tế Mỹ ngày càng lụn bại. Chẳng mấy chốc đạo quân thứ năm sẽ tràn ngập trên khắp đất nước Hoa Kỳ. Đạo quân thứ năm đó là nghèo đói, đặc sản của di dân Á Châu mang lại. Hai dân tộc anh hùng đại diện, phất cờ đi tiên phuông là Việt Nam và Tàu Chệt. Để dứt điểm cái mục “dây cà ra dây muống” này, xin kể anh chị nghe câu chuyện cà thẻ ( charge) của mấy ông bà An Nam ta làm điển hình. Có bà nọ xin được cái thẻ “ mát tơ” ( Master card) trị giá mươì nghìn đô. Bà ta tha hồ sắm vòng vàng, nữ trang đeo đầy người ( có lẽ về Việt Nam dợt le cho bà con lé mắt). Ngày tối tới sòng bài Casino, định dùng của Chùa xây thêm miễu, ai dè thua trắng tay. Không có tiền trả “ mí ni mum” ( minimum) tức phải trả ít nhất hàng tháng, bèn tới nhờ luật sư khai “ben rúp xi” (bankruptcy) tức khai phá sản.( Luật Mỹ có chương 7 bảo vệ người dân khi làm ăn thua lỗ có quyền khai phá sản. Khi đã phá sản tức các món nợ coi như huề. Khỏi trả. Nhiều người lợi dụng khai phá sản để giựt tiền Nhà băng. Theo thống kê,hàng năm có tới một trăm mấy chục ngàn vụ khai phá sản, riêng ở bang Cali.) Luật sư khuyên bà ta nên chấm dứt dùng thẻ ngay từ giờ phút này để được Tòa án xét thuận đơn xin khai phá sản. Bà ta nghe tới đó hốt hoảng kêu lên : - Ấy chết ! Xin luật sư cho em cà lần chót để em có tiền trả cho luật sư chớ ! TIẾNG VIỆT MẾN YÊU ! THÈM NGHE TIẾNG VIỆT ! Cuối năm 1991, chúng tôi đặt chân lên đất Mỹ, nơi chúng tôi cư ngụ đầu tiên, thành phố Randolph, hầu như không có người Việt Nam. Xung quanh thưa thớt nhà cửa, toàn là người bản xứ. Cái cảnh mùa Đông tuyết phủ trắng xóa khắp nơi sao mà thê lương ảm đạm. Mấy ngày đầu thấy cảnh đẹp còn ham nhìn. Chừng một tuần sau, ngồi trên lầu nhìn ra cửa kính, phong cảnh xung quanh lặng lẽ y như một bức tranh hai màu. Màu trắng của tuyết và màu xanh đen của thông. Thông chịu rét đứng sững sững, cao vút và nhọn hoắc chỉa trên bầu trời trắng đục. Nổi nhớ nhà càng lúc càng nung nấu trong lòng. Ngày xưa Kiều ở lầu Ngưng Bích còn nhìn được ra biển thấy buồm trắng nhấp nhô, nghe được tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá xung quanh lầu đở buồn. Bây giờ chúng tôi chỉ thấy một màu tuyết trắng và sự vắng lặng đến sợ hãi. Có chăng, thỉnh thoảng một con sóc nhỏ ở đâu lạc loài chạy vút qua, rồi leo thoăn thoắc trên cành thông, biến mất. Vợ tôi và mấy đứa nhỏ u sầu, ủ dột thật thảm não. Cả ngày nhốt mình trong phòng, quấn mấy lớp mền bông mới đủ ấm. Không ai nói với ai lời nào. Từ sáng đến tối. Khi đói lắm, mới cực chẳng đả,xuống bếp ăn quấy quá chút đỉnh gì đó rồi vội vã rút lên lầu co cụm. Ba tháng ròng rã như vậy. Nhớ lại thật là khủng khiếp. Trong nhà yên lặng như tờ. Ngoài đường yên lặng như tờ. Chỉ có tuyết và lạnh. Hai vợ chồng đứa em tôi, đứa làm ca sáng, đứa ca chiều, về đến nhà là chui vào phòng , ngủ li bì. Hết ngủ thì lại đi làm. Ở chung nhà ba tháng mà ngồi ăn, nói chuyện với nhau chưa được mươi lần. Ở trong hoàn cảnh cô đơn như vầy mới hiểu rõ được tâm trạng của người lạc trên hoang đảo hay người tù biệt giam, thèm nghe tiếng người biết bao, nhất là tiếng Việt thân thương của mình. Một hôm chủ nhật, vợ chồng chú em chở gia đình tôi đi phố Tàu ( Chinatown) để mua sắm thức ăn. Cũng là dịp để cho gia đình tôi “mở rộng tầm mắt”. Phố Tàu ở trung tâm thương mại nên nhà cửa san sát. Hai bên đường nhà lầu cao vút nên lòng đường như thu hẹp lại. Đi giữa đường có cảm giác ngộp thở. Đúng là phố Tàu. Cửa hàng nào cũng của người Tàu. Bảng hiệu chữ Tàu. Xí xô, xí xào tiếng Tàu. Tội nghiệp bà vợ tôi ngơ ngác giữa chợ Thái Bình ( siêu thị duy nhất có bảng hiệu tiếng Việt, nhưng hầu như nói toàn tiếng Tàu ) thấy ai tóc đen cũng cứ ngỡ là người Việt. Mấy lần hỏi chuyện làm quen, gặp toàn người Hoa, lắc đầu không hiểu. Tại chợ này người ta nói tiếng Tàu hay tiếng Anh với nhau. Về sau mới biết, cũng có người Việt, nhưng sợ bị lầm hay hố như vợ tôi, nên cứ nói tiếng Anh cho tiện việc sổ sách. Buồn rầu và chán chường. Ôi cái tiếng Việt dễ thương làm sao! Bây giờ thiếu vắng nó mấy tháng nay, nhớ nhung nó biết bao ! Tương tư nó biết là dường nào ! Sau ba tháng, chúng tôi thuê nhà riêng, dọn về ở Quincy, trong một khu lòng chão, có tám cái biu đinh vây tròn, tên gọi là Bersani Circle. Ở đó, người thuê đa số là Tàu, Xì ( Spanish) và Việt Nam. Chiều chiều, trẻ con tụ tập trước sân chơi banh với nhau. Chúng nói bốn thứ tiếng. Anh, Tàu, Xì và Việt. Nghe cũng ngộ nghĩnh và vui tai. Lòng kẻ tha hương dần dần ấm lại. Trong đời lưu vong, những lớp già như chúng tôi được gọi là thế hệ thứ nhất. Đời con tôi là thế hệ thứ hai. Đời cháu là thứ ba... Thế hệ thứ nhất còn lưu luyến tiếng Việt. Thế hệ thứ hai đã bắt đầu pha vài chữ tiếng Anh trong câu nói thường ngày. Nghe như nhai cơm nhằm phải sạn. Đến đời thứ ba đã hoàn toàn bị đồng hóa. Chúng nói lưu loát tiếng Anh như người Mỹ. Còn tiếng Việt thì ngắt ngứ, rặn từng chữ như người cà lăm mà vẫn không ra câu kéo gì! Ôi một ngàn năm bị Tàu đô hộ, một trăm năm bị Tây đô hộ mà ta vẫn giữ được tiếng nước nhà. Thế mà mới có mấy năm ( không phải mấy chục năm) nhiều gia đình đã bị Mỹ đồng hoá hoàn toàn. Cha mẹ con cái cùng nói tiếng Anh thoải mái. Khi nói chuyện với người Việt khác, cực chẳng đã phải dùng tiếng Việt, thì thỉnh thoảng phải vỗ vỗ vào trán vài cái để nhớ lại “cái nắp chai” tiếng Việt gọi là gì, “cái ly” uống nước nói ra sao... Cái điệu bộ vờ vịt trông kệch cỡm làm sao ! Đã vậy còn chưa biết xấu hổ ! Lại đưa lên cả video phỏng vấn, phỏng viếc trong các chương trình ca nhạc, cho các ca sĩ, người mẫu nói ngọng làm trò hề. Coi mà lộn mữa ! Những tiếng kêu cứu hãy giữ gìn tiếng Việt trong các cộng đồng như rơi vào hư không. Người ta sợ con mình không nói được tiếng Anh để dễ hòa nhập và thăng tiến trong tương lại., nên ai hô hào mặc ai, con mình phải nói giỏi tiếng Anh trước đã. Tiếng Việt là vốn rồi lo gì ! Lâu lâu, vài gia đình họp nhau vui chơi. Người lớn ngồi ngắm bầy trẻ đùa giỡn với nhau, chúng trao đổi cùng nhau hoàn toàn bằng tiếng Mỹ. Có kẻ buồn rầu ngữa mặt lên trời mà than rằng : Cao xanh thăm thẳm từng trên, Vì ai gây dựng cho nên nổi nầy ? BÈO NƯỚC GẶP NHAU, BỐN BIỂN LÀ NHÀ Về khu Bersani, dần dà gia đình tôi quen được vài gia đình khác cũng trôi dạt về đây. Anh em đa số là người miền Nam. Cũng có người ở miền Trung như Phan Thiết, Phan Rang. Nhưng không có ai ở Nha trang để cùng nhau nhắc nhở kỷ niệm làng xưa, xóm cũ. Nam, Trung, Bắc gì rồi cũng đều mang tâm trạng của kẻ tha hương nên rất dễ gần nhau mà sinh ra tình đồng lân. Mỗi buổi chiều khoảng bốn giờ, mọi người lục tục đi làm về, cởi trần, tụ trước sân nhà tôi, ngồi dưới bóng mát hàng dương đổ xuống, nhâm nhi lon bia tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Chuyện thường đem ra kể nhất vẫn là chuyện gian truân, nguy hiểm lúc vượt biển bằng những chiếc thuyền mõng manh, gặp bão tố, ghe hư máy, gặp hải tặc Thái Lan v.v... Rồi đến những ngày tháng dài đăng đẳng trong các trại trên đảo chờ thanh lọc trong sự mõi mòn, vô vọng... Chỉ có mỗi mình tôi lạc lõng diện H.O, ai cũng cho là sướng như tiên, vượt biên có giấy phép, đi bằng máy bay nên chuyện tôi không có gì đáng để kể. Nhờ đó mà tôi được ngồi nghe và biết thêm bao điều gay cấn, nguy hiểm lạ lùng của mỗi trường hợp, của mỗi gia đình. Vượt biên những năm bảy bảy, bảy tám cho đến tám mươi dưới muôn hình thức. Thiên hình vạn trạng, được kể lại từ đó đến nay hơn mười mấy năm mà vẫn chưa hết chuyện. Thật ly kỳ rùng rợn. Chưa có một cuốn tiểu thuyết nào viết ra cho hết những nổi thống khổ của người vượt biển vì hai chữ tự do mà hy sinh mạng sống ra đi. Nhóm chúng tôi quen nhau từ đó, dù không có lễ vườn Đào kết nghĩa, nhưng tình anh em gắn bó còn hơn ruột rà. Một số người đã đi bang khác làm ăn, có người lập gia đình ở xa một chút. Nhưng mỗi lần có dịp như sinh nhật, Christmas, hay Tết ta anh em vẫn đông đủ họp mặt chén rượu, ly trà, bù khú bao chuyện trên trời, dưới đất, không dứt những trận cười giòn giã. Buổi họp mặt nào rồi cũng kết thúc bằng những cái hy vọng chứa chan là sang năm tôi sẽ về, anh sẽ về... Có người đã từng hy vọng hơn hai mươi năm rồi,vẫn chưa một lần về được quê nhà. THA HƯƠNG NGỘ CỐ NHÂN Đang lạc loài trên đất khách quê người, bỗng gặp lại người quen, thật không nổi vui mừng sung sướng nào bằng ! Một hôm chúng tôi tình cờ vào một cửa hàng có tên là NhaTrang Gift Shop mua một ít dầu xanh Con Ó để gửi về gia đình trong dịp Tết sắp đến. Nghe bà chủ tiệm nói giọng Nha trang, bèn hỏi chuyện làm quen. Bà chủ cũng vui mừng ra mặt khi tôi nói tôi là dân Nha trang. Câu chuyện đậm đà đi dần tới Ninh Hòa, Hòn Khói, hóa ra bà chủ tiệm lại bà con họ hàng với tôi, dây mơ rễ má từ đời ông nội tôi ở xứ Bình Tây Phú Thọ. Bà nhắc đến những người đồng thời và hỏi tôi có biết không. Tôi nói đó là những bác Ba,bác Năm,bác Bảy của tôi, con ông Bảy Thọ,ỉ xã trưởng Bình Tây năm xưa. Bà cầm lấy tay tôi rưng rưng nước mắt, giọng nghẹn ngào. Tôi cũng mũi lòng cảm động với cảnh ngộ tha phương gặp người thân quen. Bà cũng hỏi chuyện vợ tôi. Nói qua lại một hồi, hóa ra cũng quen nữa. Hai đứa con của chi lại là học trò của em bà xã tôi. Thế là tình thêm thân. Từ đó, thỉnh thoảng có dịp, chúng tôi lại ghé tiệm thăm chị. Chúng tôi mua món gì chị cũng bớt giá. Có lần chị nhờ tôi gửi tặng mấy Bác tôi mỗi người ít tiền làm quà. Dần dần tôi cũng gặp được một hai người bạn cũ, thuở còn trung học. Nhưng bây giờ họ thay đổi theo lối sống Mỹ nhanh quá, tôi theo không kịp, nên đành thụt lui ra sau, bỏ cuộc giao du. NƯỚC NON NGÀN DẬM Mỗi lần nghe bài hát “ Nước non ngàn dặm” của nhạc sĩ Phạm Duy là tôi liên tưởng ngay tới cảnh ngàn trùng , núi non cách trở diệu vợi khi đưa tiễn công chúa Huyền Trân về với xứ Chàm. Ở Mỹ, tuy cùng trên một dãi đất, mà bang nọ cách bang kia cũng ngàn trùng diệu vợi. Nhìn trên bản đồ, từ chổ tôi ở, miền Đông Bắc Hoa Kỳ, kéo thẳng một đường chim bay cho tới miền Nam Cali, đo cũng mấy ngàn dậm đường.( Boston => Los Angeles Cali = 3017 mile= 4855km) Thế mà, vù một cái, chừng hơn mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay, chúng tôi đã được mấy ông bạn nối khố, chở ra khu Phước Lộc Thọ ở Bolsa, nơi mệnh danh là Tiểu Sài Gòn ngồi uống cà phê, ngắm đồng hương qua lại tấp nập mua bán. Tại đây hoàn toàn nói tiếng Việt Nam. Cảnh sinh hoạt y chang như Sài Gòn năm xưa. Chỉ khác một điều là ai nấy đều ăn mặc bảnh choẹ, dáng điệu ung dung nhàn nhã, không tất bật như người bản xứ. Trước khu chợ, mấy ông bạn già vẫn ngồi trầm ngâm với nhau trước bàn cờ tướng để suy nghĩ nước cờ. Hình như thế sự bỏ mặc ngoài tai. Miếng cơm manh áo hèn mọn không còn làm vướng bận tâm trí nữa. Tôi ngồi ngắm chung quanh thấy chợ Phước Lộc Thọ hình như được vẽ theo kiểu chợ Tax và Eden Sài Gòn xưa kết hợp lại. Bỗng nhiên lòng bồi hồi cảm xúc với cảnh với tình. Ngồi đây với bạn bè mà cứ tưởng ngồi phố Lê Lợi Sài Gòn. Tôi ở chơi Cali một tuần. Một tuần lễ tưng bừng không khí vui nhộn thời trai trẻ.Mấy ông bạn ( nay đã trên sáu mươi cả ) dành nhau, thay phiên “ cõng” tôi về nhà một ngày để chiêu đãi. Mấy ông khác bu lại. Rượu vào, lời ra. Kỷ niệm từ bốn mươi, năm mươi năm trước được nhắc lại, cùng nhau cười ngất nga, ngất ngưỡng như hồi mới mười lăm, mười bảy. Qua năm sau, tôi vù qua Texas, lại “ cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Nhìn lại nhau, đầu ai nấy đều đã bạc. Con cháu đầy đàn. May mắn thay! Ai cũng thành công trên đất lạ quê người. Tiền tài danh vọng đều có cả. Chỉ thiếu tình quê hương. Bài hát thời thơ ấu : “ Cái nhà là nhà của ta! Công khó ông cha lập ra. Cháu con phải gìn giữ lấy. Muôn năm vẫn nước non nhà!” Vẫn còn nghe văng vẳng bên tai. Chúng ta đã có tội lớn, không bảo vệ được nhà, nay đành phải bỏ quê hương mà chạy giữ lấy thân. Biết ngày nào mới trở lại được chốn xưa ? ... “ Nước non ngàn dậm... ra đi ! Nước non ngàn dậm ... ra đi ! Nghe sao vẫn thấy buồn buồn. ... ĐÃ BIẾT SỢ TUYẾT ! ! ! Đang nhớ chuyện bay mấy ngàn dậm đi thăm bạn ở tận Cali, Texas thì Ti vi thông báo sắp có bão tuyết. Cả miền Đông Bắc nước Mỹ,hoảng hốt đổ xô đi mua thực phẩm, cả nước lã cũng mua dự trữ, sợ rằng cúp điện sẽ không có nước dùng, hoặc nước máy sẽ bị nhiễm khuẩn trùng than. An Nam Mít mình đã chịu đựng cảnh chiến tranh, chết chóc hằng ba mươi năm, súng đạn rơi xuống đầu nhiều bằng cát biển. Sau năm bảy lăm liều chết, bỏ của chạy lấy người, đi tị nạn khắp năm châu thì đã quá quen thuộc và chai lỳ trước ba cái lẻ tẻ này nên cứ tỉnh bơ như con ruồi xanh “nhà bàn”. Nhà nào có bắt chước Mỹ lo xa, cũng chỉ tới chợ xách bao gạo với chai nước mắm “Made in ThaiLan” là cùng, chứ không chất một xe đầy nhóc đồ hộp như mấy anh chị Mỹ trắng, Mỹ đen. ( Thế mới thấy cái mạng của người ta nó quí trọng biết nhường nào. Ngẫm lại cái mạng dân mình nhỏ còn hơn con sâu, cái kiến) Cũng may là xứ Mỹ đồ ăn thức uống luôn luôn dư thừa nên không bao giờ có chuyện đầu cơ tích trữ để tăng giá, bắt chẹt người tiêu thụ. Mà dễ dầu gì bắt chẹt được người tiệu thụ! Giá cả ngày hôm qua đã đăng báo, hôm nay thình lình thay đổi là có hàng ngàn cú điện thoại của khách hàng gọi tới văn phòng “Bảo vệ người tiêu dùng”. Lập tức sẽ có ngay đội thanh tra kinh tế của thành phố đến lập biên bản. Và dĩ nhiên cái siêu thị nào bị dính chấu, ngày mai sẽ được phơi chình ình lên mặt báo, chỉ còn nước dẹp tiệm. Không kể bị phạt vạ cũng gần mức sập tiệm. Hồi mới qua, gặp ngay ngày gần Giáng Sinh, thấy cảnh tuyết rơi, đẹp như trong truyện thần tiên. Ngắm tuyết rơi mà mê mẫn cả người. Cứ tự hỏi : - Trên đời này làm sao lại có một đất nước đẹp đẽ như vậy ? Đến chừng phải ra đường để đi học, mới biết cái cơ khổ của cảnh dầm tuyết. Và mới thấm thía với câu thơ trong Chinh phụ ngâm : Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da. Cái đói đốt ruột gan như thế nào thì mấy năm ở trại Cải Tạo Cọng Sản đã nếm rồi. Tưởng cũng tởn tới già bốn chữ “Học tập Cải Tạo”. Bên ta, mỗi độ đông về trời se se lạnh, là các cậu ấm, cô chiêu giả vờ xuýt xoa, co ro trong cái lạnh để có dịp phô trương những chiếc áo len đủ màu, đủ kiểu đắt tiền, nằm ụ trong tủ áo cả năm. Nhưng những loại áo ấm đó nếu mang sang đây thì chỉ là đồ bỏ. Chúng chỉ là những cái áo cánh mặc cho mát vào mùa hè mà thôi. Cái lạnh ở đây nó kỳ lạ. Nắng cứ việc nắng. Lạnh cứ việc lạnh. Nắng không tỏa chút năng lượng nào làm cho bớt lạnh hay tuyết tan. Những cơn gió lạnh kéo lê thê theo dọc vĩa hè làm cho người đứng đợi xe bus thâm môi, tím mặt. Lỗ mũi và hai lỗ tai cứng lại, có cảm tưởng bẻ gãy được. Nó vừa tê dại vừa đau nhức như bị kim châm, như bị kiến cắn, như bị lửa nung... Khi leo lên được xe bus, thân thể được sưởi ấm dần dần mềm ra, nước mắt nước mũi mới bắt đầu chảy giọt. Cái khổ nạn thứ hai là phải xúc tuyết trước nhà để có lối đi và đem xe ra đường. Mấy năm trước sức khoẻ còn tương đối, tôi khả dĩ còn xúc được đường hầm Củ Chi để vừa đủ lọt người đi và chiếc xe có lể lùi ra, tiến vào chổ để xe ( driveway). Kể từ ngày xoi tim đến nay, sức khỏe yếu hẵn, tôi phải mua một máy “ thổi tuyết” để xúc tuyết. Vậy mà vẫn thở hồng hộc, muốn hụt hơi, khi xúc xong hai đoạn ngắn cho đủ đi. Tuyết mới rơi còn xốp, xúc liền thì còn đở khổ. Nếu tiếp liền sau đó là trận mưa thì ối thôi, nó thành băng hết, cứng và nặng như đá tảng, không cách gì xúc được. Phải dùng rìu hoặc “ cúp” mà chặt ra từng mãng nhỏ. Hai bên lề đường, xe ủi cứ ủi tuyết tắp vào, càng lúc càng cao nghệu. Lớp này chồng lớp kia, mỗi lúc mỗi dầy. Trông như những ngọn đồi dài chập chùng. Khi trời tiếp tục lạnh dưới không độ, mặt đường biến thành nước đá trơn trợt, tai nạn xe xãy ra liên tục, bởi không điều khiển được tay lái. Người đi bộ cũng té bật ngữa, bật nghiêng, chõng gọng. Lúc trời ấm lại, tuyết bắt đầu nhão ra, tan thành nước, trộn với cát và muối rãi đường thành một hợp chất dơ bẩn sền sệt như đá bào. Chỉ có nước mang ủng chớ không có giày nào chịu nổi. Cứ mỗi năm mùa đông về, tôi lại ngán ngẫm nhìn trời và lòng hứa lòng : Rồi đây ta phải giả từ nơi thân yêu này mà trở lại quê nhà để sống những ngày ấm áp cho khỏe thân già. Nếu người ở quê hương không chấp nhận thì ta phải về Florida, ở đó có khí hậu và phong cảnh y hệt Việt Nam, sống thảnh thơi những chuỗi ngày xế bóng. Mười ba năm, một thời gian đủ để biết sợ tuyết. CNXH = Chủ nghĩa xếp hàng. CNXH không phải là Chủ Nghĩa Xã Hội bên ta. Mà nó chỉ là sự trùng hợp bốn chữ viết tắt: chủ nghĩa xếp hàng của Mỹ. Nhân nói chuyện đổ xô nhau đi mua thực phẩm lại nhớ đến chuyện xếp hàng. Xếp hàng hình như là một trong những môn học được Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ đưa vào học đường rất sớm. Nó bắt đầu từ ở Vườn Trẻ lận. Đi đâu cũng thấy xếp hàng. Từ một cái tiệm nhỏ tạp hóa trong khu dân cư bán vật dụng linh tinh trong xóm, người đến mua cũng tự động xếp hàng chờ đến phiên trả tiền. Cho chí đến những siêu thị to lớn, những rạp hát, rạp xi nê, tiệm ăn, hội chơ v.v... mọi người đều tự động xếp hàng chờ đến lượt mình. Tất cả trong tình trạng trật tự và yên lặng. Tuyệt đối không có “phe vé” hoặc “ cò vé”. Từ trẻ con đến người lớn, ai ai cũng như nhau. Đều xếp hàng. Không có cái chuyện lấy cục đá hay cục gạch xí chổ một cách “thông minh” như ở ta. Và nhất là không có những cái thư, những tờ giấy của “ảnh” hay của “chỉ” ở “trên” gửi gắm được ưu tiên. Tuy xếp hàng nhưng không phải cả ngày như ta. Muốn mua một lạng thịt ba chỉ phải thức dậy từ ba giờ sáng. Xếp hàng cho đến mười hai giờ trưa có khi mua được, có khi tới phiên thì hết thịt. Siêu thị luôn luôn tràn ngập thực phẩm và vật dụng. Nếu thình lình hết, khách sẽ nhận được cái giấy hẹn gọi là “ren séc” ( rain check) hôm sau lại mua, vẫn giá cũ. Rạp hát, xi nê rộng thênh thang khỏi lo không còn chổ. Tiệm ăn thường thường có từ ba trăm đến năm trăm chổ ngồi cứ từ từ ngồi ăn không lo không có bàn. Thấy người mà ngẫm đến ta. Biết bao giờ dân tộc mình mới học được cái bình đẵng trong xã hội. Quan chức chỉ ở nơi làm việc. Khi ra chổ công cộng thì Tổng Thống cũng như người dân thường đều như nhau, nghĩa là phải xếp hàng. Ai đến trước, đứng trước. Tổng Thống, Đại Tướng đến sau, xếp sau. Cái dễ nhất là xếp hàng mà cũng không học được, làm được thì nói huyênh hoang chi chuyện đội đá vá trời ! Không có cái dại nào giống cái dại nào ! Mỗi lần than thở cho thân phận hẩm hiu, ta thường chép miệng : - Thiệt là khổ như con chó ! Nhưng ở Mỹ than như thế là trật chìa. Không khéo còn bị kiện ra tòa vì tội vu khống loài vật. Phải dè chừng cái “Hội bảo vệ súc vật”. Dân Mỹ quí súc vật, nói chung, và chó mèo, nói riêng, còn hơn cha mẹ. Cha mẹ già họ tống vào nhà Dưỡng Lão cho người khác lo. Còn nhà thì dành cho chó mèo ở. Chó mèo ăn ngủ chung giường và đi chung xe với họ. Hai con vật này họ không liệt vào hạng súc vật là “animal” mà họ gọi là “Pet” tức là“ cưng” . Hai con vật này được cưng chìu quá mức đến nổi mình phải đâm ra thèm muốn được như nó. Từ việc ăn uống, ỉa đái cho chí khám bệnh hàng tháng, hàng năm đều rất tốn kém. Chưa nói đến việc làm đẹp như xén lông, uốn, ép, sấy, gội như người. Tiền chi trả đắt gấp ba lần làm đẹp cho chủ nó. Mỗi lần chó, mèo bị lạc hoặc chết, họ khóc như ... chó chết. ( Không phải như cha chết như ta thường nói) Cha mẹ chết không thấy họ khóc, mà lại thấy họ mặc quần áo đẹp hơn ngày thường để đưa tang. Tôi đã bị bé cái nhầm nhiều lần về chuyện này. Thấy anh bạn, bỗng một hôm chải chuốt rất đỏm đáng, vét tông, cà vạt đường hoàng, bèn toét miệng ra cười, chào xã giao : - Chà ! Anh bạn bữa nay có “ Party” đi với bạn gái sao mà bô trai thế ? - Đâu có! Ba tôi mới chết hôm qua! Bửa nay đưa tang ! - ! ! ! Ngoài chuyện chăm sóc thuốc men, ăn uống ra, mỗi ngày chủ nó phải bỏ ra vài tiếng đồng hồ dẫn chó đi dạo để “ éc xẹc xai” tiêu bớt mỡ khỏi mập và đi ỉa đồng. Nhà quê mình có câu : Nhứt quận công, nhì ỉa đồng. Ở Mỹ, chó cũng phải có cái thú ỉa đồng. Anh hãy tưởng tượng ra cảnh người đẹp tóc vàng, dáng đẹp và quí phái như tài tử xi nê, tay phải dắt chó, tay trái cầm bị nylon đầy cứt chó mà “Cưng” vừa mới ị ra đồng. Thật chẳng ra làm sao cả. Ấy vậy mà là sự thường. Bà nào, cô nào dắt chó ra đường đi dạo, trên tay đều thủ sẵn bao nylon để hốt của quí rồi tìm thùng rác dọc đường bỏ vào. Nhưng cái mà tôi cho là dại nhất trên cõi đời đầy dẫy cái dại này là nửa đêm khuya lơ, khuya lắc, trời lạnh dưới năm bảy độ âm còn phải co ro dắt chó đi ỉa. Mà cái con chó quỉ này, ai có nuôi chó mới biết, nó không chịu làm cái chuyện vệ sinh bất cứ nơi đâu như loài người, mà phải có một chổ nhất định của nó. Cái chổ nào mà cái mũi nó khịt khịt đánh hơi thấy ưng ý lần đầu thì nó mới chịu hạ hai chân xuống, xìa cái bàn tọa ra mà “làm việc”. Từ đó về sau, mỗi ngày hay mỗi đêm, cứ nhất định đến chổ đó mà làm. Dù chủ nó có dẫn đi đến chổ “ cao sang quyền quí” hơn đi nữa nó cũng nhất định chê. Bên cạnh nhà tôi có bà Mỹ già, đêm nào cũng lụm cụm dẫn chó đi xa nhà hơn cả trăm thước cho “ cưng” nó “ làm việc”. Mỗi lần như thế bà vợ tôi lại chép miệng : - Thiệt là không có cái dại nào giống cái dại nào ! Chó mèo còn có cả phòng mạch tư nhân khám bệnh riêng. Không kể những gian hàng cung cấp thực phẩm đóng hộp đủ loại và những thiết bị lỉnh kỉnh khác như dây xích, rọ mõm, áo quần mùa đông và loại cát đặt biệt để các “ o mèo” ị trong nhà. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần, ở cái xứ mà chó mèo còn sướng gấp bội phần con người. Chó mèo không cần phải bươi rác hằng ngày để kiếm miếng ăn. Trái lại ở quê mình, hàng đàn đông như một đạo quân từ trẻ con đến người già, ngày đêm chúi mặt xuống bãi rác để tranh sống. Nhưng đó chỉ là một khía cạnh của bức tranh vân cẩu của xã hội ta đang tiến lên mà thôi. Đọc báo quốc nội, cũng thấy đăng tin nhiều người giàu sang, cho con du học nước ngoài, nhập về cái văn minh trưởng giả nuôi chó và dắt chó đi dạo sáng chiều. Còn có đám tang chó được tổ chức linh đình ,người đi đưa rình rang lên đến cả vài trăm người. Đám ma dài dằng dặc diễu qua pho,á long trọng y như đám táng một cán bộ cao cấp vừa mới hy sinh cho đất nước. Không thấy báo nói người thân có khóc như cha chết hay không. Đó mới thực sự độc quyền dại. Không cho ai dại với. Nhìn hai mặt của xã hội như vậy mới thấy hết cái hay và cái dở của tư bản xanh và tư bản đỏ. KHỦNG HOẢNG TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN Câu ca dao “ Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Chừng nào hết cỏ mới ra đồng ngoài” xem ra không hợp thời, hợp cảnh ở đây. Người Việt tị nạn ngày càng đông nhưng không sống quần tụ như ở quê nhà. Họ ở rãi rác khắp nơi. Chổ nào dễ kiếm công ăn việc làm là họ “ mu” ( move= di chuyển) tới đó. Dù có ở chung một thành phố đi nữa, nhà nọ cũng cách nhà kia năm, bảy “ mai” ( 1mile= 1.609km), do đó không có sự giao tiếp hằng ngày. Cộng với công việc làm tréo “ca” với nhau cũng ít có cơ hội để gặp gỡ nhau. Trong tình cảnh đó những anh, những chị sồn sồn chưa có gia đình ngày càng “quắn khói” trong chuyện tình ái và hôn nhân. Làm sao mà có được cảnh “ Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”. Bởi vậy mới có cảnh Việt Kiều về xứ lấy vợ chớp nhoáng trong một tháng. Có nhiều cặp đến nay vẫn còn mặn nồng duyên “ tiền” định. Nhưng cũng không hiếm nhiều đôi uyên ương đã song ca bản “ Đôi ngã chia ly”. Cớ làm sao vậy ? Thật ra cũng là điều dễ hiểu ! Chàng đã tứ tuần hoặc hơn chút đỉnh, nhưng nhờ “ bơ thừa,sữa cặn và đồng đô la xanh của đế quốc” nên trông còn bảnh trai chán như cụ Nguyễn Du đã tả : Một chàng trạc độ tứ tuần. Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Chàng đã sống cu ky, chưa kịp lấy vợ hay vợ vừa chết hoặc vợ vừa “ bái bai” với chàng. Chàng đang “ mót” vợ. Ở cái xứ Mỹ này dễ gì kiếm được cô vợ hay mụ vợ. Nó đòi hỏi nhiều thứ nhiêu khê lắm. Nhất là anh phải có “ giốp” thơm cở sáu chục ngàn đô một năm trở lên cọng với một căn nhà và chiếc xe loại “ xịn” và tài khoản tiết kiệm trong Nhà băng kha khá một chút cở vài chục đến một trăm ngàn đô thì nàng mơí “ say yes”. Nhưng cũng hồi hộp lắm nếu chưa “ tìm hiểu “ nhau cho kỹ. Nhiều chị chàng “ ma nớp”, sau khi điều nghiên thấy con nai có đầy đủ tiêu chuẩn trên liền nói : - Vâng ạ! Em xin theo chàng về dinh ! Thế là chàng mừng quýnh, lập tức khớp con ngựa ô là khớp con ngựa ô, đưa nàng về lâu đài tình ái. Ba tháng sau nàng đâm đơn đòi li dị với lý do đơn giản rất “ dị òm” đối với phong tục ta, mà lại rất ăn tiền ở cái xứ “ vật chất chủ nghĩa” này là chàng “ không làm cho nàng hạnh phúc trong chăn gối”. Mấy cái vụ này Toà án Mỹ ô kê cái rụp cho phía “ lé đi”. Thế là nàng chỉ chịu thiệt ( ? ) có ba tháng, chín mươi ngày được là bao, nhằm nhò gì cái của không vốn, được Toà phán chia một nửa gia tài của chàng sẵn có. Nàng ôm tiền, cười mím chi con cọp, ra đi phơ phới. Không cần phải tả lại dài dòng cái khuôn mặt chàng méo xẹo lở khóc lở cười ở đây làm chi. Ai cũng hình dung ra nó như thế nào rồi. Thôi thì còn nước còn tát, chàng vù về Việt Nam lấy vợ quê cho chắc ăn. Chắc là chắc rồi đó. Chắc như bắp mà! Nhưng cũng có khi “ chắc chết” hoặc “chết chắc” không chừng! Không ở đâu cưới vợ nhanh và rẽ cho bằng ở Việt Nam. Đó là lời đồn và có đăng báo đàng hoàng. Có cả một lô, một lốc công ty trong nước chuyên giới thiệu hôn nhân cho người nước ngoài. Chuyện gái quê Việt Nam lấy chồng Tàu, Đài Loan, Xinh Ga po... đã xãy ra bao thảm trạng, báo chí trong và ngoài nước đã đăng tốn nhiều giấy mực rồi, khỏi phải viết thêm cho mất thì giờ. Chỉ nói riêng Việt Kiều với Việt Cọng không thôi, cho nó đề huề cái nghĩa hoà hợp, hòa giải dân tộc. Nói cho nó thấm đậm tình nghĩa là mang “khúc ruột dư ngàn dậm” về “ lấp đầy cái lỗ trống của em”. (Theo cách nói kiểu 1957 ở ngoài Bắc, cấm nói chữ Hán Việt, cái câu : “Chúng em còn nhiều khuyết điểm, xin các anh bổ túc cho” nói nôm na ra thành “ chúng em còn nhiều lỗ trống, xin các anh lấp đầy cho”.) Chừng một cho tới hai ngàn đô là anh chàng “Việt Kiều” có thể “ bợ nhẹ” một em Việt Cọng “ U hai mươi” mơn mỡn đào tơ, cam đoan còn nguyên xi “ nước vỏ lựu máu mào gà”. Nhưng không hề gì ba cái lẻ tẻ. Ở Mỹ không có “ ke” ba cái vụ đó. Làm sao mà có đồ tươi mà giá lại hời như thế ? Ấy chẳng qua là cả nước ai nấy đều muốn xuất ngoại nhất là qua Mỹ bằng con đường hợp pháp mà không tốn kém đồng xu cắc bạc nào. Bỗng dưng có anh khờ Việt Kiều mang đầu về nộp mạng, nguyện làm cầu Ô Thuớc cho em bước qua... Mỹ, thì ngu gì không vớ ngay cơ hội để đi. - Đi cái đã! Sang đó hạ hồi phân giải ! Em nào khi bước lên xe hoa cũng thầm lẩm bẩm câu thần chú đó để chuẩn bị ca bài : “ Liệu đường cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi.” Nếu sang được Mỹ rồi, thấy tờ kiểm điểm bản thân anh đúng sự thật đã khai gồm: nhà cửa cao sang, “ giốp” ngon lành, tiền Nhà băng đầy ụ thì thôi, còn bằng anh đang thất nghiệp, ở phòng “ se” (share), đi chiếc xe thổ tả, tiền Nhà băng chuột tha mất tiêu hết, thì nàng bắt đầu ca bài “ Tôi đã lầm theo anh sang đây” và cái giấy li dị treo lửng lơ trước cửa chờ ngày chàng “ xách xe không mà chạy”. Đó phận thiếp. Còn phần chàng thì sao ? Không lẽ chàng không biết cái chuyện “ thần cơ diệu toán” ấy sao ? Không lẽ chàng chịu “ lép một bề” hay sao ? Không đâu, ở đời, bốn mươi chín thì gặp năm mươi, mạt cưa thì gặp mướp đắng. Trước khi chàng mang đầu máu về nguyện “ khớp con ngựa ô để đưa nàng về dinh” thì chàng cũng đã có một ban cố vấn hôn nhân, đưa ra “ lộ đồ” giống như Lầu Năm góc đưa ra “ râu mép” (road map) cho Ít Ra En và Pa Lét Tin ( Israel- Palestin) vậy. Chàng cứ theo từng bước mà tiến lên vững chắc. Chàng chỉ bỏ có mấy ngàn đô, bợ được một em U 20, thơm như múi mít, hoặc thơm như nước mắm nhĩ Phan Thiết, trong vòng một tháng du hí ở Việt Nam, dung dăng dung dẻ với em cho cả làng nước biết em đang có chồng Việt Kiều ngon lành, xài tiền đô như nước, thì chàng đã “ hái nụ tầm xuân” của em và chàng đã “ chơi cho liễu chán hoa chê, cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời” rồi. Đem cái “ can cu la to” ( calculator) ra mà cộng trừ nhân chia vẫn thấy còn lời chán. Chưa kể đem về Mỹ một thời gian ba năm cho hợp pháp thì cái chuyện “mưa Sở, mây Tần” còn lời nhiều, dù nàng có giơ bàn tay năm ngón thiên thần ra mà nói “ bái bai” chàng cũng “ hu ke” ( who care). Chàng lại thầm nhủ : - Ta lại về Việt Nam làm phùa khác ! Lại xài đồ mới ! ( Mấy năm gần đây dịch vụ hôn nhân ở Việt Nam càng phát triễn mạnh, giống cái đi cưới giống đực rất nhiều để vượt biên hợp pháp, nên những anh đực ở Mỹ vừa được tình lại vưà được tiền. Nghe nói mỗi vụ từ ba mươi ngàn đô xanh trở lên) Còn nàng vưà đúng ba năm hương lửa, chịu đựng anh chồng già để có cái “thẻ xanh” ( Green card) chứng nhận mình là “ thường trú nhân” (permanent resident) bỏ túi xong là ngâm bài “ Tẫu mã” : “Ba năm thiếp mãn tang chồng ! Đầu dơ thiếp (xin) gội, đôi vòng thiếp (xin) mang”. Xin chàng ở lại “ mạnh phẻ” ! Thiếp “ gút bai”! Con đường đi lên của nàng phơ phới. Tương lai trước mặt xán lạn. Nàng mới hai mươi mấy hơ hớ. Ba năm trước mới qua, còn quê mùa, lớ ngớ. Bây giờ nàng đã rành sáu câu. Tóc nhuộm vàng hoe, mắt, môi, cằm, má đều được chỉnh trang hoàn mỹ. Đẹp như pho tượng đúc ra từ mấy thẩm mỹ viện. Váy nàng cao quá nửa mông. Áo nàng cột hai tà trước bụng, biểu diễn cái lỗ rún sâu hoắm và làn da bụng trắng mướt thì chẳng mấy chốc mà câu được con cá mập. Còn anh chàng Việt Kiều nhà mình lại vù về Việt Nam dở lại mánh cũ. Nhưng không biết được bao nhiêu lần nữa. Tôi có biết một anh bạn đã làm chiêu này nhiều năm. Năm nào cũng về Việt Nam cưới vợ. Tính tới nay đã gần đủ mười ngón thiên thần. Nhưng bây giờ “ cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ “ nghĩa là vẫn sống đói rách thê thảm và vẫn cu ky, vợ con không có, chó mèo cũng không . Về phần các bà , các cô mới qua đây, người Việt rất hiếm hoi, nên “ càng treo vẽ ngọc, càng cao giá vàng”. Thiên hạ trả giá mấy cũng nhất định làm cao. Đâu ngờ thời gian nó đi nhanh quá. Vù một cái đã hơn mười năm qua. Nhìn lên, mấy khứa lão đeo đuổi mình năm xưa bây giờ đã “ đề huề lưng túi gió trăng, sau chưn theo một vài thằng con con” rồi. Nhìn xuống, mấy thằng nhóc mới lớn gọi bằng mình bằng chị, bằng thím, thiệt là ngán ngẫm cho cái sự đời. Chẳng lẽ lại bắt chước mấy thằng “ cà chớn” về Việt Nam kiếm chồng ? Ôi nó khổ thì thôi! Đành phải lấy mấy cái “ thẫm mỹ viện” và đi “ sóp ping” để làm thú vui cho qua thì giờ trống trãi. Dĩ nhiên, đêm đêm buồn quá, quí bà chỉ biết “ chổng mông mà gào”. Vậy còn cái đám trẻ gọi là thế hệ thứ hai thì sao ? Nếu muốn viết về cái thế hệ này chắc phải mất rất nhiều giấy mực và thì giờ. Chỉ xin được tóm tắt như sau : Bọn trẻ qua đây lúc mới năm, mười tuổi, đi học trường Mỹ, nói tiếng Mỹ, hoà nhập vào đời sống Mỹ, văn hóa Mỹ, phong tục tập quán Mỹ rất nhanh. Thậm chí cả cái cách đi nhún nhẫy, tay chân quơ quơ, quào quào của bọn Mỹ đen đi nghễu nghệnh ngoài đường như dã nhân, thêm cái “ mốt” ( style) quần áo lùng thùng lình thình, áo sơ mi không cài nút, lưng quần xệ xuống nửa mông, đáy quần gần chạm đất. Ra khỏi lớp học là tụ lại từng đám hút thuốc xả khói, mặt cứ vênh vênh lên trời ra vẽ ta đây. Đó là con trai. Con gái mới nức mắt đã thoa son, kẻ mắt, sơn móng tay, quần áo thì hở trước, hở sau rất khêu gợi,kích thích. Bọn chúng chừng mười lăm, mười bảy tuổi, cái tuổi dưới vị thành niên, cả trai lẫn gái kéo nhau đi từng bầy, từng lũ mỗi buổi tối, lang thang ngoài đường hút cần sa. Khi đã “phê” tới mây xanh thì chỉ có trời can. Bao cao su ngừa thai, ngừa bệnh được phát không ở các trạm xá và bán tự do trong các cửa hàng. Tha hồ mà xài. Nhà trường đã dạy cách dùng từ lớp sáu. Báo chí và truyền hình đều có mục giáo dục và hướng dẫn về “ sex” rấy kỹ càng, cặn kẻ. Dĩ nhiên chuyện tôi kể trên, chỉ là một khía cạnh chớ không phải đều trời như thế cả. Người Việt tị nạn qua đây chỉ còn biết trông cậy vào phước đức ông bà để lại, hòng giữ được cái truyền thống đạo đức của Ngài Khổng Khâu. Nền văn hóa đa dân tộc này không có “ ke” mấy cái vụ “ công dung ngôn hạnh” cổ lỗ sĩ và cái chuyện “ tứ đức tam tòng” lại càng khan hiếm. Chúng nó trên mười tám tuổi là dẫn nhau đi thuê nhà ở riêng. Cha mẹ nào dám cản. Cản là đụng đến quyền tự do cá nhân. Pháp luật luôn sẵn giương càng ra bảo vệ tự do cá nhân. Cũng có vài ông cha, bà mẹ thấy con gái mình áo mặc qua khỏi đầu ( loại T Shirt) cặp trai đi ở riêng, bèn nổi cơn điên, xáng cho mấy bạt tai. Đứa con gái yêu quí ( hay yêu quỉ ) chụp điện thoại, kêu số 911. Mấy phút sau xe cảnh sát hú còi chạy tới. Hai ông cảnh sát to như hộ pháp vào còng tay ông cha đem ra xe. Còn chuyện phải quấy, hạ hồi phân giải. Báo có đăng một ông H.O mới qua có một năm, thắt cổ không chịu sống nữa, cũng vì cái cảnh đời chua chát này. Vì vậy cái câu ở phía bên kia biển Thái Bình “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, qua bên này, lội nước ngược thành “ con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó”. Ngồi im không dám nhúc nhích. Cũng không hiếm người Việt thành công và thành danh trên đất Mỹ. Ngoài chuyện đa số đều khá giả vật chất hơn hồi còn ở quê nhà te tua như xơ mướp ra, người Việt mình cũng có khá nhiều người chen chân được trong chính quyền Hợp chủng quốc với chức vụ cao trong ngành lập pháp và tư pháp. Còn có cả trong ban cố vấn cho tổng thống Mỹ nữa. Không ai ngờ rằng trong trận chiến vùng Vịnh, bọn Taliban Bin Laden bị phá tan sào huyệt, các hầm địa đạo trong núi bị “ banh ta lông”, vì một loại bom đặc biệt, lại do một nữ kỹ sư người Việt mới có ba mươi sáu tuổi chế tạo được trong thời hạn có sáu mươi ngày. ( Tôi đi hơi lạc đề, e rằng có người lại cho tôi tuyên truyền không công cho đế quốc Mỹ, xin ngừng lại ở đây) Để túm lại cái câu “ Trâu ta ăn cỏ đồng ta, chừng nào cỏ hết mới ra đồng người” rõ ràng là không có “ lôgíc” một ly ông cụ nào trên xứ cờ Hoa. Còn quay qua vớt vát chút đỉnh với câu “ ta về ta tắm ao ta, dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn” thì cũng ba trật, bốn vuột cho cái thân Việt Kiều yêu nước lắm lắm. Chỉ có những anh cụ nào còn giữ được mụ vợ già như tôi chẳng hạn, thì đời cũng còn le lói chút chút. Nếu anh nào khi qua đây mà ở trong cảnh “ ngày anh hai mươi, em mới sinh ra đời, ngày anh bốn mươi, em cũng vừa đôi mươi” thì sau một đêm ngủ dậy, còn phải nhiều điều lo âu, thắc thỏm. MẶC NGƯỜI MƯA SỞ, MÂY TẦN, NHỮNG MÌNH NÀO BIẾT CÓ XUÂN LÀ GÌ ! Mỗi khi xé đến tờ lịch tháng 12 là nỗi buồn cứ quẫn quanh xâm chiếm trong lòng cả tháng trời dai dẵng. Ti Vi, báo chí đua nhau nói về những ngày lễ lạc,Tết nhứt. Nhưng là Tết của họ. Tết của ta hãy còn hơn cả tháng nữa mới bò tới. Thấy thiên hạ rộn ràng mua sắm và lịch mới đã treo đầy dãy, biếu tặng từ hơn tháng trước, lòng cứ nôn nao, buồn rầu. Đã qua mười ba lần cái Tết xa quê. Mười ba lần đón xuân, không mai vàng, không pháo nổ. Chỉ có tuyết lạnh ngoài sân. Những băng nhạc Xuân lại được đem ra phủi bụi nghe lại. Vừa nghe nhạc, vừa thắp thêm cây nhang trên bàn thờ cũng đầy đu ũđèn nến hoa quả mà sao vẫn cứ thấy lạnh lẽo, cô đơn. Năm nào Tết trùng ngày thứ bảy, chủ nhật thì còn đở. Nhà còn đông vầy vợ con, bạn bè, họ hàng. Năm nào Tết rơi vào đầu hay giữa tuần là coi như không có Tết. Nhà vắng hoe. Có người này thì mất người kia.Ai nấy đều phải đi làm bình thường. Hãng, xưỡng ngoại quốc đâu có “ ke” ngày Tết của ta. Ai tự động nghỉ thì mất việc. Lại chuyện chén cơm manh áo hèn mọn mà dần dần quên hoặc bỏ hết những tập tục dân tộc. Tối ba mươi, cả nhà quây quần, bánh tét, bánh chưng, dưa hành, củ kiệu, bia, rượu ê hề mà coi bộ người nào cũng ngán ngẩm. Chỉ nhìn cũng đủ no. Rồi quay qua đánh bài, chơi cờ cá ngựa hoặc ồn ào hơn thì chơi lắc bầu cua hoặc đổ con mèo. Nhưng cái không khí cố vui gượng cũng chẳng kéo dài được mấy chốc. Ai nấy đều quay ra ngồi trầm ngâm, nhìn bàn thờ, làn khói hương mõng manh lặng lẽ tỏa lan trong bầu không khí trầm mặc. Mấy đứa cháu ngoại bắt đầu đói bụng và đòi ăn “pi xà”( pizza= một loại bánh xèo nướng của Ý làm bằng bột, trên mặt rãi đủ thứ hổ lốn như xúc xích, cà chua, bơ, phó mát, ớt bị v.v...) Nhấc phôn lên gọi tới tiệm, “ ó đơ” một hai cái loại lớn để ăn cả nhà. Chừng mười lăm phút sau, xe giao bánh gõ cửa. Thế là cả nhà đón Xuân ta bằng bánh xèo Ý. Bánh nóng hổi vừa dai, vừa dòn, cắt ra thành từng miếng hình lá cờ đuôi nheo to bằng bàn tay. Mỗi người ăn hai miếng là no cành hông. Con nít sinh tại Mỹ, đa số đều quen với pizza, hamburger hơn là cơm. Người lớn thì ngồi nhấm nháp thêm ly bia hay rượu nghe nhạc xuân. Bài nào cũng buồn áo não. Xuân này con không về, Đồn vắng chiều xuân, Đám cưới đầu xuân.... Buồn quá, tắt máy. Cả nhà, giọng kim, giọng thổ, giọng ống bơ rỉ cùng hò lên bản Ly rượu mừng, cho không khí tăng phần vui nhộn. Không ai thuộc hết bài, chỉ được vài cầu đầu rồi tắt ngúm. Lại lặng lẽ nhìn ra ngoài trời. Tuyết rơi.. tuyết rơi... Một năm lại qua... Sáng hôm sau, mọi người trở về công việc thường nhật. Thế là xong một cái Tết. SAU CƠN MƯA (chiều ) TRỜI LẠI TỐI ! Thông thường người ta hay nói “ hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai” hay diễn nghĩa nôm na là “ sau cơn mưa thì trời lại sáng” để nói về hậu vận hanh thông, sung sướng sau khi đã trãi qua thời kỳ gian nan khổ ải. Nhưng câu này áp dụng cho người còn thanh xuân kia. Chớ cái tuổi sáu mươi trở lên có dứt mưa đi nữa trời cũng tối rồi. Nhằm lúc mưa buổi chiều về mùa đông thì còn sáng nổi gì ? Đó là cái cảnh già của tôi trước mắt. Đã qua mười ba năm, cật lực làm lại cuộc đời bằng hai bàn tay trắng. Nay thì có thể tạm gọi là đứng thẳng lưng được. Nhưng phía trước thì mặt trời đã xuống gần đầu núi rồi. Liệu còn bao nhiêu thời gian nữa để được ngắm nhìn thiên nhiên tươi đẹp và để biết thưởng thức những ưu vật của trời ban tặng ? Tuổi trẻ của tôi đã uổng phí gần bốn mươi năm một cách phi lý. Hết lăn lưng vào chiến tranh lại trói thân nơi vòng tù tội. Hết tù tội lại bị quản thúc như con thú trong chuồng. Vưà được sổng chuồng thì lại mang kiếp lưu đầy nơi đất khách quê người. Nằm đêm thao thức với thân phận con người sinh ra nhằm nơi nhược tiểu, nghĩ mà uất hận. Đất nước luôn bị đọa đày bởi ngoại bang. Vừa đánh đuổi ngoại bang đi xong, dân tộc chưa kịp có một ngày vui sống, thì lại có những kẽ mang thuyết ngoại lai dị chũng áp đặt lên đất nước, để xãy ra cảnh huynh đệ tương tàn. Tại sao lại phải nghe lời những ông Tây, bà Đầm, mắt xanh mũi lõ, râu xồm một cách cung cung tận tuỵ để mà chém giết dân mình không một chút nương tay ? Chém giết còn chưa đã, còn học thêm cái gọi là đấu tranh giai cấp của thằng Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân Nam, mà bắt bỏ tù hết thảy những người anh em, những kẻ không cùng mình, chịu luồn cúi, nô lệ để tung hô Mao Chủ tịch vĩ đại muôn năm ? Thật là vô lý chi thậm. Nghĩ nát óc cũng không ra cái lý ! Đã hơn năm mươi năm to tiếng hô hào “ tiến lên ! thiên đường trước mặt !” mà càng tiến lên thì xác người càng chồng chất. Cơm không có ăn, áo không có mặc. Đói khổ triền miên. Lại an ủi,vuốt ve : Ta khó khăn tạm thời ! Ai to tiếng, rộng họng cho bằng Liên Xô: thành đồng vách sắt của Xã hội Chủ Nghĩa ! Thế mà bỗng nhiên lăn đùng ra chết không kịp giãy, sau hơn bảy mươi năm gào thét. Không một người dân Nga nào thấy được cái thiên đường mà ông Mác,ông Lê vẽ ra bằng máu cả trăm triệu người. Cái gương tày liếp sờ sờ ra đó mà sao “các Bác kính yêu” nhà mình không thấy được. Ngày nào cũng hô hào “ Bác cùng chúng cháu hành quân”. Cả một thế giới mênh mông, ai nấy đều tiến lên văn minh thịnh vượng, chỉ còn sót lại có ba nước nhỏ bằng cục cứt ruồi dính trên quả địa cầu là Bắc Hàn, Cu Ba và Việt Nam, tụt hậu vào thời kỳ bán khai, đói khổ thiếu điều sống lại cảnh săn bắn và hái lượm cách đây hơn một ngàn năm. Hơn bảy mươi năm xây dựng thiên đàng Xã hội Chủ Nghĩa, chưa có tài liệu nào ghi nhận được một vụ người dân ở nước tự do trốn chạy qua lằn ranh các nước Xã hội. Trái lại người dân ở các thiên đường Xã hội Chủ Nghĩa cứ trốn đi hằng ngày xin vào các nước Tự bản đang giãy chết để được sống tự do. Trong truyện Tàu, đời Đường, có ông Trình Gião Kim sống tới mấy triều vua, ngẫm nghĩ chuyện đời tranh bá đồ vương, mà thắt cười. Cười mãi đến đứt hơi mà chết. Tôi e rằng, cái thế hệ của tôi, sinh ra từ khi vua Bảo Đại lên ngôi đến nay, trãi qua bao nhiều triều đại , cho đến ngày gọi là thống nhất đất nước, cũng sẽ có rất nhiều người ngồi ngẫm lại chuyện đấu đá,tranh danh đoạt lợi của các sứ quân xưng hùng, xưng bá cũng cười đứt mạch máu mà chết. Nếu được chết như vậy, tôi cũng cam lòng. Anh chị Lãng thân mến, Bao nhiêu năm tính sổ cuộc đời chỉ có mấy trang giấy dĩ nhiên là những nét chấm phá mà thôi. Viết mãi không hết. Chuyện nào nó cũng bắt từ dây cà ra dây muống. Cuộc sống nó như cây đa cổ thụ bao nhiêu là rễ chính, rễ phụ chằng chịt, quấn chặc lấy nhau. Chuyện nọ xọ chuyên kia, rôí rắm trăm bề. Lần tay gỡ ra từng mối như bà Tùng Long gỡ rối tơ lòng trên báo Phụ Nữ diễn đàn ngày xưa e khó quá. Vậy tóm tắt đôi chuyện gọi là chút quà Xuân con khỉ, gửi về anh chị đọc mua vui trong những ngày đầu năm Giáp Thân 2004. Thân ái. Nguyễn thanh Ty Quincy, mùa Giáng Sinh, 20/12/2003
Boston, ngày... tháng...năm 2003 Anh chị Lãng thân mến, Vẫn còn nhớ trong bữa ăn trưa chia tay nhau tại Sài Gòn một ngày cuối năm, năm 1991, anh chị cứ dặn dò nhiều lần là khi qua tới nơi đất khách quê người, có gì vui buồn, hãy viết thư về kể cho “ tụi này” nghe để cùng nhau có thể chia xẻ nổi niềm. Tôi cứ lòng nhủ lòng là sẽ viết ngay cho anh chị một bức thư thật dài khi vừa đặt chân lên đất Mỹ. Và ngay lúc đó tôi đã hình dung ra những điều vui tươi, đẹp đẻ nơi xứ lạ, đường xa để mà tha hồ vẽ vời trong những bức thư sẽ viết về cho anh chị. “Đi xa tha hồ mà nói khoác”. Cái câu này tôi nằm lòng khi học trong “Quốc Văn Giáo khoa thư ” cái thuở còn ê a ở Tiểu học. Thế mà từ ấy đến nay, tôi chưa hề cầm được cây viết lần nào để viết về cho anh chị một bức thư như lòng đã dặn lòng. Cho nên, cứ mỗi lần Tết sắp đến, một năm sắp qua, là lòng tôi cứ bứt rứt không yên. Cứ hẹn lần, hẹn lửa. Thế mà thoắt cái nháy mắt, đã hơn mười ba năm. Ngày đi tóc hãy còn xanh. Giờ tóc đã hai màu tiêu, muối. Anh chị Lãng thân, Bây giờ ngồi hồi tưởng lại những gì tôi đã trãi qua trong khoãng thời gian tuy dài mà ngắn này, chợt thấy đời như giấc chiêm bao. Quả thật “sực tỉnh giấc, nồi kê chưa chín”. Ôi ! Đời người ngắn ngủi làm sao ! Rất nhiều lần, ngẫm lại từ cái thuở xuân xanh cho đến bây giờ tóc bạc, tôi chợt bàng hoàng, thảng thốt nhận ra cái bóng câu thời gian vô tình trôi nhanh một cách lạnh lùng của cuộc đời. Anh còn nhớ không? Cái năm 1964, khi lên Bảo Lộc dạy học, gặp anh ngày đầu tiên ở ngõ Tiên Dung, tôi vừa tròn hai mươi bốn tuổi. Cái tuổi tràn trề nhựa sống và yêu đời. Nhưng chúng ta chỉ vui vẻ với nhau được có ba năm rồi phải chia tay lên đường nhập ngũ. Năm bảy mươi, chúng ta lại mừng mừng, tủi tủi gặp lại nhau lúc không ngờ nhất, ở chốn xưa Bảo Lộc. Cũng cái Câu lạc bộ ấy, bên cạnh cái hồ nước ấy, chúng ta uống cùng nhau ly rượu tẩy trần. Rồi mùa hè tới, chúng ta lại chia tay nhau lần nữa, ai về quê nấy, hẹn hò với nhau sẽ đi khắp từ Nam ra Trung thăm nhau cho thỏa tình mây nước, sông hồ. Ai có ngờ đâu, cái ngày đen tối, đau buồn của tháng tư, bảy lăm đã chôn vùi tất cả tuổi trẻ chúng ta trong chốn lao tù nghiệt ngã, trong tận cùng của đáy hận thù. Khi ra khỏi tù, tuổi đã gần nửa đời người. Với tấm thân tàn tạ, sống dở, chết dở, chúng ta đã lê lết, cúi gằm mặt xuống đất đen chịu nhục, để kiếm từng hột cơm, củ sắn sống sót qua ngày, hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn. Vậy mà cũng kéo dài hơn mười năm sống nhục. Người không ra người. Vật không ra vật. Cái ngày anh chị tiễn chúng tôi lên đường, tuổi xuân của tôi đã mất hết rồi. Năm ấy tôi đã ngoài năm mươi. Năm mươi mà đã là ông cụ trước tuổi. Một cụ ông ỉ xác xơ như cây chổi cùn vô dụng lăn lóc ở xó hè. Qua đến đất Mỹ, một đất nước mênh mông với muôn ngàn điều, khác hẵn với đất nước chúng ta. Từ phong thổ đến tập quán, văn hóa... thảy thảy đều khác. Tất cả những gì tôi tưởng tượng và chuẩn bị tinh thần trước khi đi, đều trật lất hết. Ban đầu là bị choáng ngợp bởi sự giàu sang, tráng lệ của nó mà nhiều người đã ví như thiên đàng. Đi giữa ban ngày mà cứ tưởng như trong mơ. Phố xá thênh thang với những tòa nhà cao vút. Công viên xanh tươi, hoa muôn màu, muôn sắc. Xa xa ngoại ô, nhà cửa của cư dân đủ màu sắc, nằm trong từng ô vườn, cỏ xanh, giống như tranh vẽ. Đường nhựa sạch bóng, phẵng lì, xe chạy êm như ru. Xe hơi hàng hàng, lớp lớp nối đuôi nhau chạy trong trật tự. Cảnh trí hai bên đường thơ mộng với những rừng thông uốn lượn theo đồi núi chập chùng. Đường trong phố xuyên qua, đan lại vuông vức như bàn cờ. Nhộn nhịp nhưng rất trật tự. Không ồn ào, náo loạn như ở ta. Nhất là không hề có tiếng còi xe inh ỏi, vang tai, nhứt óc. Lại càng không có cảnh xe đạp, xe xích lô, ba gát luồn lách chen giành lên trước. Chỉ có xe hơi và xe hơi. Người đi bộ rất thưa thớt nhưng đều hối hả, sãi chân đến trạm xe buýt hay tàu điện ngầm cho kịp giờ đi làm. Tuyệt nhiên không thấy ai chắp tay sau đít, lửng thửng đi dạo phố như ở Sài Gòn ta cả. Tìm đỏ mắt cũng không thấy trẻ con từng bầy, từng lũ, đi hàng năm, hàng bảy ngoài đường. Chúng nó đang ở trong lớp học. Sau giờ học, có xe buýt nhà trường, sơn màu vàng đậm, chở về tận nhà. Nếu không muốn đi bằng xe nhà trường thì có xe cha mẹ chực sẵn trước cửa trường để rước. Đó là những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ và đó cũng là những ghi nhận đầu tiên trong ký ức của tôi. Sau cái sự choáng ngợp ấy, tôi bắt đầu khốn khổ, loay hoay, vất vả với cái xã hội văn minh kỹ nghệ tiên tiến này và những cái phiền nhiễu, nhiêu khê của nó. Thiết tưởng không ai tránh khỏi tâm trạng “ngố” trong thời gian “hội nhập”. Thể hèn như tôi, cũng có chút chữ nghĩa còn sót lại trong bụng sau mấy chục năm không có cơ hội mang ra mài giũa, vẫn thấy mình như Mán về thành, như người câm điếc lạc vào thế giới người thường. Ra đường với tâm trạng lúc nào cũng hoang mang, ngơ ngác. Không biết làm sao để đi đến chổ mình muốn. Đến chổ rồi, không biết diễn đạt sao cho người ta hiểu đuợc những gì mình muốn nói. Lạc đường không biết cách để tìm đường về nhà v.v... Cứ than thầm : - Khổ ơi là khổ... Không phải một tuần hay một tháng mà hội nhập được ngay đâu. Tôi đã phải mất hơn nửa năm để nghiền ngẫm những câu chuẩn bị nói, ôn đi, ôn lại con đường mình sẽ lái xe qua, để còn nhớ đường về. Lạc đường một cái là lạc xa năm bảy chục cây số. Xe hết xăng nửa đường là... chết cửa tứ. Rồi những ngày tháng lo toan đi kiếm việc làm để có thể trả đủ tiền thuê nhà và mọi thứ. Khi có được việc, dù việc cu li lao động tay chân cực nhọc, cũng mừng như thấy cha chết sống lại. Lại phải cố cật lực làm để ôm được cái “giốp” ( job). Làm đúng giờ giấc và hết khả năng để khỏi bị “ lay ốp” (lay off), trong lúc kinh tế “ đao” ( down). Cái cảnh mật ít ruồi nhiều, kiếm được việc quét dọn, lau chùi ( clean up) sáu đô la một giờ là mừng rồi. Ấy, tôi cứ loay hoay như thế, anh chị hãy thông cảm cho cái cảnh con nhà khó, lỡ thầy, lỡ thợ kiếm được miếng ăn nơi quê người, đã đổ ra biết bao công sức và mồ hôi, thì còn thì giờ đâu mà nhớ tới bạn bè, nhớ tới cây bút, cái nghiên với những dòng thư lãng mạn mà tôi đã vẽ ra trong óc lúc lòng dặn lòng là tôi sẽ... tôi sẽ, khi ngồi ăn bữa cơm cuối cùng với nhau tại Sài Gòn năm xưa ... ... Bây giờ tuổi già xế bóng, muốn viết thư cho bạn bè thân thuộc thì óc mòn, tay run. Trí nhớ cùn nhụt lúc tốt, lúc không, giống như cái đồng hồ hoen rĩ lúc chạy, lúc ngừng. Thôi thì, nhớ được cái nào hay cái nấy, tôi cố viết ra đây, lộn xộn không theo thứ tự thời gian và không gian, buồn vui lẫn lộn suốt mười ba năm mỏi mệt không ngưng nghỉ. Tôi còn phải cố còng lưng thêm hai năm nữa để phủi tay đứng ngoài vòng cương tỏa của cái hèn mọn đời thường là miếng cơm manh áo. Hy vọng rồi ra sẽ có được những ngày an nhàn, khoẻ mạnh để gặp nhau tay bắt mặt mừng, uống lại chén rượu ngày xưa mà hàn huyên, tâm sự. Rồi bắt chước ông Tú Xương “ đem chuyện trăm năm giở lại bàn”. - Ruộng bề bề không bằng một nghề trong tay. Xã hội Việt Nam là xã hội nông nghiệp mà cũng khuyên người ta bằng một câu thực tiễn chí lý như vậy, huống hồ Mỹ là một xứ kỹ nghệ tiên tiến, mọi sinh hoạt hằng ngày đều lệ thuộc vào máy móc hết. Máy móc thì cần người điều khiển. Vậy phải nên đi học một nghề nào đó là chắc ăn. Tuần đầu tiên, anh Ba Lượng đến thăm tôi và khuyên tôi như vậy. Anh nói chí tình : - Chú Hai à ! Tôi nghĩ bây giờ chú đã ngoài năm mươi rồi mà còn ráng ôm cặp tới U MASS ( một trường đại học của Bang Massachusetts) để tiếp tục lấy thêm vài mãnh bằng. Lúc đó đã quá già không ai mướn chú nữa đâu ! Đúng vậy! Sau này tôi mới biết rõ sự thật. Kỹ nghệ và kỹ thuật mỗi ngày mỗi cải tiến, tiến bộ hơn ngày hôm qua, hoàn hảo hơn cái vừa phát minh tháng trước, ai không theo dõi để học thêm, để điều chỉnh làm giàu thêm kiến thức, đều dần dà bị đào thải. Từ ông bác sĩ cho chí ông kỹ sư đều không loại trừ .Lớp trẻ bao giờ cũng được trọng dụng hơn. Mấy ông bác sĩ Việt Nam nhà mình sang đây, phải học lại mấy năm sôi cơm, mửa máu, mới được cấp bằng hành nghề trở lại. Anh nào không kham nổi đành phải “ ô rờ voa” hoặc “ a đi ơ”, “gút bai” dao kéo, kim chích để đi kiếm nghề khác dễ hơn để kiếm cơm. Hồi sắp đi Mỹ, chiều chiều lúc “bóng ngã về tây” chị em Thúy Kiều, Thúy Vân sắp sửa “dang tay ra về ” thì cái đám H.O đang chuẩn bị hành trang lên đường tụ tập trước Viện Pasteur Nha trang, bàn luận đủ thứ chuyện trên đời cho tương lai sắp đến. Trong đó có bàn đến chuyện thủ sẵn một nghề trong túi cho chắc ăn. Sang đó tha hồ mà độc quyền, anh chột múa gậy vườn hoang. Mỹ nó xài cái gì cũng bằng máy móc hết trơn, hết trọi, nên nó quí những cái đồ làm bằng tay lắm. Mình qua bển làm được những cái nghề đó là hốt bạc! Có anh lẳng lặng bỏ ra năm ba, chỉ vàng lén đi học nghề thợ bạc, sợ mấy người khác biết, bắt chước thì mất cái “độc quyền”. Có anh còn cao tay ấn hơn, biết rõ Mỹ nó thích đồ thờ phượng phương Đông lắm, nhất là những bộ lư đồng trên bàn thờ, nên cũng bí mật đi sưu tầm mua, vài bộ tam sanh, ngũ sự, càng xưa càng tốt. Thế nào cũng trúng mánh lớn. Có gia đình toàn bộ đều ôm cặp đi học Anh Văn bỏ sẵn trong bụng để khi qua bển, bước xuống máy bay là đi làm liền để tranh thủ, bởi sợ cảnh “trâu chậm uống nước đục”. Cái chuyện học và nói tiếng Anh đúng giọng cũng là một đề tài bàn cãi sôi nổi mỗi chiều. Có mỗi chữ “ not ” là không, mà anh thì đọc là “ nốt” , anh kia không chịu, cho đọc như thế là sai, đó giọng của Pháp trong L’Anglais Vivant, phải đọc theo giọng English American là “nót” mới đúng. Nhưng có anh, hồi xưa có đi lãnh quân trang, quân cụ bên Mỹ ba tháng, cả quyết rằng hai anh kia phát âm đều trật lất hết. Mỹ nó phát âm là “ nát”. Lại một trận cười đến đau bụng. Nhưng ai đúng mới được chứ ? Hai anh trên đọc theo giọng “ lô can” làm sao đúng bằng giọng “ ngoại”. Người ta đã có ăn hem bơ gơ, xăng uých, hót đót tại chổ rồi, dám không tin, không theo à ? Cũng có anh lo xa, nghe nói qua bển đi toàn xe hơi, nên cũng trút hầu bao cho vợ con đi học lái xe. Lại có anh nhận được thư bạn đi trước, từ Mỹ gửi về, nói là đang làm nghề cắt cỏ, sống cũng khỏe ru, bà rù. Thế là trúng nghề anh ta , từ ngày ở tù về chuyên đi cắt cỏ, chăn trâu. Mặc ai bàn luận, lo âu cho cái nghề tương lai, anh cứ rung đùi ngâm ư ử : “ Tay cầm bán nguyệt xênh xang, Một trăm ngọn cỏ lai hàng tay ta”, Rồi anh ta tự nhủ : - Chỉ cần mang theo vài cái câu liêm là chắc ăn như bắp. Vừa nhẹ nhàng lại chẳng phí tổn bao nhiêu. Riêng các bà thì hăm hở đi học làm bánh, thêu thùa, làm móng tay, móng chân, làm tóc. Ôi đủ thứ! Rối xồm xồm. Nói người thì ngẫm đến ta! Lúc ấy tôi đang làm nghề dệt vải mùng, khăn lông và mền con công xuất khẩu sang... Hà Nội và Campuchia. Cái nghề độc đáo, ít ai có. Sang Mỹ mà ra tay nghề thì phải biết ! Nhất định là phất! Nhưng để cho chắc ăn một trăm phần trăm, cầu toàn mà, tôi còn nhờ anh Sở là bạn nhậu tri kỷ trong xóm, dạy thêm cho nghề làm bánh phở. Rủi mà không có đất dụng võ nghề dệt thì ta xoay ra làm bánh phở, đời cũng sẽ phè phởn chán. Mấy đứa con gái tôi, mỗi đứa một nghề. Đứa lớn học nghề làm tóc, nộp mạng ba chỉ. Đứa nhỏ hổng tiển, quyết học mánh buôn chợ trời, một vốn, bốn chục lần lời của các bà cô, tha hồ sang Mỹ mà quậy nát nước. Riêng bà vợ tôi, chỉ biết có mỗi nghề gõ đầu trẻ. Bỏ sang chuyện khác thì chịu chết. Tay chân quờ quạng, chậm chạp. Biết mình không ai bằng... mình. Thôi thì học nghề... quét nhà, lặt rau, rửa chén cho chắc ăn. Tưởng là đuà cho vui. Ai ngờ cái nghề này lại được trọng dụng khắp nơi trên đất Mỹ. Lúc nào cũng có việc mà khỏi phải phỏng vấn, phóng viếc. Không cần tiếng Anh, tiếng U. Chẳng cần phải cong lưỡi, chu mỏ, méo miệng mà nói “ nót ”, nốt” hay “ nát” gì cả. Cái nghề này có cái tên rất hay : Lái dĩa bay. ( Đa số sinh viên du học đều trãi qua thời kỳ lái loại dĩa bay này để kiếm cơm ăn học) Cuộc bàn cãi và tính toán còn nhiều nữa nhưng dài dòng và nhất là sợ lộ bí mật nghề nghiệp nên không chép ra đây làm gì cho tốn giấy và mồ hôi... . Khi tới Mỹ rồi mới bật ngữa ra, mới biết những cái lo xa, toan tính bao ngày tháng dưới biển, đều trôi theo biển cả. Cái suy nghỉ, lo toan của anh em chúng tôi rõ ràng là không giống ... con giáp nào trên cái xứ đại kỹ nghệ này. Anh chàng mang câu liêm lọt sang cái bang ở miền Đông Bắc như tôi đang ở là Massachusetts, sáu tháng băng tuyết lạnh lùng này, lấy đâu ra cỏ mà cắt ? Sáu tháng còn lại, dù có cỏ mọc chắc gì người ta cho anh cắt bằng cái câu liêm quê mùa, lạc hậu ở quê nhà. Cỏ người ta trồng là cỏ cảnh. Cỏ mượt mà như tấm thảm nhung, đâu thể cắt bằng cái câu liêm, chổ lồi, chổ lõm như chó liếm! Hư cỏ cảnh của người ta. Có mà đền à! Ác hại thay ! Ông bạn viết thư về không nói rõ, để anh chàng này cứ tưởng dễ ăn như cắt cỏ ở bờ ruộng quê nhà. Ngươì ta cắt cỏ ở bằng máy đẩy tay, nếu là bãi nhỏ. Bãi lớn phải cắt bằng xe lái, mất cả tuần mới xong. Mà phải có “ lai xần cắt cỏ” người ta mới mướn. Thế là mấy cái câu liêm đem vất đi thì đau lòng con quốc quốc. Mà để lại thì không biết dùng nó vào việc gì ? Hy vọng, trăm năm sau, nền văn minh nông nghiệp của ta tràn sang đây, thì lại có cơ tung hoành một thuở chăng ? Anh chàng ôm khệ nệ mấy bộ lư đồng, cồng kềnh nặng hàng tạ sang đây, té ngữa, trợn trắng con mắt. Không phải té vì sức nặng của mấy bộ lư mà là cái “apartment” bé tí xíu, vói tay đã đụng trần nhà, không đủ cho gia đình con cái ở, lấy chổ đâu mà trưng mấy cái tam sanh, ngũ sự lỉnh kỉnh to kềnh ? Để chật nhà mấy tháng, nhờ người quen dọ bán, chẳng ma nào mua. Bây giờ không biết mấy bộ lư đó đã tiêu thụ được chưa hay là bán ve chai cho người ta “ rì xai cồ” (recycle) ( Đám cưới, đám ma người ta cũng đốt đèn điện trên bàn thờ thay cho đèn sáp thật. Đèn thật cắm lên đã đụng trần nhà rồi. Đốt lên có mà cháy nhà à!) Còn cái anh thợ bạc, vừa nghỉ ngơi được vài ngày là xông ra cửa hàng vàng bạc để dạo coi cho biết sự tình, cũng trúng gió bất tỉnh nhân sự tại chổ. Cái nghề làm bằng tay thô sơ, gõ go,õ đập đập bằng cái búa tí tẹo với ngọn lử khè khè đạp bằng chân, ba ngày mới được một sợi dây chuyền làm sao địch lại với hàng kim hoàn tinh xảo làm bằng máy, sản xuất hàng loạt, bán rẽ rề hàng ký lô một. Bán không cần đếm! Hai con mắt anh lồi ra trước sự thật phủ phàng. Từ đó không thụt vô lại được như trước nữa. Còn cái nghề dệt mền con công ... ngủ của tôi thì sao ? Nói ra thiệt là xấu hổ! Khi ra đi, bà vợ tôi hí hửng lựa năm, bảy cái mền đẹp nhất vừa dệt xong, có hình con công đực đang gù con công mái, con công mái đang cong đuôi, liếc tình con công đực, xếp, gói cẩn thận để làm quà cho các chú, các cô ở bển. Đến nơi, đêm đầu tiên trên xứ lạnh, gặp mùa Đông, vợ chồng chú em mở “ cờ lô xịt” lôi ra một đống mền còn mới tinh cho đắp. Nhìn cái mền “ ngoại” nghỉ tới cái mền “ lô can” mình mang qua, chuẩn bị tặng, thiệt mắc cỡ hết sức. Đêm đó vợ chồng tôi bàn nhau, nhất trí dấu biệt mấy cái của nợ. Thiệt tình không dám dấu diếm, cái mền con công ... ngủ của tôi không đáng dùng làm khăn lau nhà. Sàn nhà làm bằng gỗ sồi ghép lại, bóng như gương, soi mặt được. Khi lau, lau bằng những cái khăn bông mềm mại. Còn cái mền của tôi dệt bằng chỉ sợi có tẩm hồ keo cứng như da trâu. Khi giặt vài nước , nhả hồ, nó trở thành miếng giẻ thảm não như cái nhau mèo, đâu dám đem chùi nhà, trầy hết nước vẹc ni bóng lưỡng sao. Hiện nay tôi vẫn còn cất dưới hầm làm kỷ niệm. Định chừng vài năm nữa, về Việt nam sống hết tuổi già sẽ “ gánh củi về rừng”. Còn cái nghề làm bánh phở sơ cua ? Thôi đừng nhắc lại làm chi cho tôi đây thêm sầu não ! Bánh phở khô, bánh phở ướt đủ loại, đóng gói, hạp vệ sanh, bán lềnh khênh chợ Tàu, chợ Việt Nam, rẽ rề. Còn cái chổ ở của tôi, vợ chồng con cái đi ra, đi vào, không cẩn thận rất dể va đầu vào nhau thì lấy chổ đâu mà xây bột, dựng lò, đốt lửa, tráng bánh... Chỉ cần thấy khói xịt lên khỏi nóc nhà là năm bảy xe chửa lữa hú còi rền trời chạy tới rồi, đằng trước thì xe cảnh sát chớp đèn vàng, xanh, đỏ, dẫn đường, cũng hú còi đinh tai, nhức óc... Còn bánh tráng ăn chả chiên , ăn bò nhúng dấm, không biết họ làm bằng cách nào mà mõng hơn giấy pơ luya, đều y chang như từ một khuôn ra, dẽo quẹo. Đem bánh tráng ở Việt Nam sang so sánh giống như gà đứng cạnh phượng hoàng vậy. Thôi đành giã từ hết mộng mơ như cô gái bán sữa trong truyện ngụ ngôn... Thế là tôi phải lội tuyết, suốt sáu tháng trời, tới trạm xe “ bus” và “ subway” để đến trường dạy nghề mà học lấy một nghề hộ thân. Không biết mấy ông bạn vàng trong cái hội “ Lo xa” dưới biển của tôi tản mác khắp các bang xoay xở ra sao! Chớ các dự tính “ múa kiếm vườn hoang” của gia đình tôi coi như “ọt giơ” hết. Mỹ làm gì có chợ trời bát nháo như ta mà tính sang để quậy! May ra cái nghề tóc, móng tay còn có cơ ! Nhưng phải có “lai xần” mới được hành nghề à nghen! Lạng quạng đi làm ẩu ( như ở ta) thì có ngày “ ủ tờ” dễ như chơi !. Nhưng không phải có nghề trong tay mà kiếm được việc ngay đâu nhé ! Đã bảo mật ít ruồi nhiều mà ! Ở Mỹ, bất cứ đi xin việc gì, ngoài khả năng chuyên môn của mình đã nộp đủ giấy tờ chứng minh ra, đều phải qua một cuộc “phỏng vấn” do cấp trên nơi mình xin việc, trực tiếp “làm việc”. Cũng xin mở dấu ngoặc ở đây nói rõ về hai từ ngữ “phỏng vấn” và “làm việc”. Phỏng vấn chứ không phải thẩm vấn của Công An hỏi cung như một ít người nhầm lẫn. ( Hay là ở một cái đất nước mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Sợ quá rồi phỏng hay thẩm đều có nghĩa như nhau ?) Phỏng vấn là một cuộc nói chuyện tay đôi giữa người xin việc và “ xếp”. Xếp vừa hỏi năm điều, ba chuyện về kinh nghiệm nghề nghiệp, vừa dò xét, coi giò, coi cẳng xem mình có đủ bản lãnh để làm việc không, rồi sau đó mới xét chuyện nhận hay không nhận. Dù anh có giỏi bằng trời mà khi phỏng vấn anh cứ run lẩy bẩy, nói không ra hơi. Hoặc hỏi một đằng trả lời một nẽo vân vân và vân vân thì coi như đi đứt. Làm việc nghĩa là... làm việc, đúng nghĩa của nó, chứ không phải như “ ta” dùng để ám chỉ việc điều tra xét hỏi, thẩm vấn lấy cung. Ở “ta” ( mà) nghe hoặc thấy giấy mời lên Phường hay lên đồn Công An “ làm việc” là “ són” đái trong quần rồi. Trong phần phỏng vấn, người xin việc phải học thuộc lòng và thực tập tại nhà tiết mục “ bán mình chuộc cha của Thúy Kiều” cho nhuần nhuyễn mới hy vọng qua mặt được xếp để bắt cái “ giốp”.(job) Nói thật đó. Không phải đùa cho vui đâu. Bạn hãy bán mình khi được phỏng vấn. “Let sell by yourself !” Đó là bài học cuối cùng của khóa thợ tiện của tôi để chuẩn bị đi xin việc. Bán mình nghĩa là sao ? Nói vắn tắt là mình hãy “nổ” hơn cái mình có một chút, cho thêm phần “ vẽ vang anh hùng, thừa thắng xông lên” mới có cơ “thắng lợi vẽ vang”. Còn lù đù “ thiệt thà khai báo” như năm 1975, chẳng hạn như : - Thưa ông ! Tôi mới ra trường, tay nghề còn yếu, bản thân chưa có kinh nghiệm ! Thì kết quả là đi cải tạo mút chỉ cà tha nếu ở Việt Nam. Còn ở đây thì muôn đời “Lục quân Việt Nam” cũng không ai mướn. Nhưng bạn “ nổ” to hơn tạc đạn thì cũng trớt móng heo luôn. Họ sẽ biết tỏng bạn là thằng nói dối. Hãy tập làm quen với những cái ngược đời khác ta ! A- Tên, họ ngày, tháng... Ngược đời ở đây không phải là ăn ngược, nói ngạo. Có nói thành không. Đen nói thành trắng. Điên đảo, ngược xuôi, trong cái thời kỳ hỗn mang, đạo đức suy đồi đến mức tận cùng sau ngày đổi đời, Trời làm một trận lăng nhăng đâu. Ngược đời ở đây là tập quán văn hóa của xứ cờ Hoa có những cái ngược với ta. Nhập gia phải tùy tục. Qua sông phải tùy khúc mà cởi quần. Trước tiên là phải tập viết, tập ký và nhất là tập nghe cái tên của mình cho quen. Tôi tên là Nguyễn văn Ổi. Ở quê nhà ai cũng kêu tôi là Ổi, thằng Ổi, ông Ổi. Khi ký tên lãnh lương hồi trước hay ký giấy đi ở tù sau bảy lăm tôi đều ký là Nguyễn văn Ổi. Sang đây ngày đầu đi làm thẻ xanh, tôi cứ mửng củ mà ký. Ai dè bị trả lui, làm lại, ký lại. Có người bên cạnh rành rẽ bày tôi phải ký là Ổi văn Nguyễn mới đúng cách con chuồn chuồn. Rồi đến cái “ ngày, tháng, năm” khi viết cũng đổi thành “tháng, ngày, năm”. Chẳng hạn, hôm nay tôi viết thư cho anh chị, trên đầu trang giấy tôi viết : Boston, ngày 12 tháng 11 năm 2003. Nhưng khi tôi viết thư cho anh mũi lõ thì tôi phải viết : Boston, November, 12th, 2003. Tập nghe tên mình cho quen cũng là một đại sự rắc rối không kém phần cười ra nước mắt. Bây giờ tôi không còn là ông Nguyễn văn Ổi một cách dễ thương, dễ ghét như xưa nữa mà là thành Oai Nhu Uyên. Mấy anh, chị mũi lõ không nói được vần NG. Họ phát âm thành NH. Tên Ổi bỗng thành Oai. Họ Nguyễn mất dấu ngã thành Nhu Uyên. Khi gọi tên mình, họ gọi tên trước, họ sau. Có khi chỉ gọi cái họ trống trơn, không có tên. Mà họ Nguyễn với họ Trần thì ở đất Mỹ nhiều vô số kể. Giở cuốn điện thoại niên giám ra xem thử biết liền. Chỉ hai họ này thôi cũng đã chiếm hơn sáu trang giấy in chữ nhỏ li ti rồi. Những cái tên đẹp đẽ như Dung, Phúc, Phát ... lại trở thành xấu và tục tĩu. Tên Dung họ họ phát âm thành “đâng” tiếng Mỹ có nghĩa là Cứt bò. Phúc hay Phát lại càng tệ hại hơn. Họ phát âm thành “ phất” ( fuck) nghĩa là tiếng chữi thề : Đ... má ! Mấy cô có tên Ngọc trở thành Ngốc hết ! Còn nhiều chuyện lắm kể ra không xiếc. Đó cũng là một trong những lý do mà khi thi vào quốc tịch Mỹ, nhiều người phải lấy thêm tên Mỹ cho dể gọi. Chuyện lấy tên Mỹ cũng thành đề tài tiếu lâm để cười cợt. Có anh chàng tên Việt Nam nghe rất hay là Cự văn Phát. Vì chữ Phát đọc sang tiếng Mỹ thành tục nên khi trở thành công dân Mỹ, anh đổi tên thành Bob ( giống Bob Hope). Khi Mỹ kêu tên anh thì ai cũng cười lên rần rần vì Cự văn Bob, bây giờ thành Bob Cu. Mỹ đọc nghe rõ rành rành là “bóp cu” . Hóa ra mèo vẫn hoàn mèo ! Chỉ dùng cái họ không thôi là một điều nhầm lẫn tệ hại cho những ai vướng phải. Vừa mất thì giờ vừa nhức đầu. Hồi tôi mới qua được hai năm, thình lình có cái giấy đòi nợ ba trăm tám chục ngàn đô la gởi tới nhà. Đọc cái giấy nợ, tôi tá hỏa tam tinh. Trợn mắt cho to ra, đọc đi, đọc lại mấy lần cho ky, vẫn thấy rõ ràng ràng tên mình, ngày tháng năm sinh y chang, số an sinh xã hội đúng y boong. Chắc là món nợ từ đời ông cố tổ để lại hay là kiếp trước mình là người Mỹ chăng ? Nếu quả thật vậy thì cái lá số tử vi của tôi chấm trúng cửa ăn mày rồi ! Dĩ nhiên là nổi lo lắng và sợ hãi nó hành hạ tôi mấy đêm không sao ngủ được, không kể ra đây anh chị cũng biết rồi. Tóm tắt sự việc được giải quyết ổn thỏa về sau là nhờ anh bạn Mỹ già hàng xóm cứu bồ một phen. Sau khi đọc cái giấy đòi nợ, anh bạn già giải nghĩa rành rẽ cái sự nhầm lẫn của cái còm piu tơ mắc dịch là : - Ông qua Mỹ năm 1991, giấy tờ ông có ghi rõ. Còn cái ông Oai Nhu Uyên nào đó mắc nợ từ năm 1988. Giấy nợ có ghi là vay tiền mua nhà năm 1988. Cái còm piu tơ cứ thấy họ Nguyễn là chạy ra một loạt dữ kiện giống như vẹt học nói vậy mà.Vậy là không phải ông. Ông chỉ cần photo copy cái thẻ xanh của ông kèm theo cái giấy nợ này gửi trả lại cho họ là xong. Thiệt là hú vía. Trút được gánh nặng ngàn cân. Ông bà mình có câu “chân ướt chân ráo” quả thật chí lý ! B- Ăn nhiều, ở chẳng bao nhiêu ! Ở nhiều, ăn chẳng bao nhiêu ! Câu này ngược một trăm phần trăm. Ở xứ ta, có người quần quật làm việc suốt đời như trâu cày, ngựa cởi mà vẫn không có đủ miếng ăn. Còn ở thì ở đâu cũng xong. Một túp lều, một mái tranh, cái chòi chăn vịt, dưới gầm cầu ... Chổ nào ngã lưng yên giấc là được. Ở Mỹ cái ăn thì dư thừa. Nhà từ thiện khắp nơi. Anh chỉ cần vào ghi tên họ, địa chỉ cư trú xong là tha hồ lấy bánh mì, sữa, cà phê, trà, bơ, bánh ngọt ... đủ ăn một tuần. Tuần sau hết, tới lấy nữa. Gia đình tôi lúc mới qua cũng tới “ hốt” mấy lần, khi chưa kịp lãnh tiền trợ cấp. Dĩ nhiên khi đã có công ăn việc làm rồi, không ai đi làm cái chuyện đi xin bao giờ. Một phần vì tự trọng, một phần vì thực phẩm rất rẻ. Anh đi làm một ngày đủ cho gia đình ăn một tháng. Cái chuyện ở mới cực, mới đau đầu! Không riêng gì cho người tị nạn mà cả cho người bản xứ nữa. Chẳng thế mà lại có thành ngữ : “American’s dream”. Người Mỹ luôn mơ ước được sở hửu một cái nhà. Hai phần ba dân Mỹ suốt đời đều ở nhà thuê. Nhà cửa rất mắc. Một cái nhà tí tẹo hai phòng ngủ, một phòng khách, một nhà bếp và vệ sinh giá hiện nay là hai trăm năm chục ngàn đô la. Với nhà đó, giá cho thuê là một ngàn năm trăm đô la một tháng. Nhà chỉ đủ cho hai vợ chồng và hai con trai hoặc hai con gái ở. Cũng xin nói rõ thêm về phong tục ăn ở của Mỹ. Cha mẹ ngủ phòng riêng. Con cái dù mấy tháng tuổi cũng phải ngủ phòng riêng. Anh em trai, hai đứa còn nhỏ có thể chung một phòng. Chị em gái cũng vậy. Nếu anh có hai con lớn, một gái, một trai, khi thuê nhà bắt buộc phải thuê nhà có ba phòng ngủ. Không thể “ba lăn chai” ra sàn ngủ lềnh khênh như ở ta được. Vì vậy, một người đi làm không thể nào trả nổi tiền thuê nhà. Chưa kể thêm nhiều khoản phải trả nữa như : điện thoại, tivi (không miễn phí như ở ta), điện, ga nấu bếp, nước, đổ xăng cho xe, bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm sức khoẻ ... Cho nên lâm vào cảnh thất nghiệp là chỉ có nước “chuồn” về Việt Nam làm ông Hoàng Nổ, với số tiền trợ cấp thất nghiệp ít ỏi. ( Người có công ăn việc làm vững chắc, không có thì giờ rỗi mà về Việt Nam du hí mỗi năm) C - Nhà lầu, xe hơi : niềm mơ ước ngàn đời ! Ai lại không mơ ước cảnh giàu sang đi xe hơi, ở nhà lầu ? Cái chổ này rõ ràng Đông,Tây không chịu gặp nhau. Hồi ở Việt Nam sắm được cái xe gắn máy là cả một gia tài kếch xù. Lơ đễnh, bọn lưu manh cuỗm mất là cuộc đời coi như khốn nạn ngay. Nào ai dám mơ rớ được tới cái xe hơi, được thênh thang bước những bước oai phong, lên từng lầu sân thượng, hóng gío mát ngắm trăng thanh ! Thế mà ngược lại, qua đây nghèo lõ kiết mới ở lầu cao. Kha khá tiền một chút thì mới được ở thấp thấp. Có máu mặt mới được ở nhà “ xinh gồ”. ( Single house). Có xách bao gạo hai mươi lăm ký leo lên tầng lầu bốn hay tầụng lầu năm, mới thấm thía cái mơ ước nhà cao, cửa rộng. Xe hơi là cái chân đi. Ai không có xe hơi coi như bị què. Làng ta, xóm ta, cần trái chanh, quả ớt, xị nước mắm, chai xì dầu... cứ cái quần xà lỏn, mình trần ra đầu ngõ là có ngay. Ở đây muốn có các thứ đó anh phải đi đôi hia bảy dặm cả nửa giờ mới có được. Cái xứ sở gì mà rộng mênh mông chi địa. Chổ này cách chổ kia hằng năm bảy chục cây số. Làm sao mà đi xe đạp. Lại mùa tuyết phủ, rét cóng làm sao mà đạp ? Xe đạp chỉ dành cho nhà giàu “hưỡn” đi “ éc xẹc xai” mà thôi. Còn nhà nghèo như tôi như mọi người, quanh năm phải dùng xe hơi thế cho cặp giò. Đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều người mới qua Mỹ chưa đầy năm, đã chụp hình gửi về cho cha mẹ khoe rằng “Xe con đây Ba, Má”. Thật đấy, không phải cảnh giả trong mấy cái “sờ tuy đi ô” ở Việt Nam vẽ phông để đứng chụp hình đâu ! Bởi ba trăm đô cũng có được một chiếc xe. Cũng có xe ba ngàn đô, ba chục ngàn đô, một trăm ba chục ngàn đô ... Tiền nào của ấy! Mới qua có sáu tháng, thằng em út tôi đã cho tôi một chiếc xe hơi rồi. Đã thì thôi ! Ngày xưa đi lính cũng có lái xe, nhưng xe nhà binh, của quân đội chớ không phải của riêng mình. Bây giờ mới thực sự làm chủ chiếc xe hơi. Tuy hơi cũ một chút nhưng ngó lui nơi quê nhà, anh em, bè bạn, và triệu triệu người khác nưã ai đã có được xe hơi như ta ? Ai chưa từng làm chủ và chưa dựa lưng vào cái ghế nhung êm ái đàng sau tay lái của cái xe mình vừa có, dù tả thế nào cũng không thấm được cái sự “thung thướng” lâng lâng trong người được. Bất giác anh mĩm cười một mình khi xoay qua xoay lại cái “ vô lăng”. Khi cái xe bắt đầu trườn tới và lăn bánh đi bon bon trên con đường tráng nhựa phẵng lì, không một chút gợn sóng thì cái sự “thung thướng” ấy càng tăng lên mạnh mẽ làm cho anh dần dần ham tốc độ. Bốn mươi lăm dặm, sáu mươi dặm, bảy mươi lăm dặm ... cây kim tốc độ trong đồng hồ cứ tăng lên, tăng lên ... Được vài tháng thì xe bắt đầu giở chứng. Tuần này hết trăm bạc cho cái này bị hư. Tuần sau trăm rưỡi cho cái kia bị hỏng. Sốt ruột, xót tiền cứ như túi bị lũng, rơi rụng dần, kêu mấy anh bạn hỏi thăm tại sao vậy ? Ai cũng nói một câu y chang : - Xe cũ nó là vậy đó ! Kêu thằng em hỏi, nó nói cũng không khác mấy : - Xe cũ anh đi đỡ ! Nếu có tiền, anh quăng nó đi mua chiếc khác. Đừng sửa nữa. Chiếc xe chưa đáng giá ba trăm mà anh sửa từ bửa giờ coi bộ hơn chiếc xe rồi thì phải ? Qua rồi cái giai đoạn “thung thướng” có xe hơi. Xe hơi bây giờ là cả một của nợ. Mua xe cũ thì lúc nào cũng hồi hộp, đau tim. Không biết nó giở chứng chết máy bất tử lúc nào và ở đâu. Mua xe mới thì khòm lưng trả nợ bốn năm mới hết. Tiền bảo hiểm xe mỗi tháng hết một phần tư tiền lương. Anh em nào còn mơ xe hơi, nhà lầu nữa không ? D – Cũi mục bà bỏ ngoài đường. Ai mà đụng đến: Trầm hương của bà ! Câu ca dao hay tục ngữ này có nghĩa bóng là cái gì của tôi cũng đều quí cả. Tỉ như ông chồng tôi, đừng thấy tôi mắng chữi, chê bai ông ta đủ điều mà tưởng bở, xông vào bợ, thì tôi cho ăn dao phay ngay. Nhưng ở Mỹ mới thấy cái nghĩa đen của nó thật là rõ và sâu sắc, sát sườn. Anh có thể tưởng tượng rằng cái câu ca dao : Chanh chua, khế cũng chua, Chanh bán được mùa, khế lại ủ ê ! sang đến đất Mỹ thì trật lất không ? Trong khi chanh xanh mọng nước, quả nào cũng to bằng nắm tay, một đô ba quả, có khi “on xeo” năm quả, thì trái khế chút xíu, một đô rưỡi một trái. Ăn thành tiên, tôi cũng không bao giờ mua ! Ngoài chanh ra còn trái cóc bán lềnh khênh ở ta, bán không hết, úng thúi đem đi đổ, vậy mà cũng một đô la một trái. Cũng có người mua ăn. Ăn để đỡ nhớ nhà, để tìm lại hương vị quê hương. Tất cả loại rau như húng, tía tô, ngò gai, ngò rí, dắp cá, rau răm... đều mắc như vàng. Mỗi bó năm cọng, hai đô rưỡi. Rau muống cũng đồng gía. Lâu lâu nấu món bún bò, không có bắp chuối xắc mõng thì không đủ vị quê nhà. Bấm bụng mua một bắp, bé bằng cổ cẳng thằng cu tí : hai đô rưỡi. Lại thèm món gà nướng lá chanh. Thấy đề giá ba mươi sáu đô, ơ pound ( 1 pound= 454 gr) lá chanh tươi, bỗng hết thèm. Ngược lại hàng rau Mỹ như xú lơ trắng, xú lơ xanh, cải xà lách búp, xà lách cây, bắp cải, dưa leo, cà dái dê, cà dĩa... đủ thứ trên đời, tươi xanh mời gọi lại rẽ như cho. Thôi đành làm người Mỹ, ăn rau Mỹ. Tháng tháng, bấm bụng mua tí rau thơm, tí ngò rí, ngò gai để còn nhớ mình là người Việt da vàng. Nói rau mà quên thịt gà là điều thiếu sót. Ngày giỗ kỵ, ta mới dám trút hầu bao mua con gà nhỡ nhỡ, về làm mâm cơm, trước cúng sau ăn, để đở thèm. Con gà chưa tới ký rưỡi mà chế ra năm bảy món, trộn đồ bổi hơi nhiều cho đở hao. Một năm mới dám có đôi lần. Ai có khả năng tuần nào cũng gà, cũng vịt, cũng bò heo ? Quanh năm chỉ cá với rau là quí rồi ! Thế mà từ ngày sang đây tới giờ, ngày nào gia đình tôi cũng xơi thịt gà. Thịt gà rẽ như biếu không. Toàn là thịt nạc. Đùi với ức. Còn những thứ đầu, cổ, cánh, xương xẩu là món nhậu “ hảo hạng” của thần lưu linh, họ vất bỏ mất tiêu. Mấy năm trở lại đây, chợ Việt Nam, chợ Tàu lượm lại, đóng gói bán riêng cho dân nhậu. Mấy anh mũi lõ, mắt xanh thấy là xanh máu mặt như thấy con heo quay nằm chễm chệ trên bàn cúng. Lại nhớ đến năm 1962, trên đường ra Qui Nhơn học Sư Phạm, lần đầu tiên ăn được dĩa xôi nếp với nửa con gà rô ti tại ga Diêu Trì Bình Định. Ôi nó ngon làm sao! Đó là nửa con gà đầu đời của tôi. Ở Nha Trang làm gì có nhiều gà và rẽ như Bình Định! Sau đó, khi trọ học và ăn cơm tháng được vài tuần tôi bắt đầu thấy sợ thịt gà. Ngày hai bữa cơm đều là thịt gà. Sáng gà kho, chiều canh gà. Mai gà xào, mốt gà xé phay rau răm , bữa kia gà luộc... Nghĩa là quanh năm, suốt tháng toàn gà là gà. Bây giờ ở cái xứ gà công nghiệp này thịt gà rẽ như bèo. Nhờ vậy mà dân An Nam Mít tị nạn như gia đình tôi, mới qua khỏi được mấy con trăng. Ngược lại cá là món thuộc hàng cao cấp xa xĩ. Tôi là dân làng chài, bốn mùa ăn cá mà lớn, cũng đành đầu hàng, giơ tay chịu thua, không mua nổi cá để ăn hàng ngày. Anh cứ thử tưởng tượng, năm đô la một lát cá thu, to bằng bàn tay, gắp được mấy miếng cho cả gia đình ? Nói chuyện ăn ,chuyện ở mãi nghe cũng mệt. Thôi ta quay sang chuyện làm, xem có chút thú vị nào không ? E - Phu xướng phụ tùy ! Phu xướng phụ tùy nói theo tiếng Hán... rộng, có nghĩa là chồng nói cái gì thì vợ phải ... hùa theo cái ấy. Chồng chỉ con hươu nói: Con nai. Vợ phải đáp : Dạ! Con nai. Nếu cãi lại thì ... “ cái xương bậu nát, cái da bậu mòn”. Nhưng ở Mỹ thì đừng hòng cái kiểu Khổng tử viết, tứ đức tam tòng. Ở Mỹ, đàn bà là “ nâm bờ oanh”. Địa vị trong xã hội được xếp theo thứ tự : Đàn bà – Trẻ con – Chó mèo – Đàn ông. Từ Tổng Thống cho chí phó thường dân khi nói chuyện chốn đông người đều phải lể phép thưa: - Lé đi en Gien tơn man ! ( Ladies and Gentlemen= Thưa quí Bà và quí Ông ) Bất cứ chổ nào cũng “Lé đi phớt” ( Lady first) Chồng không được quyền đánh vợ dù bằng cánh hoa hồng. ( Không thấy nói bằng củi tạ) Đó là tội bạo hành. Đàn bà và trẻ con được luật pháp bảo vệ kỹ lưỡng. Khi bị bạo hành cứ nhấc điện thoại gọi 911. Lập tức cảnh sát xuất hiện, chưa cần biết lý do, còng tay anh chồng hay ông cha trước đã. Sự việc hạ hồi phân giải. Nhiều bà lạm dụng cái quyền này, hở chút gì cũng gọi “ nai oanh oanh”. Nhiều anh chồng ngán ngẫm quá, bỏ nhà trốn sang bang khác, mất biệt luôn. Có anh đâm ra uống rượu để tiêu sầu, hát nghêu ngao cho hả cơn phẩn hận : “ Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu...!” G - Ti vi chạy đầy đường. Hồi cái nẫm, mấy anh răng hô mang dép râu, nón cối mới vô Nam vêu mõm ra tha hồ khoác lác, khoe “ngoài Bắc chúng ông” Xã hội chủ nghĩa, cái gì cũng có. Đang lúc trồng cà, thì bảo ngoài ấy có đủ loại cà. Có anh tù cải tạo hỏi xỏ : - Thưa cán bộ! Thế có loại cà chớn không ? - Sao lại không, thiếu khối gì ? Đã bảo Xã hội chủ nghĩa mà ! Nói về sự “ phồn vinh giả tạo” của Miền Nam, có anh lại hỏi : - Thưa cán bộ! Nghe nói ngoài Bắc chưa có Ti Vi phải không ? - Ối dào ! Ai bảo thế ? Ngoài Bắc Ti vi chạy đầy đường ! Hai chuyện tiếu lâm thời đại được anh em tù dùng làm thuốc chữa cơn đói. Mỗi lần đói quá lại kể hai chuyện này để anh em cười quặn ruột, quên đói. Tưởng là chuyện đùa Đông Tây kim cổ chỉ có ngoài Bắc ( chưa thấy) mới có, ai dè qua Mỹ lại thấy Ti vi “chạy đầy đường” thật. Nói cho đúng là bỏ đầy lề đường. Lần đầu tiên thấy, cứ tưởng lúc trong tù, “tầm mắt còn hạn hẹp” cứ nghi ngờ lời cán bộ nói khoác, bây giờ “ đi thực tế” mới thấy lời vàng ngọc của cán bộ đúng thật vàng y, bốn con số chín. Cán bộ nói lúc ấy là Ti vi bên Mỹ chạy đầy đường, tại mình đói quá, tai ù, mắt hoa nên nghe, cứ tưởng là ở miền Bắc. Thế mới cơ khổ ! Tội cho dân ở xứ nghèo lạc hậu. Cái tham nó vẫn luôn chực chờ, lúc nào cũng lăm le, hể có cơ hội thuận tiện là nhảy xồ ra khỏi lương tâm. Hồi mới qua được mấy tháng, vợ chồng cô em gái tôi áo gấm về Việt Nam một chuyến, nhờ tôi và một người anh rễ đi bỏ báo dùm. Cái “giốp” này gọi là “ paper boy”. Báo phát hành lúc giữa khuya, công nhân bỏ báo thức dậy từ bốn giờ sáng, chạy xe đến đại lý lấy báo về phân phối cho những gia đình đặt mua tháng. Chừng bảy giờ là hoàn tất, khoảng hai trăm nhà nằm rải rác trong khu vực mình trách nhiệm. Có ra đường sớm như vậy mới thấy Ti vi bỏ đầy đường trong những ngày xe rác đi thu rác. Không những Ti vi mà còn cát xét, đầu máy đa hệ, “đài hai phai”, loa thùng, loa thiếc, tủ lạnh, quạt máy... đủ thứ trên đời, để ngay ngắn trên lề, trước cửa nhà. Cái nào cũng còn như mới, còn đầy đủ cả giây nhợ, phụ tùng. Tôi ham quá, mắt sáng lên, bảo thằng em rễ : - Dượng Ba, ngừng xe lại, tôi lượm mấy cái Ti Vi và đầu máy về coi chơi ! Thằng em rễ cười ngất : - Về nhà em, anh muốn lấy bao nhiêu cái cũng có. Em đã “ó đơ” ( (order) đầy nhóc một “ bé giơ mần” ( basement) rồi. Quả nhiên, dưới cái “ bé giơ mần” của người em rễ tôi, chứa đầy các thứ kể trên, còn thêm vô khối “mai cờ quay” ( microwave), lò nướng bánh mì, máy lọc cà phê, máy hát quay dĩa 45 tua, 33 tua, đồng hồ treo tường có quả lắc, đồng hồ để bàn ... thứ nào cũng năm ba cái. Thấy hoa cả mắt. Hỏi cớ sự, được dượng nó giải thích : - Tiền công sửa chữa mắc gần bằng giá mua cái mới, nên khi có gì trục trặc, tụi Mỹ nó quăng để mua cái khác. Mình khéo tay, chịu khó, lượm về, sữa chút đỉnh, xài lại vẫn còn tốt chán. Quả đúng như vậy. Bèn nhớ lại, tuần đầu tiên mới qua, thằng cháu kêu bằng cậu, đem đến biếu cái “ Vi xi a” ( V.C.R) mà ta vẫn gọi là đầu máy đa hệ mua giá một cây vàng hồi miền Nam mới được “ giải phóng”. Biếu xong, nó nói thêm : - Cái vi xi a này còn tốt, chỉ đứt sợi giây “ beo” ( belt) thôi. Cậu đem tới tiệm thay là xài y như mới. Tưởng chừng năm ba đồng, ai dè nó chặt đẹp sáu chục đô. Trong khi cái mới chỉ có bảy mươi lăm đô. Đem về xài được mấy tháng, bịnh nó trở lại y như cũ. Hình ảnh cứ cà giựt như người mắc kinh phong, coi đau cả mắt. Thế là cái Vi xi a, lề đường lại trở về lề đường. Mấy năm sau có một anh quen, qua Mỹ nhờ con bảo lãnh, tuổi già không làm được nghề ngỗng gì, nên cũng đi bỏ báo. Hồi Cọng Sản mới chiếm miền Nam, anh theo đà xã hội bát nháo, nhảy ra chợ Đầm, theo giới chợ trời, buôn bán máy hát, ra dô, ti vi cũ cho mấy anh cán ngố mang về Bắc. Anh lùng mua máy cũ, máy hư, đem về lấy râu ông nọ, cắm cằm bà kia rồi nhờ thợ đánh bóng cái mã ngoài, chưng hàng hàng, lớp lớp trên sạp, gạt khách ngố. Chẳng mấy chốc mà phất lên. Mấy ngày sau, ngố đem trả lại vì không xử dụng được. Ngố khiếu nại “đài” kêu ọt ẹc nghe không rõ, ti vi hình cứ chớp nháy liên hồi. Thế là anh ta mồm năm, miệng mười, cả vú lấp miệng em, đổ cho ngố mua không biết cách xài nên máy hư, chứ lúc mua máy vẫn còn tốt. Anh ta khoe với tôi : - Tiền đã vô túi Bốn Biển này còn lâu mới lấy lại được ! Bốn Biển là tên cửa hàng đồ máy, kim khí của anh. Bây giờ qua đây đi bỏ báo, ngày nào anh cũng “ó đơ” ( lượm) về năm ba cái. Lúc thì Ti vi, lúc thì quạt máy, Vi xi a. Có hôm vài ba cái máy hát. Chất đầy dưới “ bé giơ mần”. Đứa con anh đã ở Mỹ hơn hai mươi lăm năm, nó chán cái cảnh này lắm rồi, nhưng không dám lên tiếng phản đối chỉ sợ làm buồn lòng ông già. Nhưng khổ nổi, hồi còn ở Việt Nam, mấy cái máy cũ từ thời Hoàng đế Bảo Đại còn ở truồng, xài bằng bóng đèn hay hơn một chút là “trăn sít to” đi lùng sục kiếm về, lấy cái nọ bỏ qua cái kia, khả dĩ còn được. Bây giờ máy móc toàn bằng đồ điện tử “di gi tồ” ( digital) thì anh Bốn Biển nhà mình chịu chết. Có mò đến rụng lông ... tay cũng không sữa được. Lại đem ra lề đường. Tuần nào đến ngày thứ ba đổ rác, trước nhà anh cũng thấy vài cái ti vi, mai cờ quay hay máy hát. Có khi nhậu vui tôi hỏi : - Anh Bốn Biển à ! Đã biết không sữa được, anh còn ôm cái của nợ về làm chi cho chật nhà rồi lại mất công đem ra bỏ lại ? - Tại ở đây tui không có đồ nghề để mò ! Nếu tui chở được hết về Việt Nam thì phải biết tay tui. Có điều gởi về, tụi hàng hải nó tính giá cước chuyên chở mắc như giá mua cái mới., tui mới chịu thua, chớ dễ gì với tui ! - Đã biết vậy thi đừng lượm nữa, đừng sữa nữa cho mất công ! - A! Có lẽ do thói quen nghề nghiệp. Mà cũng do cái tham anh à! Tui biết chớ, mà sao khi lái xe đi ngang, đừng thấy thì thôi. Hể thấy thì tức khắc tự động ngừng xe, xuống coi. Thấy còn tốt là tôi bợ lên xe, đem về nhà. Bữa sau lại đem ra bỏ lề đường. Ước gì Mỹ nó làm con đường nhựa từ đây về Việt Nam, tui dám lần hồi chở hết thảy, đem về bển cho thằng con tui, nó cũng giỏi như tui, mò sữa chút đỉnh là làm giàu mấy hồi ! Nói xong anh chép miệng tiếc rẽ. Bất giác, tôi cũng chép miệng theo, tiếc cho Mỹ không chịu làm con đường xuyên Thái Bình Dương để cho anh bạn tôi mất một cơ hội làm giàu. Nhất là không có cơ hội phát triễn tài năng, làm giàu cho nước nhà bằng một cái nghề không vốn. Uổng thay ! Tiếc thay ! Gian nan với cái “ lai xần” ( License). Phải nói không ở đâu nhiều luật cho bằng ở Mỹ. Đụng vô cái nào cũng có luật hết trọi. Đại diện cho luật là cái “lai xần”. Lai xần là cái quỉ quái gì ? Thưa đó là cái giấp phép hành nghề. Có cái phải thi trầy da tróc vẫy mới được. Có cái phải làm đơn xin phép. Sau khi ban thanh tra nhà nước kiểm tra, duyệt xét, thấy đủ tiêu chuẩn mới cấp. Nhiều trường hợp phải hỏi ý kiến cư dân chung quanh mới có quyền cho phép, nếu họ đều ưng thuận và nói “ yes”, như mở tiệm bán bia rượu hay mở bar chẳng hạn. Đầu tiên và cần nhất là anh phải có cái “ Đờ rai vờ Lai xần” ( Drive’s License), nghĩa là cái bằng lái xe. Bằng lái xe được xem như cái căn cước thời Cộng Hoà hay như cái Chứng minh nhân dân thời Cọng Sản vậy. Đi xin việc, câu phỏng vấn tiên quyết là : Anh có bằng lái xe và xe không ? Nếu anh không có một trong hai cái đó kể như về nhà đáp mền ngủ. Không ai mướn người không có bằng lái và không có xe cả. Cho nên, vừa đến nước Mỹ là phải ba chân bốn cẳng đi học lái xe đã. Mấy tháng học lái ở Việt Nam coi như trật bù lon hết. Ở Việt Nam làm gì có bảng đi đường nhiều như ở đây. Từ cái bảng “ Stop” ở các ngã ba, ngã tư cho đến các đèn vàng, đèn đỏ, chớp nháy một mình, bảng lưu ý có trường học, đường một chiều... hàng chục, hàng trăm thứ bảng. Nếu không thuộc bài, thi rớt là cái chắc. Nhiều ông sĩ quan xưa kia lái xe Jeep, phóng vèo vèo, bây giờ thi lại rớt đụi đụi mấy lần mới lấy được cái bằng bỏ túi. Thi bằng lái xe phải qua hai kỳ thi. Thi viết và thi thực hành. Thi viết, phải trả lời hai mươi câu hỏi về luật giao thông. Trúng mười hai câu trở lên là ăn điểm. Dĩ nhiên là thi kiểu A, B, C, khoanh. Thi thực hành là đem xe tới Ty Cảnh sát, Phòng Giao Thông, có anh cảnh sát Mỹ, có khi chị cảnh sát, lên ngồi bên cạnh ra lệnh chạy. Chạy tới, chạy lui, chạy vòng vòng, qua ngã ba, ngã tư, dừng lại, chạy tiếp. Qua đèn xanh, đèn đỏ, tấp vô lề, thò tay ra ngoài làm hiệu quẹo mặt, quẹo trái, đi thẳng... Cái quyết định cuối cùng đậu hay rớt là cái “ tri bon tơn” ( Three point turn) tức là anh xụt tới, xịt lui làm sao chỉ trong ba lần là phải quay được đầu xe ngược lại chiều đang đi. Nếu xe leo lề hoặc đủ ba lần mà xe vẫn cứ chưa quay đầu được thì “ a lê hấp” về học lại, kỳ sau thi tiếp. Chừng hai mươi tới ba mươi phút lái thực hành là đủ. Khi lái về lại chổ Ty cảnh sát mà nghe anh cảnh sát ngồi bên cạnh nói “Còng ra tu lấy sân” (Congratulation) là thấy khỏe re như bò kéo xe rồi. Một tiếng đồng hồ sau đã có “Đờ rai vờ lái xân” bỏ ấm túi rồi. Nhưng nghe nó nói “xó ri “ là tàn đời con nhện ! Bèn đi những bước âm thầm mà ca bài con cá: Thi không ăn ớt mà cay ! Nhân chuyện thi bằng lái xe, tưởng cũng nên kể thêm vài ba câu chuyện bên lề để anh chị mua vui thêm được một phần tám trống canh. Hồi tôi mới bắt đầu đi xin tài liệu về luật giao thông để học, chú em nhà tôi, qua trước mấy năm, diện Ô Đi Ghe ( không phải diện Ô Đi Pi= O.D.P) rất rành về chuyện thi viết, rĩ tai tôi : - Anh Hai đừng có học làm chi cho nhiệt ! Cứ nhậu lai rai với tụi em đi! Em sẽ đưa cho anh câu thần chú, anh học thuộc lòng nó là đậu liền ! Trời đất ! Nó dư biết thằng anh nó đã được Bác và Đảng giác ngộ gần sáu năm, đã một lòng theo cách mạng rồi, mà dám nói chuyện bùa chú với một cán bộ cách mạng nhiệt thành bảy lăm, đầu đội chủ trương, vai khiêng chính sách như tôi ? Có lẽ nó chưa nhìn rõ trong bao tử của tôi chứa đầy kinh điển Mác Lê và Hồng thư của Bác Mao ? Tôi bèn gạt phắt : - Bậy ! Chú đừng có nói chuyện mê tín với tôi! Tôi cho chú biết tôn giáo là thuốc hê rô in làm cho người ta dễ ngủ đó. Bác Hồ đã khổ cực lắm mới thuỗn được cái tư tưởng đó của ông Mác, ông Lê nơi hải giác thiên nhai về dạy cho dân ta đó ! Nhưng chú em tôi đã vượt biên từ năm bảy tám, không được “ ân sủng” học tập chính sách Nhà nước , trí óc còn đen tối, chưa được ánh sáng các nghị quyết soi rọi, nên phát ngôn rất bừa bãi : - Anh đi cải tạo lâu quá, bị mấy thằng Cọng Sản nhồi sọ, nên bây giờ anh nói cái gì nghe cũng giống như cái máy thâu băng hết bin. Quãi ( oải) quá ! Tôi tính nhảy lại bịt miệng nó, sợ tai vách mạch rừng, ông công an khu vực nghe được thì là cải tạo mút mùa Lệ Thủy. Nhưng kịp nhớ ra mình đang ngồi tại Mỹ, một đất nước tự do, người dân có quyền lên tiếng hoặc đăng báo phê phán, chỉ trích việc làm sai trái của chính phủ. May quá,không thì mấy tay nhậu ngồi gần đó tưởng tôi “mát giây”. Nhưng thằng em tôi nói thiệt và làm thiệt. Đang sừng sừng với mấy lon Henekein, nó phổ biến công khai câu thần chú trong bàn tiệc để ai có cơ duyên tu dưỡng, dụng tâm ghi nhớ, lúc ra phòng thi trổ tài. Lúc ấy trong bàn nhậu cũng có vài tay sắp đi thi. Mọi người đều nhao nhao : - Phải đó ! Mầy truyền lại câu thần chú cho anh Hai, tụi tao cũng học lóm, để sau này làm của hậu môn. Sau câu đùa dai đó ai cũng cười rần rần. Nhưng chú em tôi nói nghiêm chỉnh : - Mấy anh tưởng tôi nói chơi hả ? Nói xong nó rút cái bằng lái trong túi ra, giơ lên cho mọi người thấy, cái hình nó oai vệ ở một góc, lấp lánh dưới ánh đèn. Mọi người chồm lên coi cho rõ. Chừng đủ cho ai nấy đều tin, nó tiếp : - Hồi tôi đi thi, Thầy tôi cho tôi học thuộc lòng câu thần chú là... mấy anh nghe cho kỹ nghen. Nó lại bỏ lửng câu nói, cúi xuống cầm lon bia tu một hơi, xong đâu đó, nó đọc chậm rãi câu bùa chú cho mấy cặp mắt thò lõ đang nhìn nó chờ đợi : - Nghe cho kỹ nè : “ Con dơi ăn bắp, con dơi bay dù dù ( vù vù)”. - Ủa ! Hết rồi hả ? Thần chú gì kỳ vậy cha nội ? Bộ giỡn mặt với cảnh sát hả ? Không phải, nói lộn, giỡn mặt với Công An hả ? Chú em tôi, mặt cứ tỉnh queo, coi bộ còn quan trọng hơn mấy ông Chánh án toà án Nhân dân xử đấu tố ngày nào ở ngoài Bắc. - Mấy anh thuộc câu thần chú đó chưa ? Mấy anh nên nhớ, thi theo kiểu A.B.C khoanh. Mình không cần học bài vở làm chi. Chỉ cần nhớ cầu thần chú và lấy vần đầu tiên mỗi chữ khoanh theo thứ tự từ trên xuống dưới là ăn chắc. Câu đầu là “con”. Anh khoanh chữ “c”. Câu thứ hai là “ dơi”, anh khoanh chữ “d”. Cứ như thế cho hết bài thi. À! Té ra là vậy! Bùa chú gì ! Chỉ là mánh khoé của mấy tay có trường dạy lái xe, “ ăn dơ” với bọn Giao thông lấy đề thi về cho đệ tử mình học, thi cho dễ đậu. Nhưng tôi đã từng ra đề thi, từng đi coi thi, thời gian còn làm giáo viên, biết rành về chuyện thi cử. Đời nào người ta lại cứ bo bo một đề thi. Dù có một đề thi, hai mươi câu hỏi cần thiết về luật giao thông đi nữa, người ta vẫn cẩn thận xáo trộn thứ tự các câu hỏi mỗi năm. Vì vậy,tôi vẫn cặm cụi học thuộc một trăm câu tóm tắt trong tài liệu. Đến ngày thi, tôi đậu dễ dàng, mấy tay đem bùa “ con dơi ăn bắp...” ra phù phép, té bật ngữa hết. Thi và có kết quả ngay trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Đó là chuyện thi viết. Đến phần thi thực hành nhiều chuyện còn vui nữa. Thi rớt,về nhà nghĩ lại cũng tức cười cho mình. Tại mình không học bài kỹ. Chẳng hạn, trường hợp cô em thứ tư tôi, dượng nó kèm cặp lái rất giỏi, chạy trên “hai quay” ào ào. Hôm đem xe tới thi, thằng cảnh sát đã đứng chực sẵn ở lề đường trước Ty Giao thông. Xe vừa ngừng, cô em tôi xuất trình giấy chứng nhận đã đậu thi viết, miệng cười tươi như hoa mười giờ để lấy cảm tình. Ai dè nó nói “ Sorry! You failed!” ( Xin lỗi ! Bà rớt rồi !) Cả chồng lẫn vợ đều ngơ ngác không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, chưa thi gì cả mà nó lại đánh rớt mới kỳ ! Hỏi tại sao ? Nó thong thả giảng nghĩa : - Tôi thấy Bà lái xe từ nhà đến đây. Bà chưa có bằng lái mà đã lái, đáng lẽ phải phạt, nhưng tôi thông cảm, chỉ đánh rớt thôi. Hy vọng lần sau Bà cẩn thận hơn. Trời đất quỉ thần ơi ! Mụ vợ cằn nhằn anh chồng. Anh chồng vò vò cái đầu hói than thở : - Hồi giờ tôi “ bông xo” (sponsor) cho nhiều người đi thi, có thấy cái trường hợp này bao giờ ! Trường hợp anh bạn của tôi, Đại Úy hồi xưa, cũng buồn cười. Chuyện lái xe đối với anh dễ như húp cháo... bào ngư. Thế mà cũng rớt. Phải thi lần thứ hai mới đậu. Số là,sau khi đã lái lã lướt một vòng theo tất cả mệnh lệnh viên cảnh sát đưa ra đều được nó khen “ gút, gút”. Lúc về Ty, đậu lại, chuẩn bị lấy kết quả bỏ túi, ai dè nó cũng cho rớt. Tức quá, hỏi tại làm sao ? Nó chỉ chiếc xe đang đậu trên đường lên dốc, bảo rằng sao không kéo thắng tay khi ngừng. Không bẻ lái bánh xe nghiêng về phía lề đường, đề phòng xe tuột dốc. Đành phải chịu là nó nói đúng. Nhưng chuyện vui hơn cả là anh chàng người Việt gốc Chệt Chợ lớn. Anh ta thi bảy lần vẫn cứ rớt. Anh ta tức mình không thi nữa. Nhất định đi xe Bus và Subway. Mỗi lần nhậu, có ai nhắc tới chuyện thi lái xe là anh ta chữi õm tỏi : - Lụ mẹ nó! Mấy thằng Mỹ kỳ thị Á Châu mình ! Lụ mẹ nó ! Hỏi tại cớ làm sao ? Kể ra nghe thử tại sao tụi Mỹ nó kỳ thị Á Châu ? Anh ta kể : - Nó biểu tui “turn left”. Vì mấy lần nghe không rõ, lái bậy bạ, bị nó cho rớt, tui hỏi lại cho chắc: “left ?”. Nó lại nói “ right!” Thế là tui quẹo mặt. Nó biểu tui ngừng lại và đánh rớt. Nghĩ có tức ói máu không ? Lụ mẹ nó! ( Chữ “right” vừa có nghĩa là “bên mặt”, cũng có nghĩa là “ phải ! ” ) Hôm ấy chúng tôi được một trận cười no bụng. Có anh hứng nhạc, bèn cầm đũa gõ vào tô cà ri mà ứng tác một bài ca hồ quãng giao duyên với tân nhạc : - Buồn cười thay cho A Coón thi lái xe. Tơn rai ấy mà tơn lép. Tơn lép ấy mà tơn rai. Lép lép, rai rai. Nó biểu tơn lép , tui lại tơn rai. Lụ mẹ nó ! Rai lép, lép rai. A Coón ơi ! A Coón à ! Lái xe bảy lần ! Lép lép, rai rai. Cái “lai xần” nó dính liền với tất cả mọi ngành nghề trên đất Mỹ. Muốn hành nghề “ neo” ( nail) ? Phải học một khóa ba ngàn giờ. Phải qua một kỳ thi lý thuyết và thực hành y như lái xe mới được cấp bằng . Học lâu như vậy thì biết ngày tháng nào có thể bung ra kiếm tiền cho lẹ ? Không sao! Ở đâu có người Việt là ở đó có mánh mung! Bạn chỉ cần học căn bản vài ngày để biết cắt, dũa, đắp bột, dán móng, sơn màu là đủ. Nộp thêm hai ngàn đô cho trọn khóa học sáu tháng. Rồi về nhà đắp mền ngủ chờ tháng sau đi thi thực tập có lệ cho hợp pháp. Tuần sau cái “lai xần” ô tô ma tích được gởi về tận nhà. Người ở bang Mát Xa Xu Xét ( Massachusetts) miền Bắc, mà cái bằng thi đậu ở tận bang Cali ( California) miền Nam, cách nhau mấy chục ngàn dậm đường. Thế mới tài ! Cô Phượng,vợ chú Nam, quen với chúng tôi, đang làm “át xâm lơ” (assembler = công nhân làm điện tử theo phương pháp dây chuyền) đã lâu, thấy số người mới qua có mấy năm, nhờ làm “neo” khá lên quá xá, bèn bỏ nghề điện tử, nộp tiền đi học “neo”. Trong khi chờ ngày hẹn để thi thực hành, cô xách hộp đồ nghề mới cáo cạnh mà Nhà trường tặng cho học viên vừa tốt nghiệp, đến nhà dụ khị bà xã tôi đưa tay chân cho cô làm móng “ phi” ( free= miễn phí). Bà xã tôi tuổi dần lại cầm tinh con thỏ đế nên rất nhát gan. Hồi giờ chưa tốn đồng bạc nào đi làm móng, cứ sợ người ta cắt phạm da chảy máu. Nhưng nghe cô Phượng tốt bụng nài nĩ mãi, lại làm không tốn tiền ( ba mươi đô chứ ít à !) nên xiêu lòng, xìa mười ngón chân hột mít, mười ngón tay thiên thần như chuối sứ ra cho cô thực tập. Nhưng vẫn còn thắc mắc sao có người tử tế quá vậy : - Phượng à ! Sao em không biểu chú Nam và ba đứa con em đưa tay chân cho em thực hành ? - Dạ rồi chị Hai à! Em đã làm mấy lần rồi ! Tới bây giờ móng chưa còn kịp mọc. Mà tụi nó không chịu cho em làm nữa. Thì ra là vậy. Không có chó mới tới mèo ! Tôi ngồi xa xa đọc báo, liếc chừng xem công việc tiến hành, từng bước tiến lên, tiến mạnh, tiến vữõng chắc tới thành công vẽ vang... bỗng nghe bà xã tôi hỏi : - Ủa ! Sao lại mỗi móng dũa mỗi bên có ba cái vậy em ? - Dạ! Bài học nó vậy đó chị ! - Mình dũa năm hay bảy cái không được sao ? - Đâu có được chị ! Dũa hơn ba cái là bị rớt ! Thình lình tôi nghe bà vợ tôi kêu “ái” một tiếng rồi giựt tay lại đưa lên coi. Thấy máu tươm tươm chảy ra bên khóe ngón tay. Bả lấy cồn 90o bôi vào và lấy băng miếng, băng lại. Cô Phượng cười giả lả: - Tại cái kéo còn mới nên nó bén quá chị Hai à ! Bà xã tôi dứt dạt vấn đề : - Thôi! Bữa nào cái kéo nó cùn bớt rồi em làm lại nghe Phượng ! Bài thực hành đột ngột chấm dứt nửa chừng. Chưa kịp tiến lên thời kỳ quá độ. Vậy mà ba tháng sau, vợ chồng chú Nam, cô Phượng khai trương một tiệm “neo” mới toanh. Nghe kể lại là khá lắm. Khách Mỹ đen, Mỹ trắng vô ào ào, thợ làm không kịp. Tiền “ típ” khách cho cũng đủ trả tiền thuê tiệm. Mỗi tuần chia chác tứ lục cho thợ xong cũng được vài ngàn đô khẳm túi. Thiệt là cái cảnh ngồi mát ăn bát vàng. Ai mà không ham. Mười người Việt tị nạn, hết chín người rưỡi đã hay sắp làm “neo”. Một lần trong bữa nhậu, chú Nam “hồ hởi phấn khởi” bật mí nghề mới : - Vợ tôi dự tính mướn thêm thợ làm “ phe xồ” ( facial) và “ quác” ( wax). Nhưng tìm người có “lai xần” khó quá. Đám bợm nhậu đâu có ai trong nghề “neo” nên làm sao biết được “phe xồ” với “ quác” là cái quỉ quái gì, nên cũng tò mò hỏi hai cái đó là cái gì. Chú Nam bây giờ là ông chủ “ neo” nên rành sáu câu vọng cổ” : - “ Phe xồ” là làm mặt, là xoa bóp các bắp thịt trên mặt với các loại thuốc làm da mặt căng ra, mịn màng ra. Còn “ quác” là dùng thuốc, nhổ bớt đám cỏ gà rậm rạp của các cô, các bà, tỉa gọt cho ngay hàng thẳng lối. Anh Bồng nghe tới đây khoái chí tử : - Ê Nam ! Tao tình nguyện làm không ăn lương cái chuyện “ quác” đó nghe mậy ! Mầy nói với con Phượng để giốp đó cho tao nghe ! - Ý đâu được anh Bồng ! Cái giốp này chỉ dành cho đàn bà thôi. Làm không khéo, chảy máu, nó “xu” ( sue) cho thì có mà chết ! Nhưng chưa kịp mướn thợ thì lại nghe nói tiệm đã sang lại cho anh chàng Tú Vịt. Vợ hờ Tú Vịt là một trong hai người thợ làm ở đó. Theo nguồn tin rò rĩ từ anh chàng Tú Vịt xì ra là tiệm ế quá, không đủ tiền để trả tiền thuê nhà và các thứ điện nước. - Nếu ế như vậy sao chú mày còn sang lại làm chi mất mười lăm ngàn đô? - Em có mối rồi, nên mới dám bỏ mười lăm ngàn ra để sang. Vừa sang xong em sang lại cho thằng gà chết khác hai chục ngàn. Lấy năm ngàn bỏ túi. Nói nhỏ anh nghe thôi. Đừng cho vợ chồng thằng Nam biết. Nó tức ói máu chết. Cái sự dặn hờ của Tú Vịt là thừa. Ngay hôm sang lại cái tiệm lần thứ hai trong vòng một tuần, cả xứ Mỹ đều biết ráo trọi. Tin tức của giới làm “neo” còn nhanh gấp mấy lần các hãng thông tấn ngoại quốc. Vợ chồng Nam, Phượng biết mà đành ngậm bồ hòn khen ngọt. Dù cũng tiếc hùi hụi năm ngàn đô bị hớ, nhưng có người chịu sang lại cái tiệm ế chảy, ế thiu, lấy lại được vốn là mừng thấy ông bà ông vãi rồi. Giở mấy tờ báo chợ hàng tuần ra coi cái mục rao vặt thấy cũng buồn cười cho cái sự đời. Nửa trang bốn cột bên tay trái toàn là khai trương tiệm “neo” với những lời quảng cáo và rao tìm thợ, thấy thèm chảy nước miếng : - Tiệm mới khai trương, đầy đủ dụng cụ tối tân, hảo hạng. Có ghế tự động đấm bóp. Giá phải chăng. Cần nhiều thợ có kinh nghiệm năm năm trở lên. Lương cao, bao ăn ở. Nửa trang bên tay phải lại toàn là những mẫu rao sang tiệm “neo” với lời quãng cáo không kém phần hấp dẫn ( láo xạo ) : - Tiệm ở địa điểm tốt, đông khách, thu nhập cao nhưng thiếu người trông nom ( hoặc phải “ mu” đi nơi khác) đành phải sang lại với giá hạ. Xin liên lạc số điện thoại ... Tóm lại từ anh bán bong bóng, anh bán cà rem dạo ( rất ít) đẩy chiếc xe theo dọc đường trong những ngày lễ hội, ngày diễn hành, cho chí những anh cắt cỏ, thợ sữa nhà, ống nước v.v... đều phải có “ lai xần” cả. Ngoài cái nghề “ neo” ra, người Việt mình nhảy vô nghề “ còng trấc sần” (construction) cũng lắm. Nhưng chỉ dành cho phái nam, khoẻ mạnh. Nó là cái nghề sữa chửa nhà cửa, đánh bóng sàn nhà, lót gạch men, thay mái lợp, thay vách nhà v.v... Cái nghề này đòi hỏi phải có “lai xần” thứ thiệt chớ không được dỗm như “lai xần” nghề “ neo”. Một trăm anh Việt Nam ta làm “còng trấc sần”, rờ bụng chỉù một, hai anh có “lai xần”. Nếu vậy thì khó cho ta quá! Làm sao mà kiếm ăn được ? Ấy vậy mà nhiều người chỉ mấy năm sau đã phất lên thấy rõ. Chẳng là dân ta nổi tiếng cần cù, chăm chỉ, chịu khó, siêng năng, khéo tay, giỏi ăn cắp... nghề, nên sau một thời gian đi làm mướn cho các công ty hoặc nhà thầu Mỹ, biết hết mọi kỷ thuật và mánh lới nhà nghề, bèn bung ra làm ăn riêng. Nhưng không có “lai xần” đâu có ai dám mướn, trừ Việt Nam với nhau, hè nhau làm lậu,làm ẩu. Người Mỹ họ cẩn thận lắm. Họ luôn mướn người có “ lai xần” . Sau này có hư trật, sai trái điều gì trong hợp đồng thì họ có chổ để “ xu”, tức thưa kiện để bồi thường hay làm lại. Nắm anh có tóc chớ ai nắm kẻ trọc đầu ! Nhưng Viềt Nam mình có “mánh” riêng. Mánh đó là thầu “xấp con trắc” ( sub contract). Nghĩa là thầu lại một phần nhỏ trong công trình lớn của nhà thầu Mỹ, và được nhà thầu này bảo hộ. Tuy chỉ ăn có phân nửa giá chính thức thầu nhưng cả hai đều có lợi. Đây là sự thỏa thuận đôi bên không ai bóc lột ai. Phía Việt Nam có việc làm. Phía Mỹ khỏi phải mướn công nhân với sự chi trả quá cao. ( Ở Mỹ ngoài giá lương căn bản ra, chủ còn phải trả thêm các khoản như bảo hiểm sức khoẻ, tiền hưu trí, thuế liên bang, tiểu bang v.v...) LẠC VÀO XỨ TIÊU THỤ và HƯỞNG THỤ Theo luật nhân quả của Nhà Phật thì đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Không biết kiếp trước đời ông cha ta ăn mặn đến mức độ nào, mà theo lịch sư,ũ cứ kể từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh lấy giòng sông Gianh làm giới tuyến, chia Nam Bắc hai miền, nhân dân ta đói khổ triền miên vì cảnh nồi da xáo thịt. Chiến tranh kéo dài mãi đến thời kỳ “văn minh huy hoàng” của nhân loại, thời kỳ của các chủ thuyết ma vương nổi lên, ai cũng nói “ thuyết của tôi mang về là số một”, thuyết của tôi sẽ mang lại tự do độc lập, cơm no áo ấm cho mọi người, bèn chia đất nước trở lại lấy sông Bến Hải làm vết cắt đôi bờ. Kể từ đó, huynh đệ quyết tương tàn không phải bằng gươm dáo, cung tên thô sơ nữa,( ba cái thứ này giết người không nhiều,không đã tay, say máu ) mà quyết tàn sát lẫn nhau bằng bom đạn tối tân, giết người hàng loạt, của mấy ông đề xướng ra học thuyết cung cấp. Mỗi lần giết được nhiều người anh em là đám văn nghệ sĩ làm thơ, làm nhạc, làm truyện... thi nhau nhả ngọc phun châu ca tụng những dòng máu chảy lênh láng trên mặt đất, nhuộm thắm màu cờ ... Ôi đẹp làm sao máu thắm đỏ cờ ta ! Kể từ ngày ấy, ngày mà ông Tố Hữu sung sướng reo lên “trong tôi bừng nắng hạ” thì dân tộc tôi tang tóc khắp nơi. Gia đình nào cũng có người chết, Từ chết đói cho đến chết vì bom đạn. Ruộng vường bỏ hoang. Xóm làng xơ xác. Từng bầy, từng lũ bỏ xứ, đi khắp nơi kiếm ăn như những oan hồn vất vưởng... Còn cái xứ Mỹ này, ông cha họ ngày xưa chắc bị đọa đày cơ cực, bầm dập thảm thương, đói khát ghê gớm lắm nên đến đời nay, con cháu họ mới giàu sang, sung sướng đến như vậy ? Cứ nhìn hai nước láng giềng, bên trái và bên phải của xứ Mỹ thì rõ. Tại sao xứ Gia Nã Đại và Mễ tây Cơ lại nghèo ? Giống như Việt Nam cùng chung một giải đất hình cong chữ S mà miền Nam thì trù phú, giàu có, miền Bắc lại nghèo đói xác xơ ? Có phải vì phong thổ hay vì nhân sự ? Hay vì chính sự ? Tôi không ca tụng cái sự giàu sang và sự hưởng thụ hoang phí của Mỹ mà cứ lo dùm cho họ như lo bò trắng răng vậy. Tôi cứ áng chừng vài trăm năm nữa, cái vòng luân hồi sẽ quay đến giai đoạn đất nước Mỹ sẽ đói khổ cùng cực. Lúc đó họ sẽ nếm mùi cho biết thế nào là mùi Xã hội Chủ nghĩa. Một năm mười hai tháng, hầu như tháng nào cũng có lễ lạc để nghỉ ngơi và mua sắm tưng bừng. Thường thường ngày lễ được Nhà Nước xếp vào ngày thứ năm hay thứ sáu cuối tuần, để mọi người nghỉ suốt bốn năm ngày liền gọi là “lông quít kèn” ( long weekend ). Tha hồ mà “ sóp bing” và “ in roi”. ( shopping & enjoy). Thử đi một vòng các siêu thị làm người cữi ngựa xem hoa cũng đủ xây xẩm mặt mày. Cứ nghe nói kinh tế dạo này “ đao” quá. Thất nghiệp nhiều quá. Ngân sách Nhà Nước thâm thủng hằng tỉ tỉ đô la. Nhiều công ty phá sản. Nhiều xí nghiệp đóng cửa. Vậy mà mỗi lễ lạc dân Mỹ cứ ùn ùn mua sắm. Hàng ăn chơi, quần áo, giầy dép kiểu cọ, nữ trang... “on xeo” (on sale) năm chục phần trăm ốp, bảy chục phần trăm ốp... (50% -70 % off) cứ chất đầy xe, đẩy ra quầy mà tính tiền. Tiền đâu mà lắm thế ? Thẻ tín dụng đó! (Credit card) Cứ tha hồ mà cà! “ bai phớt- bay lây” ( buy first-pay late) Qua ngày lễ, lề đường lại đầy những thứ vừa mua xong. Xe rác lại thêm phần cực nhọc. Thấy muốn lượm về xài lại, mà trong nhà thì đã có nhiều rồi, mang về không biết để đâu ! Cứ tiếc ngẩn, tiếc ngơ hùi hụi ! Lẩn thẩn, nghĩ xa rồi lại nghĩ gần, nếu chính phủ Mỹ học được cái cần kiệm liêm chính của Đảng ta, cứ mỗi “lông quít kèn”, hô hào hai trăm triệu dân đổ ra đường trồng cây nhớ...ơn Mọi da đỏ, thì đất nước sẽ càng giàu mạnh hơn nữa. Còn nếu không trồng cây thì cũng phải biết biến thì giờ nhàn rỗi nghỉ ngơi, thành hành động cụ thể, làm việc bằng hai để lập thành tích chào mừng Đảng ...Cọng Hoà hay Đảng ... Dân Chủ có phải hay hơn không ? Cứ mỗi lần nghĩ ngợi như thế, không biết thố lộ “tâm tư, nguyện vọng” cùng ai, lại đè bà vợ già ra mà xổ bầu tâm sự. Ai dè bả chẳng những không thèm nghe mà còn mắng như tát nước vào mặt : - Rõ khéo ! Già lẩm cẩm ! CÀNG NỢ NHIỀU, UY TÍN CÀNG CAO ! Chuyện đâu có chuyện lạ đời ! Đã mắc nợ, người ta không khinh cho là may phước lại bảo là uy tín càng cao ? Ấy! cái xứ Mỹ nó ngược với ta ở chổ đó. Phải nói ngay rằng tám mươi phần trăm dân Mỹ đều mắc nợ, mà nợ suốt đời chưa chắc đã trả dứt. Lấy cái nhà làm ví dụ điển hình. Anh thuê nhà mãi cực quá. Hàng tháng làm được bao nhiêu tiền cứ đổ hết vào cái khoản nhà thuê. Mà tiền thuê nhà nó tới mau lắm. Vừa trả xong, chưa kịp ráo mực cái “séc” thì tháng kế đã tới. Thôi thì bao nhiêu năm dành dụm được năm ba ngàn đem “đao” xuống mà mua cái nhà để ở. Hai vợ chồng đều có công ăn việc làm, tuy lương không bao nhiêu, nhưng cũng đủ tiêu chuẩn Ngân hàng cho vay để mua nhà. Cái nhà nho nhỏ, hai phòng ngủ, giá hai trăm năm chục ngàn đô, chí ít anh phải “ đao” xuống 5%, tức mười hai ngàn năm trăm đô, còn lại bao nhiêu thì Ngân hàng cho vay. Anh cứ thong dong mà trả nợ trong vòng ba mươi năm. Mỗi tháng chừng hơn ngàn đô tiền lời. Ai cũng biết thời hạn ba mươi năm, mình đã chết rục xương rồi còn đâu mà trả nợ. Nhưng ai cũng đều chép miệng : - Thôi thì con mình nó có cái nhà nó ở, nó sẽ tiếp tục trả ! Nếu anh quịt không trả thì sao ? Dễ lắm ! Đã bảo Mỹ là cái xứ luật mà ! Khi anh đến văn phòng luật sư ký giấy tờ nhận chìa khóa nhà là lúc anh ký tên trên các thứ giấy tơ, đến mõi tay luôn. Anh cũng không có thì giờ đâu để đọc một chồng hàng trăm trang giấy chi chít điều lệ. Khi anh không chịu trả tiền trong ba tháng, lập tức những điều lệ ấy cho phép Ngân Hàng niêm phong nhà và bán đấu giá. Số tiền anh “đao” cái nẫm, coi như mất. Khi anh vừa làm chủ ( nợ ) cái nhà chừng một tuần, thì ối thôi, cái điện thoại nhà anh réo liên hồi, đủ thứ công ty kêu tới mời anh dùng thẻ tín dụng của họ với mọi điều kiện dễ dàng. Mỗi ngày anh nhận hàng đống thư với những tên Ngân hàng lớn mời anh vay tiền để sữa nhà, mua xe mới v.v... Ngay bà xã tôi cũng là người có uy tín lớn đối với thị trường thương mãi, nhất là các công ty xe hơi. Chẳng là hồi mới đi làm, ngày nào cũng đón xe buýt. Ngày nắng còn đỡ. Gặp ngày mưa hay bão tuyết thì rất cơ cực. Vợ chồng bàn nhau, ăn mắm mút vòi, dành dụm bấy lâu được vài ngàn, đem ra “ điêu lơ” ( dealer = nơi bán xe hơi) “đao” xuống để “ thỉnh” về một chiếc xe thường thường bậc trung chừng mười lăm, hai chục ngàn đô. Bà vợ tôi đứng tên chủ xe, vay tiền Nhà băng, tiền lời 11%/năm. Còng lưng trả bốn năm mới dứt nợ. Từ ngày có xe mới đến nay hơn sáu năm qua, ngày nào bả cũng nhận được thư mời mua xe của các hãng xe danh tiếng. Còn tôi chớ hề đườc một ai nhắc đến cái tên Ổi Nhu Uyên được một lần. Chỉ vì khi tôi mua xe “ yêu ca” ( used car = xe đã dùng rồi) trả bằng tiền mặt ( cash = tiền tươi ) nên không có “ cờ rế địt” ( credit) tức uy tín. Mấy năm gần đây kinh tế Mỹ “đao”, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều lý do giải thích vì sao tình hình ngày càng tồi tệ, lý do nào cũng rất “lô gíc”. Ban cố vấn kinh tế Nhà Nước khuyên Ngân Hàng hạ thấp lãi suất để khuyến khích người dân tiêu dùng nhiều hơn. Nhưng lãi suất lần lượt hạ bao nhiêu lần từ bảy chấm xuống còn một chấm rưỡi mà kinh tế vẫn cứ ì ạch không ngóc đầu lên nổi như lão già sáu mươi yếu sinh lý là cớ làm sao ? Cái vấn nạn này , các nhà kinh tế học Mỹ dù đọc bảy chục ngàn cuốn sách, đậu mười tám cái bằng thạc sĩ kinh tế, cũng không nghĩ ra nổi. Chỉ có người Á Châu nói chung và người An Nam ta và Tàu Chệt nói riêng mới biết được mà thôi. Biết mà dại gì nói ra. ( Nói ra thì xấu thiếp, hổ chàng ! ) Đó là cái tính hà tiện. Keo kiệt mới đúng. Nó di truyền từ đời ông cao tằng, cố tổ, trước cả ông Bành tổ cũng nên ! Trong số hơn hai trăm triệu dân Mỹ hiện nay, còn có được mấy chục phần trăm dân “Ăng gờ lô Xéc Xông” ( Anglo Xaxon = di dân đầu tiên) chính cống ? Dân này mới thực sự là dân tiêu dùng hoang phí và luôn hưởng thụ bất cần ngày mai sẽ “hôm lẹt” ( homeless = không nhà). Còn dân Á Châu, nhất là Tàu và An Nam ta ngày càng đông, bang nào cũng có mặt, mà thành phần mua sắm và tiêu dùng thì chỉ có mấy ngoe, còn bao nhiêu thì cứ “ thắt lưng, bó ống”. Làm được bao nhiêu cứ dắt lưng kè kè. Thấy nhà nào để bảng rao bán hôm trước, hôm sau có người mua liền. Chém chết, không Việt Nam thì Tàu. Thứ ba mới tới Chà Và Ấn Độ. Ba sắc dân này rất... rất ít khi đổ xô nhau đi mua sắm lắm. Chỉ chực chờ đi lượm những đồ của dân bản xứ xài xong vất ra đường. Hoặc chờ thứ bảy, chủ nhật đi tới mấy “da xeo” ( yard sale) để mua rẽ. Thứ nào cũng một đồng, hay vài đồng là cùng. Nói tới “da xeo”, tưởng cũng nên nói thêm về cái “chợ đặc trưng” này một tị để anh chị biết mà nhếch mép cười một cái cho vui đời. Cái thói ham của mới và rẽ thì ai cũng có. Nhưng riêng với mấy anh chị Hồng Mao mũi lõ thì càng biểu lộ rõ rệt. Xuân, Hạ,Thu, Đông bốn mùa, mỗi mùa ba tháng, tháng nào cũng có “ on xeo” tức đại hạ giá. Cứ thấy Ti Vi hay báo quãng cáo hạ giá từ 50% đến 80% các mặt hàng từ quần áo cho chí máy móc, thế là đổ xô nhau đi mua. Mua riết một hồi ngó lại đầy nhà, không còn chổ để, chổ trưng bày. Bèn gom hết những cái mua năm ngoái ( có thứ còn nguyên trong bao, trong hộp chưa dùng tới) đem ra bày ngoài sân cỏ trước nhà để bán tống, bán tháo, mỗi thứ vài ba đồng coi như vớt vát được đồng nào hay đồng nấy. Người đi xem, đi mua bu cũng đông. Mua xong, rồi cũng sẽ tới phiên mình bán “da xeo” hay vất đi trong một ngày nào đó. Đến chiều tối, không còn ai mua nữa, các thứ còn lại, được gom thành một đống ở lề đường, chờ xe rác tới hốt. Hoặc những anh Á Châu lò mò tới lượm. Trở lại chuyện kinh tế ngày càng xuống cũng là do một phần dân da vàng, mũi tẹt làm hại. Có những món buộc lòng phải mua như xe hơi, hay bàn ghế, giường nệm... thì phải xài năm, bảy năm mới chịu bỏ. Khi đã bỏ ra lề đường rồi thì chỉ có xe rác tới hốt chớ không ai thèm lượm. Nó đã tả tơi lắm rồi. Dân Mỹ, nhà giàu có, địa vị cao, không bao giờ mua xe hơi để đi làm. Họ chỉ thuê xe để đi. Chuyện khó tin quá ! Nhưng đó là điều thật hiển nhiên trên nước Mỹ. Dân nhà nghèo mới mua xe. Họ đi xe thuê, được nhiều điều lợi. Thứ nhất là xe luôn luôn đời mới. Không bị hư hỏng thình lình. Tiền thuê xe, hảng trả. Xe riêng của mình thì cất ở nhà, để dành đi “ vây cáy sân” ( vacation). Cuối năm hảng khai chi phí để được trừ thuế. Nhờ cái vòng lẩn quẩn này, nền kinh tế tiêu dùng, nói riêng, mới phát triễn mạnh. Từ ngày di dân Á Châu, Mỹ Châu tới ngày càng đông thì kinh tế Mỹ ngày càng lụn bại. Chẳng mấy chốc đạo quân thứ năm sẽ tràn ngập trên khắp đất nước Hoa Kỳ. Đạo quân thứ năm đó là nghèo đói, đặc sản của di dân Á Châu mang lại. Hai dân tộc anh hùng đại diện, phất cờ đi tiên phuông là Việt Nam và Tàu Chệt. Để dứt điểm cái mục “dây cà ra dây muống” này, xin kể anh chị nghe câu chuyện cà thẻ ( charge) của mấy ông bà An Nam ta làm điển hình. Có bà nọ xin được cái thẻ “ mát tơ” ( Master card) trị giá mươì nghìn đô. Bà ta tha hồ sắm vòng vàng, nữ trang đeo đầy người ( có lẽ về Việt Nam dợt le cho bà con lé mắt). Ngày tối tới sòng bài Casino, định dùng của Chùa xây thêm miễu, ai dè thua trắng tay. Không có tiền trả “ mí ni mum” ( minimum) tức phải trả ít nhất hàng tháng, bèn tới nhờ luật sư khai “ben rúp xi” (bankruptcy) tức khai phá sản.( Luật Mỹ có chương 7 bảo vệ người dân khi làm ăn thua lỗ có quyền khai phá sản. Khi đã phá sản tức các món nợ coi như huề. Khỏi trả. Nhiều người lợi dụng khai phá sản để giựt tiền Nhà băng. Theo thống kê,hàng năm có tới một trăm mấy chục ngàn vụ khai phá sản, riêng ở bang Cali.) Luật sư khuyên bà ta nên chấm dứt dùng thẻ ngay từ giờ phút này để được Tòa án xét thuận đơn xin khai phá sản. Bà ta nghe tới đó hốt hoảng kêu lên : - Ấy chết ! Xin luật sư cho em cà lần chót để em có tiền trả cho luật sư chớ ! TIẾNG VIỆT MẾN YÊU ! THÈM NGHE TIẾNG VIỆT ! Cuối năm 1991, chúng tôi đặt chân lên đất Mỹ, nơi chúng tôi cư ngụ đầu tiên, thành phố Randolph, hầu như không có người Việt Nam. Xung quanh thưa thớt nhà cửa, toàn là người bản xứ. Cái cảnh mùa Đông tuyết phủ trắng xóa khắp nơi sao mà thê lương ảm đạm. Mấy ngày đầu thấy cảnh đẹp còn ham nhìn. Chừng một tuần sau, ngồi trên lầu nhìn ra cửa kính, phong cảnh xung quanh lặng lẽ y như một bức tranh hai màu. Màu trắng của tuyết và màu xanh đen của thông. Thông chịu rét đứng sững sững, cao vút và nhọn hoắc chỉa trên bầu trời trắng đục. Nổi nhớ nhà càng lúc càng nung nấu trong lòng. Ngày xưa Kiều ở lầu Ngưng Bích còn nhìn được ra biển thấy buồm trắng nhấp nhô, nghe được tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá xung quanh lầu đở buồn. Bây giờ chúng tôi chỉ thấy một màu tuyết trắng và sự vắng lặng đến sợ hãi. Có chăng, thỉnh thoảng một con sóc nhỏ ở đâu lạc loài chạy vút qua, rồi leo thoăn thoắc trên cành thông, biến mất. Vợ tôi và mấy đứa nhỏ u sầu, ủ dột thật thảm não. Cả ngày nhốt mình trong phòng, quấn mấy lớp mền bông mới đủ ấm. Không ai nói với ai lời nào. Từ sáng đến tối. Khi đói lắm, mới cực chẳng đả,xuống bếp ăn quấy quá chút đỉnh gì đó rồi vội vã rút lên lầu co cụm. Ba tháng ròng rã như vậy. Nhớ lại thật là khủng khiếp. Trong nhà yên lặng như tờ. Ngoài đường yên lặng như tờ. Chỉ có tuyết và lạnh. Hai vợ chồng đứa em tôi, đứa làm ca sáng, đứa ca chiều, về đến nhà là chui vào phòng , ngủ li bì. Hết ngủ thì lại đi làm. Ở chung nhà ba tháng mà ngồi ăn, nói chuyện với nhau chưa được mươi lần. Ở trong hoàn cảnh cô đơn như vầy mới hiểu rõ được tâm trạng của người lạc trên hoang đảo hay người tù biệt giam, thèm nghe tiếng người biết bao, nhất là tiếng Việt thân thương của mình. Một hôm chủ nhật, vợ chồng chú em chở gia đình tôi đi phố Tàu ( Chinatown) để mua sắm thức ăn. Cũng là dịp để cho gia đình tôi “mở rộng tầm mắt”. Phố Tàu ở trung tâm thương mại nên nhà cửa san sát. Hai bên đường nhà lầu cao vút nên lòng đường như thu hẹp lại. Đi giữa đường có cảm giác ngộp thở. Đúng là phố Tàu. Cửa hàng nào cũng của người Tàu. Bảng hiệu chữ Tàu. Xí xô, xí xào tiếng Tàu. Tội nghiệp bà vợ tôi ngơ ngác giữa chợ Thái Bình ( siêu thị duy nhất có bảng hiệu tiếng Việt, nhưng hầu như nói toàn tiếng Tàu ) thấy ai tóc đen cũng cứ ngỡ là người Việt. Mấy lần hỏi chuyện làm quen, gặp toàn người Hoa, lắc đầu không hiểu. Tại chợ này người ta nói tiếng Tàu hay tiếng Anh với nhau. Về sau mới biết, cũng có người Việt, nhưng sợ bị lầm hay hố như vợ tôi, nên cứ nói tiếng Anh cho tiện việc sổ sách. Buồn rầu và chán chường. Ôi cái tiếng Việt dễ thương làm sao! Bây giờ thiếu vắng nó mấy tháng nay, nhớ nhung nó biết bao ! Tương tư nó biết là dường nào ! Sau ba tháng, chúng tôi thuê nhà riêng, dọn về ở Quincy, trong một khu lòng chão, có tám cái biu đinh vây tròn, tên gọi là Bersani Circle. Ở đó, người thuê đa số là Tàu, Xì ( Spanish) và Việt Nam. Chiều chiều, trẻ con tụ tập trước sân chơi banh với nhau. Chúng nói bốn thứ tiếng. Anh, Tàu, Xì và Việt. Nghe cũng ngộ nghĩnh và vui tai. Lòng kẻ tha hương dần dần ấm lại. Trong đời lưu vong, những lớp già như chúng tôi được gọi là thế hệ thứ nhất. Đời con tôi là thế hệ thứ hai. Đời cháu là thứ ba... Thế hệ thứ nhất còn lưu luyến tiếng Việt. Thế hệ thứ hai đã bắt đầu pha vài chữ tiếng Anh trong câu nói thường ngày. Nghe như nhai cơm nhằm phải sạn. Đến đời thứ ba đã hoàn toàn bị đồng hóa. Chúng nói lưu loát tiếng Anh như người Mỹ. Còn tiếng Việt thì ngắt ngứ, rặn từng chữ như người cà lăm mà vẫn không ra câu kéo gì! Ôi một ngàn năm bị Tàu đô hộ, một trăm năm bị Tây đô hộ mà ta vẫn giữ được tiếng nước nhà. Thế mà mới có mấy năm ( không phải mấy chục năm) nhiều gia đình đã bị Mỹ đồng hoá hoàn toàn. Cha mẹ con cái cùng nói tiếng Anh thoải mái. Khi nói chuyện với người Việt khác, cực chẳng đã phải dùng tiếng Việt, thì thỉnh thoảng phải vỗ vỗ vào trán vài cái để nhớ lại “cái nắp chai” tiếng Việt gọi là gì, “cái ly” uống nước nói ra sao... Cái điệu bộ vờ vịt trông kệch cỡm làm sao ! Đã vậy còn chưa biết xấu hổ ! Lại đưa lên cả video phỏng vấn, phỏng viếc trong các chương trình ca nhạc, cho các ca sĩ, người mẫu nói ngọng làm trò hề. Coi mà lộn mữa ! Những tiếng kêu cứu hãy giữ gìn tiếng Việt trong các cộng đồng như rơi vào hư không. Người ta sợ con mình không nói được tiếng Anh để dễ hòa nhập và thăng tiến trong tương lại., nên ai hô hào mặc ai, con mình phải nói giỏi tiếng Anh trước đã. Tiếng Việt là vốn rồi lo gì ! Lâu lâu, vài gia đình họp nhau vui chơi. Người lớn ngồi ngắm bầy trẻ đùa giỡn với nhau, chúng trao đổi cùng nhau hoàn toàn bằng tiếng Mỹ. Có kẻ buồn rầu ngữa mặt lên trời mà than rằng : Cao xanh thăm thẳm từng trên, Vì ai gây dựng cho nên nổi nầy ? BÈO NƯỚC GẶP NHAU, BỐN BIỂN LÀ NHÀ Về khu Bersani, dần dà gia đình tôi quen được vài gia đình khác cũng trôi dạt về đây. Anh em đa số là người miền Nam. Cũng có người ở miền Trung như Phan Thiết, Phan Rang. Nhưng không có ai ở Nha trang để cùng nhau nhắc nhở kỷ niệm làng xưa, xóm cũ. Nam, Trung, Bắc gì rồi cũng đều mang tâm trạng của kẻ tha hương nên rất dễ gần nhau mà sinh ra tình đồng lân. Mỗi buổi chiều khoảng bốn giờ, mọi người lục tục đi làm về, cởi trần, tụ trước sân nhà tôi, ngồi dưới bóng mát hàng dương đổ xuống, nhâm nhi lon bia tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời. Chuyện thường đem ra kể nhất vẫn là chuyện gian truân, nguy hiểm lúc vượt biển bằng những chiếc thuyền mõng manh, gặp bão tố, ghe hư máy, gặp hải tặc Thái Lan v.v... Rồi đến những ngày tháng dài đăng đẳng trong các trại trên đảo chờ thanh lọc trong sự mõi mòn, vô vọng... Chỉ có mỗi mình tôi lạc lõng diện H.O, ai cũng cho là sướng như tiên, vượt biên có giấy phép, đi bằng máy bay nên chuyện tôi không có gì đáng để kể. Nhờ đó mà tôi được ngồi nghe và biết thêm bao điều gay cấn, nguy hiểm lạ lùng của mỗi trường hợp, của mỗi gia đình. Vượt biên những năm bảy bảy, bảy tám cho đến tám mươi dưới muôn hình thức. Thiên hình vạn trạng, được kể lại từ đó đến nay hơn mười mấy năm mà vẫn chưa hết chuyện. Thật ly kỳ rùng rợn. Chưa có một cuốn tiểu thuyết nào viết ra cho hết những nổi thống khổ của người vượt biển vì hai chữ tự do mà hy sinh mạng sống ra đi. Nhóm chúng tôi quen nhau từ đó, dù không có lễ vườn Đào kết nghĩa, nhưng tình anh em gắn bó còn hơn ruột rà. Một số người đã đi bang khác làm ăn, có người lập gia đình ở xa một chút. Nhưng mỗi lần có dịp như sinh nhật, Christmas, hay Tết ta anh em vẫn đông đủ họp mặt chén rượu, ly trà, bù khú bao chuyện trên trời, dưới đất, không dứt những trận cười giòn giã. Buổi họp mặt nào rồi cũng kết thúc bằng những cái hy vọng chứa chan là sang năm tôi sẽ về, anh sẽ về... Có người đã từng hy vọng hơn hai mươi năm rồi,vẫn chưa một lần về được quê nhà. THA HƯƠNG NGỘ CỐ NHÂN Đang lạc loài trên đất khách quê người, bỗng gặp lại người quen, thật không nổi vui mừng sung sướng nào bằng ! Một hôm chúng tôi tình cờ vào một cửa hàng có tên là NhaTrang Gift Shop mua một ít dầu xanh Con Ó để gửi về gia đình trong dịp Tết sắp đến. Nghe bà chủ tiệm nói giọng Nha trang, bèn hỏi chuyện làm quen. Bà chủ cũng vui mừng ra mặt khi tôi nói tôi là dân Nha trang. Câu chuyện đậm đà đi dần tới Ninh Hòa, Hòn Khói, hóa ra bà chủ tiệm lại bà con họ hàng với tôi, dây mơ rễ má từ đời ông nội tôi ở xứ Bình Tây Phú Thọ. Bà nhắc đến những người đồng thời và hỏi tôi có biết không. Tôi nói đó là những bác Ba,bác Năm,bác Bảy của tôi, con ông Bảy Thọ,ỉ xã trưởng Bình Tây năm xưa. Bà cầm lấy tay tôi rưng rưng nước mắt, giọng nghẹn ngào. Tôi cũng mũi lòng cảm động với cảnh ngộ tha phương gặp người thân quen. Bà cũng hỏi chuyện vợ tôi. Nói qua lại một hồi, hóa ra cũng quen nữa. Hai đứa con của chi lại là học trò của em bà xã tôi. Thế là tình thêm thân. Từ đó, thỉnh thoảng có dịp, chúng tôi lại ghé tiệm thăm chị. Chúng tôi mua món gì chị cũng bớt giá. Có lần chị nhờ tôi gửi tặng mấy Bác tôi mỗi người ít tiền làm quà. Dần dần tôi cũng gặp được một hai người bạn cũ, thuở còn trung học. Nhưng bây giờ họ thay đổi theo lối sống Mỹ nhanh quá, tôi theo không kịp, nên đành thụt lui ra sau, bỏ cuộc giao du. NƯỚC NON NGÀN DẬM Mỗi lần nghe bài hát “ Nước non ngàn dặm” của nhạc sĩ Phạm Duy là tôi liên tưởng ngay tới cảnh ngàn trùng , núi non cách trở diệu vợi khi đưa tiễn công chúa Huyền Trân về với xứ Chàm. Ở Mỹ, tuy cùng trên một dãi đất, mà bang nọ cách bang kia cũng ngàn trùng diệu vợi. Nhìn trên bản đồ, từ chổ tôi ở, miền Đông Bắc Hoa Kỳ, kéo thẳng một đường chim bay cho tới miền Nam Cali, đo cũng mấy ngàn dậm đường.( Boston => Los Angeles Cali = 3017 mile= 4855km) Thế mà, vù một cái, chừng hơn mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay, chúng tôi đã được mấy ông bạn nối khố, chở ra khu Phước Lộc Thọ ở Bolsa, nơi mệnh danh là Tiểu Sài Gòn ngồi uống cà phê, ngắm đồng hương qua lại tấp nập mua bán. Tại đây hoàn toàn nói tiếng Việt Nam. Cảnh sinh hoạt y chang như Sài Gòn năm xưa. Chỉ khác một điều là ai nấy đều ăn mặc bảnh choẹ, dáng điệu ung dung nhàn nhã, không tất bật như người bản xứ. Trước khu chợ, mấy ông bạn già vẫn ngồi trầm ngâm với nhau trước bàn cờ tướng để suy nghĩ nước cờ. Hình như thế sự bỏ mặc ngoài tai. Miếng cơm manh áo hèn mọn không còn làm vướng bận tâm trí nữa. Tôi ngồi ngắm chung quanh thấy chợ Phước Lộc Thọ hình như được vẽ theo kiểu chợ Tax và Eden Sài Gòn xưa kết hợp lại. Bỗng nhiên lòng bồi hồi cảm xúc với cảnh với tình. Ngồi đây với bạn bè mà cứ tưởng ngồi phố Lê Lợi Sài Gòn. Tôi ở chơi Cali một tuần. Một tuần lễ tưng bừng không khí vui nhộn thời trai trẻ.Mấy ông bạn ( nay đã trên sáu mươi cả ) dành nhau, thay phiên “ cõng” tôi về nhà một ngày để chiêu đãi. Mấy ông khác bu lại. Rượu vào, lời ra. Kỷ niệm từ bốn mươi, năm mươi năm trước được nhắc lại, cùng nhau cười ngất nga, ngất ngưỡng như hồi mới mười lăm, mười bảy. Qua năm sau, tôi vù qua Texas, lại “ cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”. Nhìn lại nhau, đầu ai nấy đều đã bạc. Con cháu đầy đàn. May mắn thay! Ai cũng thành công trên đất lạ quê người. Tiền tài danh vọng đều có cả. Chỉ thiếu tình quê hương. Bài hát thời thơ ấu : “ Cái nhà là nhà của ta! Công khó ông cha lập ra. Cháu con phải gìn giữ lấy. Muôn năm vẫn nước non nhà!” Vẫn còn nghe văng vẳng bên tai. Chúng ta đã có tội lớn, không bảo vệ được nhà, nay đành phải bỏ quê hương mà chạy giữ lấy thân. Biết ngày nào mới trở lại được chốn xưa ? ... “ Nước non ngàn dậm... ra đi ! Nước non ngàn dậm ... ra đi ! Nghe sao vẫn thấy buồn buồn. ... ĐÃ BIẾT SỢ TUYẾT ! ! ! Đang nhớ chuyện bay mấy ngàn dậm đi thăm bạn ở tận Cali, Texas thì Ti vi thông báo sắp có bão tuyết. Cả miền Đông Bắc nước Mỹ,hoảng hốt đổ xô đi mua thực phẩm, cả nước lã cũng mua dự trữ, sợ rằng cúp điện sẽ không có nước dùng, hoặc nước máy sẽ bị nhiễm khuẩn trùng than. An Nam Mít mình đã chịu đựng cảnh chiến tranh, chết chóc hằng ba mươi năm, súng đạn rơi xuống đầu nhiều bằng cát biển. Sau năm bảy lăm liều chết, bỏ của chạy lấy người, đi tị nạn khắp năm châu thì đã quá quen thuộc và chai lỳ trước ba cái lẻ tẻ này nên cứ tỉnh bơ như con ruồi xanh “nhà bàn”. Nhà nào có bắt chước Mỹ lo xa, cũng chỉ tới chợ xách bao gạo với chai nước mắm “Made in ThaiLan” là cùng, chứ không chất một xe đầy nhóc đồ hộp như mấy anh chị Mỹ trắng, Mỹ đen. ( Thế mới thấy cái mạng của người ta nó quí trọng biết nhường nào. Ngẫm lại cái mạng dân mình nhỏ còn hơn con sâu, cái kiến) Cũng may là xứ Mỹ đồ ăn thức uống luôn luôn dư thừa nên không bao giờ có chuyện đầu cơ tích trữ để tăng giá, bắt chẹt người tiêu thụ. Mà dễ dầu gì bắt chẹt được người tiệu thụ! Giá cả ngày hôm qua đã đăng báo, hôm nay thình lình thay đổi là có hàng ngàn cú điện thoại của khách hàng gọi tới văn phòng “Bảo vệ người tiêu dùng”. Lập tức sẽ có ngay đội thanh tra kinh tế của thành phố đến lập biên bản. Và dĩ nhiên cái siêu thị nào bị dính chấu, ngày mai sẽ được phơi chình ình lên mặt báo, chỉ còn nước dẹp tiệm. Không kể bị phạt vạ cũng gần mức sập tiệm. Hồi mới qua, gặp ngay ngày gần Giáng Sinh, thấy cảnh tuyết rơi, đẹp như trong truyện thần tiên. Ngắm tuyết rơi mà mê mẫn cả người. Cứ tự hỏi : - Trên đời này làm sao lại có một đất nước đẹp đẽ như vậy ? Đến chừng phải ra đường để đi học, mới biết cái cơ khổ của cảnh dầm tuyết. Và mới thấm thía với câu thơ trong Chinh phụ ngâm : Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da. Cái đói đốt ruột gan như thế nào thì mấy năm ở trại Cải Tạo Cọng Sản đã nếm rồi. Tưởng cũng tởn tới già bốn chữ “Học tập Cải Tạo”. Bên ta, mỗi độ đông về trời se se lạnh, là các cậu ấm, cô chiêu giả vờ xuýt xoa, co ro trong cái lạnh để có dịp phô trương những chiếc áo len đủ màu, đủ kiểu đắt tiền, nằm ụ trong tủ áo cả năm. Nhưng những loại áo ấm đó nếu mang sang đây thì chỉ là đồ bỏ. Chúng chỉ là những cái áo cánh mặc cho mát vào mùa hè mà thôi. Cái lạnh ở đây nó kỳ lạ. Nắng cứ việc nắng. Lạnh cứ việc lạnh. Nắng không tỏa chút năng lượng nào làm cho bớt lạnh hay tuyết tan. Những cơn gió lạnh kéo lê thê theo dọc vĩa hè làm cho người đứng đợi xe bus thâm môi, tím mặt. Lỗ mũi và hai lỗ tai cứng lại, có cảm tưởng bẻ gãy được. Nó vừa tê dại vừa đau nhức như bị kim châm, như bị kiến cắn, như bị lửa nung... Khi leo lên được xe bus, thân thể được sưởi ấm dần dần mềm ra, nước mắt nước mũi mới bắt đầu chảy giọt. Cái khổ nạn thứ hai là phải xúc tuyết trước nhà để có lối đi và đem xe ra đường. Mấy năm trước sức khoẻ còn tương đối, tôi khả dĩ còn xúc được đường hầm Củ Chi để vừa đủ lọt người đi và chiếc xe có lể lùi ra, tiến vào chổ để xe ( driveway). Kể từ ngày xoi tim đến nay, sức khỏe yếu hẵn, tôi phải mua một máy “ thổi tuyết” để xúc tuyết. Vậy mà vẫn thở hồng hộc, muốn hụt hơi, khi xúc xong hai đoạn ngắn cho đủ đi. Tuyết mới rơi còn xốp, xúc liền thì còn đở khổ. Nếu tiếp liền sau đó là trận mưa thì ối thôi, nó thành băng hết, cứng và nặng như đá tảng, không cách gì xúc được. Phải dùng rìu hoặc “ cúp” mà chặt ra từng mãng nhỏ. Hai bên lề đường, xe ủi cứ ủi tuyết tắp vào, càng lúc càng cao nghệu. Lớp này chồng lớp kia, mỗi lúc mỗi dầy. Trông như những ngọn đồi dài chập chùng. Khi trời tiếp tục lạnh dưới không độ, mặt đường biến thành nước đá trơn trợt, tai nạn xe xãy ra liên tục, bởi không điều khiển được tay lái. Người đi bộ cũng té bật ngữa, bật nghiêng, chõng gọng. Lúc trời ấm lại, tuyết bắt đầu nhão ra, tan thành nước, trộn với cát và muối rãi đường thành một hợp chất dơ bẩn sền sệt như đá bào. Chỉ có nước mang ủng chớ không có giày nào chịu nổi. Cứ mỗi năm mùa đông về, tôi lại ngán ngẫm nhìn trời và lòng hứa lòng : Rồi đây ta phải giả từ nơi thân yêu này mà trở lại quê nhà để sống những ngày ấm áp cho khỏe thân già. Nếu người ở quê hương không chấp nhận thì ta phải về Florida, ở đó có khí hậu và phong cảnh y hệt Việt Nam, sống thảnh thơi những chuỗi ngày xế bóng. Mười ba năm, một thời gian đủ để biết sợ tuyết. CNXH = Chủ nghĩa xếp hàng. CNXH không phải là Chủ Nghĩa Xã Hội bên ta. Mà nó chỉ là sự trùng hợp bốn chữ viết tắt: chủ nghĩa xếp hàng của Mỹ. Nhân nói chuyện đổ xô nhau đi mua thực phẩm lại nhớ đến chuyện xếp hàng. Xếp hàng hình như là một trong những môn học được Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ đưa vào học đường rất sớm. Nó bắt đầu từ ở Vườn Trẻ lận. Đi đâu cũng thấy xếp hàng. Từ một cái tiệm nhỏ tạp hóa trong khu dân cư bán vật dụng linh tinh trong xóm, người đến mua cũng tự động xếp hàng chờ đến phiên trả tiền. Cho chí đến những siêu thị to lớn, những rạp hát, rạp xi nê, tiệm ăn, hội chơ v.v... mọi người đều tự động xếp hàng chờ đến lượt mình. Tất cả trong tình trạng trật tự và yên lặng. Tuyệt đối không có “phe vé” hoặc “ cò vé”. Từ trẻ con đến người lớn, ai ai cũng như nhau. Đều xếp hàng. Không có cái chuyện lấy cục đá hay cục gạch xí chổ một cách “thông minh” như ở ta. Và nhất là không có những cái thư, những tờ giấy của “ảnh” hay của “chỉ” ở “trên” gửi gắm được ưu tiên. Tuy xếp hàng nhưng không phải cả ngày như ta. Muốn mua một lạng thịt ba chỉ phải thức dậy từ ba giờ sáng. Xếp hàng cho đến mười hai giờ trưa có khi mua được, có khi tới phiên thì hết thịt. Siêu thị luôn luôn tràn ngập thực phẩm và vật dụng. Nếu thình lình hết, khách sẽ nhận được cái giấy hẹn gọi là “ren séc” ( rain check) hôm sau lại mua, vẫn giá cũ. Rạp hát, xi nê rộng thênh thang khỏi lo không còn chổ. Tiệm ăn thường thường có từ ba trăm đến năm trăm chổ ngồi cứ từ từ ngồi ăn không lo không có bàn. Thấy người mà ngẫm đến ta. Biết bao giờ dân tộc mình mới học được cái bình đẵng trong xã hội. Quan chức chỉ ở nơi làm việc. Khi ra chổ công cộng thì Tổng Thống cũng như người dân thường đều như nhau, nghĩa là phải xếp hàng. Ai đến trước, đứng trước. Tổng Thống, Đại Tướng đến sau, xếp sau. Cái dễ nhất là xếp hàng mà cũng không học được, làm được thì nói huyênh hoang chi chuyện đội đá vá trời ! Không có cái dại nào giống cái dại nào ! Mỗi lần than thở cho thân phận hẩm hiu, ta thường chép miệng : - Thiệt là khổ như con chó ! Nhưng ở Mỹ than như thế là trật chìa. Không khéo còn bị kiện ra tòa vì tội vu khống loài vật. Phải dè chừng cái “Hội bảo vệ súc vật”. Dân Mỹ quí súc vật, nói chung, và chó mèo, nói riêng, còn hơn cha mẹ. Cha mẹ già họ tống vào nhà Dưỡng Lão cho người khác lo. Còn nhà thì dành cho chó mèo ở. Chó mèo ăn ngủ chung giường và đi chung xe với họ. Hai con vật này họ không liệt vào hạng súc vật là “animal” mà họ gọi là “Pet” tức là“ cưng” . Hai con vật này được cưng chìu quá mức đến nổi mình phải đâm ra thèm muốn được như nó. Từ việc ăn uống, ỉa đái cho chí khám bệnh hàng tháng, hàng năm đều rất tốn kém. Chưa nói đến việc làm đẹp như xén lông, uốn, ép, sấy, gội như người. Tiền chi trả đắt gấp ba lần làm đẹp cho chủ nó. Mỗi lần chó, mèo bị lạc hoặc chết, họ khóc như ... chó chết. ( Không phải như cha chết như ta thường nói) Cha mẹ chết không thấy họ khóc, mà lại thấy họ mặc quần áo đẹp hơn ngày thường để đưa tang. Tôi đã bị bé cái nhầm nhiều lần về chuyện này. Thấy anh bạn, bỗng một hôm chải chuốt rất đỏm đáng, vét tông, cà vạt đường hoàng, bèn toét miệng ra cười, chào xã giao : - Chà ! Anh bạn bữa nay có “ Party” đi với bạn gái sao mà bô trai thế ? - Đâu có! Ba tôi mới chết hôm qua! Bửa nay đưa tang ! - ! ! ! Ngoài chuyện chăm sóc thuốc men, ăn uống ra, mỗi ngày chủ nó phải bỏ ra vài tiếng đồng hồ dẫn chó đi dạo để “ éc xẹc xai” tiêu bớt mỡ khỏi mập và đi ỉa đồng. Nhà quê mình có câu : Nhứt quận công, nhì ỉa đồng. Ở Mỹ, chó cũng phải có cái thú ỉa đồng. Anh hãy tưởng tượng ra cảnh người đẹp tóc vàng, dáng đẹp và quí phái như tài tử xi nê, tay phải dắt chó, tay trái cầm bị nylon đầy cứt chó mà “Cưng” vừa mới ị ra đồng. Thật chẳng ra làm sao cả. Ấy vậy mà là sự thường. Bà nào, cô nào dắt chó ra đường đi dạo, trên tay đều thủ sẵn bao nylon để hốt của quí rồi tìm thùng rác dọc đường bỏ vào. Nhưng cái mà tôi cho là dại nhất trên cõi đời đầy dẫy cái dại này là nửa đêm khuya lơ, khuya lắc, trời lạnh dưới năm bảy độ âm còn phải co ro dắt chó đi ỉa. Mà cái con chó quỉ này, ai có nuôi chó mới biết, nó không chịu làm cái chuyện vệ sinh bất cứ nơi đâu như loài người, mà phải có một chổ nhất định của nó. Cái chổ nào mà cái mũi nó khịt khịt đánh hơi thấy ưng ý lần đầu thì nó mới chịu hạ hai chân xuống, xìa cái bàn tọa ra mà “làm việc”. Từ đó về sau, mỗi ngày hay mỗi đêm, cứ nhất định đến chổ đó mà làm. Dù chủ nó có dẫn đi đến chổ “ cao sang quyền quí” hơn đi nữa nó cũng nhất định chê. Bên cạnh nhà tôi có bà Mỹ già, đêm nào cũng lụm cụm dẫn chó đi xa nhà hơn cả trăm thước cho “ cưng” nó “ làm việc”. Mỗi lần như thế bà vợ tôi lại chép miệng : - Thiệt là không có cái dại nào giống cái dại nào ! Chó mèo còn có cả phòng mạch tư nhân khám bệnh riêng. Không kể những gian hàng cung cấp thực phẩm đóng hộp đủ loại và những thiết bị lỉnh kỉnh khác như dây xích, rọ mõm, áo quần mùa đông và loại cát đặt biệt để các “ o mèo” ị trong nhà. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần, ở cái xứ mà chó mèo còn sướng gấp bội phần con người. Chó mèo không cần phải bươi rác hằng ngày để kiếm miếng ăn. Trái lại ở quê mình, hàng đàn đông như một đạo quân từ trẻ con đến người già, ngày đêm chúi mặt xuống bãi rác để tranh sống. Nhưng đó chỉ là một khía cạnh của bức tranh vân cẩu của xã hội ta đang tiến lên mà thôi. Đọc báo quốc nội, cũng thấy đăng tin nhiều người giàu sang, cho con du học nước ngoài, nhập về cái văn minh trưởng giả nuôi chó và dắt chó đi dạo sáng chiều. Còn có đám tang chó được tổ chức linh đình ,người đi đưa rình rang lên đến cả vài trăm người. Đám ma dài dằng dặc diễu qua pho,á long trọng y như đám táng một cán bộ cao cấp vừa mới hy sinh cho đất nước. Không thấy báo nói người thân có khóc như cha chết hay không. Đó mới thực sự độc quyền dại. Không cho ai dại với. Nhìn hai mặt của xã hội như vậy mới thấy hết cái hay và cái dở của tư bản xanh và tư bản đỏ. KHỦNG HOẢNG TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN Câu ca dao “ Trâu ta ăn cỏ đồng ta, Chừng nào hết cỏ mới ra đồng ngoài” xem ra không hợp thời, hợp cảnh ở đây. Người Việt tị nạn ngày càng đông nhưng không sống quần tụ như ở quê nhà. Họ ở rãi rác khắp nơi. Chổ nào dễ kiếm công ăn việc làm là họ “ mu” ( move= di chuyển) tới đó. Dù có ở chung một thành phố đi nữa, nhà nọ cũng cách nhà kia năm, bảy “ mai” ( 1mile= 1.609km), do đó không có sự giao tiếp hằng ngày. Cộng với công việc làm tréo “ca” với nhau cũng ít có cơ hội để gặp gỡ nhau. Trong tình cảnh đó những anh, những chị sồn sồn chưa có gia đình ngày càng “quắn khói” trong chuyện tình ái và hôn nhân. Làm sao mà có được cảnh “ Trai khôn tìm vợ chợ đông. Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”. Bởi vậy mới có cảnh Việt Kiều về xứ lấy vợ chớp nhoáng trong một tháng. Có nhiều cặp đến nay vẫn còn mặn nồng duyên “ tiền” định. Nhưng cũng không hiếm nhiều đôi uyên ương đã song ca bản “ Đôi ngã chia ly”. Cớ làm sao vậy ? Thật ra cũng là điều dễ hiểu ! Chàng đã tứ tuần hoặc hơn chút đỉnh, nhưng nhờ “ bơ thừa,sữa cặn và đồng đô la xanh của đế quốc” nên trông còn bảnh trai chán như cụ Nguyễn Du đã tả : Một chàng trạc độ tứ tuần. Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Chàng đã sống cu ky, chưa kịp lấy vợ hay vợ vừa chết hoặc vợ vừa “ bái bai” với chàng. Chàng đang “ mót” vợ. Ở cái xứ Mỹ này dễ gì kiếm được cô vợ hay mụ vợ. Nó đòi hỏi nhiều thứ nhiêu khê lắm. Nhất là anh phải có “ giốp” thơm cở sáu chục ngàn đô một năm trở lên cọng với một căn nhà và chiếc xe loại “ xịn” và tài khoản tiết kiệm trong Nhà băng kha khá một chút cở vài chục đến một trăm ngàn đô thì nàng mơí “ say yes”. Nhưng cũng hồi hộp lắm nếu chưa “ tìm hiểu “ nhau cho kỹ. Nhiều chị chàng “ ma nớp”, sau khi điều nghiên thấy con nai có đầy đủ tiêu chuẩn trên liền nói : - Vâng ạ! Em xin theo chàng về dinh ! Thế là chàng mừng quýnh, lập tức khớp con ngựa ô là khớp con ngựa ô, đưa nàng về lâu đài tình ái. Ba tháng sau nàng đâm đơn đòi li dị với lý do đơn giản rất “ dị òm” đối với phong tục ta, mà lại rất ăn tiền ở cái xứ “ vật chất chủ nghĩa” này là chàng “ không làm cho nàng hạnh phúc trong chăn gối”. Mấy cái vụ này Toà án Mỹ ô kê cái rụp cho phía “ lé đi”. Thế là nàng chỉ chịu thiệt ( ? ) có ba tháng, chín mươi ngày được là bao, nhằm nhò gì cái của không vốn, được Toà phán chia một nửa gia tài của chàng sẵn có. Nàng ôm tiền, cười mím chi con cọp, ra đi phơ phới. Không cần phải tả lại dài dòng cái khuôn mặt chàng méo xẹo lở khóc lở cười ở đây làm chi. Ai cũng hình dung ra nó như thế nào rồi. Thôi thì còn nước còn tát, chàng vù về Việt Nam lấy vợ quê cho chắc ăn. Chắc là chắc rồi đó. Chắc như bắp mà! Nhưng cũng có khi “ chắc chết” hoặc “chết chắc” không chừng! Không ở đâu cưới vợ nhanh và rẽ cho bằng ở Việt Nam. Đó là lời đồn và có đăng báo đàng hoàng. Có cả một lô, một lốc công ty trong nước chuyên giới thiệu hôn nhân cho người nước ngoài. Chuyện gái quê Việt Nam lấy chồng Tàu, Đài Loan, Xinh Ga po... đã xãy ra bao thảm trạng, báo chí trong và ngoài nước đã đăng tốn nhiều giấy mực rồi, khỏi phải viết thêm cho mất thì giờ. Chỉ nói riêng Việt Kiều với Việt Cọng không thôi, cho nó đề huề cái nghĩa hoà hợp, hòa giải dân tộc. Nói cho nó thấm đậm tình nghĩa là mang “khúc ruột dư ngàn dậm” về “ lấp đầy cái lỗ trống của em”. (Theo cách nói kiểu 1957 ở ngoài Bắc, cấm nói chữ Hán Việt, cái câu : “Chúng em còn nhiều khuyết điểm, xin các anh bổ túc cho” nói nôm na ra thành “ chúng em còn nhiều lỗ trống, xin các anh lấp đầy cho”.) Chừng một cho tới hai ngàn đô là anh chàng “Việt Kiều” có thể “ bợ nhẹ” một em Việt Cọng “ U hai mươi” mơn mỡn đào tơ, cam đoan còn nguyên xi “ nước vỏ lựu máu mào gà”. Nhưng không hề gì ba cái lẻ tẻ. Ở Mỹ không có “ ke” ba cái vụ đó. Làm sao mà có đồ tươi mà giá lại hời như thế ? Ấy chẳng qua là cả nước ai nấy đều muốn xuất ngoại nhất là qua Mỹ bằng con đường hợp pháp mà không tốn kém đồng xu cắc bạc nào. Bỗng dưng có anh khờ Việt Kiều mang đầu về nộp mạng, nguyện làm cầu Ô Thuớc cho em bước qua... Mỹ, thì ngu gì không vớ ngay cơ hội để đi. - Đi cái đã! Sang đó hạ hồi phân giải ! Em nào khi bước lên xe hoa cũng thầm lẩm bẩm câu thần chú đó để chuẩn bị ca bài : “ Liệu đường cao chạy xa bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi.” Nếu sang được Mỹ rồi, thấy tờ kiểm điểm bản thân anh đúng sự thật đã khai gồm: nhà cửa cao sang, “ giốp” ngon lành, tiền Nhà băng đầy ụ thì thôi, còn bằng anh đang thất nghiệp, ở phòng “ se” (share), đi chiếc xe thổ tả, tiền Nhà băng chuột tha mất tiêu hết, thì nàng bắt đầu ca bài “ Tôi đã lầm theo anh sang đây” và cái giấy li dị treo lửng lơ trước cửa chờ ngày chàng “ xách xe không mà chạy”. Đó phận thiếp. Còn phần chàng thì sao ? Không lẽ chàng không biết cái chuyện “ thần cơ diệu toán” ấy sao ? Không lẽ chàng chịu “ lép một bề” hay sao ? Không đâu, ở đời, bốn mươi chín thì gặp năm mươi, mạt cưa thì gặp mướp đắng. Trước khi chàng mang đầu máu về nguyện “ khớp con ngựa ô để đưa nàng về dinh” thì chàng cũng đã có một ban cố vấn hôn nhân, đưa ra “ lộ đồ” giống như Lầu Năm góc đưa ra “ râu mép” (road map) cho Ít Ra En và Pa Lét Tin ( Israel- Palestin) vậy. Chàng cứ theo từng bước mà tiến lên vững chắc. Chàng chỉ bỏ có mấy ngàn đô, bợ được một em U 20, thơm như múi mít, hoặc thơm như nước mắm nhĩ Phan Thiết, trong vòng một tháng du hí ở Việt Nam, dung dăng dung dẻ với em cho cả làng nước biết em đang có chồng Việt Kiều ngon lành, xài tiền đô như nước, thì chàng đã “ hái nụ tầm xuân” của em và chàng đã “ chơi cho liễu chán hoa chê, cho lăn lóc đá cho mê mẫn đời” rồi. Đem cái “ can cu la to” ( calculator) ra mà cộng trừ nhân chia vẫn thấy còn lời chán. Chưa kể đem về Mỹ một thời gian ba năm cho hợp pháp thì cái chuyện “mưa Sở, mây Tần” còn lời nhiều, dù nàng có giơ bàn tay năm ngón thiên thần ra mà nói “ bái bai” chàng cũng “ hu ke” ( who care). Chàng lại thầm nhủ : - Ta lại về Việt Nam làm phùa khác ! Lại xài đồ mới ! ( Mấy năm gần đây dịch vụ hôn nhân ở Việt Nam càng phát triễn mạnh, giống cái đi cưới giống đực rất nhiều để vượt biên hợp pháp, nên những anh đực ở Mỹ vừa được tình lại vưà được tiền. Nghe nói mỗi vụ từ ba mươi ngàn đô xanh trở lên) Còn nàng vưà đúng ba năm hương lửa, chịu đựng anh chồng già để có cái “thẻ xanh” ( Green card) chứng nhận mình là “ thường trú nhân” (permanent resident) bỏ túi xong là ngâm bài “ Tẫu mã” : “Ba năm thiếp mãn tang chồng ! Đầu dơ thiếp (xin) gội, đôi vòng thiếp (xin) mang”. Xin chàng ở lại “ mạnh phẻ” ! Thiếp “ gút bai”! Con đường đi lên của nàng phơ phới. Tương lai trước mặt xán lạn. Nàng mới hai mươi mấy hơ hớ. Ba năm trước mới qua, còn quê mùa, lớ ngớ. Bây giờ nàng đã rành sáu câu. Tóc nhuộm vàng hoe, mắt, môi, cằm, má đều được chỉnh trang hoàn mỹ. Đẹp như pho tượng đúc ra từ mấy thẩm mỹ viện. Váy nàng cao quá nửa mông. Áo nàng cột hai tà trước bụng, biểu diễn cái lỗ rún sâu hoắm và làn da bụng trắng mướt thì chẳng mấy chốc mà câu được con cá mập. Còn anh chàng Việt Kiều nhà mình lại vù về Việt Nam dở lại mánh cũ. Nhưng không biết được bao nhiêu lần nữa. Tôi có biết một anh bạn đã làm chiêu này nhiều năm. Năm nào cũng về Việt Nam cưới vợ. Tính tới nay đã gần đủ mười ngón thiên thần. Nhưng bây giờ “ cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ “ nghĩa là vẫn sống đói rách thê thảm và vẫn cu ky, vợ con không có, chó mèo cũng không . Về phần các bà , các cô mới qua đây, người Việt rất hiếm hoi, nên “ càng treo vẽ ngọc, càng cao giá vàng”. Thiên hạ trả giá mấy cũng nhất định làm cao. Đâu ngờ thời gian nó đi nhanh quá. Vù một cái đã hơn mười năm qua. Nhìn lên, mấy khứa lão đeo đuổi mình năm xưa bây giờ đã “ đề huề lưng túi gió trăng, sau chưn theo một vài thằng con con” rồi. Nhìn xuống, mấy thằng nhóc mới lớn gọi bằng mình bằng chị, bằng thím, thiệt là ngán ngẫm cho cái sự đời. Chẳng lẽ lại bắt chước mấy thằng “ cà chớn” về Việt Nam kiếm chồng ? Ôi nó khổ thì thôi! Đành phải lấy mấy cái “ thẫm mỹ viện” và đi “ sóp ping” để làm thú vui cho qua thì giờ trống trãi. Dĩ nhiên, đêm đêm buồn quá, quí bà chỉ biết “ chổng mông mà gào”. Vậy còn cái đám trẻ gọi là thế hệ thứ hai thì sao ? Nếu muốn viết về cái thế hệ này chắc phải mất rất nhiều giấy mực và thì giờ. Chỉ xin được tóm tắt như sau : Bọn trẻ qua đây lúc mới năm, mười tuổi, đi học trường Mỹ, nói tiếng Mỹ, hoà nhập vào đời sống Mỹ, văn hóa Mỹ, phong tục tập quán Mỹ rất nhanh. Thậm chí cả cái cách đi nhún nhẫy, tay chân quơ quơ, quào quào của bọn Mỹ đen đi nghễu nghệnh ngoài đường như dã nhân, thêm cái “ mốt” ( style) quần áo lùng thùng lình thình, áo sơ mi không cài nút, lưng quần xệ xuống nửa mông, đáy quần gần chạm đất. Ra khỏi lớp học là tụ lại từng đám hút thuốc xả khói, mặt cứ vênh vênh lên trời ra vẽ ta đây. Đó là con trai. Con gái mới nức mắt đã thoa son, kẻ mắt, sơn móng tay, quần áo thì hở trước, hở sau rất khêu gợi,kích thích. Bọn chúng chừng mười lăm, mười bảy tuổi, cái tuổi dưới vị thành niên, cả trai lẫn gái kéo nhau đi từng bầy, từng lũ mỗi buổi tối, lang thang ngoài đường hút cần sa. Khi đã “phê” tới mây xanh thì chỉ có trời can. Bao cao su ngừa thai, ngừa bệnh được phát không ở các trạm xá và bán tự do trong các cửa hàng. Tha hồ mà xài. Nhà trường đã dạy cách dùng từ lớp sáu. Báo chí và truyền hình đều có mục giáo dục và hướng dẫn về “ sex” rấy kỹ càng, cặn kẻ. Dĩ nhiên chuyện tôi kể trên, chỉ là một khía cạnh chớ không phải đều trời như thế cả. Người Việt tị nạn qua đây chỉ còn biết trông cậy vào phước đức ông bà để lại, hòng giữ được cái truyền thống đạo đức của Ngài Khổng Khâu. Nền văn hóa đa dân tộc này không có “ ke” mấy cái vụ “ công dung ngôn hạnh” cổ lỗ sĩ và cái chuyện “ tứ đức tam tòng” lại càng khan hiếm. Chúng nó trên mười tám tuổi là dẫn nhau đi thuê nhà ở riêng. Cha mẹ nào dám cản. Cản là đụng đến quyền tự do cá nhân. Pháp luật luôn sẵn giương càng ra bảo vệ tự do cá nhân. Cũng có vài ông cha, bà mẹ thấy con gái mình áo mặc qua khỏi đầu ( loại T Shirt) cặp trai đi ở riêng, bèn nổi cơn điên, xáng cho mấy bạt tai. Đứa con gái yêu quí ( hay yêu quỉ ) chụp điện thoại, kêu số 911. Mấy phút sau xe cảnh sát hú còi chạy tới. Hai ông cảnh sát to như hộ pháp vào còng tay ông cha đem ra xe. Còn chuyện phải quấy, hạ hồi phân giải. Báo có đăng một ông H.O mới qua có một năm, thắt cổ không chịu sống nữa, cũng vì cái cảnh đời chua chát này. Vì vậy cái câu ở phía bên kia biển Thái Bình “ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, qua bên này, lội nước ngược thành “ con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đó”. Ngồi im không dám nhúc nhích. Cũng không hiếm người Việt thành công và thành danh trên đất Mỹ. Ngoài chuyện đa số đều khá giả vật chất hơn hồi còn ở quê nhà te tua như xơ mướp ra, người Việt mình cũng có khá nhiều người chen chân được trong chính quyền Hợp chủng quốc với chức vụ cao trong ngành lập pháp và tư pháp. Còn có cả trong ban cố vấn cho tổng thống Mỹ nữa. Không ai ngờ rằng trong trận chiến vùng Vịnh, bọn Taliban Bin Laden bị phá tan sào huyệt, các hầm địa đạo trong núi bị “ banh ta lông”, vì một loại bom đặc biệt, lại do một nữ kỹ sư người Việt mới có ba mươi sáu tuổi chế tạo được trong thời hạn có sáu mươi ngày. ( Tôi đi hơi lạc đề, e rằng có người lại cho tôi tuyên truyền không công cho đế quốc Mỹ, xin ngừng lại ở đây) Để túm lại cái câu “ Trâu ta ăn cỏ đồng ta, chừng nào cỏ hết mới ra đồng người” rõ ràng là không có “ lôgíc” một ly ông cụ nào trên xứ cờ Hoa. Còn quay qua vớt vát chút đỉnh với câu “ ta về ta tắm ao ta, dù trong, dù đục, ao nhà vẫn hơn” thì cũng ba trật, bốn vuột cho cái thân Việt Kiều yêu nước lắm lắm. Chỉ có những anh cụ nào còn giữ được mụ vợ già như tôi chẳng hạn, thì đời cũng còn le lói chút chút. Nếu anh nào khi qua đây mà ở trong cảnh “ ngày anh hai mươi, em mới sinh ra đời, ngày anh bốn mươi, em cũng vừa đôi mươi” thì sau một đêm ngủ dậy, còn phải nhiều điều lo âu, thắc thỏm. MẶC NGƯỜI MƯA SỞ, MÂY TẦN, NHỮNG MÌNH NÀO BIẾT CÓ XUÂN LÀ GÌ ! Mỗi khi xé đến tờ lịch tháng 12 là nỗi buồn cứ quẫn quanh xâm chiếm trong lòng cả tháng trời dai dẵng. Ti Vi, báo chí đua nhau nói về những ngày lễ lạc,Tết nhứt. Nhưng là Tết của họ. Tết của ta hãy còn hơn cả tháng nữa mới bò tới. Thấy thiên hạ rộn ràng mua sắm và lịch mới đã treo đầy dãy, biếu tặng từ hơn tháng trước, lòng cứ nôn nao, buồn rầu. Đã qua mười ba lần cái Tết xa quê. Mười ba lần đón xuân, không mai vàng, không pháo nổ. Chỉ có tuyết lạnh ngoài sân. Những băng nhạc Xuân lại được đem ra phủi bụi nghe lại. Vừa nghe nhạc, vừa thắp thêm cây nhang trên bàn thờ cũng đầy đu ũđèn nến hoa quả mà sao vẫn cứ thấy lạnh lẽo, cô đơn. Năm nào Tết trùng ngày thứ bảy, chủ nhật thì còn đở. Nhà còn đông vầy vợ con, bạn bè, họ hàng. Năm nào Tết rơi vào đầu hay giữa tuần là coi như không có Tết. Nhà vắng hoe. Có người này thì mất người kia.Ai nấy đều phải đi làm bình thường. Hãng, xưỡng ngoại quốc đâu có “ ke” ngày Tết của ta. Ai tự động nghỉ thì mất việc. Lại chuyện chén cơm manh áo hèn mọn mà dần dần quên hoặc bỏ hết những tập tục dân tộc. Tối ba mươi, cả nhà quây quần, bánh tét, bánh chưng, dưa hành, củ kiệu, bia, rượu ê hề mà coi bộ người nào cũng ngán ngẩm. Chỉ nhìn cũng đủ no. Rồi quay qua đánh bài, chơi cờ cá ngựa hoặc ồn ào hơn thì chơi lắc bầu cua hoặc đổ con mèo. Nhưng cái không khí cố vui gượng cũng chẳng kéo dài được mấy chốc. Ai nấy đều quay ra ngồi trầm ngâm, nhìn bàn thờ, làn khói hương mõng manh lặng lẽ tỏa lan trong bầu không khí trầm mặc. Mấy đứa cháu ngoại bắt đầu đói bụng và đòi ăn “pi xà”( pizza= một loại bánh xèo nướng của Ý làm bằng bột, trên mặt rãi đủ thứ hổ lốn như xúc xích, cà chua, bơ, phó mát, ớt bị v.v...) Nhấc phôn lên gọi tới tiệm, “ ó đơ” một hai cái loại lớn để ăn cả nhà. Chừng mười lăm phút sau, xe giao bánh gõ cửa. Thế là cả nhà đón Xuân ta bằng bánh xèo Ý. Bánh nóng hổi vừa dai, vừa dòn, cắt ra thành từng miếng hình lá cờ đuôi nheo to bằng bàn tay. Mỗi người ăn hai miếng là no cành hông. Con nít sinh tại Mỹ, đa số đều quen với pizza, hamburger hơn là cơm. Người lớn thì ngồi nhấm nháp thêm ly bia hay rượu nghe nhạc xuân. Bài nào cũng buồn áo não. Xuân này con không về, Đồn vắng chiều xuân, Đám cưới đầu xuân.... Buồn quá, tắt máy. Cả nhà, giọng kim, giọng thổ, giọng ống bơ rỉ cùng hò lên bản Ly rượu mừng, cho không khí tăng phần vui nhộn. Không ai thuộc hết bài, chỉ được vài cầu đầu rồi tắt ngúm. Lại lặng lẽ nhìn ra ngoài trời. Tuyết rơi.. tuyết rơi... Một năm lại qua... Sáng hôm sau, mọi người trở về công việc thường nhật. Thế là xong một cái Tết. SAU CƠN MƯA (chiều ) TRỜI LẠI TỐI ! Thông thường người ta hay nói “ hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai” hay diễn nghĩa nôm na là “ sau cơn mưa thì trời lại sáng” để nói về hậu vận hanh thông, sung sướng sau khi đã trãi qua thời kỳ gian nan khổ ải. Nhưng câu này áp dụng cho người còn thanh xuân kia. Chớ cái tuổi sáu mươi trở lên có dứt mưa đi nữa trời cũng tối rồi. Nhằm lúc mưa buổi chiều về mùa đông thì còn sáng nổi gì ? Đó là cái cảnh già của tôi trước mắt. Đã qua mười ba năm, cật lực làm lại cuộc đời bằng hai bàn tay trắng. Nay thì có thể tạm gọi là đứng thẳng lưng được. Nhưng phía trước thì mặt trời đã xuống gần đầu núi rồi. Liệu còn bao nhiêu thời gian nữa để được ngắm nhìn thiên nhiên tươi đẹp và để biết thưởng thức những ưu vật của trời ban tặng ? Tuổi trẻ của tôi đã uổng phí gần bốn mươi năm một cách phi lý. Hết lăn lưng vào chiến tranh lại trói thân nơi vòng tù tội. Hết tù tội lại bị quản thúc như con thú trong chuồng. Vưà được sổng chuồng thì lại mang kiếp lưu đầy nơi đất khách quê người. Nằm đêm thao thức với thân phận con người sinh ra nhằm nơi nhược tiểu, nghĩ mà uất hận. Đất nước luôn bị đọa đày bởi ngoại bang. Vừa đánh đuổi ngoại bang đi xong, dân tộc chưa kịp có một ngày vui sống, thì lại có những kẽ mang thuyết ngoại lai dị chũng áp đặt lên đất nước, để xãy ra cảnh huynh đệ tương tàn. Tại sao lại phải nghe lời những ông Tây, bà Đầm, mắt xanh mũi lõ, râu xồm một cách cung cung tận tuỵ để mà chém giết dân mình không một chút nương tay ? Chém giết còn chưa đã, còn học thêm cái gọi là đấu tranh giai cấp của thằng Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân Nam, mà bắt bỏ tù hết thảy những người anh em, những kẻ không cùng mình, chịu luồn cúi, nô lệ để tung hô Mao Chủ tịch vĩ đại muôn năm ? Thật là vô lý chi thậm. Nghĩ nát óc cũng không ra cái lý ! Đã hơn năm mươi năm to tiếng hô hào “ tiến lên ! thiên đường trước mặt !” mà càng tiến lên thì xác người càng chồng chất. Cơm không có ăn, áo không có mặc. Đói khổ triền miên. Lại an ủi,vuốt ve : Ta khó khăn tạm thời ! Ai to tiếng, rộng họng cho bằng Liên Xô: thành đồng vách sắt của Xã hội Chủ Nghĩa ! Thế mà bỗng nhiên lăn đùng ra chết không kịp giãy, sau hơn bảy mươi năm gào thét. Không một người dân Nga nào thấy được cái thiên đường mà ông Mác,ông Lê vẽ ra bằng máu cả trăm triệu người. Cái gương tày liếp sờ sờ ra đó mà sao “các Bác kính yêu” nhà mình không thấy được. Ngày nào cũng hô hào “ Bác cùng chúng cháu hành quân”. Cả một thế giới mênh mông, ai nấy đều tiến lên văn minh thịnh vượng, chỉ còn sót lại có ba nước nhỏ bằng cục cứt ruồi dính trên quả địa cầu là Bắc Hàn, Cu Ba và Việt Nam, tụt hậu vào thời kỳ bán khai, đói khổ thiếu điều sống lại cảnh săn bắn và hái lượm cách đây hơn một ngàn năm. Hơn bảy mươi năm xây dựng thiên đàng Xã hội Chủ Nghĩa, chưa có tài liệu nào ghi nhận được một vụ người dân ở nước tự do trốn chạy qua lằn ranh các nước Xã hội. Trái lại người dân ở các thiên đường Xã hội Chủ Nghĩa cứ trốn đi hằng ngày xin vào các nước Tự bản đang giãy chết để được sống tự do. Trong truyện Tàu, đời Đường, có ông Trình Gião Kim sống tới mấy triều vua, ngẫm nghĩ chuyện đời tranh bá đồ vương, mà thắt cười. Cười mãi đến đứt hơi mà chết. Tôi e rằng, cái thế hệ của tôi, sinh ra từ khi vua Bảo Đại lên ngôi đến nay, trãi qua bao nhiều triều đại , cho đến ngày gọi là thống nhất đất nước, cũng sẽ có rất nhiều người ngồi ngẫm lại chuyện đấu đá,tranh danh đoạt lợi của các sứ quân xưng hùng, xưng bá cũng cười đứt mạch máu mà chết. Nếu được chết như vậy, tôi cũng cam lòng. Anh chị Lãng thân mến, Bao nhiêu năm tính sổ cuộc đời chỉ có mấy trang giấy dĩ nhiên là những nét chấm phá mà thôi. Viết mãi không hết. Chuyện nào nó cũng bắt từ dây cà ra dây muống. Cuộc sống nó như cây đa cổ thụ bao nhiêu là rễ chính, rễ phụ chằng chịt, quấn chặc lấy nhau. Chuyện nọ xọ chuyên kia, rôí rắm trăm bề. Lần tay gỡ ra từng mối như bà Tùng Long gỡ rối tơ lòng trên báo Phụ Nữ diễn đàn ngày xưa e khó quá. Vậy tóm tắt đôi chuyện gọi là chút quà Xuân con khỉ, gửi về anh chị đọc mua vui trong những ngày đầu năm Giáp Thân 2004. Thân ái. Nguyễn thanh Ty Quincy, mùa Giáng Sinh, 20/12/2003