GIỌT NƯỚC MẮT MUỘN MÀNG
Trân trọng cám ơn các bạn đã kể cho tôi nghe về các chi
tiết trong bài viết này.
Đặc biệt cám ơn Ông Thanh Tra Trần ngọc Hai và anh Trần vănTiến.
Nguyễn Thanh Ty
Hôm nay, mồng bốn tháng chín, ngày tựu trường của các em học sinh Tiểu học ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ.
Trời bắt đầu vào thu với những đám mây bàng bạc lơ lững trôi trên bầu trời xanh lơ, mang theo những cơn gió nhẹ,
lành lạnh, đủ cho các em khoác thêm chiếc áo len mõng bên ngoài, nhiều màu sắc rực rỡ.
Tuy mùa thu tới nhưng lá trên cây hãy còn xanh lắm. Chưa có chiếc nào đổi màu. Mùa thu thật sự phải hai tháng nữa.
Thời gian ấy người ta nhìn thấy rất rõ lá thay màu từng ngày. Có những cây hôm qua lá vẫn còn xanh,
sáng hôm sau đã lác đác chuyển sang màu vàng hay đỏ lốm đốm. Mấy ngày sau toàn cây đã vàng rực hay
đỏ thẫm một màu. Người ta cảm nhận thu sớm qua những chậu cúc vàng, trắng, đỏ, tím ... đại đóa hay tiểu đóa,
hoa nở vun thành mâm xôi, trưng bày trên các bậc tam cấp, trước thềm mỗi nhà.
Nhìn các em tay nắm chặt tay mẹ, đứng rụt rè trước cổng truờng, tôi chợt thấy lòng nao nao,
se thắt. Cái cảm giác chơi vơi, hụt hẫng lại trở về trong tôi y như năm bảy lăm, tôi không còn được đứng
trên bục giảng với phấn trắng, bảng đen nữa. Rất nhiều năm sau đó, mỗi khi đến mùa tựu trường,
cái cảm giác mơ hồ, lãng đãng, mất mát ấy lại trở về với nổi nhớ nhung da diết và biến thành những
giấc chiêm bao nặng nề, ảm đạm trong giấc ngủ. Thức dậy rồi màụnỗi buồn rầu cứ vương vấn mãi.
Tôi đã nhiều lần đứng ngẫn ngơ trước cổng trường để lặng nhìn các em với quần áo mới ,cặp mới,
tung tăng theo mẹ, cha vào trường trong ngày nhập học mà hồi tưởng lại kỷ niệm một thuở xa xưa
bóng hình mình trong đó.
Không hiểu vì sao năm nay, nhìn các em lũ lượt đi vào cổng trường, tôi lại chợt nhớ đến
Thầy Nguyễn đình Thoan,
vị Ty Trưởng cuối cùng của tôi tại Ty Tiểu Học Khánh Hòa.Vị Ty Trưởng mà tôi hằng kính trọng và yêu mến.
Có lẽ tôi đã thấy vị hiệu trưởng già của trường Tiểu học Paker Quincy, đứng trên bậc thềm ngôi trường đồ sộ,
uy nghi, cao ba tầng, xây bằng gạch đỏ thẩm, đang giơ hai tay chào đón các phụ huynh và các em học sinh,
trong đó có cháu ngoại của tôi chăng ?
Mối giây liên hệ nào đã nối kết giữa ông hiệu trưởng này
với vị Ty Trưởng khả kính của tôi ?
Phải chăng trong sâu thẳm ký ức của tôi đã tiềm tàng một hình ảnh tương phản,
tương phản đến khắc nghiệt, trần truồng giữa hai con người. Hai người đều cùng làm chung một công việc
là “trồng người”. Mà, một thì hạnh phúc ở thiên đường, một lại bị đọa đày nơi địa ngục trần gian.
. . . Tôi ra trường Sư Phạm năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn, sau hai năm học ở Qui Nhơn.
Thời gian công vụ tổng cộng chỉ có mười một năm, tính đến tháng tư, bảy lăm, ngày “ trời đất nổi cơn gió bụi”.
Trong đó hết ba năm “ trấn thủ lưu đồn” làm nhiệm vụ “ đi quân dịch là thương nòi giống”.
" .... Nhưng sau tháng 4-1975 , từ cương vị người Thầy , Hiệu Trưởng ;tôi được "nhà nước mới" cho đi học lại với
lý do : ba năm đầu tiên dạy học đã " truyền bá văn hóa phản động " cho học sinh ,
ba năm phục vụ trong quân đội của chế độ cũ ;sau đó trở về làm Hiệu Trưởng nhưng thật sự
“đã làm Xê-i-A*, kềm kẹp giáo viên”. ( Theo kết luận tội trạng của tôi trong hồ sơ của Ty Công An Phú Khánh * ) .
Nhà nước mới sau tháng 4-1975 ;khi đọc lệnh "được đi học" đúng hơn là tập trung cải tạo hai năm ; nhưng
muốn cho tôi học giỏi để trở thành công dân tốt, hữu ích cho xã hội mới ,xã hội cọng sản ;
xã hội không có cảnh người bóc lột người ;thay vì hai năm , tôi đã được học sáu năm !
Tôi nhập đề hơi vòng vo một chút không phải để nói chuyện "đi học sáu năm"
mà tôi muốn nhắc lại đây quãng thời gian tuy ngắn ngũi chỉ có tám năm
trong nghề “ phấn trắng, bảng đen”, tôi đã trãi qua ba ông Ty Trưởng .
Ngày đầu tiên vào nghề, người tôi trình Sự Vụ Lệnh là ông Trương Cảnh Ngôn,Ty Trưởng Ty Tiểu Học Lâm Đồng.
Sáu tháng sau Ông về hưu. Ông Lê Cao Lợi, thanh tra, lên thay thế. Tôi ở Ty Lâm Đồng được ba niên học,
tình cảm anh em, thầy trò đang nồng ấm thì phải chia tay để lên đường nhập ngũ. Ba năm sau,
tôi được trở về lại ngành Giáo dục, với hai chữ “ biệt phái ”, mà Tự điển của Viện Ngôn Ngữ Học Nhà Nước
ta định nghĩa là làm Xê-i-A, có nhiệm vụ kềm kẹp giáo viên. Tôi được thuyên chuyển về quê nhà Nha Trang.
Ông Ty Trưởng thứ ba và cũng là vị cuối cùng trong nghề dạy học của tôi là Ông Nguyễn đình Thoan.
Nhớ lại, ngày trình diện, tôi buột miệng gọi Ông là Thầy, chứ không như hai ông Ngôn và Lợi,
tôi vẫn xưng hô là Ông. Đến tận bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao ? Phải chăng là một niềm kính trọng tự nhiên
trong tôi đối với Thầy khi gặp mặt lần đầu ?
Thầy Thoan với dáng người dong dỏng cao, gầy, nước da trắng hơi xanh. Thầy có khuôn mặt xương xương,
nghiêm mà hiền. Giọng nói Thầy nhẹ nhàng, đầy vẻ ôn hòa. Lúc Thầy cười, nơi khóe miệng Thầy có vết hằn
của sự khổ đau sâu kín. Suốt thời gian tôi tùng sự tại Ty Khánh Hòa, tôi chỉ gặp Thầy hình như chỉ có bốn lần.
Tôi có rất ít kỷ niệm với Thầy. Nhưng tôi lại có ấn tượng về Thầy rất sâu đậm. Mọi việc liên quan tới trường
của tôi đảm trách, thường, tôi chỉ gặp Bà Thanh Tra Mô, đôi khi bác Nghiệp, trưởng phòng Hành chánh
hoặc anh Bô, trưởng ban Nhân viên.
Hồi tưởng lại ngày đầu tiên năm 1970, tôi vào trình diện, Thầy mời tôi ngồi xuống ghế trước bàn giấy
rồi hỏi thăm tôi về sức khỏe và hoàn cảnh gia đình. Tôi trả lời vắn tắt gia cảnh một vợ hai con, chưa có nơi cư trú,
đang ở tạm tại nhà cha mẹ. Thầy nhìn tôi một lúc rồi hỏi :
- Hiện nay Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang xây tặng cho Ty mình một ngôi trường. Em có dám nhận không?
Tôi đâu có biết mặt mũi và tình trạng ngôi truờng ấy ra sao. Nhưng nghe nói ở Nha Trang là mừng rồi. Tôi đáp bưà :
-Thưa Thầy ! Đi lính ngoài mặt trận còn không sợ thì nhận một cái trường thì có gì không dám !
Thầy vẫn ôn tồn giải thích thêm :
-Trường này sẽ tiếp nhận đa phần học sinh là con em lính tráng tứ xứ, thành phần rất phức tạp.
Tôi đã cử mấy giáo viên lâu năm trong nghề đi tiếp nhận nhưng ai cũng ngại và từ chối. Em hãy đi xem thử
và quyết định sau.
Tôi thẳn thắn trả lời liền một cách quả quyết :
-Thưa Thầy! Em nhận. Không cần phải đi xem và suy nghỉ .
Thầy có vẻ hài lòng và vui. Sau đó Thầy kêu Bà Thanh tra Mô dẫn tôi đi xem trường .
Đến nơi, cả Bà Thanh Tra và tôi đều ngỡ ngàng với quang cảnh trước mắt. Ngôi trường nằm sau lưng
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, ngoài vòng rào phòng thủ, lọt thỏm bên trong khu gia binh Hải Quân.
Bốn bề là cát trắng. Trường cách đường cái khoảng hai trăm thước. Chỉ đi bộ. Xe đạp,
xe gắn máy không chạy được. Trường gồm hai dãy nhà nằm song song, đối diện nhau,
cách nhau chừng một trăm thước. Một dãy gồm năm phòng học. Chính giữa có trụ cờ.
Dãy bên kia gồm ba phòng học, một văn phòng nhỏ và một hội trường dài bằng hai phòng học.
Cuối hội trường là nhà vệ sinh có sáu bàn ngồi bằng gạch men trắng, loại tân tiến. Trường xây bằng gạch “block”.
Mái lợp tôn. Tất cả đều trống không. Vài phòng có những đống phân ị bậy đã khô .
Giữa cái nắng chan chan lúc mười một giờ trưa, cát trắng đến lóa mắt, Bà Thanh Tra hỏi tôi :
-Anh đã thấy đó ! Anh quyết định ra sao ?
-Thưa Bà Thanh Tra ! Tôi nhận .
Hôm sau, tôi được gọi vào văn phòng Ty Trưởng để xác nhận lại lần chót trước khi anh Bộ thảo Sự Vụ Lệnh
bổ nhiệm tôi làm Hiệu trưởng ngôi trường ấy.
Thầy Thoan vẫn ôn tồn hỏi tôi :
-Chỉ còn một tháng nữa là khai giảng. Liệu em có chuẩn bị kịp không ? Hiện nay Ty không có gì cả
để yểm trợ ngoài một số sách giáo khoa. Nếu em làm được, tôi cho em lấy một phòng để gia đình ở.
Tôi vẫn quả quyết gật đầu :
-Thưa Thầy! Em làm được. Và xin cám ơn Thầy đã ưu ái .
Sau đó, Bà Thanh Tra Mô đại diện cho Ty cùng tôi vào thẳng văn phòng Đề Đốc Chỉ Huy Trưởng
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân ký nhận biên bản bàn giao ngôi trường cho Bộ Giáo Dục,
do Ty Tiểu Học Khánh Hoà tiếp nhận và sẽ do tôi điều hành .
Ngày khai trường tới, tôi gửi văn thư mời Ty cử đại diện xuống để tham dự buổi lễ khánh thành ngôi trường
chính thức mang tên “ Trường Tiểu Học Cộng Đồng Yết Kiêu”. Tên này do Trung Tâm Hải Quân đặt để nhớ ơn
một viên tướng có công giúp Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng.
Tôi cũng không ngờ đích thân Ông Ty Trưởng cùng các Thanh Tra và nhân viên văn phòng hơn mười người
xuống tham dự buổi lễ khánh thành một ngôi trường nhỏ bé chỉ gồm có sáu lớp, học sinh chỉ vỏn vẹn non hai trăm em.
Phái đoàn Ty rất bất ngờ và thích thú khi tận mắt nhìn quang cảnh ngôi trường.
Giống như chuyện cổ tích, Bà Tiên có chiếc đủa thần đã điểm vào ngôi trường này.
Từ một ngôi trường trống rỗng một tháng trước đây, bây giờ phòng nào cũng có đủ mười bộ bàn ghế cho học sinh.
Một bảng đen đóng chặt vào tường và một bàn cho thầy, cô có bục hẵn hoi. Trường bây giờ có cổng ngõ
bằng sắt đàng hoàng. Đường đi từ ngoài đường vào được lót bằng vĩ sắt. Xe HonDa chạy vào dễ dàng .
Buổi lễ khai giảng, học sinh đều đồng phục. Nam, quần soọc xanh, áo sơ mi trắng ngắn tay.
Nữ, váy xanh,áo sơ mi trắng dài tay.Tất cả đều đội mũ lưỡi trai màu xanh nước biển.
Phụ huynh học sinh hơn trăm người đến tham dự. Ban quân nhạc Hải quân trỗi nhạc chào quốc kỳ.
Một tổ nam sinh mười hai em dàn hàng ngang, dơ tay chào theo kiểu nhà binh. Hai em khác từ từ kéo
lá quốc kỳ lên đỉnh cột. Gió biển thổi vào lồng lộng. Quốc kỳ phất phới tung bay trên nền trời xanh ngắt.
Ông Trưởng Ty Tiểu Học cắt băng khánh thành. Thiếu Tá Hải Quân Đặng Hửu Thân, trưởng khối
Chiến Tranh Chính Trị lên bục đọc lời cảm tạ Ty đã giúp đỡ con em binh sĩ có nơi học hành,
khỏi phải đi học xa như trước.
Phái đoàn Ty càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy trường còn có cả lớp Mẫu Giáo hơn hai mươi em,
từ năm đến sáu tuổi, quần áo sạch sẽ đang chơi đuà với những đồ chơi đầy màu sắc và những bộ bàn ghế nhỏ nhắn,
xinh xắn dành cho các em, cũng sặc sỡ màu. Lớp Mẫu Giáo này do hai hạ sĩ quan và một nữ cán bộ xã hội
của Trung Tâm Hải Quân phụ trách, không trực thuộc Ty Giáo Dục .
Sau phần nghi lễ, có tiệc nhỏ điểm tâm ở hội trường. Mỗi quan khách được tặng một hộp khẩu phần
do nhà hàng Frégate cung cấp.
Thầy Thoan và Bà Mô hỏi nhỏ tôi bằng cách nào mà tổ chức được hay như vậy .
Tôi đáp:
-Thưa ! Hay không bằng hên ! Tôi gặp được các bạn học hồi xưa. Nay họ đang giữ các chức vụ cao trong
Quân Trường. Họ đã vì con em họ và cũng vì tình bạn đã cố giúp tôi trong mọi việc được tốt đẹp như ngày nay.
Thầy Thoan không ăn tại chổ. Anh Bô nói với tôi, ông Ty Trưởng muốn xin một hộp mang về nhà.
Tôi rất cảm xúc trước sự chân tình của Thầy. Ít có vị Ty Trưởng nào làm như thế.
Họ vờ nhấm nháp tí chút rồi bỏ lại. Tôi nhờ mấy cô giáo gói lại mỗi người một phần giao cho nhân viên
đi theo mang ra xe .
Sau buổi lễ ấy, trường tôi được Ty chiếu cố đặc biệt. Sách giáo khoa đầy đủ. Bàn ghế văn phòng được
cấp phát ưu tiên. Lực lượng giáo viên hùng hậu, hai phần ba là Giáo Học bổ túc. Tôi được miễn dạy,
tuy trường chỉ có năm lớp .
Có lần Ty muốn đi thăm các trường Hải Đảo như Bích Đầm, Trí Nguyên ... Thầy Thoan cũng nhờ tôi xin
phương tiện tàu Hải Quân đưa ra tận nơi .
Thầy thường xuyên bỏ nhiều thì giờ để đi thăm các trường nhỏ xa xôi hẻo lánh, ít ai biết tới.
Tôi còn nhớ lần Thầy đi thăm trường Phước Hải Hạ, một ngôi trường sơ cấp bé tí tẹo, chỉ có hai lớp,
nằm khuất giữa những nương sắn nước, dây lá um tùm. Ông thầy Phó đã lớn tuổi, trưởng giáo,
mỗi lần đến chơi với tôi cứ xuýt xoa khoe mãi về chuyện Ông Ty trưởng đích thân đến thăm trường ông.
Đó là niềm an ủi và vinh dự cho ông trong suốt cuộc đời dạy học. Thầy Thoan còn chịu khó leo lên cả
trăm bậc cấp thăm trường Cầu Đá nằm chót vót trên đỉnh núi. Đó là những trường nằm trong liên trường của tôi,
tôi mới biết được. Ông còn đi xa, xa hơn nữa để thăm các trường ở Vạn Ninh,Vạn Giả phía Bắc...
các trường ở Phú Lộc Đại Điền... trong núi thẳm phía Tây... các trường phía Nam từ Thành trở vô...
Tuy sức khỏe Thầy không tốt lắm, nhưng nghị lực Thầy rất vững. Hoàn cảnh riêng của Thầy rất thương tâm.
Vợ Thầy đã nằm liệt giường nhiều năm vì chứng bán thân bất toại. Bao nhiêu tiền bạc đã theo những toa thuốc
đội nón ra đi. Thầy sống thanh bần cho đến cuối cuộc đời vẫn không có được một cái dùi để cắm đất.
Cuộc đời thăng trầm của Thầy từ thuở thanh niên đến lúc nhắm mắt xuôi tay đã trãi qua biết bao khổ ải.
Khi tôi tùng sự dưới trướng của Thầy thì Thầy đã ở chức Ty Trưởng hơn mười năm rồi. Vậy mà Thầy vẫn
không có được một mái nhà.Thầy vẫn phải ở nhờ một căn phòng nhỏ sau Ty.
Thời gian Thầy được đề cử ra ứng cử chức vụ Hội đồng Tỉnh, trúng cử xong, Thầy phải dọn ra khỏi Ty Tiểu Học
để tá túc trong một căn phòng nhỏ khác, trong sân vận động Nha Trang do Ty Thanh Niên giúp đở.
Cái phương tiên duy nhất để đi lại là cái xe hơi, Thầy phải trả lại cho Ty Tiểu Học .
Sau tháng 4-1975
; Thầy Thoan "cũng được đi học ba năm" tại Đồng Găng ;
Thời gian này tôi cũng được đi học chăn bò cũng giống như Thầy Thoan; tại Đá Bàn một năm
nên rất thấm thía với hoàn cảnh của Thầy.
Ai bảo chăn trâu là khổ ? Chăn trâu sướng lắm chứ !
( Bài tập đọc trong sách Quốc văn Giáo khoa thư hóa ra lại là một lời sấm ứng nghiệm )
Nhưng cái khổ, cái sướng không phải ở chổ đi chăn trâu ! Mà là cái hài hước cười ra nước mắt :
Trời làm một trận lăng nhăng ! Ông hóa ra thằng ! Thằng hóa ra ông !
Sau khi tốt nghiệp "Hậu Đại Học" với ngành "Chăn bò" , Thầy được ra khỏi trại Đồng Găng với thân hình còm cõi,
da bọc xương, không nơi cư trú. Một Sư bà có ngôi chùa ở Cầu Đá đã động lòng từ bi, giúp cho gia đình
Thầy một chái nhỏ ở hậu liêu, có chổ để chui ra chui vào, đụt mưa tránh nắng.
Với người vợ trước bệnh hoạn, Thầy không có con. Thầy nuôi một đứa bé trai làm con nuôi. Năm ở Chùa,
bé đã hơn hai mươi tuổi, nhưng không còn phương tiện học hành, bé phải đi theo đánh cá cho một gia đình thuyền
chài ở Chụt, kiếm cơm ăn. Sau, gia đình này thấy thương bé mà gã con gái cho.
Thầy Thoan mừng lắm. Thầy tâm sự với anh em giáo chức cũ đến thăm :
-Tôi mừng lắm ! Mừng lắm ! Thời buổi này mà còn có người dám liều mạng gã con gái họ cho con tôi .
Thật đáng quí biết chừng nào .
Chùa là nơi tu hành thanh tịnh. Gia đình Thầy không thể tá túc được lâu. Sư bà cất cho gia đình Thầy
một cái nhà nhỏ sơ sài mấy thước vuông, mái tôn, vách đất, trên khu đất hoang của Chùa,
về phía bên kia đường. Bấy giờ Thầy đã có hai con nhỏ với người vợ sau, khi người vợ trước mất khá lâu.
Sức khoẻ Thầy lúc này yếu lắm, không thể lao động được. Người vợ phải để hai con nhỏ ở nhà cho Thầy trông nom,
một mình lăn lộn suốt ngày từ lúc tinh mơ đến tối mịt ở chợ Đầm kiếm gạo .
Thầy thay bà nuôi con, nấu cơm, rửa chén. Vậy mà Thầy vẫn không được yên thân trong cảnh cơ cực;
khi hình vợ Thầy cùng một số người khác, được chính quyền địa phương thời kỳ đó đem dán ở chợ,
bêu rếu rằng đây là bọn người
trây lười lao động, đây là bọn người “ phe phẩy” đáng trừng trị để làm gương .
Cùng kiệt lắm rồi. Gia đình Thầy bó tay chịu chết đói. Các anh chị em giáo chức cũ hay tin,
mỗi kẻ một ít, lá rách đùm lá nát, lén lút quyên góp chút mắm, chút gạo đem đến giúp Thầy qua cơn bĩ cực.
Trước tấm lòng tương trợ của những bạn đồng nghiệp cũng như nhân viên cũ của Thầy trước kia,
Thầy không sao cầm được nước mắt, không sao thốt nên lời. Bởi hoàn cảnh họ cũng chẳng khá hơn
Thầy là bao, trong giai đoạn này.
Thầy cảm động nói trong nước mắt :
-Từ rày về sau, anh em đừng đến đây thăm tôi nữa. E rằng không hay ! Có dịp tôi sẽ đến thăm từng anh em thì tốt hơn .
Những ngày cuối năm, Thầy đạp chiếc xe đạp tồi tàn, phía trước có cái giỏ, đến thăm chúc Tết sớm anh em.
Mỗi người, khi tiễn Thầy ra về, kẻ bỏ vào cái bánh chưng ,kẻ đòn bánh tét, gói mức, gói trà gọi là chút quà
Xuân biếu Thầy có được một cái Tết.
Vui hay buồn ? Ai hiểu được lòng Thầy theo những vòng bánh xe lăn trên đường về lại căn nhà mái tôn vách đất !
Lại một mùa Xuân qua!
Ngày còn tại chức, chỉ cần một lời lên quan đầu Tỉnh, Thầy sẽ có ngay một lô đất ngon lành ở Xóm Mới
hay khu Phước Hải trị giá cả bạc triệu, nhưng Thầy đã không làm. Khi gần về hưu để vui thú điền viên,
giấc mộng một đời công chức, ai mà không mơ tưởng ngày đó, Thầy vẫn hai bàn tay trắng.
Nhiều anh chị em giáo chức có lòng với Thầy, đã tự nguyện chung góp một số tiền kha khá định mua tặng cho
Thầy một căn nhà tương đối, để Thầy có nơi an cư trong buổi chiều tà, xế bóng. Thầy vẫn cương quyết không nhận .
Có người cho Thầy không thức thời. Bo bo giữ lòng thanh bạch chỉ có thiệt thòi .
Nhưng ở đời lấy mực thước nào để đo biết ai dại, ai khôn ?
Mỗi năm khi mùa nhập học tới là thời gian Thầy khổ đau và dằn vặt nhất. Thuyên chuyển và bổ nhiệm.
Bao nhiêu là áp lực đè xuống hai vai Thầy. Quyền uy và hối mại là hai thứ đã nhiều phen muốn quật ngã Thầy.
Nhưng lần lượt Thầy đã vượt qua ba đào. Con thuyền nhân cách của Thầy đã đi trong biển êm, sóng lặng.
Nổi khổ tâm biết tỏ cùng ai ? Một mình mình biết. Một mình mình hay!
Trong hoạn nạn mới rõ được lòng người.
Gia bần tri hiếu tử. Quốc loạn thức trung thần.
Cái tình cảm chan chứa của anh chị em giáo chức đối với Thầy đã an ủi và sưởi ấm lòng .
Thầy trong những ngày cuối đời.
. . . Tháng mười hai, năm một ngàn chín trăm, chín mươi, một ngày cuối đông lạnh lẽo với những cơn gió bấc
thổi thốc vào căn nhà "tuềnh toang", trống trãi ở gần hai bồn xăng dưới chân núi Cầu Đá,
đối diện với dinh Bảo Đại, Thầy đã trút hơi thở cuối cùng, lặng lẽ từ giã cuộc đời đầy phiền não và hận thù
để vĩnh viễn ra đi về cõi vĩnh hằng.
Thầy đã mang bệnh lao từ ngày còn ở trại cải tạo lao động Đồng Găng, ở đây
Thầy phải học cách đi chăn bò ở cái tuổi già , trong cảnh đói ăn, bệnh tật triền miên.
Đám tang Thầy do một số anh chị em giáo chức khá đông, mỗi người một tay, đưa Thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Dưới bầu trời đầy mây một màu xám xịt, từng cơn gió bấc lạnh buốt thổi tốc lá khô lên không trung,
đoàn người đưa tang lặng lẽ cuối đầu, nuốt nước mắt vào lòng, tiễn Thầy ra tận huyệt mồ.
Mộ Thầy nằm trong một khu đầm lầy gần Đồng Bò. Ở đó Thầy sẽ được yên tĩnh nghỉ ngơi.
Lòng Thầy sẽ thanh thản. Bao nhiêu thương ghét, hận thù, Thầy trả lại cho người đời, xin trả hết lại hết cho trần gian.
Muà Xuân năm 1990, tháng mười, năm Canh Ngọ, anh chị em giáo chức Nha Trang,
Khánh Hòa mất đi một người Thầy, một người anh cả trong làng giáo dục.
Cội mai vàng đón Xuân năm nay đã gãy lìa thêm một nhánh. Người ta sẽ không còn thấy nữa,
hình ảnh một người có dáng cao gầy, gò lưng trên xe đạp, mệt nhọc đạp xe ngược gió,
từ Nha Trang về Chụt với cái giỏ đằng trước nặng trĩu ân tình những quà Xuân, gói trà,cân mức,
bánh tét, bánh chưng... và cả những tấm lòng.
Tôi ra trại cải tạo A.30 về nhà với một gia đình tan nát. Vợ đã bỏ đi. Gánh nặng cơm áo với bốn con còn nhỏ dại,
phải quần quật mỗi ngày hơn mười sáu tiếng đồng hồ lao động để có được miếng ăn và nuôi con.
Ngày nắng cũng như ngày mưa, tôi vẫn phải vất vã, mồ hôi đầm đìa với công việc nặng nhọc,
cứ mong sao được một chút nghỉ ngơi, ngã lưng cho đỡ mõi thì làm sao có được thì giờ mà biết được
những chuyện biễn dâu, chuyện đời thường đang xãy ra chung quanh, của bè bạn, của Thầy...
" Thời kỳ đó ; Cái ăn là quan trọng ,cái bao tử chi phối cái đầu ;khi đói ;bao tử bị thắt lại ;con người vì
cái ăn để sinh tồn mà quên hết không còn khả năng để nghĩ đến điều gì khác ;làm băng hoại tất cả lương tâm,
lương tri và lý trí con người ."
Tất cả đó là một tấm kính chiếu yêu soi rõ nhất chân tướng con người .
. . . Hơn mười năm sau,
tôi mới được nghe anh em kể lại cuộc đời Thầy, tôi giận và trách mình sao quá vị kỹ
và thờ ơ với mọi người xung quanh. Tôi đã có lỗi với Thầy. Thời gian Thầy hoạn nạn, tôi đã không một
chút ân tình chia sớt. Ngày Thầy ra đi, tôi cũng không có mặt để tiễn đưa Thầy về bên kia nước Nhược.
Hôm nay trời vào thu, bầu trời xanh lơ, trong vắt. Đứng ngẩn ngơ trước cổng trường, nhìn các em nhỏ tung tăng
vào sân trường, nhìn các thầy, cô giáo tươi cười, hớn hở đón chào các em, tôi chợt nghĩ về mình ba mươi năm trước.
Tôi chợt nhớ tới Thầy Nguyễn đình Thoan, vị Ty Trưởng khả kính mà tôi hằng kính mến,
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong những ngày đầu tiên thuyên chuyển từ Lâm Đồng về Nha Trang.
Lòng tôi chùng lại với nỗi buồn nặng trĩu như đang có những đám mây đen kéo về.
Ngồi viết lại vài dòng về Thầy, tôi xin thắp một nén hương lòng để thành kính tưởng nhớ đến Thầy.
Và khấn rằng :
Thưa Thầy ! Đời đục cả ! Mình Thầy trong. Không vì đời đục mà Thầy đục theo .
Thầy là tấm gương sáng cho những kẻ chỉ biết chạy theo bã danh lợi, suy ngẫm ở quãng cuối đời còn lại.
Những giọt nước mắt muộn màng rơi trên trang giấy này, em xin thay cho những lời tạ lỗi .
Xin Thầy hãy mĩm cười bao dung và tha thứ cho em ! Xin cám ơn Thầy :
Thầy Nguyễn đình Thoan, một đời thanh bạch .
Nguyễn Thanh Ty
Quincy, mùa Thu 2003 .
• Phú Khánh = Tên hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên .
• Xê i a = C.I.A = Cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ.
|