Những dòng "mail" của Thầy Cô & Bạn Bè ...
"Trưởng giáo Trịnh Công Sơn" :"Chàng nghệ sĩ nhứt y nhứt quởn" :
từ người bạn ,đã gởi mail cho trang Võ Tánh ;một bài viết về nhạc sĩ họ Trịnh .
có nhiều người đã viết về người nhạc sĩ này ;đáng lẽ không nên đưa vào !
nhưng ở đây ,tác giả là "Bạn Học cũ" và là "Đồng Nghiệp cũ" của Nhạc sĩ họ Trịnh,bài viết cũng nói về tình bạn ,trường xưa :
Trang Võ Tánh nơi hội ngộ : "Bạn Cũ Trường Xưa" ,tác giả là người Nha Trang Khánh Hòa;nên đành mạn phép tác giả : Nguyễn Thanh Ty
để được đăng lại bài viết này.Mọi thắc mắc hay ...trang Võ Tánh hòan tòan không chịu trách nhiệm đến nội dung bài viết !
Về Một Quãng đời của Trịnh Công Sơn :
- Nguyễn Thanh Ty -
Trịnh Công Sơn đã nằm xuống ...
Cát bụi trở về với cát bụi .
Xong một kiếp người .
Nhưng đằng sau ông, vấn đề vẫn chưa xong. Người khen ông rất nhiều. Kẻ chê ông
cũng lắm. Dù khen hay chê, mọi người đều phải công nhận tài năng âm nhạc của
ông. Cái đó đã hẵn. Không bàn ở đây. Vấn đề đang tranh cải được đặt ra ở đây:
Trịnh công Sơn có là Cộng Sản hay không? Hay chỉ là nạn nhân đi giữa hai lằn
đạn? Như ông Trịnh Cung và một số người đã nêu!
Người viết bài này có dịp gần gũi và sống chung với Trịnh Công Sơn một thời
gian, từ năm 1962 đến 1967, nên biết được đôi điều về cuộc đời thường của nhạc
sĩ họ Trịnh này. Nhân ngày ông qua đời, một số thân hữu yêu cầu tôi viết lại
những kỷ niệm vui buồn với người quá cố để anh em hiểu thêm về một thiên tài âm
nhạc. Và luận xem thử Trịnh Công Sơn có là Cộng sản hay thiên Cộng hoặc đi giữa ?
Tôi chưa hề viết văn. Mong rằng những dòng thô thiển dưới đây giúp ích được phần
nào cho những ai thích sưu tầm tài liệu về cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa bạc
mệnh này. Miễn chấp cho chuyện chữ nghĩa.
Theo chỗ tôi biết, trong số những người viết về cuộc đời của nhạc sĩ họ Trịnh
trong thời gian dạy học, chỉ có bốn người mới có thể có nhiều tài liệu sống về
Trịnh Công Sơn, còn hầu hết đều cưỡi ngựa xem hoa, hoặc cặm cụi mày mò, đào xới
trong các bài viết của nhiều người, cóp chỗ này một ít, chỗ kia vài chi tiết và
đem các ca từ của họ Trịnh ra, sợi tóc chẻ làm tám, rồi dùng ngòi bút thần kỳ hô
phong, hoán vũ, tô lục, chuốc hồng mà thôi.
Bốn người đó là: Hoàng Phủ Ngọc Tường - Khánh Ly - Trịnh Cung - Đinh Cường.
Thời gian Trịnh công Sơn còn sống, báo chí hải ngoại viết rất nhiều về người
nhạc sĩ này, cả khen lẫn chê, nhiều khi đến độ gay gắt. Tôi cố tìm đọc những bài
của ông Đinh Cường để xem lập trường của ông, nhưng không thấy. Mới đây ông
Nguyễn văn Liễu tức họa sĩ Trịnh Cung có phát biểu một số điều tại Cali trong
dịp tưởng niệm Trịnh Công Sơn. Trong đó có một số sự việc ông không phản ảnh
đúng sự thật. Tôi nghĩ rằng ông quên hoặc ông suy diễn.
Mãi đến khi tờ Hợp Lưu, số 59, phụ trang đặc biệt Trịnh Công Sơn "Một cõi đi
về", tôi mới được đọc một bài duy nhất của ông Đinh Cường. Cả hai ông Trịnh Cung
và Đinh Cường đều nói là bạn lâu năm với Trịnh Công Sơn, từng cưu mang, chia
ngọt, xẻ bùi cùng nhau cho đến ngày nhạc sĩ họ Trịnh từ giã cuộc đời. Nhưng
tuyệt nhiên, người ta không thấy hai ông đả động gì tới vấn đề Trịnh Công Sơn có
là Cọng Sản hay không?
Ca sĩ Khánh Ly hết lời ca tụng người nhạc sĩ này là điều đương nhiên, dễ hiểu.
Nếu không có nhạc Trịnh Công Sơn chắp cánh cho Khánh Ly bay cao, thì suốt đời
Khánh Ly chỉ là một cô bé "nhếch nhác", như lời ông Cung mô tả, ở tại Đà Lạt mà
thôi. Ngược lại, nếu nhạc Trịnh Công Sơn không nhờ Khánh Ly "lăng xê chùa" trên
Đài Phát Thanh Đà Lạt, ròng rã ba năm liền, từ 1964 đến 1967, và "đi chân đất"
về Sài Gòn hát miễn phí cho sinh viên nghe thì liệu nhạc của họ Trịnh có được
phổ biến rộng rãi như ngày nay không? Cần nhắc ở đây là trước 1964, từ cái thuở
mới mười bảy tuổi, Trịnh Công Sơn đã có những bản nhạc rất hay như "Ướt Mi",
"Thương Một Người", "Biển Nhớ", "Nhìn Những Mùa Thu Đi" mà nào có tăm tiếng gì.
Có chăng là những bạn bè trong giới Sư phạm hoặc một vài thân hữu chuyền tay
nhau hát!
Người có thẩm quyền nhất để giải đáp thắc mắc của nhiều người liệu Trịnh Công
Sơn có là Cộng Sản hay không chính là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng đến giờ này,
tôi không thấy ông lên tiếng xác nhận. Hoặc có mà tôi không biết chăng?
Hai Năm Tại Trường Sư Phạm Qui Nhơn 1962-1964 :
Tôi học chung một khóa Sư phạm với Trịnh Công Sơn. Khóa I, ngày 22 tháng 4 năm
1962, khóa đầu tiên được mở ra tại thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Tên gọi
khóa học là "Thường Xuyên", học hai năm, để phân biệt với "Khóa Cấp tốc", học
một năm. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp đơn là Tú Tài I. Tuy nhiên khóa đầu tiên ấy
đa số đã có Tú Tài II. Một vài người đã có một, hai chứng chỉ Đại học. Sĩ số
giáo sinh là ba trăm người. Đa phần là người Huế, tỷ lệ có lẽ chiếm 60%. Số còn
lại rãi rác ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa...
lên tận các tỉnh cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng, PleiKu, KonTum...
Trịnh Công Sơn theo ban Pháp văn. Tôi theo ban Anh văn. Hiệu trưởng là thầy Đinh
Thành Chương. Ông này rất tôn sùng tổng thống Ngô Đình Diệm. Mỗi sáng thứ hai,
chào cờ, Ông thường có những bài phát biểu trước giáo sinh, ca tụng công đức Ngô
Chí Sĩ hết lời. Ngược lại, em Ông, giáo sư Đinh Thành Bài lại thiên Cộng. Trong
những giờ dạy Sư phạm lý thuyết, thầy thường xen vào những lời ca ngợi chế độ
Cộng Sản.
Năm 1963, phong trào Phật Giáo nổi lên, lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Một
nhóm giáo sinh tổ chức tố khổ thầy Đinh Thành Chương, buộc Ông phải từ chức.
Trịnh Công Sơn cũng bị lôi kéo theo trong vụ này. Mấy tuần sau, Bộ Giáo Dục phải
bổ nhiệm giáo sư Mẫn mới từ Hoa Kỳ về, thay thế thầy Chương, nội vụ mới êm.
Còn nhớ, ngày nhập học đầu tiên, thầy Đoàn Nhật Tấn, dạy môn tâm lý giáo dục,
đọc tặng học trò hai câu thơ:
Dưa leo chấm với cá kèo,
Bởi con nhà nghèo mới học Normal ! (Sư phạm)
Đúng vậy! Đa số chúng tôi lúc ấy đều là con nhà nghèo. Hoặc học hành dang dở,
hoặc cha mẹ không đủ khả năng tài chánh để gửi con ra Huế hay vào Sài Gòn tiếp
tục học lên Đại học. Vì vậy chúng tôi đều cố thi vào Sư phạm để chắc chắn rằng
sau hai năm sẽ có công ăn việc làm cho bản thân và có thể giúp gia đình. Tưởng
cũng nên nói rõ ở đây tại sao chúng tôi cố thi vào Sư phạm. Thời gian đó hai
ngành Y Tế và Giáo dục rất thiếu nhân viên. Khóa nào vừa đào tạo xong là được bổ
nhiệm đi làm ngay. Trong khi các ngành khác như Công Chánh, Nông-Lâm-Súc, Kỹ
Thuật Phú Thọ...ra trường, nằm nhà mấy năm vẫn chưa được bổ nhiệm.
Có một nghi vấn ở đây: Không biết ông Trịnh Cung vin vào đâu mà bảo rằng Trịnh
Công Sơn vào được trường Sư phạm Qui Nhơn để núp bóng là nhờ hai ông Tường và
Kha giúp đỡ. Có lẽ ông Cung đã nghe ông Tường, ông Kha hay là Sơn kể lại chăng?
Nói thêm một chút về chuyện thi vào Sư phạm. Đề thi thật ra không khó, nhưng để
lọt được vào cửa ải, mỗi thí sinh phải chọi lại ít nhất mười đối thủ. Tính từ
Quảng Trị, Trung Trung Phần đến miền cao nguyên hơn mười bốn tỉnh, Bộ chỉ chọn
có ba trăm người. Vậy theo tiết lộ của ông Cung, người ta nghĩ đến hai vấn đề:
1/ Ông Tường hoặc ông Kha đã thi dùm cho Sơn? Hoặc 2 ông có chân trong Ban Giám
khảo, chấm cho Sơn đậu?
- Tại sao lại phải vào trường Sư Phạm núp bóng mà không là Trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Huế? Nơi mà ông Cung với ông Cường theo học.
Ông Đinh Cường từng xác nhận là Sơn có tài hội họa, vậy thì thi vào Mỹ thuật có
khó khăn gì, thi chi vào Sư phạm để phải nhờ đến sự giúp đỡ của hai ông Tường và
Kha?
Thứ nữa, ông Cung chê nghề dạy học không xứng đáng với tài năng của Sơn (lúc
ấy?). Và ông còn cho biết đã cưu mang Sơn.
Tôi không biết ông nói chữ "cưu mang" với một nghĩa nào. Theo chỗ tôi biết, đem
chỉ số lương ra so sánh thì lương của Sơn phải hơn hẵn.
2/ Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp bóng. Cả hai ông Cung và Cường đều nói như
thế. Vậy Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp ai? và núp cái gì? Sẽ có hai giải
thích được đặt ra cho hai chữ "núp bóng"
a/ Sơn vào Sư Phạm để tạm thời trốn lính.
b/ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Văn Liễu (Trịnh Cung) và Đinh Cường đã
có mưu đồ gài Sơn vào Sư Phạm để thực hiện sách lược "học đường vận"?
Giải thích một: không vững. Lúc đó Sơn đã có Tú Tài I. Đâu phải ở vào trường hợp
"Rớt tú tài anh đi trung sĩ". Sơn có thể theo học bất cứ một trường Trung Học tư
nào để thi lấy Tú Tài II vẫn được hoãn dịch theo luật định. Nếu cuối năm, thi
hỏng, thì a-lê, mời anh vào Thủ Đức, vác Garant M1 đi "ắc ê" chín tháng quân
trường. Sau đó mang lon chuẩn úy, đi "mút chỉ cà tha", bốn vùng chiến thuật, trả
nợ nước non. Còn nếu anh bợ được cái Tú Tài II, thì anh cứ tà tà lên Đại Học.
Chí ít cũng được hoãn dịch bốn năm nữa. Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa đâu có chủ
trương lùa hết trẻ, già, trai, gái, lớn, bé đi "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"
như ở miền Bắc.
Ông Cường nói vì tình hình, thời cuộc lúc đó... lại càng khiên cưỡng. Những ai
sinh từ năm 1940 trở về trước đều biết rất rõ rằng: Miền nam được hưởng một thời
gian mấy năm rất thanh bình, kể từ ngày Ông Diệm chấp chánh (54-63) cho đến lúc
Ông bị đám "Thập nhị Sứ quân" giết.
Giải thích hai: có lẽ thuyết phục hơn, nếu xét theo bề dày "thành tích" Sơn đã
cúc cung tận tụy, phục vụ chế độ sau tháng Tư, bảy lăm. Nhưng suốt những tháng,
năm sống chung với Sơn, tôi không thấy Sơn có một hành động cụ thể nào khả dĩ
gọi là có vẽ "Việt Cộng". Trừ khoảng thời gian giữa năm 1965, Sơn nhận được
nhiều thư từ của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và tiếp theo là những cuộc gặp gỡ,
tiếp xúc bí mật tại một trang trại ở Phim Nôm, gần Tùng Nghĩa, Đà Lạt với một
nhân vật, Sơn dấu tên. Sau đó, Sơn mới vội vã sáng tác tập "Ca Khúc Da Vàng"
trong vòng có ba tháng hè năm 1965.
Loại trừ hai giải thích trên, Sơn vào Sư phạm với một lý do hết sức đơn giản là:
Dưa leo chấm với cá kèo.
Bởi con nhà nghèo mới học "Sư phạm".
(Cái sĩ diện hão của đa số người Huế cứ mơ về một thời vàng son làm "ôn" làm
"mệ" cố che dấu cái hiện tại suy tàn đã đành. Còn ông Liễu là dân Nha Trang-Cầu
Đá-Chụt chính tông mà cũng lập lờ "đánh bùn sang ao" quả là chuyện lạ)
Nhắc lại hai câu thơ của thầy Đoàn Nhật Tấn đã dẫn nhập để thấy rằng lúc ấy nhà
Sơn đang lâm vào cảnh ngặt nghèo. Cha bị tai nạn mất sớm, gia đình khánh kiệt.
Má Sơn phải chật vật lắm mới nuôi nỗi đàn con còn nhỏ dại. Sơn là con trưởng,
phải bỏ dở chương trình học để lấy nốt cái Bac II Philosophie, về lại Huế để phụ
giúp mẹ. Sư phạm Qui Nhơn là con đường ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt được ý
nguyện này. Những ngày mưa gió ủ ê, đất nhão, không đi ra ngoài được, nằm khoèo
ở nhà, Sơn tỉ tê kể cho tôi nghe về cuộc đời của Sơn nhiều buồn vui lẫn lộn.
Trong đó có cả điều thất vọng và thất tình về cô Diễm. Từ đó mới có bài ca thất
tình diễm lệ "Diễm xưa".
Dù bất cứ ai, vô tình hay hữu ý, che dấu hay huyền thoại hóa Trịnh Công Sơn
trong giai đoạn học Sư phạm và dạy học bằng những lý do rất "mờ mờ, ão ão" để
đánh hỏa mù dư luận với mục đích thần tượng hóa đời thường của một nghệ sĩ, cũng
cần cơm ăn, áo mặc... như mọi người, đều không giúp ích gì được trong việc cung
cấp tài liệu để viết lại tiểu sử một người nghệ sĩ tài ba được nhiều người mến
mộ. Có khi lại phản tác dụng.
Trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Qui Nhơn
được ngân sách Mỹ tài trợ, xây cất
rất qui mô và tân kỳ. Hai trường nằm gần nhau tại Khu Sáu, sát bờ biển, khoảng
giưã đường từ phố Gia Long đến Ghềnh Ráng, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ giấc
ngàn thu. Qua khỏi Ghềnh Ráng là làng Qui Hòa, làng dành riêng cho người mắc
bệnh cùi. Ở đó có nhiều bà "xơ" hy sinh một đời, tận tụy chăm sóc cho bệnh nhân.
Lúc bấy giờ, 1962, thành phố Qui Nhơn hãy còn tiêu điều xơ xác. Ngay con đường
chính Gia Long, chạy dài từ Núi Một (Ga xe lửa) đến bến cảng hãy còn nhiều ngôi
nhà vô chủ, đổ nát hoang tàn trong chiến tranh chưa có ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi
chạy từ trung tâm phố thẳng ra biển còn rất nhiều nhà tranh, vách lá.
Vẽ lại một vài hình ảnh cũ để cho thấy chính phủ lúc ấy có dụng ý khi cho xây
cất hai ngôi trường đồ sộ tại đây. Mỗi năm hai trường qui tụ hơn một ngàn giáo
sinh và học sinh kỹ thuật khắp nơi đổ về. Nền kinh tế tại đây đã nhanh chóng
phục hồi.
Để quảng bá rộng rãi cho nhiều nơi biết về trường Sư Phạm, Ban Giám Đốc nhà
trường cho thành lập một ban văn nghệ. Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng ban,
chịu trách nhiệm tổng quát. Thanh Hải, phó ban thứ nhất, trách nhiệm về nhạc. Võ
Văn Phòng, phó ban thứ hai, trách nhiệm về kịch. Một vỡ kịch thơ dài 45 phút
nhan đề "Tiếng Cười Bao Tự" được dàn dựng. Tôi được chọn để thổi sáo đệm thơ.
Nhân dịp này tôi mới biết và quen với Trịnh Công Sơn.
Một chương trình đại qui mô gồm đủ các tiết mục ca, múa, nhạc, kịch được Ban Văn
nghệ hoạch định. Thêm vào đó là một tổ phụ trách ánh sáng. (Lúc đó rất hiện đại
và tân kỳ. Dùng đèn chiếu slide làm hậu cảnh thay đổi mỗi màn trình diễn khác
nhau. Dùng đèn quay, chớp chớp đổi màu rất đẹp mắt)
Buổi trình diễn được ra mắt đúng ngày "Song Thất" năm đó, chứ không phải ngày
mãn khóa như ông Đinh Cường nói.
Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca "Tiếng Hát Dã Tràng" hay
gọi gọn hơn là "Dã Tràng Ca" để làm tiết mục mở màn. Đây là tiết mục công phu và
đặc sắc nhất. Ban hợp xướng gồm năm mươi người gồm nam lẫn nữ do Sơn thử giọng
tất cả các mầm non văn nghệ và chọn lọc. Anh đã khổ công tập ráo riết trong ba
tháng trời, xen kẻ giữa những giờ học, và đã thành công vượt mức trước sự ngạc
nhiên đầy thích thú và khen ngợi của quan khách và công chúng. Tiếng vỗ tay đã
kéo dài rất lâu.
Rất tiếc, tôi không có chân trong ban hợp xướng, nên không thuộc trường ca này.
Chỉ nhớ lõm bõm vài câu, xin ghi lại cho vui.
Tiếng Hát Dã Tràng hay Dã Tràng Ca.
(Tiếng vọng) Dã tràng... Dã tràng... Dã tràng...
Dã tràng xe cát biển Đông... Dã tràng xe cát hoài công...
(Tiếng trống Bass dồn dập, thúc dục):
Trùng dương ơi... Trùng dương ơi vỗ sóng vào bờ...
....(quên)...
Thôi... còn gì nữa đâu... Còn gì nữa đâu... Đời lên cơn đau! Xuân, Hạ, Thu, Đông
bốn mùa làm rét mướt... Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn...
Tôi chỉ nhớ đại khái vậy. Hiện nay, tại thành phố Lawrence, Mass, có anh Nguyễn
Văn Tấn, Cali có chị Hồ thị Nghị trước ở trong ban hợp xướng, chắc còn nhớ. Bốn
mươi năm đã qua rồi, còn gì!
Cũng trong thời gian học Sư Phạm, Sơn còn sáng tác thêm những nhạc phẩm khác như
"Biển Nhớ", "Nhìn Những Mùa Thu Đi", "Nắng Thủy Tinh". Hầu như tất cả giáo sinh
đều biết và ngâm nga những bài này. Ngoài ra Sơn cũng sáng tác một vài bài vui,
ngắn để chúng tôi khi đi thực tập tại các trường dạy cho các em hát.
Tôi xin ghi lại đây một bài tượng trưng:
Ông Tiên vui
Ông Tiên vui,
Ông có cái râu dài.
Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh mây.
Ông Tiên vui,
Ông thường hay nhắc đến.
Chốn thiên đình chẳng có tháng ngày vui.
Ông Tiên vui,
Ông có cái căn nhà.
Trên ngọn đồi hằng đêm Ông ghé qua.
Hôm em lên,
Ông chợt đi đâu vắng!
Lúc em về, em buồn đến ngẩn ngơ.
Xin nhắc lại ở đây, Qui Nhơn lúc ấy còn nghèo lắm. Cả thành phố có mỗi quán kem
duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê, thuốc lá, bia, trà. Đó là quán Phi Điệp,
nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Qui Nhơn, nơi đã trình
diễn văn nghệ.
Mỗi buổi chiều, chúng tôi, anh chị em nào có chút tiền còm thì kéo nhau vào
quán, kêu bình trà, ngồi nhâm nhi nghe nhạc. Khá một chút nữa thì kêu một chai
bia với tô bò viên gân, ngầu pín của ông Ba Tàu đậu xe trước quán. Thế là sang
lắm rồi. Anh chị nào "bô xu" thì ra biển ngồi ngắm trăng suông. Biển Qui Nhơn là
biển bùn nên cát ở đó có màu vàng xỉn trông dơ dáy, không trắng như cát biển Nha
Trang. Dọc theo bờ biển là một hàng dương, chạy dài từ khu quân sự đến bệnh viện
Nguyễn Huệ. Trước bệnh viện là xóm chài. Bờ biển không có một lều quán hay
kiosque nào. Ông Đinh Cường nói cùng Trịnh Công Sơn và Bích Khê ra đó uống cà
phê ngắm trăng là nói nhầm.
Ba Năm Tại B'lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng)
Sau hai năm, mãn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường. Tôi và Trịnh Công Sơn
cùng bốn giáo sinh khác là Lê Thị Ngọc Trinh (Huế), Nguyễn Văn Sang, Trương Khắc
Nhượng, Đỗ Thị Nghiên (Nha Trang) cùng được bổ nhiệm chung một sư vụ lệnh, đáo
nhậm nhiệm sở Ty Tiểu học Lâm Đồng. Sự vụ lệnh mang số 961-GD/NV/38/SVL tạm thời
tuyển bổ do Ông Nguyễn Hữu Quyến, Xử Lý Thường Vụ Hiệu Trưởng Trường Sư Phạm ký
ngày 14 tháng 8 năm 1964.
Sau hai năm tập sự, chúng tôi được điều chỉnh tuyển dụng bằng Nghị Định mang số
596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng Lý Văn Phòng, Phụ Tá Chuyên Môn, Phạm Văn Thuật ký
ngày 6/5/1966.
Đến năm 1967, chúng tôi mới được chính thức bổ dụng bằng Nghị Định mang số
687/GD/NV/3B/NĐ kể từ ngày 01/9/1966 do T.U.N Ủy Viên Giáo Dục Đổng Lý Văn phòng
Huỳnh Ngọc Anh ký ngày 7/4/ 1967.
Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao lúc bấy giờ, chúng tôi
lãnh được năm ngàn hai trăm đồng ($5.200) mỗi tháng, tương đương với hai lạng
rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẽ. Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng.
Chai bia Con Cọp 3 đồng. Một dĩa thịt bò lúc lắc bốn người ăn giá 7 đồng. Tô phở
3 đồng. Cà phê loại ngon, một ly/1 đồng. Cơm bữa với ba món, 6 đồng. Thời gian
từ 1964 đến 1967, chúng tôi sống sung sướng, tiêu pha rộng rãi mà vẫn còn rủng
rỉnh.
Tôi từ Nha Trang lên, theo đường Nha Trang - Đà Lạt - Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn,
từ Huế bay vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn đi xe đò lên Bảo Lộc.
Không hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ, thưa thớt bóng người. Lâu lâu mới
thấy dăm người Thượng lầm lũi nối đuôi nhau, lặng lẽ rảo bước về một bản làng
nào đó. Chúng tôi nhìn nhau, lòng thầm nghĩ: Trời ơi! Cái thiên đường mà mình
tưởng tượng khi nắm trong tay tờ Sự Vụ Lệnh là đây sao? B'lao-Bảo Lộc là đây
sao? Một phố quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng lặng, buồn hiu hắt. Chuyến xe
cuối cùng đổ khách xuống đây rồi lẫn mất. Ai cũng tản mác về nhà. Chỉ còn trơ
lại Sơn và tôi, trơ trọi, cô độc. Trời lại đang mưa lâm râm, lành lạnh. Hai
chúng tôi, mỗi người một va li quần áo nhẹ tênh. Lang thang tìm người hỏi đường
đến Ty Tiểu Học Lâm Đồng. Lúc bấy giờ, thị xã Đà Lạt thuộc tỉnh Tuyên Đức. Lâm
Đồng là một tỉnh chỉ có vỏn vẹn hai quận là Djiring (Di Linh) và B'lao (Bảo
Lộc). Trước năm 1960, Tòa Hành Chánh đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc được mấy
năm, trước khi chúng tôi đến.
Khi chúng tôi tìm được đến Ty Tiểu Học thì trời đã sụp tối mặc dù chưa tới sáu
giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất, bay là là dưới chân. Ty chỉ cách bến xe non
nửa cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang khóa cửa chuẩn bị ra về. Khi biết
chúng tôi là giáo viên mới đổi đến, bác ân cần mời chúng tôi theo bác.
- Mấy thầy cũng may! Bác nói. Chút nữa là tôi về rồi. Mai thứ bảy Ty nghỉ. Mấy
thầy biết trọ nơi đâu. Đi theo tôi, tôi sẽ giới thiệu hai thầy với mấy ông giáo
cũng vừa mới đổi tới đây mấy hôm trước.
Chúng tôi theo chân Bác vào ngõ Tiên Dung (gọi là ngõ Tiên Dung vì đầu ngõ có
tiệm chụp hình mang tên ấy). Đi sâu vào khoảng hai trăm thước, con hẽm hẹp, trơn
trợt vì cơn mưa buổi chiều, xoai xoãi lên dốc dần. Bác dừng chân trước một căn
nhà mái tole, vách ván. Trong nhà vẳng ra tiếng cười nói vui nhộn của đám đông.
Bác cai bước vào trước. Tiếng huyên náo im bặt. Bác ra hiệu cho chúng tôi vào
nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc giường gỗ khá rộng. Trên giường bốn mạng đang
nằm, ngồi lổn nhổn. Mọi người nhìn bác cai chờ đợi. Bác đưa tay về chúng tôi rồi
hướng về một anh lớn nhất trong đám giới thiệu:
- Thầy Lãng à! Mấy thầy này mới đổi tới hồi chiều. Ty đóng cửa rồi, không trình
diện được. Thầy giúp dùm cho mấy thẩy ở tạm qua đêm được không? Nhà tôi chật
quá, không có chỗ ngủ.
Lãng tung chăn, ngồi dậy, giọng hơi cà lăm:
- Thế à! Được... được! Bác cứ về! Để... để tụi này thu xếp.
Sau khi bác cai quay lưng ra khỏi cửa, tôi với Sơn sực nhớ ra chưa nói lời nào
cám ơn sự giúp đỡ của bác, bèn vội nói vói theo:
- Cám ơn bác nghe!
Không thấy tiếng trả lời. Có lẽ bác đã đi khá xa. Chợt Lãng lên tiếng:
- -i giời! Nhà bác ấy cũng gần ngay đây thôi! Sáng mai, thế nào bác ấy cũng sang
đây. Các anh vào đây đã. Sao cứ đứng mãi thế. Để... để cái va li vào góc này!
Chúng tôi theo lời anh đem hành lý đặt vào góc nhà. Thế rồi cả bốn người bu
quanh hỏi thăm rối rít.
- Sư Phạm Qui Nhơn hả?
- Vâng!
- À, có anh Sang cũng Sư Phạm Qui Nhơn đây, mới trình diện hôm kia. Còn bọn này
Sư Phạm Sài Gòn. Cũng lên trước mấy ngày thôi.
Tôi nhìn qua Sang. Cũng dân Nha Trang, nhưng tôi chưa gặp mặt lần nào tại Qui
Nhơn. Sang ốm và cao như cây tre miễu. Nước da đen nhẽm. Mắt tròn xoe, tròng
trắng nhiều hơn tròng đen. Còn hai người kia mới thoạt nhìn cứ tưởng là hai anh
em. Cả hai đều tròn lẵn, chắc nịch. Da mặt hồng hào, bóng lưỡng. Một anh tên là
Nguyễn Đức Hinh, nãy giờ chỉ đứng nhìn chúng tôi cười cười, không nói gì, nét
mặt lộ vẽ thân thiện. Còn anh kia là Đỗ Danh Đạo, người hoạt bát, nói năng vui
vẻ. Anh giới thiệu với chúng tôi người này, người nọ bằng một giọng đặc biệt Bắc
pha Sài Gòn nghe rất tếu:
- Ông này là Nguyễn Tiến Lãng, -anh chỉ tay về phía đầu giường, Lãng đang quấn
mền, ngồi dựa lưng vào vách.- Lãng là thổ địa kỳ cựu sáu năm ở đây, có biệt danh
là ông Trùm. Đang dạy tại trường Nam Bảo Lộc.
Có lẽ đoán được sự thắc mắc của chúng tôi qua nét mặt ngơ ngác, Đạo giải thích:
- Sở dĩ ông Lãng lên tới chức Ông Trùm là vì ông ở đây lâu, thổ nhưỡng Lâm Đồng
tặng cho ông bệnh sốt rét kinh niên. Cứ tới năm giờ chiều là ông phải trùm mền,
xoa dầu Nhị Thiên Đường. Ngày nắng hay ngày mưa cũng đều đặn.
Mọi người cười rộ lên qua lời tếu của Đạo. Quay qua cặp mập và ốm ngồi cạnh
nhau, Đạo tiếp:
- Còn hai ông này là Sang và Hinh, đang làm vua một cõi tại Lạc An, cách đây bảy
cây số. Một tuần về phố một lần để du hí. Tạm trú tại "am" của em và bác Lãng.
Không khí dần dần cởi mở, thân mật. Chúng tôi thấy ấm lòng và quên ngay nỗi buồn
nặng nề buổi chiều, mới cách đây có hai tiếng đồng hồ. Chợt Hinh lên tiếng:
- Này ông, ông giới thiệu người khác lung tung, sao ông không nói gì về ông hết?
Đạo đỏ mặt rần lên, phất tay lia lịa:
- Thôi tha cho nhà em, nhà em đâu có gì để mà nói!
Nhưng Hinh đâu có chịu tha:
- Hai anh nè! Hắn là Đỗ Danh Đạo, tự là Đạo Sữa. Hôm mẹ hắn dẫn hắn lên đây giao
cho bác Lãng trông nom, có dặn dò bác Lãng nhắc chừng hắn uống đều đặn mỗi ngày
ba lần sữa, sữa Guigoze chính hiệu bà Lang Trọc đấy.
Nói xong, anh chỉ cho chúng tôi thấy hai thùng sữa tổ bố nằm dưới gầm bàn.
Thoáng chốc, chúng tôi thấy gần gũi và thân tình như đã quen nhau tự bao giờ.
Mọi người dục chúng tôi đi tắm rữa rồi dẫn đi ăn tối. Đi ngược lại hẽm Tiên
Dung. Phía bên kia đường là quán ăn Ngọc Hương, nằm bên phải đầu cầu. Buổi
chiều, lầm lũi theo bác cai nên chúng tôi không để ý. Cầu có tên là Cầu Đất, vì
bên dưới không có sông hay suối gì cả. Người ta dùng xe ủi, ủi đất lấp đầy một
quãng, nối liền hai trái đồi, thành một lối đi, hai bên có thành che chắn cho
khỏi ngã xuống hố, trông giống như cây cầu. Sương buổi tối đã dâng lên dầy đặc.
Cả phố Bảo Lộc thắp thoáng ẩn hiện trong sương giống như cảnh tiên bồng trong xi
nê. Quán ăn Ngọc Hương lập lòe ánh điện, văng vẳng tiếng nhạc phát ra, nghe như
lúc gần lúc xa. Còn nhớ hình như bản "Những Bước Chân Âm Thầm". Vì lời ca, tiếng
nhạc với cái khung cảnh lúc bấy giờ nó hòa nhập vào lòng người lần đầu tiên đặt
chân lên miền cao nguyên, sơn cước... Trước mắt tôi, một cảnh trí hoàn toàn lạ
lẫm, đầy huyền ão và thơ mộng mà từ thuở nhỏ đến giờ, sống ở miền gió biển, cát
trắng, sóng vỗ quanh năm, tôi chưa từng được thấy. Có chăng cũng chỉ là tưởng
tượng ra những hình ảnh mơ hồ qua bản nhạc "Ai Lên Xứ Hoa Đào" của nhạc sĩ Hoàng
Nguyên mà thôi.
Những hình ảnh buổi chiều đứng co ro nơi bến xe vắng ngắt bóng người, nó ảm đạm
thê lương bao nhiêu, bây giờ trở thành thơ mộng, lãng mạn bấy nhiêu. Nào con
đường đất đỏ quanh co lẫn khuất dần trong ngõ vắng. Nào sương mù là là bay từng
đám dưới chân. Nào những con đường lên dốc, xuống dốc khiến những mái nhà trồi
lên, hụp xuống theo, y như những con thuyền tròng trành lượn theo giợn sóng xa
xa ngoài biển.
Đang đói suốt một ngày đi đường, tôi và Sơn, vèo một cái, mỗi người đã ăn hết
một dĩa cơm sườn nướng một cách ngon lành. Trong lúc mọi người đang nhâm nhi cà
phê, nghe nhạc. Họ đã ăn từ chiều. Chúng tôi tiếp tục uống cà phê và trò chuyện.
Sơn ít nói, chỉ ngồi nghe. Thỉnh thoảng góp vài câu gọi là. Có lẽ lần đầu còn
giữ kẽ chăng? Ba anh: Lãng, Hinh, Đạo chốc chốc lại ngó chăm chăm vào Sơn, nửa
như tò mò, nửa như quan sát. Phải chăng cái phong thái nghệ sĩ của Sơn đã gây
cho người ta cái ấn tượng đầu tiên? Đối với tôi hay Sang, cái hình ảnh Trịnh
Công Sơn, với một khuôn mặt ngăm đen, đôi mắt nhỏ mơ màng sau cặp kính cận khổ
lớn, gọng đồi mồi che gần hết nửa khuôn mặt, trong hai năm học tại Qui Nhơn đã
quá quen thuộc. Nhưng giờ đây, với những người bạn mới, chân chỉ hạt bột, mới
rời ghế nhà trường, lần đầu tiên bước chân ra ngoài xã hội thì hình ảnh một
ngươi nghệ sĩ như Sơn tự nhiên với mái tóc thưa, hơi dài, cái trán hói cao, đôi
kính cận to quá khổ, hàng ria mép lưa thưa, vừa như râu, vừa như lông, mãnh và
mịn khiến người ta thấy lạ nhưng ưa nhìn và có cảm tình ngay.
Gần chín giờ, mọi người dục về. Tôi và Sơn muốn nán lại chút nữa để được hưởng
thêm cái hương vị ngọt ngào, đậm đà kỷ niệm của ngày đầu tiên đặt chân lên xứ
Thượng. Nhưng anh Lãng cho biết, đúng chín giờ là nhà máy điện sẽ cúp.
Đêm đó, chúng tôi trãi chiếu, chăn xuống thềm nhà, năm người bạn trẻ, trừ anh
Lãng nằm trên giường, tuổi sàng sàng từ hai bốn đến hai sáu, cùng nhau trao đổi
những chuyện quê hương đi dần từ Sài Gòn ra đến Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc
bừng mắt dậy đã chín giờ sáng.
Sáng thứ Hai, trình diện tại Ty để chờ bổ nhiệm, chúng tôi gặp hầu hết các bạn
khác từ các nơi cũng đã đến từ thứ Bảy, Chủ Nhật. Sư phạm Qui Nhơn đủ mặt: Lê
Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng. Sư phạm Sài Gòn: Nam có
Nguyễn Hảo Tâm, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Nghị. Nữ có: các cô
Nguyệt, Châu, Hải, Trang ... Sư phạm Long An chỉ có một ngoe là Ngô Thanh Bạch.
Ty Trưởng đương nhiệm là Ông Trương Cảnh Ngôn, sắp về hưu. Đỗ Thị Nghiên, Trương
Khắc Nhượng, Nguyễn Hảo Tâm và tôi cùng được bổ nhiệm về trường Tân Bùi, xứ Tân
Bùi, cách trung tâm Bảo Lộc chừng năm cây số. Lê Thị Ngọc Trinh bổ về trường Nữ
Bảo Lộc ngay trung tâm phố. Nguyễn Văn Ba phụ chân kế toán tại Ty. Riêng Trịnh
Công Sơn được "biệt nhãn" hơn bổ về một trường Sơ Cấp Thượng, ở sát nách Ty,
chừng non cây số. Với chức vụ là Trưởng Giáo. (Xin chú ở đây, theo qui chế Bộ
Giáo Dục bấy giờ: một trường chỉ có lớp bốn trở xuống gọi là trường Sơ cấp. Đứng
đầu là Trưởng Giáo, phải dạy lớp và không có phụ cấp chức vụ 200$. Trường từ năm
lớp trở lên mới được gọi là trường Tiểu học. Đứng đầu là Hiệu Trưởng có phụ cấp
chức vụ, vẫn phải đứng lớp. Truờng có từ mười lớp trở lên, Hiệu Trưởng mới được
miễn dạy.
Ngạch chúng tôi là Giáo Học Bổ Túc, chỉ số lương tập sự là 320, ngân sách do Bộ
Quốc Gia Giáo Dục đài thọ, như đã nói ở trên. Sau khi phân bổ xong, Ty cho chúng
tôi được nghỉ một tuần để thu xếp nơi ăn chốn ở. Thứ hai tuần tới sẽ trình diện
nhiệm sở mới. Khi về đến nhà, chúng tôi bò lăn ra cười với cái chức Trưởng giáo
của Sơn. Lần đầu nghe tới chức Trưởng Giáo, ai cũng liên tưởng tới chức Trưởng
Lão Hộ Pháp trong Ma Giáo, truyện chưởng Kim Dung.
Mấy ngày thong thả, tôi và Sơn đi dạo khắp nơi để tìm nhà trọ. Thật đúng như lời
của một bản nhạc "đi dăm phút đã trở về chốn cũ..." Phố Bảo Lộc nằm dọc theo
quốc lộ, chỉ có một đoạn ngắn chưa đầy nửa cây số. Bắt đầu từ trường Nông Lâm
Súc, chạy thoai thoải xuống dốc, đến cuối dốc là một cái hồ nước, trông giống
như cái lòng chão là hết. Lên dốc, hai bên là những đồi trà ngút ngàn. Lâm Đồng
là xứ trà. Xưa kia B'B'Lao do người Pháp khai khẩn trồng trà và chế biến trà. Họ
có nhiều trang trại lớn và có cả sân bay tư nhân. Năm chúng tôi được bổ về đây
thì chỉ còn hai người Pháp già lấy vợ Việt Nam là còn ở lại. Những trại chủ khác
đã bán lại cơ sở cho người Việt hoặc bỏ hoang để về nước vì không chịu nổi Việt
Cộng thu thuế.
Bảo Lộc là đọc theo âm Việt của tên Thượng là B'Lao . Năm 1954, ông Diệm đưa số
người Bắc di cư lên đây khẩn hoang lập nghiệp. Họ toàn là người Công Giáo. Dẫn
đầu là một cha xứ. Người xứ nào ở ngoài Bắc thuộc làng gì thì lên đây qui tụ lại
thành một xứ, lấy tên làng mình ghép thêm chữ Tân để thành tên của xứ mình. Ví
dụ: làng Bùi Chu thành Tân Bùi. Theo thứ tự, hướng từ Định Quán lên cao dần, qua
khỏi khu vực sông La Ngà là đèo Ma Đa Gui, ranh giới tỉnh Lâm Đồng. Quận Bảo Lộc
bắt đầu từ xứ Tân Bùi. Tiếp theo là Tân Hà. Phố Bảo Lộc nằm giữa. Rồi đến Tân
Thanh, Tân Phát. Xa vào tận buôn Thượng còn thêm Tân Rai và Tân Lú. Tôi chưa đến
đó bao giờ. Chỉ đọc thấy trên bản đồ hành chánh. Mỗi xứ đạo do một cha xứ cai
quản, cả phần hồn lẫn phần xác. Phụ tá có các ông trùm. Xứ có lực lượng vũ trang
riêng để tự vệ an ninh và đánh trả Việt Cộng. Chung quanh xứ bảo bọc bởi hàng
rào tre kiên cố. Kẻ lạ muốn vào xứ phải có người trong xứ quen và hướng dẫn. Xứ
được xây dựng theo đồ hình bát quái. Trung tâm là nhà thờ. Dưới mỗi nhà đều có
đường hầm ăn thông với đường hầm chính dẫn tới nhà thờ. Đường hầm được đào và
xây dựng rất rộng rãi, chắc chắn. Suốt những năm ông Diệm chấp chánh, không một
tên du kích nào dám bén mãng đến quấy rối. Nghe nói lúc đầu cũng có vài tên cố
thâm nhập nhưng đều bị giáo dân tóm cổ tức khắc. Trong khi đó, tại trung tâm
phố, khu tập trung đông đảo dân Nam, Ngãi, Bình, Phú, Thừa Thiên theo đạo Phật
đa số thì Việt Cộng lại dễ dàng trà trộn rãi truyền đơn và treo cờ. Kể từ năm
1964, khi chúng tôi dạy học tại đây, trở về sau, những chính quyền kế tiếp không
chú trọng đến kế hoạch ấp chiến lược nữa, thu hồi toàn bộ vũ khí của các xứ, nên
vấn đề an ninh lỏng lẽo dần.
Trở lại chuyện chúng tôi đi tìm nhà trọ. Suốt mấy ngày, Sơn và tôi lang thang
khắp ngõ để tìm nhà thuê, nhưng không nơi nào vừa ý. Nhất là nhà vệ sinh thì
khiếp quá. Tất cả các nhà đều đào hố xí sau vườn. Gác ngang miệng hố là hai
thanh gỗ. Che chung quanh bằng những tấm cót tre. Không có mái che. Ngày mưa
phải đội nón lá mà ngồi. Nhặng xanh hằng ngàn con bay vù vù từ dưới hố lên, bu
cả vào người. Dòi bọ trắng nhởn to bằng đầu đũa, bò lổn nhổn khắp mặt đất. Eo
ơi! Còn những ngày nắng oi nồng, cái mùi xú uế từ dưới xông lên càng khiếp đảm.
Trong lúc loay hoay tìm nhà, có ai đó mách chúng tôi, ở về phía Ty Công Chánh có
ngôi biệt thự vừa xây xong, chủ nhà muốn cho thuê nhưng hơi đắt. Sơn và tôi đến
ngay. Nhà rất đẹp, tọa lạc trên một khu quang đãng, thoáng tầm nhìn. Chung quanh
hàng rào bao bọc, phía trước có cổng. Nhà có ba phòng ngủ, một phòng khách. Nhà
bếp rộng chia làm hai, một nửa là bếp, một nửa là phòng tắm và vệ sinh. Chủ nhà
là một người đàn bà tuổi trạc độ ba mươi, người mãnh dẽ. Bà hiện là Trưởng Phòng
Kế Toán của Ty Công Chánh Lâm Đồng. Bà sống với đứa con gái nhỏ sáu tuổi tên
Đào. Chồng bà đang làm việc ở Sàigòn, bà cho biết. Sau khi nói chuyện độ dăm
phút, chúng tôi bằng lòng thuê toàn bộ căn nhà, trừ một phòng cho bà và đứa con
gái để ở, với giá 1.200 đồng. Nếu muốn ăn cơm tháng thì bà nấu luôn cho. Ngày ba
bữa, mỗi người trả thêm ba trăm đồng. Chúng tôi ra về với lòng thơ thới vì đã
tìm được nơi ăn ở vừa ý. Trên đường về Sơn cứ lẩm bẩm: Đàn bà mà tên Phi lại lót
Thị, Thị Phi... Thị Phi!
Sơn tủm tỉm cười một mình. Tôi biết Sơn đang nghĩ gì về bà chủ nhà trẻ, sống một
mình.
Chúng tôi rủ thêm hai người bạn nữa để chia bớt phòng và chia bớt tiền. Hai anh
Nguyễn Hảo Tâm và Nguyễn Văn Ba đến xem nhà và đồng ý ngay. Sơn và tôi có công
tìm nhà, nên được ưu tiên ở căn phòng trước, có cửa sổ quay ra mặt đường. Tâm và
Ba ở căn kế. Bà chủ nhà căn trong cùng. Ba phòng ăn thông ra phòng khách. Phòng
khách có cửa hông thông với nhà bếp. Từ lúc chúng tôi về ở, trừ những lúc dọn
cơm cho chúng tôi hay những lúc đi làm chạm mặt ở phòng khách, bà chủ cùng đứa
con gái đóng cửa im ỉm, nói chuyện rầm rì ở trong buồng, ít khi ló mặt ra ngoài.
Mấy tháng sau, bà thuê được một cô người làm. Cô này độ chừng hơn hai mươi, có
da thịt, tính tình hiền hậu, hơi quê mùa nhưng dễ thương. Cô giúp bà chủ đi chợ
nấu ăn cho chúng tôi. Cô ngủ ở nhà bếp.
Nhớ lại một mẫu chuyện vui.
Có lần bà chủ nghỉ phép nửa tháng về Sài Gòn với gia
đình, bà yêu cầu chúng tôi tìm chỗ ăn tạm trong thời gian này. (lúc đó chưa có
cô giúp việc) Bốn chúng tôi thay phiên nhau đi chợ nấu ăn mỗi người một ngày. Sở
dĩ chúng tôi không đi ăn tiệm là vì hai lý do. Thứ nhất là làm biếng đi xa. Từ
nhà đến tiệm ăn xa hơn đến chợ. Thứ hai, có cơ hội để thử mình có khả năng tự
lực cánh sinh hay không? Đầu tiên, tôi xung phong trước. Bữa ăn có cá chiên dầm
mắm tỏi ớt, chắm với dưa leo, rau sống, xà lách. Hội đồng chấm điểm: Tạm được!
Ngày thứ hai, Nguyễn Văn Ba. Thịt ba chỉ kho hột vịt ăn với dưa cải và cà pháo
muối mặn. Điểm: Khá. Đêm đó chúng tôi lục đục thức dậy uống nước và đi tiểu
suốt. Nguyễn Hảo Tâm người Sài Gòn, giả giọng Bắc của Ba, ngâm ư ử chọc Văn Ba:
Em ơi! Mở cửa cho anh ra!
Kẻo anh chết khát trong vại cà nhà em!
Ngày thứ ba, Hảo Tâm vác chiếc bụng phệ đi chợ. Vậy mà thoáng cái đã về, xăn tay
áo vào bếp. Trưa hôm đó chúng tôi được thưởng thức món hột vịt luộc, dầm xì dầu
ớt chanh, chấm với giá chua, rau sống. Sơn rên rỉ : Chắc cái rô bi nê nước của
bà chủ nhà đêm nay hư quá! Văn Ba được dịp trả thù câu chọc tối qua của Hảo Tâm:
- Này ông Tâm! Cái câu "Kẻo anh chết khát trong hủ giá chua nhà em" tối nay đọc
nghe trúc trắc quá, ông ráng sửa lại nghe cho êm tai nhá!
Tâm cười giả lả:
- Nè... nè tráng miệng với chuối bồ hương đi! Ngon lắm đó.
Ngày thứ tư đến lượt Sơn. Anh rũ tôi đi cho có bạn. Hóa ra anh chàng mắc cỡ. Anh
thủ sẵn trong túi hồi nào không hay một cái bao bằng giấy xi măng. Miệng ngậm
ống vố phì phèo, tay chắp sau đít, anh lững thững vào chợ như người đi dạo cảnh.
Tôi theo sau không ý kiến, mắt đảo quanh đám người Thượng, xem họ mua bán đổi
chác những thổ sản mang từ trên núi xuống. Nhiều nhất là phong lan. Nhưng chỉ là
những loại thường như hoàng lan, hoàng điệp, hàm rồng, long tu, địa lan... Mấy
thứ này rẽ tiền. Chỉ năm, mười đồng một nhánh. Tháng đầu tôi ham, mua về treo
đầy trong phòng. Song nó cứ rũ ra, chết dần. Có người bày cách, phải treo nó
ngoài trời cho có đủ sương và nắng gió nó mới sống. Tôi làm theo. Nhưng mấy chục
nhánh cũng lần lượt héo sầu, đổi sang màu vàng rồi chết khô. Có lẽ nó nhớ bạn,
nhớ rừng chăng?
Sơn xăm xăm đi tới hàng đồ khô, gia vị và nói với bà bán hàng:
- Bà cho tôi một chục trứng gà, một ít củ hành và tỏi. Tính hết bao nhiêu?
Bà bán hàng nói giá tiền và hỏi lại:
- Cậu có cái gì đựng không? Đi chợ mà đi hai tay không vậy?
Sơn nhanh nhẹn rút trong túi quần ra cái bị giấy xi măng đưa cho bà bán hàng và
nói:
- Bà bỏ hết vô đây là được rồi.
Trả tiền xong, Sơn quành qua hàng thịt mua một miếng thịt ba chỉ. Trở lại hàng
rau mua thêm mấy trái cà chua.
- Xong! Ông thấy tôi có nghề không? Sơn hỏi tôi mà không cần câu trả lời.
Vừa về đến nhà đã thấy hai chàng Tâm và Ba chờ sẵn.
- Nào! Bữa nay coi anh chàng nhạc sĩ của mình nấu nướng ra làm sao!
Sơn cười hì hì:
- Được rồi! Mấy ông vô hết trong này coi tôi trổ tài nghe.
Sơn vào bếp chỉ huy ba chúng tôi, người này lột vỏ hành, tỏi, người kia rửa cà,
thái lát mỏng, người nọ cắt thịt ba chỉ thành sợi như chiếc đũa. Chúng tôi làm
theo răm rắp. Mọi việc đâu vào đấy. Và giục Sơn ra tay vì trời đã khá trưa rồi.
Sơn bắt đầu đổ dầu chiên vào chão. Trong khi chờ đợi dầu nóng, Sơn giảng giải
cách làm các món:
- Các ông sẽ được thưởng thức món hột gà "ốp la" và hột gà đổ chả nghe! (Sơn
thường đệm tiếng "nghe" ở cuối câu rất nhẹ và rất dễ thương) Phải đợi dầu thật
nóng, bốc khói, rồi khử dầu bằng vài tép tỏi đập dập cho thơm-Sơn nói tiếp:
- Bây giờ mấy ông coi nghe!
Sơn cầm lấy một trứng gà bằng hai tay, vừa làm vừa giảng tiếp:
- Mình phải cầm trứng bằng tám ngón tay như thế này, từ ngón trỏ đến ngón út,
hai ngón tay cái bấm vào trứng để bóp quả trứng. Nè! Chú ý nè!
Chúng tôi ngó theo bàn tay Sơn, những ngón tay thuôn dài đang ôm lấy quả trứng.
Những ngón tay khô, xương và da. Phải cho có thêm một ít thịt thì bàn tay Sơn
chắc đẹp không thua gì bàn tay con gái. Sơn bóp mạnh hai ngón tay. Lòng trắng,
lòng đỏ trứng gà thay vì lọt vào chão, lại vọt xuống đất đánh "bạch" một tiếng.
Một trứng đi đời. Sơn bào chữa:
- Tại tôi bóp mạnh quá!
Chúng tôi khuyến khích:
- Làm lại! Làm lại!
Sơn làm thêm hai lần nữa, tình trạng vẫn y như cũ. Một đống trứng nhầy nhụa dưới
chân. Ba la lên:
- Thôi! Thôi! Ông Sơn ơi, làm ơn tránh ra cho chúng tôi làm. Mà ông có biết làm
không thì bảo?
Sơn nói:
- Hồi nhỏ tôi thấy má tôi làm như vậy mà!
Tâm hỏi lại:
- Mà ông đã làm thử lần nào chưa?
- Chưa!
- Vậy mà cũng bày!
Tôi chọc quê Sơn bằng cách hát nhại "Dã Tràng Ca": "Thôi! Còn gì nữa đâu! Còn gì
nữa đâu! Mà không ăn rau..."
Sơn nổi cáu, xì nẹt:
- Thôi cha! Cha sửa lời làm hư hết bản nhạc của tôi đó cha.
Sau đó chúng tôi đập hết những trứng còn lại vào trong một cái tô lớn. Trộn thêm
đường, hành củ, cà chua, thịt ba chỉ, tiêu, xì dầu đánh đều lên thành một món hổ
lốn, đổ vào chảo thành hai lượt cho mau chín và không bị cháy phía dưới. Không
ngờ bữa cơm ấy lại vui và ngon ra phết. Ai nấy vừa ăn vừa nhắc lại cảnh Sơn bóp
trứng mà cười. Dứt bữa ăn, Sơn trịnh trọng đứng lên tuyên bố:
- Bắt đầu chiều nay đi ăn cơm tiệm!
Không ngờ cái lệnh vô tình ấy lại hợp cả cho chúng tôi. Không ai bảo ai, cả ba
chúng tôi đồng thanh vừa cười, vừa hô to:
- Ăn cơm tiệm! Đã đảo đi chợ!
Những ngày chúng tôi sống chung với nhau trong "ngôi biệt thự" của bà Trần Thị
Phi thật là vui nhộn. Cũng chính trong căn phòng có khung cửa sổ ngó ra con
đường đất đỏ của căn nhà này, Trịnh Công Sơn đã sáng tác các nhạc phẩm để đời:
;Chiều Một Mình Qua Phố;Lời Buồn Thánh;Vết Lăn Trầm và Ca Khúc Da
Vàng.
Ngày Lãnh Lương Đầu Đời :
Mới ngày nào vừa trình diện để nhận nhiệm sở, thoáng cái đã đến cuối tháng lãnh
lương. Ngày lãnh lương đầu tiên trong đời, chúng tôi ai nấy đều háo hức đến Ty
thật sớm để được ký tên vào sổ lương. Tôi ký tên và nghĩ đến một món tiền lớn do
chính tay mình làm ra. Món tiền mà từ xưa tới nay, tôi chưa hề được cầm trong
tay. Hai năm trọ học ở Qui Nhơn, cha mẹ tôi phải khó nhọc lắm mới chắt chiu được
sáu trăm đồng hàng tháng gửi cho tôi chi tiêu. Có tháng chậm tới ngày thứ mười
mà tôi vẫn không dám viết thư dục vì tôi hiểu rõ hoàn cảnh của tôi: Con nhà
nghèo.
Trong khi chúng tôi nôn nao chờ đợi được gọi tên vào phòng kế toán để lãnh tiền
thì anh Thành, phát ngân viên, cứ đủng đỉnh hút thuốc lào. Tiếng kêu rít rít của
cái nỏ cầy càng thêm sốt ruột. Lại thêm mấy ngụm trà Tàu khề khà nữa chứ.
Tiếng Nguyễn Đức Tín, giáo viên trường Cộng Đồng Thượng, một tay lâu năm trong
nghề, rất hoạt kê và lém lĩnh vang lên:
- Bố Thành ơi! Ra tay làm phúc cho chúng em nhờ tí! Cả tháng nay chưa có hột cơm
nào trong bụng cả. Hôm nay em về trễ, có mà vào nhà bằng đít.
Giai thoại về anh chàng Tín này rất nhiều. Chuyện nào cũng cười vỡ bụng. Có dịp
sẽ kể. Khi mọi người đã cầm trong tay cái phong bì dày cộm có ghi tên mình, Tín
thòng thêm một câu chót trước khi ra khỏi cửa Ty:
- Này bố Thành! Em bảo nhé! Cứ thuốc lào nhiều vào! Hai cái má hóp như hai cái
hố ấy. Người cứ quắt như cái tăm, bà Thành không cho tí chút thì đừng bảo Tín
này không nói trước nhá!
Nói xong, Tín cười hềnh hệch. Ra khỏi Ty, Sơn sãi chân đi thật lẹ. Sơn cao, chân
dài. Tôi thấp, chân ngắn, nên phải nhảy ba bước một mới kịp. Vừa thở, vừa kêu:
- Ông Sơn! Về nhà chớ đi đâu mà ông đi như ma đuổi vậy! Từ từ chờ tôi với chứ!
Sơn không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Vừa vào phòng, Sơn khóa trái cửa lại. Tôi
nhạc nhiên chờ xem anh chàng làm cái gì đây. Sơn để nguyên quần áo, giày vớ, nằm
vật ngữa ra đi văng, tay rút trong túi quần ra cái phòng bì tiền lương lúc nãy,
xé phong bì, nắm hết xấp tiền 5.200 đồng, gồm giấy năm đồng, mười đồng, năm chục
đồng tung lên trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành vừa lãnh từ
Kho bạc ra, rơi lả tả xuống người Sơn, rơi xuống đi-văng. Sơn hốt lên, tung trở
lại. Sơn cười sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng cười nghe là lạ. Nó pha lẫn niềm
vui và nỗi phẫn hận. Rồi Sơn chửi thề:
- Đù mạ mi! Đù mạ mi! Tiền! Tiền!
Đó là lần đầu tiên tôi nghe Sơn chửi thề. Và cũng là lần duy nhất suốt ba năm
sống chung với nhau.
Tôi để mặc Sơn được tự do trong những giây phút ấy. Tôi không muốn gây một tiếng
động nào để quấy rầy Sơn đang đắm chìm trong thế giới riêng của mình.
Tôi yên lặng đếm tiền của mình một cách chậm rãi. Từng tờ, từng tờ. Tôi để cho
mười đầu ngón tay của mình cảm nhận hoàn toàn cái cảm giác đê mê, sung sướng
đang run lên từng chặp với những tiếng kêu sột soạt của những tờ bạc mới tinh
nguyên chạm vào nhau. Cái âm thanh nghe sao mà hấp dẫn. Cái mùi giấy bạc mới sao
mà quyến rũ thế! Đầu tôi phác hoạ ra một chương trình mau lẹ: Hãy trích ra ba
ngàn đồng, ra ngay Bưu điện mua một cái "măng đa" gửi liền về cho Má để Má mừng.
Chắc Má sẽ vui lắm khi nhận được tiền do thằng con gửi về. Thằng con do bà nuôi
nấng, chắt chiu, dành dụm từng đồng, từng cắc của gánh hàng đè nặng lên vai bà
ngày ngày, cho con ăn học. Hôm nay có lẽ bà sẽ sung sướng và hãnh diện âm thầm,
không tỏ lộ cùng ai: Con bà đã trở thành ông giáo!
Chiều hôm đó tất cả chúng tôi không ăn cơm nhà. Phải tự khao cho mình một chầu
linh đình mới được. Tại nhà hàng Ngọc Hương (bây giờ ông bà chủ quen mặt chúng
tôi quá rồi) có mặt đông đủ các ông giáo trẻ vừa mới có được một thành tích:
;Một tháng công vụ; Chúng tôi uống bia. Tín gọi nhà hàng ơi ới:
- Này ông bà chủ! Cho một két bia "ông Tây Cà lồ" nhé! Bia thật lạnh đấy!
Bia "ông Tây Cà lồ" mà Tín gọi là bia Con Cọp, loại chai lớn. Tín có những từ
ngữ thật đặc biệt để gọi các vật hay những việc nghe rất buồn cười. Có lần anh
ta mời Sơn và tôi đến nhà chơi. Anh ta nói oang oang giữa đám đông đang bù khú:
- Này! Xin thưa với các cụ! Hôm nay em xin phép các cụ cho em "rước" hai ông anh
này đến "am" em chơi, làm mấy "ve". Xin các cụ đừng "à uôm" gì cả nhớ!
Đêm đó chúng tôi ăn uống tưng bừng. Cười nói hả hê. Chín giờ, điện cúp. Chúng
tôi ra về, bá vai nhau đi khệnh khạng, xiên xẹo giữa phố vắng, dày đặc sương mù.
Đến cuối dốc cầu, xếp hàng ngang, vạch quần, vừa đi, vừa tè, vẽ thành rồng rắn,
loang lỗ trên mặt đường nhựa.
Ôi một thời tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên!
Một Thầy, Một Cô, Một Con Chó Cái!
Tôi không hình dung được lúc ông Cao bá Quát làm giáo thụ ở Quốc Oai cái cảnh nó
ra làm sao, mà ông tả oán bằng những câu thê thảm:
Một thầy, một cô, một chó cái,
Học trò dăm đứa, nửa người,
nửa ngợm, nửa đười ươi!
Nhưng cái cảnh ông trưởng giáo Sơn ngồi dạy học ở ngôi trường Sơ cấp Thượng thì
thật bi hài. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông đi dạy đã là buồn cười rồi. Tôi và
Sơn có điểm giống nhau là không thích đeo đồng hồ. Tôi dạy buổi chiều nên tha hồ
nằm nướng trên giường. Sơn dạy buổi sáng, phải dạy sớm lúc bảy giờ để đến
trường. Những ngày có mặt trời thì nhìn bóng nắng, độ giờ mà đi.
Những ngày sương mù hay mưa dầm thì lắng nghe tiếng kèn đồng chào cờ của một đồn
lính nào đó, rất xa vọng lại văng vẵng. Te te... tò tí te... tò tí te... là Sơn
xỏ vội chiếc áo sơ mi ka ki vàng cụt tay, (Chiếc áo này tôi thấy từ lúc còn ở
trường Sư phạm) đôi giầy Ba-Ta màu nâu. Nách kẹp cuốn vở soạn bài cuộn tròn,
miệng ngậm ống vố, chân sải bương bã đến trường. Trường không xa lắm. Cách nhà
non nửa cây số. Sơn lội bộ hàng ngày trên con đường đất đỏ, càng lúc càng lên
dốc. Ngày nắng thì bụi đỏ mù trời. Ngày mưa đất nhão, nhèm nhẹp. Đi một lúc thì
phải tìm một khúc cây hay hòn đá bên đường để gạt bớt lớp đất nhão dính vào đế
giày càng lúc càng nặng. (Quảng đường này ông Trịnh Cung tưởng tượng ra dài đến
mấy cây số, Sơn phải gò lưng đạp xe đạp đến trường). Có hôm, Sơn ngồi chờ mãi
vẫn không nghe thấy tiếng kèn đồng giục giã tò te, tí te, cứ ôm đàn tìm nốt
nhạc. Đến khi sương tan, mặt trời ló ra thì đã trưa rồi. Ba chân bốn cẳng, Sơn
phóng như ngựa phi đến trường. Nửa giờ sau, thấy anh ta đủng đỉnh ra về. Tôi
hỏi:
- Ủa! Không dạy à?
- Học trò đâu mà dạy? Sơn trả lời tỉnh khô. Tôi vẫn chưa hết thắc mắc:
- Vậy thì chúng nó không đi học à?
- Không biết! Nhưng có lẽ chúng nó thấy không có thầy nên tự động ra về. Tôi
đoán vậy.
- Nè ông Sơn! Trường ông sát nách Ty. Coi chừng Thanh tra Lương đi kiểm soát bất
tử thì chết không kịp ngáp đó nghe! Tôi nhắc chừng. Sơn vẫn nói cứng:
- A! Tôi đâu có cho phép. Chúng nó tự động về là lỗi của chúng. Đâu phải lỗi tại
tôi.
Đến nước này thì tôi chào thua, hết cãi.
Một hôm, tôi bỗng nảy ý định đến xem ngôi trường của ông trưởng giáo Sơn nó ra
làm sao.
Leo hết con dốc ngắn, ngôi trường hiện ra trên một khoảng đất trống. Xung quanh
trơ trọi, không một cây cối gì cả. Trường được ngăn đôi thành hai lớp học. Mái
tranh, vách đất, không cửa nẻo. Trong lớp một bàn vuông cho Thầy, sáu bộ bàn ghế
dài cho trò. Trên vách treo một tấm bảng đen đã bạc thếch chính giữa. Chắc trải
nhiều năm tháng không ai buồn sơn lại. Bụi đỏ bám khắp nơi. Từ vách đến bàn ghế
thầy lẫn trò. Tôi đến đó khoảng mười giờ. Học trò hầu hết là các em bé người
Thượng. Chỉ xen lẫn vài em người Kinh. Có lẽ là con em của những gia đình lính
đóng đồn gần đó. Tất cả đều bẩn thỉu. Có đứa ở trần, đánh độc một chiếc quần xà
lõn. Có đứa cũng đủ bộ. Nhưng màu đất đỏ đã nhuộm từ ống quần trở lên, lâu ngày
không còn nhận ra màu gì nữa.
Có lẽ là giờ ra chơi. Thầy Sơn đang ngồi tư lự. Miệng ngậm ống vố, mắt nhìn lơ
đãng về cánh rừng xa xa. Mặc cho đám học trò nhỏ làm gì thì làm. Một túm đang gò
lưng trên bàn, méo mồm, méo miệng nắn nót viết bài. Một tụm đang bò lê bắn bi
dưới đất. Cuối lớp có vài đứa đang dựa lưng vào vách, há mồm ngủ.
Thấy tôi vào, Sơn cười méo miệng:
- Tới đây chi cha?
- Tới coi ông trưởng giáo làm ăn ra sao cho biết! Tôi cười cười.
- Còn ông già Thống đâu?
- Ông Thống dạy buổi chiều.
- Trường có mấy lớp anh Sơn?
- Ba. Tôi dạy lớp ba. Ông Thống lớp một và hai.
- Học sinh đông không?
- Thì ông thấy đó. Bữa nào không đi hái trà thì được hai chục. Bữa nào cha mẹ nó
cần thêm nhân công thì lớp mươi, mười lăm đứa.
Những đứa học trò thấy người lạ thì trố mắt nhìn. Sơn gõ gõ cây thước lên bàn
làm hiệu. Đám học trò ngưng hẵn cuộc chơi, chờ lệnh thầy. Sơn nói:
- Hôm nay thầy có khách. Cho các em về sớm.
Đám trẻ con hớn hở ra mặt, vội thu sách vở, ùa ra cửa. Trong giây lát, tất cả
trở về trong yên lặng. Sơn ngồi trầm ngâm, nán lại thêm một chút nữa, đão mắt
nhìn quanh một vòng, rồi tặc lưỡi đứng lên. Hai chúng tôi yên lặng xuống đồi.
Trong thâm tâm, có lẽ mỗi người đang theo đuổi những ý nghĩ khác nhau. Sơn nghĩ
gì? Tôi không biết. Riêng tôi thì nghĩ: May cho ông thi sĩ họ Cao ngày xưa. Ngồi
dạy học ở nơi khỉ ho cò gáy, còn có một cô, một chó cái an ủi. Ngày nay ông nhạc
sĩ họ Trịnh cũng ngồi dạy học ở một nơi y như vậy mà không có gì bầu bạn, ngoài
một nỗi buồn cô quạnh!
Trên đường về, tôi gợi ý với Sơn, nên nhập hai buổi thành một, để có thêm ông
già Thống cho vui. Sơn cho là ý hay.
Chiều nay tôi phải bàn với ông Thống mới được.
Ông Già Thống: Con Ngựa Già Của Trưởng Giáo Trịnh .
Sau khoảng vài tháng đầu niên khóa 64-65, ông Trương Cảnh Ngôn về hưu. Ông Lê
Cao Lợi, một vị thanh tra kỳ cựu, có tu nghiệp ở Mỹ một thời gian, được Bộ đề cử
chức Ty Trưởng thay ông Ngôn. Thời gian này là thời kỳ vàng son của Trịnh Công
Sơn. Ông Lợi, người trung niên, có tâm hồn văn nghệ, thích thơ, nhạc, nên đối
với một nghệ sĩ như Sơn, Ông dành cho nhiều dễ dãi. Đôi lúc nhắm mắt làm ngơ cho
Sơn dùng thì giờ dạy học làm việc riêng của mình. Điều này đã khiến cho một vài
giáo viên già, lâu năm trong nghề, so bì.
Khi chúng tôi đặt chân lên Bảo Lộc, trời đã vào thu. Những tháng đầu còn lạ
nước, lạ cái, không biết đi đâu, làm gì cho hết thì giờ. Vì chỉ dạy có một buổi,
chúng tôi có suốt những buổi chiều lang thang. Cứ hết "những bước chân âm thầm"
trong khuôn viên trường Nông Lâm Súc, im lìm vắng vẽ với những tàn cây sao, cây
gõ, cây gụ... cao vút tận trời xanh, lại đến đoạn đường Quốc Lộ chạy xuyên qua
con phố Bảo Lộc lèo tèo vài quán ăn dọc đường ngắn củn. Chúng tôi lại đi vòng
vòng bờ hồ cho đến khi chiều xuống hẳn. Sương mù bắt đầu xuất hiện trên mặt hồ.
Ban đầu mỏng rồi đầy dần, đầy dần cho đến lúc che khuất hẳn một chòm cây giữa
hồ. Chỉ còn thấy một thân cây chết khô với những cành khẳng khiu vươn lên trơ
trọi giữa trời mây. Đến lúc đó, ai cũng cảm thấy mỏi chân. Và muốn vào quán ngồi
nhâm nhi cà phê hoặc làm vài chai bia, nghe nhạc, chờ tối để về nhà tìm giấc
ngủ. Trong cái không gian và thời gian đó, Trịnh Công Sơn đã cảm hứng sáng tác
nhạc phẩm "Chiều Một Mình Qua Phố".
Một điều đặc biệt rất lạ là suốt thời gian ba năm làm nhạc tại Bảo Lộc, những
nhạc phẩm "Chiều Một Mình Qua Phố", "Lời Buồn Thánh", "Vết Lăn Trầm", "Tiếng Hát
Dạ Lan" và tập "Ca Khúc Da Vàng" Sơn đều đi mượn đàn của bạn. Mặc dù đã có tiền
nặng túi, Sơn vẫn không có nỗi cây đàn. Hay Sơn không muốn mua? Cây đàn đã giúp
Sơn ghi lại những nốt nhạc mà Sơn thai nghén trong lúc đi dạy hoặc lang thang
với chúng tôi ban ngày. Tối về chúng tôi say trong giấc ngủ thì Sơn say sưa ôm
đàn dò lại những âm thanh chập chờn ẩn hiện trong đầu. Đó là cây đàn ghi ta của
cô giáo Đỗ Thị Nghiên.
Sau những đêm như thế, Sơn phờ phạc hẵn. Sáng ra, giỏ rác đầy tràn những giấy
nháp. Sơn chép vội những dòng nhạc vừa xuất hiện trong đầu rồi chợt biến. Vo
tròn, ném, lại dò tìm. Sơn sợ làm ồn giấc ngủ của tôi, nên phải chận phím để tạo
những âm thanh câm.
Như trên đã nói, trước đó, Sơn đã có nhiều nhạc phẩm hay nhưng chỉ chuyền tay
nhau hát trong chốn bạn bè. Có lẽ không có điều kiện hay vì lý do nào đó, Sơn
không thể xuất bản để phổ biến rộng rãi. Cho đến khi ở tại Bảo Lộc, sau khi hoàn
chỉnh nhạc phẩm "Chiều Một Mình Qua Phố", Sơn quyết định mang đứa con của mình
về Sài Gòn, tìm nhà xuất bản.
Sơn ở rịt tại Sài Gòn gần ba tuần lễ.
Ông giáo già Tạ Văn Thống chạy chiếc xe gắn máy hiệu Sach, cũ kỹ, già nua không
thua gì tuổi đời của ông, đến chỗ chúng tôi trọ, tìm thầy Sơn.
- Thầy ơi! Thầy có biết thầy Sơn ở đâu không? Ông hỏi tôi.
Ông ấy về Sài Gòn rồi! Ông ta không nói gì với ông sao? Tôi đáp. Ông Thống không
trả lời tôi, chỉ ôm đầu rền rĩ.
- -i giời ôi! Tôi chết mất! Thế này thì tôi chết mất! Một mình tôi phải ôm ba
lớp suốt ba tuần nay.
Ông lại hỏi tôi:
- Thầy có biết lúc nào ông ấy về không?
- Không! Không thể nào biết được bác Thống ạ!
- Thế thì tôi chết mất!
Ông vừa chào tôi, vừa rền rĩ, thất thểu dắt xe ra ngõ. Tôi nhìn theo, ái ngại
cho tuổi già của ông. Vài năm nữa là về hưu, nên ông cố gắng đeo cái nghề này
trong chốn đèo heo, hút gió để mong được chút tiền hưu, an hưởng tuổi già. Tình
trạng này sẽ còn tái diễn dài dài. Và ông vẫn sẽ phải ôm ba lớp mà ca cẩm, rên
rĩ như mọi bận. Chúng tôi gọi đùa sau lưng ông là "Con Ngựa Già Của Trưởng Giáo
Trịnh". Nhại lại nhan đề một truyện ngắn.
Về Một Quãng đời của Trịnh Công Sơn :
Nhạc Phẩm Đầu Tiên Được Ấn Hành
Mấy ngày sau Sơn về, mặt mày bơ phờ, hốc hác. Tôi kể chuyện ông già Thống đi
tìm. Sơn nói sẽ xin lỗi sau. Xong, Sơn ngủ vùi suốt ngày hôm đó. Hôm sau, Sơn
vui vẻ kể cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện về nhạc phẩm "Chiều Một Mình Qua
Phố". Sơn kể:
- Mình bán cho cha Duy Khánh. Chả trả có ba ngàn đồng bạc. Mình nài thêm, chả
nói: "Nhạc Phạm Duy là đắt nhứt mà cũng chỉ tới năm ngàn là cùng, ông là nhạc sĩ
mới, giá vậy là cao lắm rồi". Sơn tặc lưỡi nói tiếp:
- Thôi cũng được, nhưng tiếc một điều là chả làm hư bản nhạc của mình. Mình bán
đứt bản quyền rồi đâu còn ý kiến chi được!
Tôi thắc mắc:
- Hư là hư làm sao?
- Nhạc của mình thuộc loại êm, nhẹ, diễn tả nổi buồn của những ngày lang thang
trên phố vắng, đìu hiu, quạnh quẽ, mà chả cứ rống lên như bò rống!
Sơn giả điệu bộ và giọng Duy Khánh, lấy tay nắm lấy da cổ họng giựt giựt miệng
rống lên "Chiều một mình qua phố... ố...ố...ố..." Tôi không sao nín cười được.
Nhân đó, Sơn giải nghĩa cho tôi nghe về việc in ấn, tác quyền, phát hành, gom
tiền... rất nhiều giai đoạn nhiêu khê. Tác giả một nhạc phẩm hay một tiểu thuyết
không thể nào tự mình làm được các việc đó, nên bị các nhà xuất bản bắt chẹt,
đành phải bán bản quyền cho họ. Bấy giờ tôi mới vỡ ra. Lâu nay tôi cứ ngỡ các
ông văn sĩ, nhạc sĩ có sách, có nhạc được in ra, đem bán khắp nơi, chắc hẳn là
giàu lắm. Này nhé, cứ tính nhẩm thì thấy ngay: một bản nhạc giá 7$ x một triệu
bản = 7 triệu đồng. Triệu phú rồi còn gì! Té ra, sự thật, ông nhạc sĩ nhà mình
ôm có ba ngàn đồng bạc đi ăn nhậu, nhảy đầm với đám bạn mấy ngày hết sạch! Còn
phía nhà xuất bản thì sao? Ông Duy Khánh của ta đem in ra chỉ có 1.500 bản, gởi
các đại lý
khắp nước bán dùm, họ ăn hoa hồng 35%. Gần cả nửa năm sau chưa gom hết tiền về.
Dịp này, Sơn cũng kể cho tôi nghe về hai người bạn ở Sài Gòn mà Sơn thường về ở
chung, đi ăn, đi nhảy với nhau. Đó là Trịnh Cung và Đinh Cường. Đến giờ phút này
tôi vẫn chưa có dịp gặp và biết Đinh Cường. (Trừ những tấm hình trên Net). Trịnh
Cung thì tôi thấy mặt một lần khi ông ta ghé thăm Sơn tại Bảo Lộc, nơi phòng
chúng tôi đang ở. Khoảng đầu năm 1965 thì phải! Hình ảnh của 2 ông Trịnh thật là
tương phản. Ông Trịnh nhạc sĩ thì xuề xoà, giản dị trong bộ đồ, áo kaki vàng bỏ
vô quần tergal, với đôi giầy Ba-Ta màu nâu muôn thuở. (Sau này có may thêm hai
áo sơ mi, một nâu, một trắng bằng vải Nil France) Dạo ấy Sơn có biệt danh do
chúng tôi đặt là "Chàng nghệ sĩ nhứt y nhứt quởn". Có lẽ một năm Sơn mới đi hớt
tóc một lần, tôi nghĩ vậy, vì không bao giờ thấy Sơn có đầu tóc mới. Vẫn mái tóc
thưa, mềm chạy dài xuống gáy. Hàng râu mép hung hung nâu. Không phải râu, cũng
không phải lông. Khi dài thì Sơn lấy kéo cắt bớt. Hàng râu cằm lại càng khiêm
nhường. Từ sợi nọ sang sợi kia có thể mắc võng được. Tôi thường đùa với Sơn như
vậy.
Còn ông Trịnh họa sĩ thì rất đỏm dáng trong bộ âu phục thời trang. Áo veston xẻ
hông, cà vạt, giầy da bóng láng. Ông có bộ râu quai nón rất rậm, che kín gần hết
khuôn mặt, chỉ chừa một khoảng nhỏ từ trán xuống mũi.
Lần thứ hai tôi gặp lại ông là tháng 6 năm 1967. Tổng động viên, tôi vào Thủ
Đức. Lúc ấy ông đang mang lon Thiếu Úy, làm huấn luyện viên. Lần thứ ba, giữa
năm 1970, tôi gặp lại cả hai ông Trịnh tại phòng triễn lãm tranh được tổ chức
trong ngôi biệt thự Văn Hóa Pháp, đường Yersin Nha Trang. Lần ấy, Sơn không nhìn
thấy tôi hay không còn nhận ra tôi, tôi không biết. Nhưng lúc
ấy Sơn đang bận rộn bắt tay người này, cười nói với người kia. Cả một đám đông
đang quây xung quanh. Tôi không tiện và cũng không thể len vào để nói mấy câu
nhìn bạn. Sơn vẫn xuề xòa trong bộ âu phục thường. Ông họa sĩ vẫn đóng khung còm
lê, cà vạt. Tối hôm đó nằm mơ, tôi thấy Sơn đến thăm tôi tại căn phòng có cửa sổ
ngó ra con đường đất đỏ, trong ngôi nhà của bà Trần Thị Phi và hai chúng tôi đến
Câu Lạc Bộ Lâm Đồng uống cà phê. Nhưng sương chiều cứ là là bay, che khuất khuôn
mặt Sơn. Tôi cố nhìn nhưng vẫn không thấy rõ nét.
Trở lại câu chuyện "Chiều Một Mình Qua Phố". Sơn hỏi tôi:
- Có nghe ông Lợi nói gì về tôi không?
- Không biết! Nhưng ông đi lâu quá, tôi e cũng đã đến tai ông ta rồi.
- Làm sao bây giờ? Sơn có vẽ hơi lo. Tôi trấn an:
- Không sao đâu! Chiều nay ông lên Ty, cười cầu tài một phát. Nói vài lời xin
lỗi rồi tặng ổng bản nhạc là xong ngay.
Sơn thở phào nhẹ nhỏm. Sơn rút trong cặp ra hai bản nhạc, ký tặng ông Lợi một
bản, tôi một bản. Bản đặc biệt in trên giấy láng, hai lớp. Hình bìa màu nâu, vẽ
chàng nghệ sĩ tay trái xách đàn, tay phải vắt áo khoác trên vai, đang lầm lũi
xuống con đường dốc. Hình bìa này chắc không phải do ông Cường hoặc ông Cung vẽ.
Nét vẽ chân phương không lập dị như thường thấy của hai ông. Sơn ký cả họ lẫn
tên và chữ lót dài từ đầu này đến đầu kia của bản nhạc theo chiều đứng. Cái gạch
ngang chữ T trên đầu kéo dài che hết ba chữ Trịnh Công Sơn. Không có hình con cá
như ông Cường nói. Tôi làm thầy bói nói mò:
- Chữ ký ông đẹp. Tiếc thay cái gạch dài quá, che hết cuộc đời của ông, e rằng
không được tốt!
Sơn cười:
- Thôi cha! Bày đặt coi tướng số, tử vi hả?
Chiều hôm đó, từ Ty về, Sơn hớn hở khoe với tôi:
- Lúc mới vô Ty, mấy nhân viên văn phòng ái ngại nhìn tôi, chắc thế nào cũng bị
ông Lợi quạt một trận tơi bời vì tội bỏ nhiệm sở. Tôi cũng hơi lo. Nhưng lúc gặp
ổng trong văn phòng riêng, tôi xìa bản nhạc ra trước và nói mấy câu phân bua lý
do vắng mặt cùng lời xin lỗi. Ổng cầm bản nhạc, chăm chú xem, không nói gì. Lúc
đó tôi hơi yên tâm. Cuối cùng ông ta nói:
- Cám ơn anh bản nhạc. Nhưng từ rày về sau đừng bỏ trường nữa. Tôi nghiệp cho
ông Thống. Và tôi cũng khó đối xử với các nhân viên khác. Về lãnh vực âm nhạc,
mong anh thành công nhiều hơn .
Cô Nữ Sinh Tên Ngà, Tiếng Kèn Đồng và Lời Buồn Thánh :
Khoảng đầu tháng tư năm 1965, chúng tôi đau buồn tiễn biệt người bạn trẻ Nguyễn
Văn Ba về bên kia thế giới. Căn nhà chỉ còn ba người. Nguyễn Hảo Tâm ở một mình
để được yên tĩnh học, mong lấy nốt chứng chỉ Văn khoa cuối cùng.
Ba là người ngoan đạo. Mỗi buổi sáng, đúng năm giờ, dứt hồi chuông đầu là anh đã
ra khỏi nhà để đến nhà thờ dự lễ nhứt. Trong khi chúng tôi còn quấn kỹ trong
chăn. Rất chăm chỉ, rất đều đặn, anh không bỏ sót một ngày, dù mưa hay bão.
Hôm anh về Sài Gòn để thăm gia đình, Việt Cộng đắp mô ở đoạn đường đèo Madagui.
Trên chiếc xe đò Minh Tâm, tám chỗ ngồi, có một cha xứ ở Tân Phát cùng đi. Không
một ai dám xuống xe để gỡ mô. Cha xứ nóng lòng về Sài Gòn gấp, không thể chờ
quân đội đến phá mô như mọi bận, nên Cha tự tay xuống gỡ. Mô chỉ là một đống đất
hoặc vài tảng đá. Có khi là một thân cây chắn giữa đường, trên phủ cành lá um
tùm. Bên dưới gài lựu đạn hoặc mìn. Có khi chỉ là nghi trang, mục đích làm trở
ngại giao thông, gây khó khăn cho dân chúng đi lại làm ăn mà thôi. Lần này mô
rất sơ sài, chỉ dăm ba cục đá, một ít đất, vài nhánh cây phủ lên trên. Trông
không có vẽ gì ghê rợn như mọi lần. Chừng năm, mười phút dọn dẹp là xe có thể
lưu thông được. Thấy Cha Xứ xuống xe gỡ mô, Ba cản lại:
- Cha cứ ngồi trong xe. Mình con xuống gỡ là được rồi!
Ba kéo gần hết các nhánh cây ra khỏi mô. Thấy không động tịnh gì. Mọi người thở
phào nhẹ nhõm. Nãy giờ cứ lên ruột. Tài xế nổ máy xe, chuẩn bị lăn bánh. Ầm! một
quả lựu đạn nội hóa phát nổ. Ba vật ngữa ra, chết liền tại chỗ. Cả xe bàng
hoàng, khủng khiếp. Không một ai nhúc nhích. Mấy phút sau, cha xứ và vài hành
khách rụt rè xuống xe, lại gần Ba, khiêng anh về. Xe chạy ngược lại Bảo Lộc.
Khi hay tin, chúng tôi sững sốt, nghẹn ngào. Vội vã đến thăm anh tại nhà thương
Bảo Lộc. Anh nằm trong nhà xác. Thần thái như đang ngủ. Thi thể không một vết
thương. Nhân viên y tế cho biết chỉ có một mãnh duy nhất trúng ngay tim. Năm ấy
anh mới có hai mươi bốn tuổi, tuổi vừa mới biết yêu. Tình yêu mới chớm nở với
người đẹp Bùi Thị Lan, nữ thư ký trong Ty. Một cái chết tức tửi, oan uổng, phi
lý.
Sau cái chết của Nguyễn Văn Ba, Sơn đâm rét, không dám về Sài Gòn hàng tuần nữa.
Trước đó, cứ trưa thứ sáu, sau khi tan trường, Sơn đi thẳng ra bến xe, lấy vé về
Sài Gòn. Xe nhỏ Minh Tâm, chỉ bốn tiếng đồng hồ là Sơn đã "tiếu ngạo" ở thành
phố hoa lệ. Mười hai giờ trưa Chúa Nhật, Sơn lại lên xe đò, đánh một giấc. Năm
giờ chiều đã có mặt tại quán cà phê Ngọc Trang.
Những ngày bó gối nằm nhà, Sơn thường ngồi tư lự trước bàn viết duy nhất dành
cho cả hai soạn bài, nhìn đăm đắm ra con đường đất đỏ. Mùa này bông lau nở trắng
khắp nơi. Lau trắng dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc
lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, gió nồm thổi nhẹ từng cơn, lướt
qua rừng lau, xô chúng ngã nghiêng xuống, rồi chúng bật dậy, tạo thành những âm
thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn. Chiều xuống dần. Những vạt nắng cuối
cùng chiếu xiên trên những ngọn bông lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần.
Không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc
nghe, lúc mất. Thật hắt hiu buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm, cô Ngà, đúng
giờ đi lễ chiều. Chuông nhà thờ đang vang vang, dồn dập từng hồi, thúc dục con
chiên đến giáo đường.
Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà. Người mãnh mai với mái tóc thề chấm
ngang vai, với khuôn mặt phảng phất nhiều nét như Đức mẹ Maria. Rất dịu dàng
trong dáng đi. Mỗi buổi chiều cô đi lễ, đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp
quyển Thánh Kinh trước ngực, đầu hơi cuối xuống, lặng lẽ, khoan thai bước. Đã
bao lâu rồi? Cái hình ảnh rất đẹp ấy, cái màu áo dài trắng nổi bật trên nền đất
đỏ, thấp thoáng ẩn hiện trong đám lau trắng, đã đi ngang nhà chúng tôi bao nhiêu
chiều rồi mà chúng tôi không hề hay biết. Thật uổng phí! Chẳng là, cứ ba giờ
chiều, chúng tôi đã túc trực quanh mấy cái bàn bi da để dành chỗ rồi chơi cho
đến khi tắt điện mới mò về, thì làm sao có thì giờ để biết bên hàng xóm có người
đẹp. Cái tên Ngà, mãi về sau, theo dõi, lắng nghe mấy đứa em cô gọi, mới biết.
Từ ngày Nguyễn Văn Ba chết, chúng tôi buồn vì thiếu vắng một người bạn, nên
không còn hứng thú trong những buổi lang thang nữa. Ngồi nhà suốt một tuần nên
mới phát hiện ra bên hàng dậu có người ngọc. Cả ba: Sơn, Tâm và tôi bắt đầu theo
đuổi. Nhưng cả ba đều không thành công. Chúng tôi đều bỏ cuộc nửa chừng. Lý do:
Tuổi trẻ ham chơi không để phí nhiều thì giờ để đeo đuổi. Thứ nữa là sĩ diện,
quan trên trông xuống, người ta trông vào. Thầy giáo mà đi chọc gái thì ê càng
quá.
Tuy nhiên, với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất
cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau, của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ
cùng dáng yểu điệu của cô Ngà, hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ, để cấu thành chất
liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm Lời Buồn Thánh .
Đôi Nét Về Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn có vẽ người nghệ sĩ tự nhiên với mái tóc thưa, bồng bềnh, không
chải chuốt hoặc cố làm dáng như các bạn văn nghệ của anh. Anh không bao giờ cạo
mặt. Nếu ai nhìn kỹ khuôn mặt anh, sẽ thấy đầy những lông măng. Có lần tôi tò mò
hỏi anh về chuyện hớt tóc, cạo râu, anh cho biết: Mỗi khi thấy lưỡi dao cạo bén
ngót của ông thợ cạo là bắt rùng mình. Nghĩ ngay đến cảnh đang nằm ngửa cổ chờ
cạo râu thì ông thợ cạo đưa một đường ngọt xớt, đứt lìa cuống họng. Sơn không
nói vì sao lại có cái ám ảnh ghê rợn đó.
Sơn rất gầy, thường xuyên ở mức bốn mươi ký lô, mặc dù anh cao hơn tôi. Nhất là
mỗi năm sắp đến kỳ nghỉ hè, đám giáo viên lại nhận được giấy gọi nhập ngũ, Sơn
nhịn đói, thức khuya, uống cà phê đen, đậm, hút thuốc lá liên tục để xuống cân.
Sau một tháng, Sơn rạc hẵn, trông rất tiều tụy. Thảm não đến tội nghiệp. Sơn chỉ
còn ba mươi hai ký lô, dưới "pi nhê" để đi lính. Ngược lại với Sơn, chúng tôi ăn
nhậu thả dàn cho thỏa những ngày còn ung dung tự tại. Sợ chó gì! Đi lính thì đi!
Thiên hạ đi lính chết cả à? Sống chết phải có số chứ! Mới vừa đây thôi. Việt
Cộng pháo kích vào quận, một trái hỏa tiển rơi nhằm nhà một cô giáo, trúng ngay
chiếc giường, ba mẹ con đang ngủ, chết tan xác. Ông chồng nằm phòng bên cạnh lại
không hề hấn gì. Chúng tôi cứ lập luận như vậy để tự an ủi chứ ai cũng thừa biết
rằng "Xưa nay chinh chiến mấy ai về".
Ấy vậy mà gần đến ngày tựu trường, chúng tôi lại nhận được giấy hoãn dịch thêm
được một năm. Lại có cớ để ăn mừng lớn. Nhậu một bữa quắc chỉ cần câu. Lần này
Sơn mới dám mạnh dạn nhập cuộc. Lần lữa, chúng tôi thoát được hai niên khóa. Đến
niên khóa thứ ba, năm 1967, tình hình chiến sự ngày càng ác liệt, tổn thất nhân
mạng trầm trọng, Bộ Quốc Phòng vét một mẻ lớn. Đui, què, mẻ, sứt phải nhập ngũ
ráo. Bộ Giáo Dục bó tay, không can thiệp được nữa. Đến nước này, biện pháp nhịn
ăn để xuống cân, tăng độ cận thị không còn hiệu quả nữa. Sơn trốn lính. (Ông
Liễu nói Sơn uống dấm là không đúng)
Sơn hút ống vố (pipe) thuốc Mỹ, pha trộn hai loại Half & Half và No #79 thơm
không chịu được. Bên cạnh còn thêm Basto xanh. Thường trực trong nhà phải có mấy
lố. Sơn uống cà phê đen pha bằng "phin" Inox, từng giọt, từng giọt quánh như
keo, rất ít đường. Sơn chê chúng tôi uống cà phê như ăn chè. "Gần mực thì đen,
gần đèn thì sáng". Tôi đang hút Pallmall. Thỉnh thoảng thay gu bằng Lucky
Strike. Thấy Sơn hút tẩu, tôi ghiền mùi No 79. Tôi cũng tập tò hút ống vố, nhất
là bắt chước cho giống nghệ sĩ. (Ông Liễu cũng ngậm ống vố) Một dịp về Sài Gòn
du hí, tôi mò vào Eden, mua đủ bộ lệ gồm một ví da ba ngăn, một ngăn đựng ống
vố, một ngăn đựng thuốc, một ngăn đựng que thông nòng và con dao xếp đặc biệt ba
lưỡi. Dao này dùng nhồi thuốc, nạo tàn và xoi nòng. Mấy ngày đầu ráng tập ngậm,
khổ sở vô cùng. Không biết nước miếng ở đâu mà cứ tuôn ra ào ào, chảy ròng ròng
hai bên mép. Vừa lau xong, lại lau. Còn cái ống vố, có cảm tưởng nặng chừng cả
ký lô. Nó kéo trì cái môi và cái hàm dưới lệch một bên làm khuôn mặt méo xẹo như
người mắc phong. Thôi! Bỏ! Tiếp theo, tôi bắt chước để tóc dài bồng bềnh như mây
khói. Nhưng hởi ôi! Tóc râu tôi thuộc loại rễ tre. Càng dài càng xỉa ra trông
giống cái chổi xể. Soi gương, thấy giống thằng ăn cướp. Bộ tịch thầy giáo như
vậy làm sao mà dạy học trò. Tôi đành từ bỏ cái mộng làm dáng nghệ sĩ.
Bản tính Sơn hiền lành, điềm đạm, nói năng nhỏ nhẹ. Không giống bọn tôi. Lúc nào
cũng ào ào, cười nói toe toét. Nhất là khi đã có vài ve vào thì khỏi nói. Trái
lại, Sơn trầm tĩnh, chỉ ngồi cười. Rõ ràng đồng trang lứa mà Sơn đã chững chạc
hơn chúng tôi nhiều. Nhưng Sơn hiền quá đến độ nhu nhược. Gần như hèn.
Nhớ lại hồi mới lên Bảo Lộc được vài ngày, Sơn, Trương Khắc Nhượng và tôi kéo
nhau đi uống cà phê ở một cái quán cuối con dốc, cạnh bờ hồ (Quên tên quán).
Quán có cô chủ rất xinh, nên mấy anh choai choai túc trực rất đông. Trời mưa lâm
râm. Mới hơn bảy giờ mà đã tối mịt. Chúng tôi lựa một cái bàn trong góc tối để
dể ngắm nhìn cô chủ. Nhạc êm nhè nhẹ, xập xình. Cà phê từng ngụm nóng hổi, thơm
phức. Vừa cảnh, vừa tình thật không gì thú cho bằng.
Đang khoan khoái thưởng thức cái thú cà phê, thuốc lá, bỗng từ bàn phía bên kia,
một cậu choai choai độ 17 hay 18 tiến sang bàn chúng tôi, chỉ vào chàng thư sinh
Trương Khắc Nhượng, ra lệnh:
- Mời anh ra ngoài sân cho tôi nói chuyện.
Tôi đá vào chân Nhượng dưới gầm bàn, ra hiệu đừng đi. Nhượng ú ớ:
- Tôi... tôi đâu có quen anh?
Tên kia sẵng giọng:
- Không cần quen hay không! Anh có ra không thì bảo?
Chúng tôi tái mặt. Rõ ràng chúng muốn gây sự đây mà. Rõ ràng ma cũ bắt nạt ma
mới. Tôi đang nghĩ kế thoát thân. Quán không có cửa hông. Cửa sau ăn ra bếp.
Phải chạy vòng qua chỗ cát xê, cô chủ đang ngồi, xuống bếp cũng kẹt vào đường
cùng. Ngõ trước thì bọn nó cả chục đứa đang án ngữ. Không chừng bọn nó có dao
nữa. Tiến thối lưỡng nan. Sơn bắt đầu run lập cập. Nhượng nói hết ra hơi. Tôi cố
kéo dài thời gian tìm kế:
- Anh à! Chúng tôi vừa mới lên đây có mấy ngày, có quen ai đâu, đâu có chuyện gì
để nói!
Hắn vẫn sấn sổ:
- Tôi không mời anh. Tôi muốn nói chuyện với thằng kia!
Nói xong, nó quay sang Nhượng, nắm lấy tay anh định lôi đi. Nhượng líu lưỡi:
- Ơ! Không!... không!
Hai bên đang dằng co, lôi kéo. Đột nhiên, như một cảnh trong phim cao bồi, từ
trong góc tối phía bên kia, một thanh niên dong dỏng cao, vẻ đẹp trai thư sinh,
áo sơ mi trắng dài tay, xăn lửng, bỏ trong quần, bước tới bàn chúng tôi, với
giọng rõ ràng, chắc nịch:
- Các anh đừng sợ.
Quay sang tên kia, anh gằn giọng:
- Bọn mầy muốn gì thì gặp tao đây!
Tên kia bất ngờ hụt hẫng con mồi, bước nhanh ra cửa, tay ngoắc, miệng chửi thề:
- Đ. má! Mầy ngon hả? Ngon thì ra đây!
Vị cứu tinh chúng tôi sãi ba bước tới cửa, hai tay bám vào xà ngang, cùng lúc
hai chân anh phóng một đạp như trời giáng vào ngực tên kia nhanh như chớp. Trong
lúc không ngờ, tên kia ngã huỵch xuống đất, ôm ngực la bài hãi vừa chửi thề luôn
miệng. Đồng bọn hơn chục đứa kéo ra vây chung quanh anh, vừa vung tay, vừa hò
hét:
- Đánh chết mẹ nó đi! Chém chết cha nó đi!
Chúng tôi rụng rời tay chân. Cứu tinh chúng tôi phen này chắc phải bỏ mạng với
chúng. Đám khách trong quán ngồi im thin thít. Không một ai dám hó hé. Cô chủ
quán đến bàn chúng tôi hỏi thăm và an ủi:
- Mấy anh có vẽ lạ, hình như mới tới đây phải không? Cái đám du đãng này ở công
trường Nông Sơn trốn ra mấy bữa nay. Đêm nào chúng cũng đến đây quậy phá mà
không ai dám làm gì.
Cô đưa mắt nhìn ra cửa lo lắng:
- Đêm nay số xui tới phiên các anh và cả anh kia nữa.
Trong lúc ấy, ngoài cửa tiếng hò hét, tiếng chửi thề, càng lúc càng hung hãn.
Chúng vây anh thanh niên vào giữa vòng tròn, nhưng không tên nào dám xông vô tấn
công.
Chợt cô chủ quán la lên khe khẻ:
- Trời! Chúng có dao!
Bây giờ chúng tôi mới thấy rõ trong tay bọn chúng đứa nào cũng lăm lăm con dao.
Làm sao đây? Chúng tôi nhìn nhau không biết phải làm cách nào để giúp sức người
ơn, đành trơ mắt ếch nhìn anh một cách bất lực. Nhưng lạ thay, chàng thanh niên
vẫn bình tĩnh, tay chống nạnh sườn, nhìn đám du đãng đang giương nanh, múa vuốt,
không một chút sợ sệt. Sau một lúc hò hét thị oai để cướp tinh thần đối phương,
chúng hè nhau áp vô một lượt định tấn công anh bằng đòn hội chợ. Nhưng nhanh hơn
chúng trước mấy giây đồng hồ, ba phát súng nổ chát chúa vang lên trong đêm tối
tĩnh mịch. Cả bọn bỏ chạy tán loạn, té bò lê, bò càng. Vừa chạy vừa la thất
thanh:
- Nó có súng! Nó có súng!
Thì ra trong lúc chúng tôi lo lắng cho sự an nguy của anh, anh rất bình tĩnh đối
phó với chúng. Chờ cho chúng thật sự tấn công, anh mới móc súng ra bắn ba phát
chỉ thiên thị uy, cốt hù dọa chúng mà thôi. Khi mọi sự trở lại yên tĩnh, chúng
tôi mời anh vào quán để cám ơn và mời anh một chầu. Anh vui vẻ ngồi vào bàn và
tự giới thiệu:
- Tôi là Triệu. Thiếu úy Triệu. Đại đội tôi mới được tăng cường tới Bảo Lộc sáng
nay để bảo vệ an ninh quận.
Anh quay sang hỏi thăm chúng tôi. Sau khi nghe chúng tôi lần lượt giới thiệu và
cho biết là đang dạy học tại đây, cũng vừa mới tới được mấy ngày. Anh à lên một
tiếng và xoay lưng ra phía sau, ngoắc tay một cái, lập tức có hai anh khác đang
ngồi nhâm nhi cà phê trong góc vội chạy đến trông điệu bộ rất cung kính:
- Dạ ! Ông thầy! Ông thầy sai gì tụi em!
Triệu nói:
- Hai anh về lấy chiếc Dodge tới đây để đưa mấy ông giáo về nhà cho an toàn!
Một anh nói:
- Khỏi cần hai người. Một mình em về lấy xe. Để thằng Xinh ở lại bảo vệ ông
Thầy.
Chúng tôi lo ngại anh đi một mình nên đồng thanh:
- Anh coi chừng tụi nó trả thù.
Anh ta nháy mắt cười với chúng tôi, tay vỗ vỗ vào lưng và nói:
- Tui có cái này, đố cha tụi nó dám!
Hóa ra, thiếu úy Triệu còn có hai vệ sĩ đi kèm mà chưa cần phải ra tay. Ngoài
hai vệ sĩ to như hai ông hộ pháp ra còn có ba con chó lửa nữa thì tụi nhóc du
đãng cả chục đứa ăn nhằm gì. Chúng tôi kết bạn với nhau từ đêm ấy. Hơn tháng
sau, đại đội Triệu hành quân đi nơi khác, gấp rút, không kịp gặp nhau nói lời từ
giã. (Không biết vị ân nhân này, bây giờ còn hay mất, tôi không hề gặp lại). Đêm
đó, Sơn nằm kể cho tôi nghe, thời gian ở Huế, anh làm huấn luyện viên nhu đạo
cho Sở Hiến Binh Thừa Thiên. Sau một cơn bạo bệnh, anh quên hết các thế võ. Tôi
nghe mà lòng hoài nghi, thắc mắc. Tôi cũng có học đôi chút về nhu đạo. Nhu đạo
cốt lấy nhu thắng cương. Dùng lực người làm lực mình để chiến đấu, rất ít hao
nội lực. Nếu vì bệnh hay lý do nào khác thì chỉ mất sức khoẻ hay nội lực chứ làm
sao mà quên hết các thế võ. Trừ khi mất trí nhớ. Nhưng thấy Sơn trong lúc còn
đang sợ về chuyện vừa rồi, tôi không tiện hỏi lại. Sau đó cũng quên luôn. Nay,
lại nghe ông Trịnh Cung nhắc chuyện Sơn tập nhu đạo với đứa em, bị cú choàng
vai, phải nằm viện, thành ra ốm yếu. Mối nghi ngờ Sơn nói dối để tự che đậy mặc
cảm nhút nhát, hèn yếu của mình lại vụt trở về trong ký ức.
Lại nhớ thêm một lần khác, năm 1962, lúc học ở Qui Nhơn. Con trai Bình Định rất
ghét nam giáo sinh Huế. Vì trai Huế mã ngoài trông rất bảnh và sang trọng. Các
em nữ sinh Qui Nhơn bỏ kép "lô can" của mình chạy theo "của ngoại". Hơn nữa, Qui
Nhơn lúc bấy giờ chỉ có trường trung học Cường Để là lớn nhất, nhưng chỉ có đến
lớp đệ nhị mà thôi. Học sinh Cường Để đồng phục quần kaki xanh, áo sơ mi trắng
"póp pờ lin Ba Trái Đào", dép lốp bánh xe hơi làm sao địch lại với giáo sinh Sư
phạm quần Tergal đen, áo sơ mi dài tay trắng Nyl France, cà vạt đen, đi giầy da
bóng lộn. Trông oai và bảnh chọe lắm. Ái chà! Còn cái ông thợ may tiệm may Thích
nữa chứ! Thật là tài! Không biết ông bắt được ở đâu cái "tuy dô" rằng giáo sinh
sẽ có món học bổng 200 đồng. Ông liền điều đình với Ban Giám đốc trường cho ông
thầu may mỗi giáo sinh một bộ complet màu xám. Tiền sẽ trừ vào cuối khóa. Thế là
bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống, mỗi anh giáo sinh có một bộ đồ lớn, diện vào
mỗi chiều thứ bảy, dung dăng dung dẻ với người đẹp. Trông thiệt là oách! Nó
chính là cái gai lớn trong con mắt mấy anh con trai Qui Nhơn. Phải tìm cách chơi
lại mới đươc! Với chiến thuật du kích, rình mò trong các hẽm vắng, bất cứ anh Sư
phạm
nào có âm giọng "chi, mô, răng, rứa" đều bị đột kích. Trịnh Công Sơn là một
trong những nạn nhân đầu tiên. Anh bị tước mất đôi kính cận. Tiếp mấy ngày sau,
con đường từ bệnh viện Nguyễn Huệ đến trường, chỗ nào cũng bị chận và khiêu
khích đánh lộn. Đã có mấy vụ ẩu đã. Dĩ nhiên, bị bất ngờ, phe ta ôm đầu máu.
Chuyện này náo động cả trường Sư Phạm. Thanh Hải, cây đờn ghi ta số một, lên xin
phép thầy Hiệu Trưởng Đinh Thành Chương cho lập toán đặc biệt để bài trừ du
đảng. Nhưng thầy không cho. Thầy bảo: "Nhiệm vụ đó là của Cảnh Sát. Các anh đến
đây để học thành thầy giáo chớ không phải để thành cảnh sát". Sau đó, thầy liên
hệ với chính quyền sở tại, xin can thiệp. Sự việc kéo dài cả nửa năm mới dứt.
Riêng Trịnh Công Sơn, mất đôi kính, trở thành anh mù bất đắc dĩ, không đi học
được. Bạn bè phải nhờ môi giới trung gian liên lạc với tên đầu đảng xin chuộc
lại đôi kính. Vậy mà Sơn lại kể với Trịnh Cung chuyện mình luyện Judo! Để làm
gì?
Sau khi đại đội Triệu thuyên chuyển đi nơi khác, Sơn không dám đi uống cà phê
tối nữa. Tôi ở nhà cuồng chân, buồn như chấu cắn. Mà đi một mình không có Sơn
thì không vui. Một hôm, tôi cố rủ Sơn cho bằng được và cam đoan bảo đảm an ninh
cho anh. Sơn không mấy tin tưởng vì tôi nhỏ con hơn anh. Sơn dò xét:
- Ông lấy cái gì bảo vệ tôi?
Tôi vỗ vào bụng và nói:
- Cái này bảo vệ cho ông và cho tôi!
Sơn cười ré lên. Đang nằm dài trên "đi-văng", Sơn nhổm dậy tới sờ vào bụng tôi,
vừa cười vừa nói:
- Để coi mấy con lãi trong bụng ông to cỡ nào mà bảo vệ được tôi?
Nhưng Sơn vội rụt tay lại và nín bặt. Hai mắt tròn xoe đầy ngạc nhiên nhìn tôi
thắc mắc. Giọng tôi nghiêm chỉnh lập lại:
- Được chưa?
Sơn vẫn đầy nghi ngờ:
- Ông lấy ra cho tôi coi nó là cái gì vậy?
Tôi thò tay vào áo, lôi ra một sợi dây điện, loại dây đôi, mềm, dài một thước
rưỡi. Sơn lại càng thắc mắc:
- Ông đem dây điện theo dùng làm gì?
Tôi phải giảng giải sơ lược về công dụng của nó thay thế chiếc trường côn, tiện
dụng mang theo bên mình, phòng khi hữu sự. Sơn tò mò:
- Tôi chưa nghe thấy bao giờ. Ông có thể kể cho tôi nghe học ở đâu và biểu diễn
vài đường cho tôi coi được không?
Để cho Sơn hoàn toàn yên tâm, tôi lôi Sơn ra sân xem tôi đi vài đường lã lướt.
Sợi dây điện lúc này theo sức từ trong tay tôi vung ra đã biến thành chiếc
trường côn, quay tít trong không khí phát ra tiếng vù vù. Tôi chỉ biểu diễn vài
đường trong bài "Thế roi tàng sư" rồi dừng lại. Sơn vỗ tay khen hay. Lúc này Sơn
mới chịu mặc quần áo đi với tôi. Suốt buổi tối cà phê đó, Sơn bắt tôi kể chuyện
học võ. Tôi chỉ kể đại lược thôi, chứ kể hết thì dài dòng lắm. Sơn cười khoái
chí những đoạn tôi đứng tấn cho tàn cây nhang, hai chân mõi rã rời, té chỏng
gọng. Hoặc tôi không chịu học các môn đao, thương, kiếm, kích mà chỉ yêu câu
thầy dạy cho môn chạy trốn trong "tam thập lục kế, đào tẩu vi thượng sách."
Trịnh Công Sơn Con Người Tài Hoa Nhiều Mặt
Ngoài tài năng âm nhạc, Sơn còn nhiều tài khác nữa. Môn nào cũng xuất sắc hết.
Nhảy đầm rất bay bướm. Đánh bi da hết xẩy. Xì phé khỏi chê. Trừ cái món kia...
Nhảy đầm .
Cuối năm 1964, Tỉnh cho xây cất cạnh bờ hồ một công trình tân kỳ đặt tên là "Câu
lạc bộ Lâm Đồng" dành cho quân, cán chánh trong tỉnh giải trí. Câu lạc bộ có hai
tầng. Tầng dưới đặt mấy bàn bi da. Tầng trên bán cà phê và đồ nhậu. Mỗi buổi
chiều, tắt nắng, chúng tôi kéo nhau lên CLB nhâm nhi cà phê, nhìn ra mặt hồ. Nhà
thủy tạ giữa hồ được nối liền vào bờ bằng một chiếc cầu gỗ, dáng cong cong hình
cầu vòng, sơn toàn màu đỏ, ẩn hiện giữa làn sương đục, đẹp như bức tranh thủy
mạc. Chúng tôi cứ tưởng chừng như ngồi trên lầu Hoàng Hạc. Thật ra chưa ai biết
Hoàng Hạc lâu tròn méo ra sao. Nhất là những chiều mưa lâm râm, lất phất. Khí
trời lành lạnh, se se, kéo cao cổ áo măng tô, ngồi trên lầu, nhìn về phía hồ xa
xa, nhớ người yêu mà ư ử hát: "Chiều này còn mưa sao em không lại! Nhỡ mai trong
cơn đau vùi, làm sao có nhau! Hằn lên nỗi đau. Bước chân xin em về mau... "
Hoặc: "Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ, nhớ tên em..." thì từng lời, từng
lời thấm không chịu được. Nhạc của Sơn phải hát đúng trong khung cảnh ấy mới
hay, mới cảm hết cái hồn của lời, của nhạc.
Người quản lý CLB cho hay, Tỉnh dự định sẽ làm lễ khánh thành CLB trước Tết
dương lịch. Ngày đó Tỉnh sẽ mướn một số ca ve ở Sài Gòn lên, sẽ có dạ vũ tưng
bừng. Đích thân đại tá Tỉnh trưởng khai "bal". Nghe tin, anh nào cũng ạo ực.
Nhưng nhìn lại toàn một đám nhà quê. Anh nào cũng chỉ biết nhảy lò cò. Trừ chàng
họ Trịnh trúng mánh. Thế là cả bọn xúm lại đòi Sơn dạy nhảy. Thời gian còn hơn
tháng, làm sao học cho kịp. Phải gấp lên mới được. Căn phòng tôi và Sơn ở trở
thành sàn nhảy. Nhưng đám học trò láu cá, muốn trắc nghiệm tài nghệ ông thầy
trước mới học sau. Sơn phải biểu diễn vài đường bay bướm. Anh mượn chiếc ghế đẩu
giả làm đào, khai "bal" bằng điệu Paso dồn dập. Miệng đánh nhịp, chân bước tới
lui, nhịp nhàng, uyển chuyển. Từ Paso anh chuyển sang Cha Cha Cha, rồi Be bop,
rồi Tango, quay cuồng với điệu Valse, trở về với Bolero và cuối cùng đứng yên
một chổ, lắc lư thân hình, nghiêng qua, ngã lại theo nhịp miệng Chắc... xình!
Chắc... xình! của điệu Slow. Tất cả đều công nhận Sơn nhảy đẹp. Với đôi chân
dài, Sơn nhảy Tango rất tuyệt. Thấy Sơn nhảy anh nào cũng ham. Nhưng nhìn lại
mình, thấy thân hình ồ dề, thô cứng, nặng nề như trâu nước, anh nào cũng lắc đầu
ngao ngán.
- Ông Sơn ơi! Tụi này mà học nhảy được như ông chắt phải tới tết Công Gô, tết Ma
Rốc!
Sơn cười cười:
- Mấy cha tưởng dễ ăn hả! Hết bao nhiêu cơm gạo ở vũ trường rồi đó!
Rồi Sơn trấn an chúng tôi:
- Mà không sao! Mấy ông chỉ cần học một điệu Slow là đủ rồi. Điệu này rất dễ.
Nhưng nhảy cho hay lại rất khó.
Để trấn an và gây thêm tin tưởng cho chúng tôi, anh kể chuyện một anh Tây già ở
Sài Gòn, đêm nào cũng có mặt ở vũ trường. Sơn kể:
- Tôi hồi đó mới học nhảy nên cũng mê lắm. Nhưng học sinh làm gì có tiền. Thỉnh
thoảng mới tới dancing, lần nào cũng gặp anh Tây già này. Anh Tây này cao lớn,
có cái bụng phệ rất bự, dáng nặng nề nên không nhảy được các điệu khác, chỉ nhảy
mỗi một điệu Slow. Anh ta ôm em nào cũng không hết vòng lưng vì bị cản bởi cái
bụng. Anh ta cứ ôm riết em ca ve, đứng yên một chổ. Hễ nghe tiếng bass đánh xình
một cái, anh ta lắc nghiêng người một cái. Cứ thế cho đến cuối bản nhạc. Có điều
đặc biệt đáng tức cười ở đây là mỗi lần đến đoạn nhạc du dương, đắc ý, anh ta
thình lình buông em ra, bước lui một bước, tay phải nắm lại, đấm vào lòng bàn
tay trái đánh bộp một tiếng, miệng khen bằng tiếng Việt "Hay...xì" rồi bước tới
ôm em lắc lư như cũ.
Sơn vừa kể, vừa làm điệu bộ khiến chúng tôi cười rũ ra. Lối kể chuyện của Sơn
rất có duyên và hấp dẫn. Sau mấy ngày tập dượt ráo riết, chúng tôi cũng thuần
thục như anh Tây già. Chúng tôi náo nức trông cho mau đến ngày khánh thành để
được ôm mấy em và trổ tài. Nhưng gần những ngày cuối năm Việt Cộng ăn Tết sớm,
rót hỏa tiễn liên tục vào hai quận Di Linh và Bảo Lộc thay pháo, chương trình
vui chơi phải hủy bỏ. Bài học "Chát...xình" không có cơ hội đem ra ứng dụng.
Bida
Thường trực ở bàn bi da, bọn chúng tôi gồm năm đứa. Sơn, Tâm mập (tức Nguyễn Hảo
Tâm phân biệt với Tâm lùn tức Nguyễn Văn Tâm), Nguyễn Đức Tín, Ngô Thanh Bạch và
tôi. Chia thành hai phe, trường kỳ quyết đấu. Sơn và Tâm mập một phe. Tín và
Bạch một phe. Tôi bị cho ra rìa vì đánh quá dở. Không bao giờ đi một "cơ" được
ba điểm. Tôi được hội đồng phong cho chức trọng tài, lãnh nhiệm vụ đứng ghi điểm
và phân xử những vụ ăn gian. Cuối cùng là ăn ké khi kết thúc màn quyết đấu. Đứng
ngoài mới thấy rõ phong cách của từng người chơi. Tâm mập có dáng xấu nhất vì
cái bụng phệ phát triễn quá sớm ở cái tuổi hai mươi bốn. Anh phải đứng dạng chân
chàng hãng để cho cái bụng thấp xuống khỏi cấn thành bàn. Tay trái đặt trên mặt
bàn, ngón tay trỏ cong lại như cái móc câu để giữ đầu "cơ", chứ không chịu hợp
với ngón tay cái thành vòng tròn như mọi người. Ngô Thanh Bạch to con, cao bằng
Sơn, đứng phải rùn chân xuống. Mỗi lần chuẩn bị thụt một quả, anh nhắm tới, nhắm
lui, lưỡi thè ra khỏi miệng, quẹo qua bên trái, hai hàm răng cắn chặt. Tôi cứ có
cảm giác mỗi lần anh thụt trái banh là mỗi lần đứt lưỡi. Nhất là những cú "đề
trô" lại càng toát mồ hôi lạnh. Nguyễn Đức Tín đặc biệt có khuôn mặt tròn, trắng
trẻo như cô Thúy Vân. Mỗi lần đi những đường cơ lắc léo, "ép phê còng tre", anh
mắm môi, bặm miệng, hai con mắt ốc nhồi mở ra hết cở. Trán anh nhướng lên thành
bốn lằn xếp. Anh liếm môi vài cái trước khi thụt một đường banh quyết tử. Trước
khi thụt, mặt anh tái ngắt. Thụt xong, mặt lại đỏ như gấc, trước khi trở lại
bình thường. Riêng Sơn, tôi thích ngắm nhìn cái dáng của anh nhất. Người dong
dõng, hai chân dài, anh đứng thẳng người, hai chân chụm lại, cúi xuống mặt bàn
tạo thành một hình thước ở thắc lưng. Anh đặt tay trái xuống mặt bàn, hai ngón
út và đeo nhẫn xoè ra hình rẽ quạt tựa xuống mặt nỉ, ngón giữa đỡ ngón cái và
ngón trỏ đan hợp nhau thành một vòng tròn, ôm khít khao đầu ngọn cơ. Trước khi
quyết định một đường banh, anh chăm chú nhìn ba trái bi, tay cầm cục "lơ" miết
miết trên đầu "cơ". Khi anh bỏ cục "lơ" xuống thành bàn là đường "cơ" đã quyết
định. Anh đánh thong thả, nhẹ nhàng, xoay quanh bốn cạnh bàn một cách khoan
thai, từ tốn, không một chút phí sức. Tối thiểu một đường cơ của anh phải từ năm
điểm trở lên. Tuy nhiên, có bữa phe anh cũng thua tơi bời hoa lá. Anh không thể
nào cứu nổi bồ, khi Tâm mập chơi bết bát quá. Trong khi hai tay Bạch và Tín
ngang sức, ngang tài. Chúng tôi chơi giải trí không ăn tiền. Cá độ bằng những
chầu cà phê, bữa cơm trưa hoặc chầu bia tùy theo giờ giấc sáng, trưa, chiều và
có lúc cả buổi tối nữa.
Những ngày cuối tháng lãnh lương, càng đông, càng vui nhộn. Chúng tôi có thêm
Nguyễn Văn Chất, Võ Đôn Thao biệt danh "Sư phụ" từ cầu Đại Nga, giáp ranh với
Tuyên Đức về. Di Linh có Nguyễn Văn Hiện và Lâm Văn Rầm. Lại có thêm lính mới tò
te Đỗ Danh Đạo hổn danh Đạo Sữa. Ngoài ra còn có những bạn nhà binh. Những sĩ
quan trẻ tuổi trạc chúng tôi, nhưng "xếp bút nghiên theo việc đao cung" sớm. Đó
là những anh Vĩnh, Ngự, Tinh đều cùng cấp bậc thiếu úy. Chỉ có anh Thành là
trung úy, chi khu phó, đã có vợ và một con. Còn toàn là đám độc thân vui tính.
Ông trùm Lãng không có tên trong bảng "phong thần" vì năm giờ chiều là ông đã
trùm mền, xoa dầu Nhị Thiên Đường rồi.
Xì phé - Xập xám :
Mỗi thứ sáu đầu tháng, phòng chúng tôi trở thành sòng bạc. Nhà hai anh Lãng và
Đạo thành nhà chứa. Đám bạn từ các nơi về tụ lại nhà tôi chơi bạc xong, kéo về
nhà Lãng, Đạo ngủ. Đánh bạc thì tôi mù tịt. Tôi không có khiếu về môn này. Sau,
cố học lắm, mới biết chơi tứ sắc. Nhưng lên rác, xuống rác, trôi rác, khui,
quằn, đếm lệnh chẵn, lẻ, tới trơn, tới quan thì rắc rối quá. Tôi chỉ thích đánh
"bấc" của người Bắc. Môn này vui và hấp dẫn hơn bài cào. Nó hay ở chỗ là bài
cùng điểm mà lại ăn nhau ở hàng thập, hàng vạn, hàng văn, hàng sách. Nhưng đám
nhà nghề như Sơn, Hiện, Rầm, Bạch, Thao, Tín... đều chê. Đó là dành cho dân nhà
quê. Còn dân chơi thì chỉ xập xám hoặc xì phé mới đúng điệu. Sau khi lãnh lương,
buổi sáng, ăn nhậu, bi da, cà phê đã đời, anh nào không có máu đen đỏ thì về nhà
Lãng ngủ. Phần còn lại về phòng chúng tôi gầy sòng. Sơn một tay chấp hết. Anh
trụ từ đầu hôm cho đến sáng, người vẫn khoẻ. Nói theo kiểu Kim Dung, sắc mặt
không thay đổi, hơi thở vẫn điều hòa. Nghĩa là có những anh, nửa đêm mệt quá
phải ngã lưng, khò một chút. Anh khác thay tay. Sơn vẫn ngồi một chỗ, thuốc lá
liên tục; cà phê hết ly này đến ly khác; không đi tiểu, mới lạ. Cứ trung bình
mười ván là Sơn vơ làng hết bảy, tám. Thua quá, những lần sau, Tín cạch. Tín
chấp hai tay làm bộ xá xá:
- Ông Sơn ơi là ông Sơn ơi! Tiền lương em đây! Ông cứ lấy mà xài. Đừng "rê" em
vào sòng nữa. Bàn tay ông có ma, ghê thấy mẹ. Em sợ lắm!
Nói xong, Tín cười hềnh hệch, đổi giọng:
- Bố bảo em cũng chả dám chơi với ông! Ghê thấy mẹ!
Có lần tôi hỏi Sơn:
- Này, ông học nghề ở đâu vậy. Có chơi lận không?
Sơn nói cho tôi biết bí quyết đánh bạc:
- Chẳng có gian lận gì hết! Chẳng qua mấy cha ấy cứ đưa bài cho tôi coi, tôi mới
thắng được dễ dàng mà thôi.
Tôi không tin, vặn lại:
- Ông lại xạo rồi! Có ai đánh bài mà lại đưa bài mình cho người khác coi bao
giờ?
Sơn thích thú giảng nghĩa:
- Tôi nói đưa bài có nghĩa là họ đưa cái mặt họ cho tôi biết. Nước bài của họ
hiện lên nét mặt hết. Tại ông không ở trong nghề nên không biết, không chú ý
theo dõi. Ông chỉ nhìn xuống chiếu, ngó quân bài thôi. Phải không nào?
Tôi phải công nhận Sơn nói đúng. Tôi chỉ nhìn những cây bài đánh xuống hoặc
những chi bài binh xong xoè ra mà thôi. Sơn nói tiếp:
- Những tay cao thủ đánh bạc họ rất trầm tính. Không bao giờ để lộ cảm xúc trên
nét mặt cho đối thủ biết. Ngược lại, đôi mắt họ rất sắc. Họ kín đáo quan sát đối
phương để đoán từng nước bài mà tùy cơ ứng phó. Trong khi đó, ông ngẫm lại coi!
Mất tay Thao, Tín, Hiện, Rầm, hễ bài tốt thì cười nói rầm rĩ. Bài xấu thì xịu
mặt xuống, chửi thề ỏm tỏi thì làm sao mà tôi không biết.
Tôi phải phục lăn kinh nghiệm của Sơn. Một chân lý không cãi vào đâu được. Dẫu
bên này hay bên kia chân núi Pyrhéné.
Tuy nhiên hay không bằng hên. Sự đời có những cái trớ trêu, tréo cẳng ngỗng,
không ai có thể ngờ hết được. Sơn đã đại bại trước Phạm Quang Chữ, một tay mơ
mới tập chơi. Anh Chữ, chân chỉ hạt bột, ngoài giờ dạy học là về phụ với vợ
trong việc mua bán. Vợ anh có gian hàng bán quần áo trong chợ. Chị vợ ngồi thu
tiền. Anh chạy vòng ngoài, gom hàng, giao hàng, tất bật suốt ngày. Anh ít giao
thiệp với bạn đồng nghiệp vì mặc cảm với căn bệnh nan y của anh: bệnh cùi. Chỉ
là đồn đoán thôi. Anh vẫn béo tốt, da dẽ hồng hào. Duy chỉ có hai bàn tay là hơi
lạ. Bắp thịt hổ khẩu giữa ngón tay cái và ngón trỏ mất hẳn. Những ngón khác co
rút lại, cầm đồ vật rất khó khăn. Người ta đồn anh nhờ uống vàng hàng tháng nên
mới cầm giữ được không cho bệnh phát ra ngoài.
Trước khi bọn trẻ chúng tôi được bổ nhiệm tới, Ty Tiểu Học Lâm Đồng ở trong tình
trạng buồn tẻ. Chúng tôi đã đem lại một nguồn sinh lực mới cho Ty. Với phương
pháp giáo dục mới và tinh thần trẻ trung đã thay đổi hẵn cái không khí đều đều,
buồn tẻ bao nhiêu năm nay ở cái xứ cao nguyên này. Phạm Quang Chữ là người đầu
tiên bứt ra khỏi cái ao tù nước đọng đó. Về sau, còn có thêm nhiều người nữa
tham gia vào cái không khí vui nhộn, cởi mở, phóng khoáng của chúng tôi. Trong
đó có cả cụ Trạch, hiệu trưởng trường Nam Bảo Lộc, sắp hồi hưu. Ông Lợi Ty
trưởng, rất văn nghệ, chịu chơi. Nhiều lần xắn tay áo cùng đám trẻ "hạ cờ tay",
vừa nhậu, vừa đánh bạc .
Trở lại chuyện Phạm Quang Chữ đại thắng Trịnh Công Sơn .
Bài của Chữ đỏ từ đầu đến cuối. Hai tay cầm bài lòng khòng, lèo khoèo, rớt lên,
rớt xuống, binh tầm bậy, tầm bạ mà vẫn cứ thắng. Chuyển sang tứ sắc. Mới đánh
vài cây anh đã "tới" mà lại tới quan, khui, quằn tùm lum. Đêm đó anh hốt trọn.
Anh nào cũng nhẵn túi. Nguyễn Đức Tín nổi khùng, chửi thề:
- Địt mẹ! Đúng là thánh nhân đãi kẻ khù khờ. Mèo mù vớ cá rán. Ông bà ta bạc tóc
mới nói ra được điều gì thì trúng phóc điều đó, không sai một ly ông cụ.
Quay sang Sơn, Tín thọc cù léc:
- Chỉ có bàn tay ông cùi mới trị được ông bàn tay ma!
Nói xong, Tín cười hắc hắc một thôi. Quả thật, đêm đó, Trịnh Công Sơn không còn
một xu dính túi.
Cái khoản kia...
... Em Pleiku má đỏ môi hồng...Ở đây mùa đông...đi dăm phút đã về chốn cũ." Cái
ông nhà thơ nào đó đã tả cái xứ cao nguyên rất đúng. Thật vậy! Cái phố quận Bảo
Lộc gom lại bằng bàn tay ở một đoạn phố ngắn. Hầu hết cư dân đều sống biệt lập
trong các xứ đạo hoặc trong những "phẹt". Danh từ "phẹt" lần đầu nghe lạ tai và
buồn cười. Tôi cứ có ý nghĩ thô tục khi thấy những chiếc xe Lam chở khách, hai
bên hông kẻ hàng chữ chỉ tuyến đường "Bờ Lao-Phẹt." Mãi về sau, có dịp đến phẹt
mới biết đó là "Ferme", trang trại của người Pháp có đồn điền trà và cà phê tại
đây. Mấy ông trong xứ Tân Thanh, Tân Phát phiên âm thành tiếng Việt là Phẹt.
Cái phố quận quá nhỏ, đến nỗi có người ví von, con chó cũng nằm không đủ chỗ
phải ló cái đuôi ra bên ngoài. Cho nên mấy ông giáo đi đâu cũng đụng hoc trò của
mình. Học trò ở đây đi học rất trễ. Có đứa cao tồng ngồng bằng thầy. Do đó, muốn
giữ cái vỏ mô phạm luôn luôn sáng như trăng rằm để làm gương soi cho học trò,
chúng tôi, mỗi tháng phải kéo nhau lên tận Đà Lạt, thác Gu gha, để du hí. Ở đây,
ngoài phong cảnh thơ mộng, hửu tình, còn có những em Thái trắng, Thái đỏ chuyên
phục vụ cái khoản... thứ ba. Nghe nói các em có nhiều kiểu lạ hơn người Kinh. Cả
bọn chúng tôi về cái khoản... đó, đều "thường thường bậc trung". Chỉ có Võ Đôn
Thao là được võ lâm tôn lên hàng Sư phụ. Đã không mất tiền cho em mà còn được em
bao ngược. Tha hồ cơm no, bò cưỡi.
Ngón nghề này, anh nào cũng theo xin bí kíp. Võ Đôn Thao ngoài khả năng "Yêu em
thật sâu...Yêu em dài lâu...", anh còn có tài "xúc cốt" đánh lừa Hội Đồng Y Khoa
để được miễn dịch vĩnh viễn. Xúc cốt, theo Kim Dung, ông tổ nói phét trong
truyện chưởng thì đó là môn võ công luyện được phép làm cho thân mình biến dạng,
hoặc nhỏ lại, xương cốt co lại như đứa trẻ. Ở đây, Thao chỉ cần bẻ quặt chân
phải mình qua một bên, đi lặt lìa, hệt như người què. Anh biểu diễn cho chúng
tôi coi. Lại được một phen cười vỡ bụng. Nhờ vậy anh khỏi đi lính. Nhưng đây chỉ
là chuyện nhỏ. Quan trọng là bí kíp "Nhất dương chỉ" chúng tôi ai cũng muốn theo
thọ giáo. Đứng đầu là Trịnh Công Sơn. Công lực của anh rất kém. Theo Thao, đây
là cơ duyên, trời cho ai nấy hưởng, không phải ai muốn luyện cũng được.
Anh kể lại cái cơ duyên của mình:
- Lúc tôi mới mười hai tuổi, học lớp Nhất ở Tuy Hòa, Phú Yên, bỗng dưng mắc một
chứng bệnh kỳ lạ. Người cứ xanh mướt, ngày càng gầy ốm. Cha mẹ tôi hết lòng chạy
chữa đủ thứ thuốc vẫn không thuyên giảm. Sau có ông thầy Tàu thuốc Bắc bắt mạch,
chẩn bệnh quả quyết rằng tôi mắt bệnh hượt tinh. Thầy giảng giải cho cha tôi rõ
về căn bệnh này là tuổi thanh niên thường vướng phải ba thứ tinh. Thông thường
là mộng tinh. Trai đang sung sức, ban ngày thấy gái đẹp, đêm mơ tưởng giao hợp
mà xuất tinh. Ví như bình đầy mà tràn. Không có hại. Cưới vợ là hết. Thứ hai,
không nằm mơ mà vẫn xuất tinh, ấy là di tinh, giống như cái bình nghiêng, nước
đổ. Cũng không hại lắm. Phương thuốc hiệu nghiệm để chửa là cưới vợ. Còn cái
này, ông thầy Tàu chỉ tôi, gọi là hượt tinh, tức giống như cái bình lũng đít,
chảy ngày, chảy đêm cho đến chết. Bệnh này gây ra do thần kinh quá yếu hoặc chơi
bời quá độ mà thành.
Cha tôi nghe tới đó, trợn mắt:
- Thầy nói sao? Thằng con tôi mới mười hai tuổi mà thầy nói nó chơi bời quá độ?
Ông thầy Tàu biết mình bị hớ, nói chữa:
- A! Cái này tôi nói theo sách vở mà! Nhưng ông đừng có lo. Tôi cho mấy hộp "Tam
tinh Hải cẩu bổ thận hoàn", cháu nó uống một tháng là hết bệnh.
Cả chục hộp, viên nào cũng to như ngón cẳng cái, tôi cố trợn trạo nuốt. Thuốc
hết mà bệnh cứ y như cũ. Nghĩa là mỗi lần có chuyện gì xúc động bất ngờ hoặc hồi
hộp, lo âu thì đũng quần tôi ướt đẫm. Ví dụ làm bài thi, gần hết giờ, bài vẫn
chưa xong thì bị. Thình lình ai vỗ vai hù một tiếng cũng bị. Tiếp tục uống Tam
Tinh Hải cẩu cả năm, người tôi cứ rạc dần, đi đứng hết nỗi. Cha tôi phải mang
tôi vào nhà thương Grall, Sài Gòn xin chữa. Ở đó bác sĩ Tây, họ tiêm vào đầu tôi
cây kim dài cả gang tay để chữa. Tôi nằm ở đó gần sáu tháng thì bệnh dứt hẵn.
Cha tôi tốn rất nhiều tiền nhưng cứu được thằng quí tử ông rất mừng. Đến năm
mười tám tuổi, đi chơi gái lần đầu, tôi tình cờ phát hiện ra mình có khả năng kỳ
diệu đó. Tôi có thể kiểm soát và điều khiển thằng "em tôi" theo ý muốn. Muốn
tấn, thối, hoãn binh hoặc trường kỳ kháng chiến bao lâu cũng được. Bởi vậy, anh
em trong võ lâm mới bái tôi là Sư phụ.
Nghe xong, chúng tôi đều thất vọng. Ngàn năm mới có cơ duyên một lần. Đâu đã đến
phiên mình!
Mỗi lần lên Gu Gha, chúng tôi kêu bia uống vài chai cho nóng máy, thong thả ngắm
các em Thái lượn qua, lượn lại để chọn thì Sơn lúc nào cũng tình nguyện làm
người lính xung kích đầu tiên. Đánh nhanh, rút nhanh. Đó là phương pháp chiến
đấu của Sơn. Có lần chúng tôi chưa uống hết chai bia, Sơn đã tàn cuộc chiến, mặt
mũi bơ phờ, trở về hậu cứ.
- Thật phí đồng tiền, bát gạo! Tín phê bình.
Đến lượt Thao trổ tài. Quả thật lời đồn không sai. Chúng tôi cà kê đến chai thứ
tư thì Thao đang hùng dũng trên đường chiến thắng trở về mang theo một tù binh:
Một em Thái trắng (đồ mạo hóa) cũng Xà rông, cũng vòng cườm đeo tứ tung, nhưng
chỉ nói được ba tiếng "bắt cái nước". Đó là tiếng Thượng, có nghĩa "ấy em". Còn
thì nói rặc tiếng Việt. Hóa ra, em từ sông Mao, Phan Thiết lên đổi vùng. Bà chủ
bắt mạch biết khách yêu hoa hay ham của lạ, đặc sản, nên treo đầu dê, bán thịt
chó. Bà bắt mấy em thay đổi xiêm y, đeo vòng, giả làm sơn nữ Phà Ca câu khách.
Dần dà, thời gian sau, Sơn không tháp tùng với chúng tôi nữa. Cố "nài hoa, ép
liễu" đến mấy, Sơn cũng tìm cớ thối thác. Khi thì lý do này, khi thì lý do nọ.
Ngô Thanh Bạch phán một câu chắc nịch:
- Bây giờ ông Sơn có chị Năm rồi. Ổng đang hợp tác với hãng súc ve chai !
Tập vẽ :
Đến bây giờ, tôi mới biết Sơn còn kiêm thêm tài hội họa và đã nhiều lần cùng các
ông Đinh Cường, Trịnh Cung đem tranh đi triễn lãm khắp nơi. Lúc bấy giờ, Sơn chỉ
ngồi hí hoáy vẽ theo mấy cái hình thiếu nữ mặt nhọn, một mắt. Người ốm tong, dài
thoòng. Hai bàn tay thường kẹp giữa đùi. Hình nào cũng mờ mờ, không rõ nét. Sơn
vẽ theo những hình bìa cuả Đinh Cường. Tôi không có óc thẩm mỹ và "i tờ rít" về
hội họa nên thường phá đám Sơn trong lúc vẽ:
- Ông Sơn nè! Ví dụ như người con gái ông vẽ lâu nay, thình lình hiện ra như
trong chuyện Bích Câu kỳ ngộ, thì ông có lấy làm vợ không?
Sơn đang chăm chú gôm đi vẽ lại, nghe tôi hỏi thế, ngẫn ra mấy giây mới đáp:
- Sao ông lại thô tục thế! Người đẹp trong tranh phải có cái khác người thật
ngoài đời chứ. Nếu cứ phải cho giống thì chụp hình là dễ nhất. Mà đã thế thì còn
đâu là nghệ thuật.
Tôi làm như hiểu ra thế nào là nghệ thuật bèn à lên một tiếng:
- Vậy nghệ thuật, nhất là về hội họa là phải vẻ làm sao cho khác với sự thật, lạ
hơn sự thật, càng quái dị càng hay, đến lúc người xem không thể nào hiểu được
bức tranh ông họa sĩ vẽ cái gì, thì lúc đó ông họa sĩ mới thực có tài và nổi
tiếng?
Nghe tôi dài dòng cái sự "mới hiểu ra" nghệ thuật, Sơn gật gù:
- Gần gần như vậy!
- Thế thì tôi cũng sẽ nổi tiếng! Tôi sẽ vẽ tranh trừu tượng! Tôi hớn hở khoe.
Sơn trợn mắt nhìn tôi:
- Thiệt không cha? Cha mà cũng biết vẽ tranh trừu tượng? Vẽ thử tôi coi!
Tôi cười thầm trong bụng, vì Sơn bị tôi gạt:
- Dễ thôi! Tôi sẽ treo một khung tranh trống không. Nếu có ai hỏi, tôi sẽ nói:
Đó là bức tranh tôi vẽ đàn bò đang ăn cỏ theo phái trừu tượng. Nếu còn thắc mắc:
Đàn bò đâu? Tôi sẽ nói: Đàn bò ăn hết cỏ rồi, nó đi chỗ khác, chớ còn đứng đó
làm chi!
Đến đây, Sơn chợt hiểu, cười phá lên, hỏi tôi:
- Ông đào ở đâu ra những chuyện tiếu như vậy?
- Thiếu khối gì! Cứ hỏi ông Đặng Trần Huân khắc biết.
Sơn không biết ông Huân là ai !
Chưa Có Lần Nào Hát Hay Như Thế !
Trong những ngày chủ nhật mưa dầm gió bấc, đất nhão, đường trơn, chúng tôi quây
quần, có khi nhậu rượu đế với khô sặc của Trần văn Nghị đem từ quê miền Nam lên,
có khi nhâm nhi cà phê làm một màn văn nghệ bỏ túi. Nhân vật chính vẫn là Trịnh
Công Sơn. Anh đánh đàn, hát. Thỉnh thoảng có bài nào hợp với sáo thì tôi mang
sáo ra phụ họa. Anh em cũng luân phiên mỗi người làm vài ba câu, một bản. Tuy
nhiên, Sơn vẫn luôn được yêu cầu anh hát chính các nhạc phẩm của anh. Giọng Sơn
không trong, không trầm. Một giọng đặc biệt, nhẹ, quyến rũ, truyền cảm, không
hay nhưng cảm được người nghe. Anh hát những bài mới làm tại đây như "Chiều một
mình qua phố", "Lời buồn thánh", "Vết lăn trầm", "Tiếng hát Dạ Lan" tức "Dấu
chân địa đàng" Chúng tôi lặng người ngồi nghe. Không gian yên tĩnh. Thời gian
ngừng lại. Ngoài trời mưa vẫn rì rào từng cơn. Không một tiếng vỗ tay, khi Sơn
ngừng hát. Chúng tôi sợ tiếng động làm tan biến cái không khí đang quánh đặc lại
bởi tiếng hát của Sơn và hồn chúng tôi thành một. Sơn nhẹ nhàng buông đàn. Đôi
mắt mơ màng sau đôi kính cận.
Nhưng có một lần Sơn hát hay nhất, xuất thần nhất, tôi không thể nào có dịp nghe
lại lần thứ hai. Đó là đêm ở quán cà phê bi da Ngọc Trang. Chiều thứ bảy, sau
chầu đãi cơm chiều mà phe Bạch Tín thua tơi bời hoa lá, hai chàng nhất định phục
thù cho sáng mai một chầu ăn sáng, có cả phở lẫn cà phê. Tôi vẫn cứ chức trọng
tài, hưởng sái. Mãi mê chơi, chúng tôi quên cả thời gian. Chín giờ điện cúp, mà
vẫn chưa kết thúc trận final 50 điểm. Nài nỉ chủ quán thắp đèn cầy chơi tiếp.
Hai chị em chủ quán đều tên Trang, nể vì mấy ông giáo nên cũng chiều lòng, đốt
lên mấy ngọn đèn sáp. Xong, để mặc chúng tôi, hai chị em ôm đàn ngồi hát nho nhỏ
trong một góc tối.
Đang đắc ý với điểm vừa thắng quá dễ dàng trong vị thế hai trái bi mắt kính, Tín
chợt dừng lại, chống cơ, đột ngột lên tiếng:
- -i giời! Rõ là múa rìu qua mắt thợ! Đánh trống trước cửa nhà sấm. Hai em ơi!
ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đang đứng lù lù một đống đây này, mà hai em lại hát
"Diễm Xưa" với Diễm nay thì có chết không cơ chứ!
Hai chị em như chạm phải điện, bật đứng dậy, hấp tấp đua nhau nói:
- Thật hả? Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thật hả? Sao lâu nay chúng em không biết ?
Cũng Tín, cướp lời trước khi Sơn đáp:
- Ấy! Tại các em vô tình thôi! Ngày nào ông chẳng có mặt ở đây.
Cô chị phân bua:
- Mấy em chỉ nghe các bạn hát nhạc của ông Sơn, thấy hay thì bắt chước chớ có
bao giờ biết mặt đâu. Không ngờ lại được hân hạnh gặp ở đây!
Tín gạ gẫm:
- Bây giờ các em có muốn nghe chính nhạc sĩ hát không nào?
- Dạ rất muốn, nhưng chỉ sợ ông Sơn không chịu!
Bạch đề nghị:
- Nếu muốn thì hai cô phải chịu hai điều kiện.
- Xin anh cho biết hai điều kiện gì? Một cô hỏi.
Bạch tiếp tục đưa đề nghị:
- Thứ nhất không tính tiền ván bi da này. Thứ hai đãi một chầu cà phê đặc biệt.
Chịu không?
Hai cô cười rất tươi:
- Vâng được ạ! Tưởng gì khó khăn chứ hai điều ấy đối với chúng em rất dễ dàng .
Thế là chúng tôi đi rửa tay, vào bàn ngồi chờ cà phê. Tâm mập cứ tủm tỉm cười
một mình. Hai chị em cô Trang hình như xuýt xoát tuổi nhau. Dáng người dong
dõng, chân dài. Không đẹp nhưng rất có duyên, ưa nhìn. Khi hai cô chuẩn bị ly,
tách để pha cà phê chúng tôi mới có dịp ngắm kỹ hơn. Cô chị có mái tóc dài óng
ả, buông lơi xuống tận lưng. Hai bàn tay trắng mịn màng. Những ngón tay búp măng
thuôn dài. Cô em kiểu tóc ngắn Demi Garcon, dáng trẻ trung, khỏe mạnh. Khi những
giọt cà phê bắt đầu rơi xuống, hai chị em vào bàn chung với chúng tôi. Bạch hối:
- Đem đàn ra cho nhạc sĩ chớ!
Hai chị em mới sực nhớ ra cây đàn vẫn còn dựng trong góc quầy. Cô em nhanh nhẹn
vào lấy đàn đưa cho Sơn và nói:
- Mời nhạc sĩ!
Bây giờ Tâm mới mở miệng:
- Đừng gọi nhạc sĩ! Anh ấy mắc cỡ. Các em hãy gọi là anh Sơn cho thân.
Quay sang chúng tôi, anh nháy mắt:
- Phải không các ông ?
- Phải! Phải! Đúng vậy! Chúng tôi nhao nhao biểu đồng tình.
Sơn lặng lẽ so dây dàn. Tín gây không khí:
- Ông Sơn nói với các em gái vài tiếng chứ! Các em đang chờ đấy!
- Vâng! Phải đấy ạ! Chúng em đang chờ! Nhưng mời các anh dùng cà phê trước đã.
Sơn nói nhỏ nhẹ:
- Cám ơn các cô! Cám ơn thịnh tình các cô dành cho tôi!
Sơn gốc Huế, nhưng ít khi nói "mô, tê, răng, rứa" với chúng tôi. Nhất là không
bao giờ "tau, mi" như những anh "trọ trẹ" khác. Sơn nói tiếng Bắc chuẩn, nhẹ,
không nặng trịch như những ông Bắc xưng là dân "Hà Lội" chính cống.
Cô Trang chị náo nức:
- Anh Sơn bắt đầu đi! Cho chúng em thưởng thức đi!
Bạch đế thêm:
- Phải! Ông cho các em thưởng thức đi!
Cô Trang em, nguýt một cái dài đuôi con mắt, ngụ ý hiểu câu nói hai nghĩa của
Bạch. Sơn hắng giọng. Bắt đầu dạo đàn. Tiếng đàn theo giai điệu Blue, nhẹ nhàng,
rơi từng tiếng một. Sơn hát bản "Ướt mi" đầu tiên. Vừa dứt, tiếng vỗ tay nho nhỏ
của hai cô (đêm khuya không dám vỗ lớn) vang lên ròn rã kèm theo những tiếng
xuýt xoa:
- Hay quá! Hay quá! Hát thêm bài nữa đi anh Sơn!
Sơn hát tiếp bài "Thương một người". Rồi trong lúc cao hứng, anh hát luôn hai
bài nữa là "Dấu chân địa đàng" và "Diễm xưa". Trong lúc say sưa hát, mắt Sơn
nhìn vào khoảng không, thả hồn vào lời ca tiếng nhạc. Chúng tôi cũng say sưa
lắng nghe. Trong lúc xuất thần, hình như Sơn quên hết sự vật quanh mình, chỉ còn
có âm thanh. Trong cái tĩnh mịch về khuya, dưới ánh sáng lung linh của những
ngọn bạch lạp, bóng người chập chờn trên vách, tiếng hát Sơn vang lên, lúc bổng
cao, lúc chùng xuống, lúc kể lể, thở than, khiến chúng tôi lịm đi trong ngất
ngây cảm xúc. Chúng tôi đã từng nghe Sơn hát nhiều lần, nhưng đây là lần Sơn hát
hay nhất. Phải chăng là do cái không khí huyền ảo đêm đó cộng với sự có mặt của
hai giai nhân đã làm cho tiếng hát Sơn trở nên tuyệt vời?
Trên đường về, Tín xóa bàn:
- Hôm nay ông Sơn sướng nhé! Được một lúc hai em chiều chuộng, bốc lên tận mây
xanh. Sướng nhé! Này, hai ván bi hồi chiều kể như huề nhé!
Tâm phản đối :
- Ý! Đâu được. Tốn cả lít mồ hôi mới thắng được mấy cha, bây giờ xóa bàn đâu có
được!
Bạch chen vào cãi:
- Thì lúc nãy ông uống cà phê chùa rồi. Công tôi với ông Tín gạ hai em, ông đâu
có góp tiếng nào. Ông cứ ngồi cười tình, thấy ngứa mắt chết mẹ!
Quay sang tôi, Bạch kiếm đồng minh:
- Phải không ông trọng tài?
Phải!!! Lần này tôi được quyền phân xử một cách công minh, chính trực, không
phải hổ thẹn với lương tâm. Bởi tôi cũng đã uống ké cà phê chùa và nghe hát miễn
phí. Tôi dõng dạc tuyên bố:
- Ông Tín, ông Bạch đúng. Trên nguyên tắc, phe Tâm Sơn thắng. Trên thực tế, phe
Tín Bạch đã trả nợ xong. Đêm nay huề. Ngày mai bắt đầu lại từ đầu.
Sơn không tranh cải, vừa đi vừa huýt sáo. Sơn đang vui.
Uy Vũ Bất Năng Khuất !
Cứ mỗi đầu tháng, sáng thứ hai tuần lễ đầu tiên, toàn thể quân, cán, chính trong
Tỉnh đều tề tựu đông đủ tại Hội trường Nông-Lâm-Súc để họp hội nghị, gọi là "Hội
thuyết giáo khoa" (?). Mục đích là để nhân viên, cán bộ các ban, ngành có dịp
gặp gỡ, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, dưới quyền chủ tọa của Đại tá
Bách, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Lâm Đồng.
Lần nào cũng như lần nào. Buổi hội thảo cứ đều đặn, lập đi lập lại một cách máy
móc. Các trưởng ty lần lượt lên bục đọc báo cáo thành quả của Ty mình. Vỗ tay.
Nêu ý kiến thắc mắc, giải đáp. Không ý kiến. Thông qua. Cứ như vậy, hết Ty này
đến Ty khác. Trong lúc các ông Trưởng ty áo vest, cà vạt lên sân khấu trịnh
trọng đọc báo cáo, thì cái đám nhân viên ngồi dưới đâu có để tâm lắng tai nghe
những lời vàng ngọc mà vận dụng hết nhãn quan để liếc dọc, nhìn xuôi kiếm tìm
người đẹp. Bên phía giáo dục rọi đèn pha qua đám nữ thư ký hành chánh. Ngược lại
đám nhân viên tòa Tỉnh chiếu hồ quang qua đám mỹ nhân giáo chức. Người ta không
thể nghe được những gì các ông thầm thì với nhau. Nhưng cứ nhìn cái cung cách
những cái đầu của các ông chụm lại, rồi ngước lên, miệng cười nham nhở, người ta
cũng đoán biết được 99% những gì trong đầu các ông vừa trao đổi. Còn các bà, các
cô thì sao? Đây là cơ hội cho quí bà, quí cô tha hồ dùng thì giờ hành chánh đan
aó len thoải mái. Bà nào cũng lôi trong giỏ xách ra một cuộn len và đôi que đan.
Mắt thì nhìn lên sân khấu ra vẻ rất chăm chú theo dõi lời vàng, tiếng ngọc của
thuyết trình viên. Nhưng hai tay thì đan lia lịa. Hai que đan lên xuống nhanh
như cái máy. Nhờ vậy thời gian mới trôi qua mau.
Nghỉ giải lao. Họp tiếp. Tỉnh trưởng ban chỉ thị. Ban tổ chức ngõ lời cảm tạ.
Buổi hội thuyết thành công mỹ mãn. Tiếng vỗ tay rần rần. Ai nấy đều cố tạo vẻ hả
hê, tỏ ra mình vừa mới được học hỏi thêm nhiều điều mới lạ, hửu ích. Hân hoan ra
về.
Có điều bên cánh giáo dục rất bực bội cho là luôn bị chèn ép, ăn hiếp. Chẳng là,
cứ nửa buổi nghỉ giải lao, lại có màn văn nghệ giúp vui. Thành phần giúp vui
luôn "ưu aí" cho Ty giáo dục. Tội nghiệp cho các cô cứ phải lên hát, múa làm
trò...
Cái này thành lệ lâu lắm rồi, từ thời ông Trương Cảnh Ngôn làm Ty trưởng. Lý do
được nêu ra để đùn việc là bên giáo dục đông nhân viên, nhất là nữ. Nhân tài
nhiều gồm đủ cả thơ, nhạc, văn nghệ, văn gừng... Đến đời ông Lê Cao Lợi phải è
cổ ra gánh tiếp, đâu có lý do gì từ chối. Mà đó là chuyện nhỏ nhặt, cãi lại,
mích lòng ông Tỉnh trưởng có mà dại! Cái đám giáo học bổ túc chúng tôi nhất định
không tham gia ba cái vụ đó. Mặc dầu ông Lợi có kêu gọi tăng cường nhân sự cho
chương trình thêm mới lạ và hấp dẫn. Mấy tháng sau khi chúng tôi được đổi tới,
bữa "Hội thuyết giáo khoa", gần đến giờ văn nghệ giải lao, ông Tỉnh trưởng gọi
ông Lợi đến kề tai nói nhỏ điều gì, thấy ông Lợi gật đầu lia liạ. Ông Lợi đi
thẳng đến đám chúng tôi, đến trước mặt Trịnh công Sơn. Sơn đang phì phà ống vố.
Ông Lợi có vẻ hân hoan:
- Này anh Sơn! Ông Tỉnh trưởng nghe tiếng anh, ông rất hâm mộ. Ông nhờ tôi yêu
cầu anh lên giúp vui vài tiết mục. Tôi nhận lời rồi. Hân hạnh lắm nhé!
Bất ngờ Sơn lắc đầu:
- Xin ông vui lòng nói lại với ông Tỉnh trưởng, tôi rất cám ơn nhã ý của ông ấy,
nhưng tôi không thể làm được.
Ông Lợi chưng hửng. Khựng lại vài giây, ông nài nĩ:
- Anh Sơn, anh ráng giúp tôi lần này thôi. Tôi lỡ hứa rồi, nếu không, tôi mất
mặt với ông ấy.
Sơn vẫn nhũn nhặn từ chối. Bất đắc dĩ, ông Lợi phải tới trả lời cho ngài Tỉnh
trưởng sự từ chối của Sơn. Một thoáng cau mày, ông cho gọi ông Trần Thiện Hải,
trưởng phòng hành chánh (thân phụ nhạc sĩ Trần thiện Thanh) chỉ thị đi mời lẫn
nữa. Hai ông cùng đến chỗ Sơn ngồi, khẩn khoản hết lời nhưng Sơn vẫn nhất quyết
từ chối. Không khí Hội trường đột nhiên căng thẳng. Mọi con mắt đều đổ dồn về
phía chúng tôi, hiện rõ nét chờ đợi và lo âu. Chúng tôi đâm ra chột dạ lo ngại
cho Sơn. Ở một tỉnh lẻ, Tỉnh trưởng là vua một cõi. Ai dám trái ý, trái lệnh? Có
mà từ chết đến bị thương! Hồi lâu, hai ông không thuyết phục được Sơn, đành phải
đến trình lại với Tỉnh trưởng. Đại tá Bách khoát tay ra lệnh cho buổi hội thảo
tiếp tục. Từ lúc đó, không khí hội trường trở nên nặng nề cho đến lúc kết thúc.
Buổi trưa, tiếp theo buổi chiều, chúng tôi đặc biệt chiêu đãi Sơn "ê hề, linh
đình". Tại nhà hàng Ngọc Hương, bia Tây cà lồ ngã nghiêng, lăn lóc. Thịt bò lúc
lắc, tái chanh, dĩa nào bưng ra cũng hết sạch. Chúng tôi sung sướng, cười nói hả
hê. Chúng tôi tung hê Sơn như một kẻ thắng trận anh dũng. Sơn đã gột bỏ dùm
chúng tôi mặc cảm bị ăn hiếp chất chứa bấy lâu trong lòng.
Bạch phát biểu:
- Ông Sơn ngon! Tôi phục ông! "Dô" với tôi một cái "chăm phần chăm" đi ông!
Tín cười hềnh hệch khoe khoang:
- Đã bảo mà! Tín này mà lăng xê ai thì phải biết! Mấy cụ chưa biết cái vụ hai em
bé cà phê Ngọc Trang mê tít thò lò ông Sơn nhà mình đâu nhá. Cũng một tay Tín
này đấy! Nào chúng ta cùng với ông Sơn "vít đê" (*) cối này nhé !
Mọi người đồng hưởng ứng:
- Dô...dô... Tín ngữa cổ, tu một hơi hết sạch ly cối bia đầy tràn. Sơn cũng rất
vui vẻ. Hết ly này đến ly khác. Lúc cụng người này, lúc cụng người kia. Ly nào
cũng trăm phần trăm. Anh càng uống mặt càng tái, càng tỉnh. Ông trùm Lãng cẩn
thận, cảnh giác, vẫn giọng hơi cà:
- Này! này! Tôi lưu ý mấy ông nhé! Đặc... đặc biệt là ông Sơn! Nó sẽ tìm cách
trả thù mình đấy!
Nghị, tính cộc, nóng nảy:
- Sợ đếch gì! Nó làm chó gì mình? Không dạy chỗ này thì dạy chỗ khác! Nó sa thải
mình được à?
Lãng vẫn dè chừng:
- Ừ! Rồi mấy ông chờ xem! Tớ ở đây đã bảy năm rồi. Hồi đó, tớ đâu có mang theo
cái tủ lạnh này (sốt rét). Tại tớ bướng, nó đày tớ vào vào trong núi năm năm
đấy.
Chúng tôi nghe nói cũng giật mình lo cho Sơn trong những ngày sắp tới. Nhưng đại
tá Bách đã không làm điều đó. Sơn vẫn vô sự. Cả ông Lê Cao Lợi cũng không làm
điều đó, mặc dù Sơn đã làm ông mất mặt lòng tự ái của ông bị tổn thương nặng.
Sau này, Sơn còn lạm dụng lòng tốt của ông, bỏ mặc trường lớp, học trò cho ông
già Thống, lên Đà Lạt ở cả tháng trời. Sẽ kể ở đoạn sau. Riêng tôi, với thái độ
Sơn làm sáng nay, tôi cho đó là một hành động can đảm, khí tiết của một nhà
giáo, ít ai làm được hoặc dám làm, kể cả tôi, nếu lâm vào trường hợp đó.
Tôi thật sự khâm phục Sơn và hiểu được thế nào là ý nghĩa của câu "uy vũ bất
năng khuất .
(*) Vider: Tiếng Pháp, làm cạn
Xuất Xứ Vài Nhạc Phẩm ;Những Mối Tình; Một Thoáng Mây Bay :
Ngoài những nhạc phẩm như Biển Nhớ ;Nhìn Những Mùa Thu Đi;Dã Tràng Ca...
Sơn sáng tác ở Qui Nhơn năm 62-64;Chiều Một Mình Qua Phố;Lời Buồn Thánh;Vết Lăn Trầm ... Sơn sáng tác tại Bảo Lộc,
tôi biết rõ thời gian và hoàn cảnh
tạo nên, tôi còn được biết thêm xuất xứ một vài nhạc phẩm khá hay liên quan đến
những mối tình mà anh gọi là Một Thoáng Mây Bay do anh kể lại. Những chuyện
này được kể nay một ít, mai một ít, trong những ngày mưa gió ủ ê, sụt sùi, dai
dẳng. Hai anh em chúng tôi đem đàn sáo ra hòa điệu. Rồi cũng chán. Lại cà phê
thuốc lá. Khói thuốc mù trời, mờ khung cửa sổ. Thường tôi khơi mào:
- Buồn qua! Kể chuyện nghe chơi ông Sơn!
Tôi thích nghe Sơn kể chuyện. Anh kể chuyện có duyên và hấp dẫn. Bất cứ chuyện
gì qua Sơn kể đều trở nên hay và dí dõm. Anh vừa nói vừa ra điệu bộ làm cho câu
chuyện sống động và lôi cuốn người nghe từ đầu đến cuối. Như chuyện anh Tây già
bụng bự chẳng hạn. Tôi mà kể chắc vô duyên và lạt nhách. Nhưng nhìn Sơn vụt đứng
dậy, lui một bước, hai tay đấm vào nhau, miệng nói "Hay...xì" rồi trở về chỗ
ngồi cũ, mặt tỉnh bơ, không một nhếch mép, chúng tôi cười bò lăn. Khi mọi người
dứt cười, anh mới cười.
Từ Ướt Mi đến Thương Một Người và Ca Sĩ Thanh Thúy
Thuở còn trọ học ở Sài Gòn, năm đó tôi mười bảy tuổi -Sơn kể- đêm nào tôi cũng
lò dò đến phòng trà ca nhạc để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy
đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa
hẵn. Vì tôi nhỏ tuổi hơn, lại nhiều mặc cảm nghèo và vô danh. Trong khi đó Thanh
Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không
thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền
để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước là
phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng.
Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc "Ướt Mi" đầu tiên trong đời. Khi
hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có
dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà
phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát bục sân
khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần
định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán thính giả là đã có người chực
sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi
cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi
một chút rồi quay gót về hậu trường. Đêm đó tôi nôn nao không ngủ được. Trong
lòng nổi dậy biết bao là mộng mơ, thắc mắc. Những câu hỏi cứ hiện ra trong đầu,
nhưng tôi không dám trả lời dễ dàng cho mình thỏa mãn. Nhưng câu hỏi cứ trở đi,
trở lại trong tôi là: - Liệu nàng có để ý gì đến bản nhạc mà tôi đã thao thức
bao đêm để làm nên vì nàng không? Hay nàng chỉ khách sáo cầm hờ rồi vứt bỏ nó ở
đâu đó! Vứt đi! Tim tôi đau nhói khi nghĩ đến hai chữ ấy.
Suốt gần một tuần, tôi hồi hộp theo dõi nàng mỗi đêm, đón từng ánh mắt nàng nhìn
xuống khán giả thử xem nàng có dừng lại nơi tôi không, để tôi hy vọng. Nhưng
không, vẫn như mọi lần. Một cái nhìn chung để gây cảm tình chung. Mãi đến hai
tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mõi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước
lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho ban nhạc tạm im tiếng
cho nàng nói vài lời.
- Thưa quí vị! - Nàng bắt đầu nói và tôi hồi hộp chờ đợi.- Đêm nay Thúy sẽ trình
bày một tác phẩm mới của một nhạc sĩ rất lạ, tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm "Ướt
Mi" của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng rằng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác
giả để Thúy được nói vài lời cám ơn.
Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu.
Nàng cất tiếng hát. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động. Khi dứt
tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm,
bước tới bục, ngước lên và nói:
- Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi.
Nàng a lên một tiếng ra vẽ bất ngờ rồi nói tiếp:
- Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh
được không?
Tôi luống cuống gật đầu. Lúc ấy tôi sung sướng quá, hạnh phúc quá nên không tìm
ra được lời nào để đáp lại. Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu
trong một ngõ hẽm. Căn nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi: tủ lạnh, quạt máy. Mọi
vật dụng trong nhà đều sang trọng, đắt tiền. Tối hôm ấy nàng cùng tôi nói đủ thứ
chuyện. Tôi không còn nhớ chuyện gì ra chuyện gì. Tôi kể cho nàng nghe hoàn cảnh
của tôi từ Huế vào trọ học. Nàng kể cho tôi nghe cuộc đời nàng từ Phan Thiết lớn
lên... Sau cùng nàng đề nghị tôi dọn về ở chung, nàng sẽ giúp tôi ăn học. Tôi
sung sướng nhận lời. Bắt đầu từ đó, tôi ở hẵn nhà nàng và chú tâm học hành không
phải lo sinh kế nữa. (Sơn không kể trước đó đã làm nghề gì có tiền ăn học). Thời
gian sau tôi sáng tác thêm một bản nữa để tặng nàng và kín đáo bày tỏ cảm tình
của mình. Đó là bản "Thương Một Người".
Đến đây tôi sốt ruột, dục:
- Theo ông kể nãy giờ thì tôi đoán nhanh rằng, ông với bà Thúy sẽ rất hạnh phúc
với mối tình lãng mạn đầy thơ mộng với một bầy nhóc con, chớ đâu phải đêm đêm
nằm đây với tôi nghe ếch, nhái, ễnh ương kêu!
Giọng Sơn vẫn trầm trầm, đều đều:
- Ông đừng sốt ruột đoán mò. Sắp đến đoạn chót rồi! Trong thời gian ở đó -Sơn
tiếp- tôi nhận ra rằng Thúy đã ân cần giúp đỡ tôi chỉ bằng sự tốt bụng và thương
hại mà thôi. Tôi muốn từ bỏ, ra đi nhưng chưa có dịp. Nàng bận rộn suốt ngày.
Hết người này đến tập hát, người nọ mời đi nhà hàng. Toàn những ông tai to mặt
lớn. Rất ít khi nàng ở nhà lâu vài tiếng đồng hồ. Một hôm, vừa về đến nhà, nàng
rất vui vẻ nói với tôi:
- Sơn nè! Tuần tới có buổi dạ vũ lớn lắm do ông X tổ chức, sẽ có đầy đủ các ông
các bà có thế lực lớn tham dự. Thúy có được một vé cho Sơn đây. Ngày đó đi với
Thúy cho vui nhé!
Tôi phân vân, lo lắng cho Thúy biết là tôi không có bộ đồ nào coi được để mặc đi
bên cạnh nàng. Thúy cười ngất và bảo tôi đừng lo. Nàng dẫn tôi ra hiệu may đặt
cho tôi một bộ "Smoking". Đến ngày thử áo tôi suy nghĩ nhiều: Có nên dự hay
không? Tôi có nên tiếp tục ở đây nữa hay không? Khi đem bộ Smoking về để trên
giường, tôi ngắm nhìn nó và lòng đã quyết định: Phải ra đi! Năm gìờ chiều hôm
đó, tôi viết một bức thư ngắn cám ơn Thúy đã dành cho tôi sự ưu ái, giúp đỡ
trong thời gian qua. Cài bức thư trên bộ áo, tôi xách va li ra xích lô, giã từ
căn nhà của Thúy, không bao giờ quay trở lại nữa.
Sơn rít một hơi dài ống vố, ngữa mặt lên trần nhà từ từ nhả khói, chấm dứt câu
chuyện. Tôi nghe tiếng ống vố gõ nhè nhẹ xuống mặt bàn cọc...cọc...cọc...đều
đều, buồn như tiếng thạch sùng tắc lưỡi trong đêm.
Ca Sĩ Kim Vui Người Mẫu Có Hàm Răng Đẹp Quảng Cáo Hãng Kem Đánh Răng Leyna
Kem Trắng Chỉ Hồng
Sơn không chịu kể gì về mối liên hệ giữa mình với cô ca sĩ Kim Vui. Gặng hỏi,
cũng chỉ cười và nói - Bạn thôi- Tôi không tin. Tôi nghĩ là Sơn không muốn tiết
lộ vì một lý do nào đó.
Trước Giáng Sinh năm 1964 mấy ngày, Sơn nhận được một gói quà khá lớn từ Sài Gòn
gửi lên qua đường bưu điện. Tình cờ hôm đó chúng tôi có mặt đông đủ để bàn về
các tiết mục vui chơi trong những ngày Noel sắp tới. Khi Sơn ôm gói quà quà về,
nét mặt vui vẻ lắm. Chúng tôi tò mò muốn coi thử cái gì bên trong và do ai gửi
nên hối Sơn mau mau mở ra xem.
Gói quà được bao bọc cẩn thận nhiều lớp giấy bên ngoài. Lớp trong cùng là một
hộp bằng "cạc tông" bọc giấy hoa. Ở chéo góc phải có thắt một cái nơ màu đỏ.
Trên mặt hộp viết hàng chữ "Thân gửi anh Sơn" phía dưới là hai chữ "Kim Vui".
Chúng tôi ồ lên một lượt: Kim Vui! Có phải Kim Vui là cô ca sĩ có hàm răng
trắng, đẹp làm mẫu quảng cáo cho hãng kem đánh răng "Leyna" kem trắng, chỉ hồng
đó không? Sơn gật đầu xác nhận. Sơn bắt đầu lấy dao rọc giấy, cẩn thận rọc tờ
giấy hoa, bên trong lộ ra một hộp màu nhủ vàng, to cở cuốn vở học trò, dày hơn
hai lóng tay. Sơn dừng lại, ngắm nghía. Xoay dọc, xoay ngang, ý chừng đang đoán
thử cái gì bên trong. Tín sốt ruột, dục:
- Mở mẹ nó ra xem thì biết ngay nó là cái gì! Oản tù tì ra cái gì ra cái này cho
xong! Ỡm ờ mãi! Gớm!
Đạo cản lại:
- Ơ! Hay nhỉ! Cái ông Tín nhà này hay nhỉ! Của người ta mà ông làm như của ông
không bằng!
Tín trả đủa tức khắc:
- Lại cái ông Đạo Sữa rồi! Sao ông cứ hay lái xe rác vào mồm em thế!
Nói xong, Tín cười hăng hắc. Cuối cùng thì cái hộp cũng được mở ra. Đó là một
hộp "sô cô la". Từng thỏi, từng thỏi màu nâu đậm, thơm ngát nằm ngay ngắn trên
lớp xốp mềm, trắng tinh, khêu gợi và kích thích. Tín vỗ tay, giả giọng Bắc
ngọng:
- Hay quá! Thế nà "Lô En" lày chúng em có "Sô cô na" ăn dzồi!!!
Bạch góp ý đề nghị:
- Ông Sơn! Chia mỗi người một miếng, ăn và uống với nước trà Đỗ Hữu ướp sói là
số dzách!
Sơn gạt phăng:
- Thôi mấy cha! Không có ăn uống gì hết. Tôi cất làm kỷ niệm! Cha nào đụng vô là
tôi quyết bảo vệ như bảo vệ Phật pháp đó nghe!
Nghe Sơn nói, anh nào cũng tiu nghĩu, cụt hứng. Sơn đã nói thật và làm thật. Anh
nâng niu chiếc hộp một cách trìu mến và đem nó cất vào chiếc vali da. Mỗi tối
anh lại đem nó ra ngắm nghía. Ngoài hộp bánh ra, không một phong thư, không một
dòng chữ nào thêm, ngoài mấy chữ "Thân gửi anh Sơn". Nhìn cách anh trân trọng
nó, chắc chắn nó phải chứa đựng một tâm tình sâu đậm, thắm thiết lắm mà cô ca sĩ
Kim Vui đã kín đáo gói trong đó.
Qua Tết Nguyên Đán, hộp sô cô la đã lên mốc xanh. Sơn xuýt xoa, tiếc lắm. Lấy
giấy bổi lau hết mốc rồi đem cất lại. Một tuần nữa, mốc tràn ra cả ngoài hộp.
Sơn sợ lây lan sang quần áo nên đành đem bỏ.
Mãi về sau, nhiều lần tôi cố gạ gẫm Sơn để biết thêm đôi chút chuyện tình bí ẩn,
nhưng Sơn vẫn không hé nửa lời.
Diễm của Diễm Xưa
Hai chị em, Dao Ánh và Bích Diễm. Sơn bắt đầu câu chuyện. Hai chị em đều đẹp và
quí phái. Tôi theo cô Diễm. Mối tình học trò, có lẽ đơn phương, kéo dài từ khi
tôi còn ở Huế cho đến lúc vào Sài Gòn trọ học. Cha mẹ Diễm khó và không thích
tôi. Nhưng tôi vẫn cứ đeo đuổi hình bóng của Diễm, bởi Diễm cũng chưa có biểu
hiện nào xa lánh tôi và cũng không có lời lẽ cự tuyệt. Năm đó tôi thi trượt Bac
II. Diễm đậu và vào Sài Gòn để vào đại học Văn Khoa. Còn tôi thì về lại Huế, bỏ
ngang việc học vì gia đình đang lâm cảnh sa sút. Phần buồn, phần tự ái, tôi
không còn tìm cách liên lạc với Diễm nữa. Có lẽ vì vậy mà Diễm cũng lơ luôn.
Diễm đâu biết rằng trong thời gian này tôi đau khổ nhất. Tôi đã cố nén mọi khổ
đau trong im lặng. Sự khổ đau và nhớ nhung dày vò tôi từng đêm, tôi đã phải viết
nên bài "Diễm Xưa" để trút bớt nỗi khổ đau trong lòng. Nhưng có điều lạ là khi
tôi viết xong bản nhạc này, tôi lại thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhàng. Tôi
cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi nhớ và tình yêu. Trong lòng tôi bấy giờ chỉ còn
một chút tình mong manh như sương, như khói. Nó không còn nồng nàn, mãnh liệt
nhu trước kia. Một dịp tôi vào Sài Gòn, tìm đến cư xá nơi Diễm đang nội trú với
ý định tặng nàng bản nhạc để làm kỷ niệm một thời tuổi trẻ, rồi thôi. Nhưng
không gặp được Diễm. Tôi nhờ mấy cô bạn gái đang đứng ngoài cổng trao lại dùm.
Khi tôi quay lưng đi được một quãng thì nghe tiếng Diễm từ trên "ban công" gọi
theo:
- Anh Sơn! Anh Sơn! Anh Sơn ơi!
Nhưng tôi không ngoái lại. Tôi cắm đầu đi thẳng. Tiếng gọi tên tôi vẫn còn văng
vẳng sau lưng. Từ ấy đến nay, tôi tự nhủ lòng, sẽ không bao giờ tìm gặp lại Diễm
nữa.
* Những chuyện nầy do Sơn kể lại, tôi không rõ sự thực mấy mươi phần trăm. Hy
vọng những nhân vật còn sống sẽ bổ túc thêm.
Tôn Nữ Bích Khê và Biển Nhớ
Nhóm học sinh NhaTrang khăn gói ra Qui Nhơn học Sư phạm vào khoảng mười mấy
người. Trong đó có cô Tôn nữ Bích Khê. Bích Khê còn hai người em gái nữa: Thuần
Khê và Cẩm Khê. Bích Khê người dáng người nhỏ, tròn lẵn, nước da ngăm ngăm như
màu da của Sơn. Khê thường đánh tóc rối, búi thành một búi ngược ra sau đỉnh
đầu. Mang guốc cao gót hiệu Dakao, đi chân sáo. Đứng xa nhìn dáng Bích Khê đi
trông giống như con sáo nhỏ đang nhảy nhót trong sân. Cái búi tóc nhảy tưng tưng
theo nhịp bước nhún nhảy, người ta có cảm tưởng một lúc nào đó nó sẽ kéo người
chủ té ngữa ra sau. Bích Khê không đẹp. Nhưng có duyên. Càng nhìn lâu càng quyến
rũ. Bích Khê cũng là một trong ba mươi người trong ban hợp xướng. Trong thời
gian tập văn nghệ, Sơn đều vui vẻ, thân ái với mọi người. Mặc dù học chung hai
năm, nhưng tôi không biết rõ chuyện tình cảm giữa Sơn và Khê bằng ông Đinh
Cường. Hầu như ngày nào cũng có rất nhiều cô đến nhà trọ của Sơn. Sau khi bài
"Biển Nhớ" được sáng tác và đưa vào chương trình tập dượt thì giáo sinh mới để ý
tới Bích Khê vì câu "trời cao níu bước sơn khê". Bàn tán là vì không biết Sơn vô
tình hay dụng ý ghép hai tên Sơn và Khê vào trong để nói lên tình cảm của mình?
Bản "Nhìn Những Mùa Thu Đi" cũng trong trường hợp tương tự. Trong lớp tôi đã có
ba Thu rồi. Các lớp khác chí ít cũng có một hay hai Thu nữa. Nếu cứ suy luận
kiểu của ông Đinh Cường thì không biết Thu nào đã yêu Sơn và ngược lại.
Mãn khóa, chia tay. Bận rộn, không ai có thì giờ để ý đến ai. Chăm chú, hồi hộp
đợi danh sách bổ nhiệm, xem cuộc đời đưa đẩy số phận mình tới phương trời nào.
Lúc chung sống với Sơn, có lần tôi hỏi Sơn về chuyện Bích Khê như anh em đã đồn
đoán. Sơn cười và cho biết giữa Sơn và Khê cũng như các bạn gái khác chỉ là tình
bạn học và văn nghệ. Chữ sơn khê chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp.
Khánh Ly với Tình Ca Trịnh Công Sơn :
Đầu năm 1965, Việt Cộng gia tăng áp lực quân sự, quyết cắt đứt trục lộ giao
thông Sài Gòn Đà Lạt. Đoạn đường từ Định Quán đến đèo Madagui thường xuyên bị
đắp mô. Việt Cộng làm chủ đoạn đường đó từ 5 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau.
Khi sương mù tan dần, đoàn xe Command-Car của Tiểu khu Lâm Đồng chầm chậm đi mở
đường và phá mô thì đoàn xe khách cũng từ từ nối đuôi theo. Đoạn đường ngắn
chừng vài chục cây số mà muốn vượt qua phải mất hơn bốn tiếng đồng hồ. Sở dĩ
Việt Cộng chọn khúc đường này để quấy phá liên tục là vì địa thế hiểm trở của
nó. Đường lên đèo, xuống dốc, quanh co rất ngặt, nằm theo triền núi, một bên là
vách đá dựng, một bên là vực sâu. Chung quanh là rừng nứa, tre, lồ ồ bạt ngàn,
che phủ mịt mùng. Sương mù từng đám dầy đặc là là sát mặt đất suốt ngày, nắng
cũng như mưa. Cách nhau một trăm thước, xe sau không thể nhìn thấy xe trước. Máy
bay thám sát L19 quần đảo trên đầu cũng không tài nào phát hiện được địa điểm
Việt Cộng đang lùa dân vào rừng "học tập" bên dưới. Một lần từ Sài Gòn về, Trịnh
công Sơn được Giải phóng quân "mời" vào "ổ" cùng hàng trăm hành khách khác để
học tập chính sách và đường lối của mặt trận Giải Phóng Miền Nam. Đến tối mịt,
hú vía, mấy "ổng" thả cho về. Sơn kể lại:
- Sợ muốn "teo bu gi" luôn! Đang lúc hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau lên đèo,
qua khỏi cái đèo này là coi như đã đến nhà, thình lình mấy "ổng" xuất hiện,
ngoắc tay, ra hiệu cho xe ngừng lại. Mọi người trong xe đều kêu lên nho nhỏ:-
Chết rồi! Việt Cộng chận đường rồi! Làm sao bây giờ? Người nọ hỏi người kia.
Không có câu trả lời. Việt Cộng chỉ có sáu người. Họ đi dép râu, mũ tai bèo, mặc
bà ba đen. Vai mang súng CKC hoặc Garant M1. Quanh thắt lưng đeo lũng lẵng mấy
trái lựu đạn trông giống cái chày đâm tiêu. Người nào cũng ốm đói, nước da vàng
ủng. Họ dẫn đám người đi quanh co dưới rừng nứa dầy bịt, âm u. Ánh mặt trời
thỉnh thoảng loé vài tia, xoi thủng cái không gian đặc sệt im lặng và lạnh lẽo.
Hơn nửa cây số, Sơn đoán chừng, tất cả dừng lại dưới một vòm cây đã được phát
dọn hết các gốc tre nứa. Tất cả ngồi bệt xuống đất để nghe một người trong bọn
họ giảng giải về chủ trương, chính sách MTGPMN. Đang thao thao nửa chừng, bỗng
tên nọ dừng lại và săm săm đi thẳng đến tôi, đưa tay giật phăng cái mắt kiếng.
Tôi điếng hồn nghĩ thầm, chắc mình có gì đặc biệt nên nó chú ý chăng! Nhưng sau
đó, thấy ai mang kính cũng đều bị giật xuống hết, tôi mới hoàn hồn. Tên giảng
bài nói - Khi đang học tập, các "đồng chí" không được phép đeo kiếng. Đeo kiếng
là tỏ thái độ không nghiêm túc, coi thường các tài liệu và các nghị quyết trên
đưa xuống, nhất là coi thường chính trị viên! - Không một ai dám ho he. -Thế là
các "đồng chí" đã mau chóng tiếp thu các chính sách, đường lối cách mạng. Thế là
tốt. Vẫn một mình hắn nói. Vừa hỏi, vừa trả lời. Tiếp tục, không cần cầm tài
liệu, tên chính trị viên nói liên tục, thao thao như nước chảy, không ngưng
nghỉ. Đám chúng tôi phần sợ, phần lạnh và đói run, lại còn lo âu vì tiếng máy
bay quần trên đầu, lúc gần lúc xa, không biết nó dội bom lúc nào. Trong lúc tên
này giảng thuyết thì những tên khác chia nhau đứng gác rãi rác chung quanh, súng
chỉa lên trời chực bắn. Suốt hai tiếng đồng hồ lâu như hai năm, bài học mới chấm
dứt. - Ta tạm nghỉ- Tên chính trị viên tuyên bố- Hẹn sẽ gặp lại các đồng chí một
ngày gần đây. Thôi các đồng chí về nghỉ khỏe nhé!
Ra được đến đường lộ, leo lên xe, xe lăn bánh, cả tài xế lẫn hành khách mới hú
hồn, thờ phào nhẹ nhõm. Bây giờ mọi người mới cảm thấy mót tiểu. Bác tài xế lên
tiếng: - Tôi bị mấy lần rồi mà vẫn cứ muốn đái trong quần! Mấy ông, mấy bà lần
đầu chắc phải sợ lắm phải không?- Một ông khách đáp giọng chán chường: - -i thời
buổi này, trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết. Mình người dân, một cổ hai tròng.
May mà mấy cha nội cho về chớ giữ chơi vài bữa, nữa tháng thì mình lại càng khổ
với đám cảnh sát, an ninh quân đội phía quốc gia nữa. Tôi nghe đến đó giật mình.
Sơn tiếp- Nếu tôi bị giữ trong đó thì coi như "lúa" rồi !
Từ đó, Sơn đổi tuyến đường Bảo Lộc - Sài Gòn thành Bảo Lộc-Đà Lạt. Từ Đà Lạt,
Sơn tình cờ biết Khánh Ly. Và cũng từ Đà Lạt, Sơn dần dần được nhiều người biết
tiếng hơn. Liên tục ba năm, Khánh Ly đã lăng xê nhạc Trịnh Công Sơn chùa trên
Đài Phát Thanh Đà Lạt. Chồng Khánh Ly là quản đốc đài. Nhưng nhạc Trịnh Công Sơn
và tiếng hát Khánh Ly chỉ được biết trong một môi trường nhỏ hẹp, đóng khung ở
Đà Lạt mà thôi. Mãi đến năm 1967, nhờ thành phần sinh viên thiên tả ở Sài Gòn tổ
chức đưa hai người về hát tại đây mới gây được tiếng vang và ảnh hưởng sâu rộng
trong giới sinh viên, nhất là những tổ chức phản chiến do Huỳnh Tấn Mẫm cầm đầu.
Tuy Bảo Lộc-Đà Lạt rất gần, 72 Km, tôi nhiều lần ghé Đà Lạt du hí ít hôm trước
khi về Nha Trang, tôi vẫn chưa một lần biết mặt
Khánh Ly. Lý do là tôi không thích chui vào mấy cái phòng trà hoặc vũ trường.
Mấy nơi đó không hợp với khẩu vị của tôi. Uống cà phê nghe nhạc, tôi chỉ chọn có
hai nơi là Cà phê Tùng và Cà phê Thủy Tạ. Nhưng tôi biết nhiều về Khánh Ly là
nhờ mỗi lần từ Đà Lạt về, Sơn vui vẻ kể cho tôi nghe những ngày vui chơi ở đó.
Dĩ nhiên, chỉ là những chuyện bình thường như đi ăn, đi nhảy, đi nghe nhạc uống
cà phê hoặc những buổi đi lang thang bàn chuyện văn nghệ... kỳ dư những chuyện
khác như nhiều người đồn đoán tôi không nghe Sơn kể.
Một lần, mới lên Đà Lạt có một hôm, Sơn hớt hãi chạy về, nét mặt còn hốt hoảng.
Tôi hỏi :
- Chuyện gì vậy ông? Việt Cộng giật mìn sập cầu Đại Nga hả? (Cây cầu này gần
Tùng Nghĩa ranh giới Tuyên Đức-Lâm Đồng)
- Sập cầu thì ai nói làm gì! Tôi suýt chết ông ạ!
- Ủa! Đoạn đường từ đây lên Đà Lạt có một tiểu đoàn Biệt Động Quân giữ an ninh
mà Việt Cộng còn dám ra đón đường nữa sao?
- Không! Không phải là Việt Cộng! Để từ từ tôi kể cho ông nghe!
Sơn châm một điếu Bastos xanh, rít một hơi dài xong bắt đầu thong thả kể:
-Thường thường tôi lên trển, ở nhà người bạn (Có lẽ căn phòng Đinh Cường thuê để
vẽ chăng? Không nghe Sơn nói đến). Đến tối mới cùng Khánh Ly, sau khi hát ở
phòng trà ra, cùng nhau đi ăn, đi nhảy. Có lúc lang thang quanh bờ hồ nói chuyện
trên trời dưới đất đến khuya mới chịu về. Khánh Ly có nếp sống phóng khoáng như
Tây. Nhiều lần có những cử chỉ thân mật quá tôi cũng đâm ngại. Tôi có lần tỏ ý
ấy thì Khánh Ly gạt ngang:
- Anh Sơn đừng ngại! Mai với chồng sống rất tự do, khoáng đạt. Anh ấy hiểu Mai
mà! Không có gì đâu! Nghe thế tôi cũng yên tâm. Lâu dần không còn để ý nữa.
Chồng Khánh Ly là Đại úy Quang, quản đốc đài phát thanh Đà Lạt. Nhờ Khánh Ly nói
giúp nên đã "lăng xê" nhạc của tôi lên đài. Lần này, trước mặt chồng mà Khánh Ly
quàng vai tôi, vừa kéo đi, vừa quay lại bảo chồng:
- Tối nay "moa" với Sơn đi chơi về nếu trễ, "toa" ở nhà trông con và đi ngủ,
đừng đợi nhé!
Tối hôm đó đang nhảy, có người báo, chồng Khánh Ly xách súng tìm tôi. Hoảng quá,
tôi vọt ngõ sau, đến nhà một người bạn khác ngủ. Sáng sớm ra lấy vé xe về đây
gấp.
Sau lần "Vertigo" toát mồ hôi lạnh đó, Sơn nằm lì ở Bảo Lộc cả tháng không đi
Sài Gòn và Đà Lạt nữa. Một hôm Sơn nhận được thư của Khánh Ly nhắn lên. Đọc thư
xong, Sơn rất mừng và cho tôi biết mọi việc đã êm. Khánh Ly đã dàn xếp gia đình.
Chồng Khánh Ly hiểu lầm mà thôi. Sơn lại tiếp tục lên Đà Lạt đóng đô dài dài.
Nhưng dạo sau, mỗi lần đi chơi đều có mặt Quang, chồng Khánh Ly đi cùng .
Vẫn Ông Già Thống :
Nếu cứ trưa thứ sáu Sơn "dọt", sáng thứ hai về thì cuộc đời rất phẳng lặng không
có gì để nói. Đằng này Sơn không có thói quen đều đặn về giờ giấc. Thời gian của
Sơn chậm lại, có khi trễ từ 24 tiếng đến 48 tiếng đồng hồ mỗi tuần là thường. Cứ
mỗi lần trễ như vậy, tôi lại nghe tiếng xe gắn máy cũ kỹ của ông già Thống chạy
xành xạch vô ngõ. Những bận như thế, sau khi ca cẩm, than thở một lúc, ông lại
nhờ tôi nói hộ với thầy Sơn, đừng đi lâu quá, khổ cho thân già ông. Có lần tôi
phát cáu, gắt lại ông:
- Bác Thống này! Bác nhờ tôi nói hộ. Tôi đã nói với ông Sơn y như lời bác. Cớ
sao khi gặp ông Sơn bác lại bảo không có gì, chuyện nhỏ mà! Thầy có công việc cứ
đi, để lớp tôi trông cho. Ông Sơn lại cự nự tôi cho tôi đặt chuyện.
Đang lúc bực, tôi tuôn một hơi dài. Nhưng khi nhìn cái miệng méo xệch bị trúng
phong từ lâu thành tật của ông cố phân bua:
- Thầy nghĩ xem! Ông ấy là "sếp" của tôi mà! Khó cho tôi nói quá!
Lòng tôi lại chùng xuống, bất nhẫn với mình, và cảm thông cho ông.
Dạo gần nghỉ hè niên khóa 1965, Sơn ở luôn trên Đà Lạt hơn một tháng. Ông Thống
kham hết nổi. Con ngựa già "đã mõi vó trên đồi quê hương" buộc lòng ông phải đến
Ty báo cáo sự vắng mặt cuả ông sếp mình. Ông Lê Cao Lợi phải điện một công văn
khẩn nhờ đài phát thanh Đà Lạt thông báo cho Sơn về nhiệm sở gấp. Hạn cho một
tuần, kể từ ngày loan báo, nếu không trình diện coi như đào nhiệm. Hôm sau đã
thấy Sơn lò dò về trình diện. Chắc chắn kỳ này Sơn sẽ lãnh cái búa tạ của ông
Lợi giáng xuống do hai vụ cộng lại. Vụ trước làm ông mất mặt với toà Tỉnh. Nặng
ký thì thuyên chuyển vô trong núi xa như Tân Rai hay Tân Lú tha hồ nghe chim kêu
vượn hú. Nhẹ thì chế tài hành chánh, ngưng thăng trật một năm. Nhẹ nữa thì thư
khiển trách lưu hồ sơ. Nhưng ông Lợi chỉ khiển trách sơ sơ rồi bỏ qua, chỉ bằng
miệng chớ không ghi hồ sơ cá nhân.
Khi nghe tin Trưởng giáo về, ông Thống vội đến ngay để "thăm" ông sếp của mình.
Cố tạo một khuôn mặt thật tươi, ông Thống cười nói, hỏi thăm rất sốt sắng, nhiệt
tình. Sơn tỏ vẻ biết lỗi nên nhỏ nhẹ:
- Chắc trong thời gian tôi vắng mặt khá lâu, bác vất vả lắm phải không?
Tôi nhìn ông Thống chờ xem phản ứng của ông. Nhưng tôi nhầm. Ông Thống vần cười
nói thản nhiên:
- -i giời! Tôi thì tôi lo cho thầy đi đường có bất trắc gì không, bởi thầy đi
lâu quá. Chứ cái đám học trò thì có gì mà mệt. Thầy đừng có quan tâm. Tôi đã
từng mấy chục năm giời trong nghề này rồi. Như ăn cơm bữa ấy mà!
Tôi trố mắt nhìn ông, kinh ngạc. Thì mới hôm qua, ông đến đây, vò đầu bứt tai
than vãn làm như sắp chết đến nơi. Ông cứ rền rĩ cái điệp khúc quen thuộc: - -i
giời ơi! Tôi chết mất! Tôi chết mất! Thế mà bây giờ lại hoàn toàn trái ngược,
coi như chuyện hôm qua, chuyện bữa trước, chuyện tháng trước ông nói với tôi
không có gì xãy ra hết. Sơn lại dò dẫm:
- Này bác Thống! Bây giờ tôi còn nhiều việc phải làm trên Đà Lạt, vài hôm nữa,
nếu tôi về không kịp, bác trông hộ lớp cho tôi nhé!
- Vâng! Vâng! Thầy cứ đi. Thầy cứ lo cho xong công việc của thầy. Thầy cứ để mặc
đấy cho tôi. Mấy cái đứa học trò ranh ấy mà. Chả có gì phải lo sốt.
Ông Thống sốt sắng đáp. Sơn kín đáo quay sang tôi, nháy mắt. Thế là xong. Ông
Thống lại vào tròng. Sơn tiễn khách:
- Thôi bác về nghỉ nhé. Cám ơn bác đã đến thăm.
Ông Thống cầm nón đứng lên toan ra cửa, nhưng làm như sực nhớ ra điều gì. Ông
lục cặp, lôi ra một xấp giấy tờ, lật qua, lật lại vài trang rồi đưa cho Sơn và
nói:
- A! còn cái này nữa chứ, xuýt nữa là tôi quên khuấy mất. May quá lại nhớ. Nhờ
thầy xem qua một tị.
Sơn cầm xấp giấy xem qua một lượt rồi nói với ông Thống:
- À! Phiếu phê điểm hằng năm của bác đây mà.
- Vâng! Phải ạ. Nhờ thầy phê cho mấy chữ và cho điểm bên cạnh.
Ông giải thích thêm:
- Trước kia, trường mỗi mình tôi. Hàng năm ông thanh tra đến khám xét và phê
điểm. Năm nay có thầy về thì cái việc này do thầy quyết định ạ.
Sơn tần ngần một lúc rồi nói:
- Bác Thống này! Bác muốn tôi phê như thế nào?
- Vâng! Thầy cứ xét xem năng lực và cách làm việc của tôi suốt niên khóa có chăm
chỉ, đều đặn không, có bê trễ trong việc dạy dỗ học trò không thì thầy phê vào.
Ông cố ý kéo dài những chữ chăm chỉ, bê trễ như để nhấn mạnh thêm trọng lượng
của từng chữ. Sơn cảm thấy quá khó trong công việc này. Có lẽ Sơn tự thấy mình
quá bê bối trong việc dạy dỗ học trò, lại còn trút gánh nặng cho đồng nghiệp, dù
người ấy đã già, đáng bậc cha, chú của mình, thì lấy tư cách gì để xuống bút một
lời phê. Sơn đưa mắt nhìn tôi, thầm hỏi ý kiến. Tôi đề nghị:
- Theo tôi, cứ để cho bác ấy tự phê mình thế nào thì tùy, ông chỉ cho điểm thôi.
Thế là ổn.
Sơn thoát nạn, quay sang ông Thống, Sơn nói:
- Thế nhé! bác nhé! Bác về nhà muốn phê như thế nào thì tùy bác. Bây giờ bác
muốn bao nhiêu điểm?
Ông Thống rụt rè:
- Tùy thầy cho bao nhiêu tôi nhờ bấy nhiêu!
Sơn xởi lởi, rộng rãi:
- Tôi cho bác 100/100 điểm nhé!
Ông Thống giật nẫy mình kêu lên:
- Chớ! Không được đâu thầy! Từ xưa đến giờ chưa có ai đạt được 99/100 điểm cả.
Thầy cho như thế tôi lại chết.
Sơn cười cười:
- Thế thì bao nhiêu là hợp lý là hở bác?
Ông Thống thở dài:
- Thôi thì thầy cho tôi 98 điểm cũng được!
Sơn đồng tình:
- Ừ! Thì 98 điểm nhé! Bác nhé!
Sơn ngoáy con số 98 trên 100 rồi ký tên mình dài ngoằng ở dưới. Xong, đưa trả
phiếu điểm lại cho ông Thống. Ông run run đưa tay đở và nhét xấp giấy vào cặp,
miệng cám ơn Sơn mấy lần nữa mới ra khỏi cửa, dắt chiếc xe cà tàng ra ngõ. Nét
mặt rạng rỡ chưa từng thấy từ trước đến giờ. Tôi tiễn ông ra cửa:
- Hôm nay bác Thống thích nhé! Từ giờ về sau đừng nhờ gì tôi nữa nhé!
Ông quay lại giơ tay khoát khoát ra hiệu ngụ ý đừng nói gì. Khi ông khuất sau
hàng lau, tôi ôm bụng cười sặc sụa. Sơn cũng cười, hỏi tôi:
- Ông thấy sao?
- Thì trăng với sao gì nữa! Ngày nào ổng cũng đến đây nhăn nhó, cáu bực, ca bài
ca con cá. Hôm nay lại nhũn như con chi chi. Hóa ra là vì cái phiếu phê điểm. Mà
ông lại cho cái điểm "ác ôn côn đồ" làm ổng xuýt đứng tim.
Sơn cười khoái chí:
- -i điểm trên trời mà. Quyền của mình, mình cứ cho thoải mái, mất gì cho cam!
Bài Ca Dao Bên Cồn Đá
Một hôm Sơn bỗng hỏi tôi:
- Này ông! Không hiểu ông Phạm Duy suy nghĩ bằng cách nào mà ổng đặt được những
lời ca hay quá chừng. Tôi không ngờ được !
Tôi tán đồng và phụ họa:
- Dĩ nhiên là như vậy rồi. Từ xưa tới giờ Phạm Duy là số một. Có ai hơn được ổng
đâu!
Tôi nghe Sơn nhâm nhẩm hát vài câu rồi lại hỏi:
- Như cái câu "Đêm qua ra đứng bờ ao. Trông cá, cá lặn. Trông sao, sao mờ. Buồn
trông con nhện giăng tơ. Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?" Ông thấy có tuyệt
không?
Tôi bật cười:
- Tưởng ông đơn cử bài gì, chớ bài này thì ổng lấy ca dao ra phổ thành nhạc. Ổng
đâu có đặt lời. Ổng còn lấy thơ của người khác phổ nhạc cũng tuyệt lắm. Tôi mê
hai bài thơ của Phạm Thiên Thư "Đưa em tìm động hoa vàng" và "Ngày xưa Hoàng
Thị" ổng cũng phổ nhạc thật tuyệt vời.
Sơn rất ngạc nhiên, hỏi lại:
- Mình có ca dao hay như vậy sao ?
Tôi đọc một mạch hết bài "Nhớ ai"- "Buồn trông chênh chếch sao mai..." Thuận
miệng, tôi đọc luôn bài "Nụ tầm xuân"- "Trèo lên cây bưởi hái hoa..."
Sơn nói:
- Đó! đó bài nữa đó! Sao lâu nay tôi không biết cà?
Đến phiên tôi ngạc nhiên:
- Từ đệ ngũ đến đệ tam, học sinh nào chẳng học môn văn chương bình dân, trong đó
có ca dao, tục ngữ, hát đố, truyện cổ... Chẳng lẽ ông không biết chút gì à?
Sơn thú thật:
- Từ nhỏ tới giờ, tôi học chương trình Pháp, nên không biết gì về ca dao, tục
ngữ hết.
Tôi đùa:
- Thôi rồi! Thế nào ông cũng có học câu "Tổ tiên ta là người Gaulois(*) phải
không?
Sơn cười, gật đầu:
- Đó là bài học đầu tiên!
Sơn đậu Bac I chương trình Pháp, bỏ ngang việc học khi cha bị tai nạn chết. Khi
lên Bảo Lộc, Sơn cùng chúng tôi cố gắng học hàm thụ để có thể tiến thân thêm
trong nghề nghiệp. Năm nào đầu niên khóa, Sơn cũng hăm hở mang một lô sách về
đọc. Một thời gian ngắn sau khi đi đi, về về Sài Gòn -Đà Lạt, Sơn lại vất sách
vào xó cho bụi bám. Năm 1966, Hảo Tâm đã xong cử nhân văn chương. Cuối năm, anh
bị động viên vào Thủ Đức trước bọn tôi.
Sau cuộc nói chuyện về ca dao, tục ngữ, đêm nào Sơn cũng yêu cầu tôi đọc cho
nghe vài bài. Lần nào Sơn cũng xuýt xoa khen hay. Từ đó Sơn mê ca dao, tục ngữ
và sưu tầm tài liệu về đọc. Sau này có dịp, Sơn đưa chữ ca dao vào nhạc như bài
"Ca Dao Mẹ" có câu "Bài ca dao bên cồn đá" chẳng hạn. Đến lượt tôi chịu thua.
Không hiểu nổi- "Ca dao bên cồn đá" là ý nghĩa gì!
(*) Nos ancêtres sont des Gaulois
Sinh Tử Phù :
Sau vụ rao tìm trên Đài phát thanh Đà Lạt và bị quở trách tại Ty, Sơn trở nên
cần mẫn hơn, khuôn phép hơn. Ít đi lại Sài Gòn, Đà Lạt hơn. Thỉnh thoảng có đi
cũng về kịp sáng thứ hai để đi dạy. Trong thời gian này, Sơn nhận được rất nhiều
thư từ. Phong nào cũng dày cộm. Sơn dạy buổi sáng, nên người nhận thư là tôi.
Nhìn con dấu bưu điện, tôi biết được là thư gửi đi từ Huế. Đó là thư của bạn
Sơn. Cái tên người gửi ở góc trái phong bì lần đầu tôi được nghe, được thấy, lạ
lắm. Đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Từ lúc nhận được những thư đó, Sơn bỗng nhiên thay đổi hẳn tâm tính. Lúc nào
cũng có vẻ bồn chồn, lo lắng. Ít đi lang thang những buổi chiều nữa. Có lúc ngồi
thẩn thờ, mắt đăm chiêu nhìn qua cửa sổ hằng giờ, yên lặng với khói thuốc. Có
khi điếu thuốc từ lúc châm đến lúc tàn, Sơn chỉ rít một hai hơi, rồi quên bẵng
đi để nó cháy trên hai ngón tay đến lúc rụi đi. Chiếc gạt tàn chưa hết ngày đã
đầy ứ lên, tràn ra cả bên ngoài. Sơn đi mua khóa về khóa chặt vali để cất kỹ
những bức thư ấy. Có thư vừa đọc xong, Sơn đem đốt ngay. Không ngăn nổi tò mò,
một hôm tôi hỏi Sơn:
- Dạo này tôi thấy ông không được vui. Có chuyện gì vậy?
Sơn lãng tránh:
- Đâu có gì! Chuyện nhà mà.
- Sao dạo này ông có quá nhiều thư của ông Phủ, ông Tường gì đó, mà mỗi lần nhận
thư, đọc thư xong, tôi thấy ông có vẻ lo lắng thế?
- À! Bạn tôi đó. Ảnh báo cho tôi biết những chuyện không vui của gia đình tôi.
Thấy nói chuyện gia đình, tôi không tiện hỏi thêm. Trước kia Sơn hay kể cho tôi
nghe về gia đình anh, về hai đứa em. Em trai là Trịnh Quang Hà, em gái là Trịnh
Vĩnh Thúy. Sơn mấy lần rũ tôi về Huế chơi để biết thú ngủ đò trên sông Hương,
bánh bèo Âm phủ, cơm hến Vĩ Dạ... Tôi cũng muốn biết cố đô Huế một lần. Hẹn mãi.
Nhưng lần nào về Nha Trang, mê sóng nước và thú săn bắn dưới biển tôi lại quên
mất chuyện ngủ đò trên sông Hương. Đến nay tôi cũng chưa biết cầu Trường Tiền
"sáu vài, mười hai nhịp" ra sao. Bây giờ, đọc báo thấy nói Sơn có bảy anh em. Cô
ca sĩ Vĩnh Trinh là út. Nếu cứ tính sinh năm một, năm 1957 ba Sơn mất, thì Vĩnh
Trinh phải năm mươi tuổi hoặc hơn.
Sau đó, Sơn lại thường xuyên đi Đà Lạt hơn. Nhưng không phải đến Đà Lạt. Sơn kể
cho tôi nghe về một trang trại nào đó ở Phim Nôm, gần Đức Trọng, một quận của
tỉnh Tuyên Đức. Sơn ở đó có khi hai, ba ngày với vài người bạn để bàn chuyện làm
ăn. (Sơn không nói tên những người đó). Có lần Sơn rủ tôi làm ăn chung. Lương
mỗi tháng mười ngàn. Tối trố mắt kinh ngạc:
- Công chuyện gì mà lương mỗi tháng mười ngàn? Họa là làm cho Việt Cộng ?
Sơn xua tay, gạt ngang:
- Nhảm! Ông không làm thì thôi. Nói bậy chết có ngày!
Tôi cười hì hì rồi quên đi. Một lần, Sơn về sau hai ngày bàn chuyện làm ăn, khoe
với tôi mọi việc đều tốt đẹp và được đãi một chầu "Cà phê cứt chồn" nhớ đời. Sơn
vui vẽ kể:
- Hồi giờ nghe nói cà phê chồn, mấy tiệm đều quảng cáo cà phê cứt chồn, giờ mới
biết là láo hết. Làm gì có mà bán. Một đồn điền cà phê mênh mông, cho người đi
nhặt cả tuần lễ, chưa chắc có được một ký. Chồn nó lựa những trái cà phê chín đỏ
để ăn, rồi ỉa ra hột lẫn trong phân. Chủ đồn điền biệt phái một hay hai người đi
lượm những hột đó, đem về phơi khô, rang, tẩm. Sau nhiều giai đoạn chế biến mới
thành cà phê uống được. Không đủ biếu quan đầu tỉnh, đầu quận thì làm gì có mà
bán ra thị trường .
Tôi vẫn thắc mắc:
- Cả một rừng cà phê bạt ngàn mà ông nói lượm không được một ký?
- Đúng vậy! Người ta không đợi cà phê chín mới hái. Nó sẽ rụng xuống đất hết.
Trái vừa già có màu xanh đen là người ta đã hái rồi. Nói là hái chứ thật ra tuốt
hay suốt. Trái cà phê mọc thành từng chùm dài như tiêu hay chùm ruột.
- Ông uống thấy mùi vị nó ra sao? Có bay mùi chồn không?
- Không! Nó có mùi thơm đặc biệt lắm. Cái mùi nó quyện trong hơi nóng bốc khói
là là trên miệng chén, tỏa hương chầm chậm, thơm lâu lắm. Tôi nhâm nhi từng chút
một để cho cái lưỡi và cái lổ mũi tôi thưởng thức hết cái ngon của nửa tách cà
phê. Chỉ có nửa tách thôi, suốt một đêm hai con mắt tôi thao láo, không nhắm
được. Đến bây giờ, (lúc Sơn về kể) tôi vẫn tỉnh táo mà không cảm thấy mệt.
Nghe nói, tôi đâm thèm và ao ước:
- Ông có xin họ một ít không? Đem ra pha thử cho tôi uống một chút?
- Ở đó mà ham! Tôi lên xuống cả tháng nay, giờ mới được đãi có nửa tách. Một
tách còn chưa có thì làm gì họ cho một ít mang về. Vả lại, ai mở mồm xin, "ốt
dột" chết!
Hè năm 1965, tôi mãi mê vui đùa với nắng gió, sóng nước ở bãi biển Nha trang nên
quên lời hẹn với Sơn ra Huế để Sơn dẫn tôi đi thăm thú các nơi. Hết hè, tuy vẫn
còn luyến tiếc những ngày vui trôi qua quá mau, tôi cũng phải trở về Bảo Lộc để
kịp ngày khai giảng niên học mới.
Trở lại ngôi nhà trọ, tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy Sơn đã có mặt ở đây rồi.
Căn phòng bừa bộn, bẩn thỉu. Toàn là tàn thuốc lá. Chổ nào cũng đầy tro tàn. Bao
thuốc lá Bastos xanh trống không xếp đầy chung quanh tường, cao gần tới đầu gối.
Sơn nằm dài trên đi văng. Mùng vẫn buông, ám khói vàng khè. Dưới gầm bàn giỏ rác
đầy ứ. Giấy loại quay ronéo vàng xỉn, vo tròn, xé nát vất đầy mặt đất. Xác cà
phê khô đóng mốc xanh, trắng vươn vãi chỗ này một nhúm, chỗ kia một tụm. Tôi la
lên:
- Ông không về Huế nghỉ hè sao?
- Không! Tôi ở lại đây luôn. Cũng không về Sài Gòn. Sơn uể oải vừa chui ra khỏi
mùng vừa nói.
- Còn lại một mình bà Phi có nấu cơm cho ông không? Tôi hỏi thêm.
- Không! Sơn lắc đầu. Tôi ăn cơm bữa ở Ngọc Sơn. Tám đồng một bữa. Siêng thì đi
ăn, làm biếng thì ở nhà gặm bánh mì. Bà Phi về
Sài Gòn cả tháng nay rồi. Cô người làm cũng về quê luôn. Tôi nhìn Sơn ái ngại.
Sơn xanh hẳn. Mặt hốc hác. Tóc râu bờm xờm. Người đã ốm o sẵn, nay lại càng gầy
thêm. Gầy rạc. Bộ đồ pijama trở nên rộng thùng thình, nhàu nát, đen xỉn. Có lẽ
ba tháng nay không giặt. Nhưng đạc biệt nét mặt Sơn rất vui và rạng rỡ. Vừa xếp
dọn lại chỗ nằm của mình, tôi vừa trò chuyện:
- Ông làm gì mà nằm ép rệp ở đây tới ba tháng lận! Không buồn à?
Sơn phấn khích chìa tập nhạc ra khoe với tôi:
- Công trình ba tháng đó!
Tôi cầm xấp bản thảo, liếc qua trang đầu có nhan đề "CA KHÚC DA VÀNG". Lật thêm
mấy tờ bên dưới thấy những bản nhạc có tựa đề rất lạ như "Gia tài của Mẹ"- "Đàn
bò vào thành phố"- "Người già và em bé"- "Người con gái Việt Nam da vàng"... với
những lời ca lạ lẫm, khác hẵn với những lời trong tình ca đến 180 độ. Tôi ngờ
vực có một cái gì đó đã thay đổi con người Sơn. Sơn đã lột xác. Tôi chăm chú
nhìn Sơn để tìm xem cái gì khác trên khuôn mặt xương xương kia. Nhưng tôi không
nhìn thấy gì cả. Chỉ trong đôi mắt, sau lần kính cận, ánh lên vẽ khác thường.
Tôi chưa xác định được rõ ràng là cái gì. Có một cái gì đó mơ hồ lấp ló trong
trí tôi rồi vụt biến mất. Cái mơ hồ đó tôi chưa kịp đặt tên cho nó, và cũng chưa
nghĩ ra được một chữ thích hợp cho trạng thái đó trong lúc này. Thấy tôi im lặng
lật hết tờ này qua tờ khác, Sơn hỏi:
- Ông thấy sao? Được chứ?
- Tôi mới đọc lời thôi! Chưa biết nhạc ra sao! Chưa có ý kiến được. Thôi bây giờ
ta đi ăn cơm. Tối nay ông hát cho tôi nghe thử vài bài được không?
Sơn đồng ý. Chúng tôi ra Ngọc Sơn ăn cơm chiều. Cơm nước xong, chúng tôi lững
thững đi ngược về hướng bờ hồ để lên Câu lạc bộ uống cà phê, ngắm lại cảnh sương
chiều bốc dần lên từ chân cầu nhà Thủy Tạ hình bát giác sơn màu đỏ chói và cái
cây chết khô giữa hồ. đứng một mình, cô độc.
Tối đó Sơn hát cho tôi nghe một vài bài tiêu biểu trong tập "Ca khúc da vàng".
Đến những đoạn như "Gia tài của Mẹ: một bọn lai căng... một lũ bội tình" hay như
"Đại bác đêm đêm dội về thành phố! Người phu quét đường dừng chỗi lắng nghe"
hoặc như "Tôi có người yêu chết trận đêm qua, chết thật tình cờ..." tôi bỗng nổi
da gà. Lời ca thật xúc động. Nó xoáy sâu vào tim người nghe rồi chuyền lên óc
làm cho rúng động tâm can, tỏa lan dần cơ thể làm cho tứ chi bãi hoải. Sơn ngừng
hát, đưa mắt hỏi tôi. Đột nhiên trong óc tôi lóe lên một tia chớp: tôi đã thấy
rõ hình dáng của nó và tìm ra được cái tên của nó mà buổi chiều tôi chỉ cảm biết
mà không nghỉ ra được. Tôi buột miệng la lên: Sinh tử phù.
Sơn ngạc nhiên trố mắt nhìn tôi, chặp lâu mới hỏi:
- Ông nói "sinh tử phù" là ý nghĩa gì?
Thời gian đó Sơn chỉ đọc sách Pháp. Hình như đang đọc "Cánh cửa hẹp" và "Buồn
nôn". Tôi thì mê luyện chưởng Kim Dung. Tôi giảng giải sơ lược về môn pháp cấy
sinh tử phù cho Sơn nghe. Sơn càng thắc mắc:
- Vậy thì cái chuyện cấy sinh tử phù của ông ăn nhập gì đến tôi?
Tôi chậm rãi, buồn rầu trả lời Sơn:
- Ông đã bị cái ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nào đó cấy "sinh tử phù" vào người rồi.
Ông còn nhớ có lần ông rủ tôi làm việc với nhóm của ông ở Phim Nôm, trả lương
tháng mười ngàn không? Tôi nói đùa: họa may làm cho Việt Cộng, ông giãy nãy la
oai oái. Và những lần ông đốt những xấp thư của ông Tường không? Bây giờ trong
vòng ba tháng, ông đã sáng tác một đống nhạc, chẳng bù với hai bài "Chiều một
mình qua phố" và "Lời buồn thánh" phải mất hơn sáu tháng? Bây giờ trong nhạc ông
không còn những sợi nắng thủy tinh, những lá me bay, những tay gầy guộc nhỏ,
những sõi đá biết nhớ biết đau mà toàn những xác chết, những bom đạn, mìn chông,
bội phản... Những loại từ này không hợp với con người ông. Tôi e rằng ông đã bị
tiêm nhiễm sinh tử phù Việt Cộng của ông Tường cấy vào người ông quá lậm rồi!
Sơn phản đối kịch liệt:
- Thôi đừng giỡn cha nội! Cha giỡn kiểu đó chết tôi nghe!
Từ đó, chúng tôi im lặng không ai nói với ai lời nào nữa cho đến lúc tắt đèn đi
ngủ.
Dần dà trong bọn chúng tôi ai cũng biết Sơn vừa sáng tác một tập nhạc mới. Lại
chia làm hai phe. Lúc đó đâu đã có từ "phản chiến" để chỉ loại nhạc này. Chúng
tôi cứ ngâm nga mỗi bài vài câu. Phe thích thì cứ khoái... "Một ngàn năm nô lệ
giặc Tàu, một trăm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày..." ca cẩm
suốt ngày. Phe chê thì:
- Xí! nhạc Việt Cộng! Cha nội Sơn theo Việt Cộng rồi!
Tuy nhiên, sau đó lại quên lãng đi. Chúng tôi vẫn lại bù khú cà phê, bi da, xập
xám, vui vẽ ồn ào như trước. Nhưng không ai để ý thấy rằng khi đám nhà binh như
Vĩnh, Ngự, Tinh, Thành nhập bọn là Sơn tìm cách lãng tránh. Nhất là lúc có mặt
hai chàng Thành, chi khu phó và Tinh, an ninh quân đội. Có lần trong bữa nhậu
vui vẽ, không biết vô tình hay hữu ý, trung úy Thành vừa cười vừa nói:
- Này mấy ông giáo! Tôi xin nói trước, bạn thì bạn, chơi thì chơi, nhưng ông nào
theo Việt Cộng thì chúng tôi vẫn cứ bắt như thường đó!
Nói xong, anh ta cười hì hì, rồi giơ cao ly lên:
- Nào dô! Dô!
Lúc về, Sơn nói riêng với tôi:
- Chơi với mấy cha nhà binh, ghê thấy mẹ!
Thời gian sau, Sơn rất bận rộn. Đi đi, về về, Sài Gòn, Đà Lạt liên tục. Thường
xuyên bỏ trường, lớp hơn trước. Nhưng thời gian đi không lâu. Có khi hai ngày.
Có lúc ba ngày. Ông già Thống từ ngày được ông trưởng giáo hào phóng cho 100
điểm, há miệng mắc quai, không còn biết than thở với ai, đành ngậm bồ hòn làm
ngọt. Sơn cho tôi biết là đang chuẩn bị in tập "Ca khúc da vàng" và khoe với tôi
là giới sinh viên thích lắm. Họ đang yêu cầu có những buổi hát ngoài trời gọi là
"du ca". Và Sơn cũng hé cho tôi biết một vài sinh viên có nhiệt tâm đấu tranh
như Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Toại...sẵn sàng giúp Sơn thực hiện những buổi
trình diễn ấy.
Những điều Sơn kể và những cái tên xa lạ không ăn nhập gì đến đời sống đang tươi
đẹp của tôi nên nó từ tai này qua tai kia trôi tuột đi, chốc lát tôi quên hết.
Khi Sơn đi vắng, tôi còn vô khối bạn bè để vui chơi. Nào Tín, nào Bạch, Đạo,
Lãng, Tâm mập, Tâm lùn, Hinh, Sang, Hiện, Thao, Rầm, Nhượng... Tuần này xuống
Tân Hà, đến nhà ông Hiệu trưởng Ngọc hạ cờ tây. Tuần sau kéo nhau vào ấp Lam
Sơn. Hai bên đường vào ấp trồng toàn hoa anh đào, nên còn có tên gọi rất thơ
mộng là Đào Hoa thôn. Chúng tôi vào đây để đến nhà ông Tề ngắm phong lan. Ông Tề
tuy là nhà nông nhưng có tâm hồn nghệ sĩ. Trên gác Nghinh Phong của ông có đủ
loại phong lan mà ông sưu tầm được. Trăm màu, trăm vẻ. Tuần khác lại cùng các cô
giáo trẻ Nghiên, Châu, Hải, Trang...đi dạo suối Đại Bình, cách Bảo Lộc chừng vài
cây số.
Cứ thế, ngoài việc dạy dỗ các em học sinh, tuổi trẻ của tôi đã trãi qua những
ngày tháng tươi vui, đáng sống trong cái quận lỵ bé nhỏ, mà mới ngày nào tôi gặp
Sơn ở bến xe đò một buổi chiều cuối tuần đìu hiu có mưa rã rích. Buồn thúi ruột.
Tháng sáu năm 1966, Tâm nhập ngũ. Sơn chuyển qua phòng Tâm. Hai chúng tôi ở hai
phòng riêng biệt. Trừ những lúc đi ăn cơm, uống cà phê, chơi bi da chung với
nhau, Sơn ở lì trong phòng. Sơn không còn thú ngồi trước hiên nhà, chờ ngắm cô
Ngà đi lễ mỗi buổi chiều với chiếc áo dài lụa màu mỡ gà sáng lóa trong ánh nắng
xiên khoai sắp tắt. Bây giờ chỉ còn tiếng chuông nhà thờ quyện bước chân đi và
gió chiều nhẹ đuổi theo, khẻ rung tà áo. Hai bên đường, đám lau trắng đã nở hết
bông chỉ còn lại những thân xương khô quắt chỉa lên trời.
Giáng sinh năm đó tôi cưới vợ và thuê căn lầu của nhà may Tân Việt để ở. Sơn vẫn
ở một mình trong căn nhà bà Phi. Mỗi buổi sáng đi dạy, đi ngang nhà chúng tôi,
thỉnh thoảng Sơn tạt vào xin vợ tôi ly sữa dằn bụng. Nhất là những ngày cuối
tháng. Bây giờ Sơn không còn tươi vui như xưa. Sơn mệt nhọc trong dáng đi và
nhiều suy tư, âu lo hằn trên vầng trán.
Chia Tay :
Hè 1967. Chúng tôi đang mỗi người mỗi nơi nghỉ hè, bỗng đồng loạt nhận được điện
khẩn của Ty, nhắn lên gấp để nhận lệnh nhập ngũ. Phía dưới bức điện chua thêm
hàng chữ: "Nếu trình diện trễ hạn sẽ bị đưa ra trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế". Thế
là không hẹn mà chúng tôi gặp nhau một ngày tại Ty. Tay trái nhận lệnh tổng động
viên, tay phải nhận phong bì lương, Ty ứng trước một tháng để ăn đi đường. Không
thấy Sơn đâu. Hỏi anh Thành, phát ngân viên, anh cho biết:
- Sơn đã đến đây hôm qua nhận lệnh và lương đi rồi. Tối hôm đó, chúng tôi gồm:
Đạo, Hinh, Sang, Nghị, Bạch, Tâm lùn, Ngọc (Lãng sốt rét và Thao què được miễn
dịch) tụ tại nhà Nghị uống một bữa thật say để chia tay. Ai cũng ví mình như
Kinh Kha đang ở bờ sông Dịch, một đi không trở lại. Chỉ tiếc không có ai là Cao
Tiệm Ly thổi đưa khúc sáo lên đường. Chúng tôi đang lúc ngà ngà, ôm nhau hát bài
"Những ngày xưa thân ái" của Phạm thế Mỹ. Cứ lặp đi, lặp lại điệp khúc..."Chỉ
còn tay súng nhỏ, giữa rừng sâu giết thù. Những ngày xưa thân ái xin gửi lại cho
nhau..." Hát xong rồi cùng nhau khóc. Khóc như trẻ thơ. Khóc tự nhiên không một
chút xấu hổ.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, chỉ còn lại vài mạng, say quá chưa tỉnh nổi. Còn bao
nhiêu thì đã đi rồi. Tôi ra bến xe. Nhìn lại quang cảnh vẫn y như cũ. Không có
gì thay đổi. Nhưng hôm nay sao thấy buồn quá đổi. Cái gì cũng có vẽ xa vắng, bơ
thờ. Khi xe chạy ngang bờ hồ, tôi thì thầm:
- Giả từ Bảo Lộc mến yêu! Biết bao giờ mới gặp lại nhau!
Xe khuất dần, tôi cố ngoái đầu lại lần chót. Chỉ còn thấy ngọn cây khô chết giữa
hồ. Nước mắt tôi lại ứa ra.
Cuộc Tái Ngộ Không Ngờ :
Năm một ngàn chín trăm bảy mươi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với kế hoạch "Bình
Định và Xây dựng nông thôn" lấy nông thôn bao vây rừng núi, Việt Cộng bị triệt
đường tiếp tế. Cán binh đói, đành lui về thế thủ. Cuộc chiến lắng dịu. Bộ Giáo
Dục cùng các bộ khác như Y tế, Công Chánh, Kinh Tế... đồng thanh kêu gào thiếu
nhân viên và xin Bộ Quốc Phòng trả lại người cho mình. Phó tổng thống Trần văn
Hương phải can thiệp với chính phủ để trả lại nhân viên cho các Bộ. Nhưng bộ
Quốc phòng chỉ đồng ý với điều kiện tạm thời "biệt phái". Hể quân đội cần là
"lôi" đầu trở lại cầm súng. (Vì hai chữ "biệt phái", sau tháng tư, bảy lăm chúng
tôi bị đày đi lao cải mút mùa lệ thủy. Có lẽ trong từ điển của Hà Nội hai chữ
"biệt phái" định nghĩa là làm mật vụ cho Mỹ chăng? Chúng tôi đều bị khép tội làm
C.I.A.)
Sau sự can thiệp, chúng tôi lần lượt trở về nhiệm sở cũ với áo mũ, cân đai. Anh
nào bây giờ cũng có trên cổ áo một bông mai vàng thắm. Đi đứng chững chạc kiểu
nhà binh, trông oai ra phết. Chúng tôi không ngờ lại có ngày gặp được nhau đông
đủ thế này. Từ khắp bốn vùng chiến thuật, hằng ngày đùa với tử thần và súng đạn,
chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn, không một ai sứt mẻ. Vậy mà năm xưa ra đi, ai cũng
khẳng khái ngâm câu:
Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi .
Những cuộc vui lại nối tiếp. Đậm đà hơn xưa. Chỉ thiếu mỗi một Trịnh Công Sơn.
Anh Thành cho biết:
- Mấy tuần sau ngày hạn trình diện, Nha Động viên có điện lên Ty hỏi mấy lần về
Sơn. Ty có điện trả lời cho Nha là Sơn đã ký nhận lệnh nhập ngũ và chính thức
rời nhiệm sở ngày...tháng...Như vậy Sơn đã thật sự trốn lính.
Ông Thống đã về hưu. Ngôi trường Bảo An trên đồi ngày xưa, giờ đây có một giáo
viên Thượng tên K’Brí làm trưởng giáo.
Trong Ty Tiểu Học chỉ có một thay đổi nhỏ. Nhỏ mà lớn. Còn lại mọi việc vẫn như
cũ. Ông Lợi vẫn Ty trưởng. Ông Lương vẫn thanh tra. Ông vẫn ngồi xếp hồ sơ ngay
ngắn, từng tờ, từng tờ cho hết giờ hành chánh. Anh Thành vẫn cùng ông Đạt phát
lương. Cô Lan, "người vợ không bao giờ cưới" của Nguyễn văn Ba, buồn, chịu không
nổi với những kỷ niệm tình đầu ngày nào cũng chạm mặt, nên đã xin thuyên chuyển
về Sài Gòn.
Cái thay đổi nhỏ mà lớn là chuyện một giáo viên người Thượng, hiệu trưởng trường
Cộng Đồng Thượng Bảo Lộc, bỗng chốc nhảy lên chức Phó Tỉnh Trưởng. Số là, để
chiêu dụ người Thượng Tây nguyên chống lại bọn FULRO đang quấy phá miền cao
nguyên, chính phủ lúc bấy giờ đặt thêm một bộ nữa chuyên trách về vấn đề này gọi
là Bộ Sắc Tộc. Mỗi tỉnh thuộc vùng cao phải có thêm một ông Phó tỉnh người Sắc
Tộc. Nhưng đào đâu ra người Thượng biết chút ít chữ nghĩa? Nếu không là một
trong những giáo viên Thượng? Thế là anh giáo viên K"Breo nghiễm nhiên trở thành
nhân vật quan trọng. Ngày xưa, mỗi lần đến Ty để lãnh lương hay tiếp nhận công
văn, khúm na, khúm núm. Ông Lợi thì cứ réo:
- Này K"Breo! Vào đây bảo!
Bây giờ thì K"Breo lúc nào cũng áo vest, cà vạt, đi xe Jeep có tài xế lái. Bây
giờ mỗi lần K"Breo đến Ty thì ông Lợi phải một điều: - Dạ vâng! Hai điều: - Dạ
vâng! Thưa ông Phó phải ạ!
Khi K"Breo vừa ra khỏi cửa Ty, anh Thành rít một hơi dài thuốc lào, móp sâu hai
má, ngữa mặt nhả khói lên trần nhà xong, buông một câu gọn lõn:
- Đéo mẹ đời!
Ông Lợi ngồi trong văn phòng cười nhếch mép, tay gõ gõ ống vố vào gạt tàn.
Trịnh Công Sơn và Tình Bè Bạn ....
Sau một tuần, anh em lục tục lên đủ mặt.
Bữa tiệc tẩy trần thật tưng bừng. Chúng tôi thầu hết tầng lầu trên của Câu Lạc
bộ. Bây giờ thì ăn nói thoải mái, không còn phải e dè mấy tên du đãng tép riu.
Sau vài ly máy nóng, chúng tôi tha hồ kể "chuyện nhà binh". Chuyện khói lửa bốn
vùng chiến thuật nguội dần. Có anh sực nhớ tới Trịnh công Sơn, hỏi trống không:
- Có ai biết anh chàng Sơn nhà mình bây giờ ở đâu, làm gì không hè?
Hiện đáp:
- Tôi biết. Sơn bây giờ nổi tiếng lắm. Không những trong nước mà cả thế giới
cũng biết.
Bạch không tin:
- Thôi cha! Xạo vừa vừa thôi! Thằng chả trốn lính, làm ăn gì được mà nổi tiếng!
Hiện vẫn bằng cái giọng rề rà bỡn cợt, nửa đuà nửa thật:
- Tôi làm việc ở cơ quan ninh quân đội, địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn, nên biết một
ít về ông Sơn nhà mình. Đầu tiên ông ta được một tay có cở trong không quân che
chở, cấp cho một cái thẻ "Chứng chỉ tại ngũ" chức vụ binh nhì lèo.
Có tiếng lao nhao:
- Ai vậy? Ai vậy? Ông biết không?
- Sao lại không! Đại Tá Lưu Kim Cương chớ ai vào đây nữa! Cảnh sát biết thừa đi
chứ. Nhưng không dám đụng vào ổ kiến lửa.
Hiện cười cười, tợp thêm một ngụm bia rồi tiếp:
- Sau tay này tịch. Cụ Sơn nhà mình bèn làm một bản nhạc để tạ ơn người che chở
mình. Bản nhạc có tên là "Cho một người nằm xuống".
Tín nhảy vô vòng chiến:
- Ông rề rà bỏ mẹ! Thế thì tôi hỏi ông nhé! Bao nhiêu năm ông già Thống còng
lưng dạy thế cho ông ấy, để ông ấy lo việc công danh của mình, ông ấy có làm bản
nhạc nào tên là "Cho một người dạy thế" để tạ ơn ông Thống không?
Hiện vẫn đũng đỉnh:
- Ấy! Cái này thì tôi không biết. Nhưng ông Thống chưa tịch thì làm gì có nhạc
để tặng? Còn ông Sơn sẽ làm hay không thì có dịp gặp mặt tôi sẽ hỏi lại rồi cho
ông biết sau.
Tín thở hắt ra:
- Nói như ông chán bỏ mẹ!
Đạo sốt ruột:
- Sau khi Lưu Kim Cương chết rồi thì ai là cái ô dù của ông Sơn?
- Cái ô dù hãy còn bé lắm. Phải nói là cây đa cổ thụ mới đúng.
Nói tới đây, Hiện dừng lại, thong thả rót bia vào ly mình một cách chậm rãi để
bọt khỏi tràn miệng ly rồi nâng ly lên làm mấy tợp, mặc cho bao nhiêu con mắt
đang hau háu chờ đợi.
Nghị nóng nảy văng tục:
- Mẹ! Cứ vờ vịt! Ông đấm buồi vào!
Hiện khà một tiếng sảng khoái, đưa tay chùi mép rồi mới tiếp:
- Cây đa cổ thụ là tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương
đấy.
- À ra thế đấy! Nhiều tiếng xì xào .
Lãng từ đầu đến giờ vẫn ngồi im lặng nhâm nhi ly bia lắng nghe anh em kể chuyện
"đường xa xứ lạ" thích lắm vì không được cái "hân hạnh", "Tòng quân giết giặc"
để "Dong vó ngựa trên đường chinh chiến", bây giờ mới lên tiếng:
- Moa...moa thì "mo phú" tay nào che chở cho ông Sơn. Việc bắt ông Sơn là việc
của mấy ông "cớm". Moa... moa thì moa bực cái ông Sơn nhà mình. Bực lắm cơ. Moa
có mua mấy tập nhạc của ông ấy khi mới xuất bản. Tập nào cũng ghi tiểu sử có đủ
thứ trên đời mà không thấy tập nào ghi lấy một dòng như "dạy học tại Bảo Lộc từ
năm 1964 đến 1967" họặc "Học Sư phạm Qui Nhơn" chẳng hạn. Moa bực là nghĩ: Chẳng
lẽ ông ta có mặc cảm xấu hổ với nghề dạy học chăng?
Võ Đôn Thao cười hề hề, rút cây Paker trong túi áo ra, lấy một tờ giấy lau tay,
tính toán một lúc rồi nói:
- Nè! Mấy ông nín hết đi. Nghe tôi công bố một con số kinh khủng về ông Sơn.
Mọi người nghe Thao nói, lấy làm tò mò. Tất cả đều im lặng chờ. Thao hắng giọng:
- Này nhé! Cứ lấy đổ đồng lương ổng là 5.200 đồng một tháng, nhân lên ba năm.
Tức là ba mươi sáu tháng. Vị chi là 187.200 đồng. Gạo ba đồng một ký. Ổng đã ăn
hết 62.400 ký lô gạo Quốc Gia trong ba năm. Ghê chưa!
Nghị cà khịa:
- Ăn gạo được rồi! Bày đặt văn vẻ thêm hai chữ Quốc Gia sau đuôi! Khéo vẽ!
Thao phản đối:
- Tôi chưa nói hết ý, sao ông lại kê tủ đứng trong họng tôi?
Nghị cười há há:
- Chứ không phải sao?
- Phải làm sao được! Thao cương quyết.
Lãng chen vô can:
- Thì ... thì để ông Thao nói hết đã, hẵng hay.
- Ừ, thì nói hết đi xem nào! Nghị đấu dịu.
Bây giờ Thao mới tủm tỉm cười:
- Sỡ dĩ tôi phải nói ăn cơm Quốc Gia là vì ông ấy thờ ma Cộng Sản. Ổng lãnh
lương Quốc Gia, dùng thì giờ dạy học để làm nhạc có lợi cho Việt Cộng.
Lãng có vẽ không tán thành quan điểm đó:
- Cái đó thì chưa có gì rõ rệt để kết luận ông Sơn theo Cộng Sản. Nhưng tôi cứ
bực ông Sơn. Bao nhiêu năm nhờ ông Lợi khoan dung mà không một lời ơn nghĩa.
Thao vẫn thẳng thừng khẳng định:
- Mấy ông sống ở Sài Gòn làm gì biết Cộng Sản ra sao mà nói! Gia đình tôi nè!
Nhiều đời sống ở Phú Yên. Cái đất Phú Yên là cái ổ của Việt Cộng. Các ông đã
từng nghe bốn chữ Nam, Ngãi, Bình, Phú chưa? Đó là bốn cái "nôi" của "cách mạng"
tức bốn cái ổ của Việt Cộng đó.
Đạo thơ ngây hỏi lại:
- Ông nói bốn chữ Nam, Ngãi, Bình, Phú nó là nghĩa gì vậy?
Thao cười ngất:
- Ông là giáo viên mà không biết bốn chữ đó làm sao dạy địa lý, sử ký cho học
trò?
Đạo đỏ mặt ngồi im. Được thể, Thao hăng lên:
- Đó là bốn tỉnh miền trung gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Dân
ở đó, phải nói là nhà nào cũng có chồng hoặc con đi tập kết tức là theo Cộng
Sản. Trừ một ít ở thành phố mới không. Nên dân tụi tôi rành sáu câu. Anh nào mở
miệng ra có mùi Cộng Sản là biết liền.
Tâm mập bây giờ mới lên tiếng:
- Tôi dạy ở trường Chiến tranh Chính trị Đà Lạt cũng có lúc đem vấn đề này ra
tranh cãi, chưa ngã ngũ đâu vào đâu. Nhưng các đài phát thanh cứ phát nhạc của
họ Trịnh, nhất là đài quân đội mới chết chứ.
Thấy không khí càng lúc càng căng, Bạch chuyển đề tài:
- Thôi! Dẹp ba cái vụ cộng, trừ đó đi. Dô một cái "chăm phần chăm" đi. Nào dô!
Mọi người đồng loạt giơ cao ly: Dô! Dô!
Tiếng cười nói lại xôn xao, náo nhiệt. Sực nhớ ra điều gì, Tín vùng nói lớn giữa
tiếng ồn ào:
- Này các cụ! Còn em bé Đỗ thị Nghiên "cúng" cây đàn ghi ta cho ông Sơn ba năm
có được xơ múi gì không?
Đạo là người rời Bảo Lộc sau cùng nên biết chuyện này, đáp ngay:
- Em Nghiên trước khi theo chồng về Huế có đến đòi lại cây đàn. Cũng còn may!
Nếu không thì ông Sơn cũng đã quên.
Tín quay sang tôi móc lò:
- Còn ông mãnh này! Ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu ba năm trời có được xơ múi gì
không?
Tôi thật thà trả lời:
- Có! Hồi đầu tiên Sơn có tặng cho tôi và ông Lợi, mỗi người một bản "Chiều Một
Mình Qua Phố".
Tín vặn:
- Bấy nhiêu thôi à! Thế mấy tập Tình ca-Ca khúc da vàng không tặng sao?
- Sơn nói nhà xuất bản cho ít quá nên không đủ tặng.
Hiện tiếp lời:
- Mấy ông đừng trách! Ông Sơn bây giờ bạn đông lắm, đếm không hết. Ông ấy bây
giờ đi đâu cũng có một đám bu quanh như nhặng xanh bu c. ngựa vậy.
Anh chàng Sang ngồi im từ đầu đến cuối, bây giờ như cóc mở miệng :
- Mấy cha cứ nói chuyện trên trời, dưới đất. Hồi còn ở đây, ông Sơn đã dự đoán
sau hai mươi năm nội chiến, những người còn lại đều là một "lũ bội tình. Thì
ông ấy có chút bạc ơn với nghề dạy học và chút bạc nghĩa với những người bạn ở
cái xứ Thượng heo hút này cũng là chuyện nhỏ trong cuộc đời vĩ đại của ông ấy
mà thôi. Có đáng gì đâu mà nhắc tới !
Câu chuyện nhạt dần, không khí cũng lắng dần. Có lẽ mọi người đã ngấm say. Lần
đầu tiên trở lại Bảo Lộc, sau ba năm, tôi thấy anh Lãng không còn đòi về trước
để trùm mền và xoa dầu Nhị Thiên đường như xưa. Có lẽ anh đã từ chức "ông Trùm"
rồi chăng? Mừng cho anh.
Lại Chia Tay :
Cuối niên khóa 1970, chúng tôi đồng loạt nộp đơn lên Bộ Giáo Dục xin thuyên
chuyển về nguyên quán. Trừ những anh phải lòng với ngươì đẹp xứ sương mù thì ở
lại làm rễ như Nguyễn Văn Chất cưới cô học trò năm xưa của mình, hoa khôi Di
Linh. Lâm Văn Rầm làm rễ hiệu trà Bạch Tượng, đối thủ của trà Đổ Hữu, nối nghiệp
ướp, sấy, chế biến trà lài, trà sói...
Đầu niên học 1971, chúng tôi đều nhận được lệnh thuyên chuyển theo đơn xin. Đó
là nỗi vui mừng chung cho chúng tôi, nhưng cũng là nỗi buồn riêng cho ông Ty
Trưởng Lợi và bác Trạch, Hiệu trưởng trường Nam Bảo Lộc. Hai ông buồn vì mất một
lúc cả đám chúng tôi. Một đám trẻ năng động, vui nhộn mà hai ông đã có một thời
gian dài gắn bó như anh em, cha con trong một gia đình. Hai ông sẽ không còn
thời gian nữa để làm "một cuộc tình mới". Tóc hai ông đã bạc nhiều lắm rồi.
Ngày chia tay, cũng lại một bữa linh đình. Lần này không phải hát "Những ngày
xưa thân ái" mà là những cái xiết tay rất chặt, rất lâu.
Những ánh mắt long lanh, những nụ cười rạng rỡ, những lời hứa hẹn thắm thiết sẽ
gặp lại nhau tại Sài Gòn, Nha Trang, Long An và tận Phú Yên xa tít mù của Võ Đôn
Thao.
Ruộng Dâu Hóa Thành Biển Xanh, Tháng Tư, Bảy Lăm ....
Những lời hứa hẹn đinh ninh trong lòng chúng tôi tưởng chừng thực hiện không có
gì khó khăn. Một vé xe đò, một vé máy bay hay cà rịch, cà tang một chuyến xe lửa
là chúng tôi có thể gặp nhau, tha hồ mà bù khú ít ngày. Ấy vậy mà lời hẹn ước đó
đã không bao giờ có cơ hội thực hiện được. Tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy
mươi lăm, thống nhất hai miền Nam Bắc. Hòa bình đã lập lại sau hơn ba mươi năm
trả giá bằng núi xương, sông máu. Hòa bình đã trở về với dân tộc Việt Nam.
Dân chúng Miền Nam cùng nhau đổ ra đường vẫy cờ, reo mừng đón chào đoàn quân
chiến thắng đang dương oai, diệu võ trên đường. Họ hát vang những bài ca "Giải
phóng Miền Nam" và nhất là bài "Nối vòng tay lớn" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Bài hát mà anh đã đem hết tâm huyết viết nên để chờ cái ngày vinh quang hôm nay.
Và cũng là cái ngày anh hồ hởi, phấn khởi được hát vang lồng ngực, rộng mở hết
các mạch máu con tim để ca ngợi thành quả cách mạng trên các đài phát thanh Sài
Gòn-Huế, khi "tổng thống ba ngày" Dương văn Minh tuyên bố buông súng đầu hàng.
Anh đã toại nguyện.
Lời nhạc trong bài Nối Vòng Tay Lớn được nhà cầm quyền Hà Nội minh họa bằng
một bức tranh hòa bình trong đó vẽ con chim bồ câu trắng, mỏ ngậm cành nguyệt
quế, dang thẳng đôi cánh bay lượn tự do giữa trời xanh, mắt liếc nhìn xuống một
đám người, gần một triệu quân, cán, chính đang "Nối vòng tay lớn, tay nọ nối
tay kia bằng một sơị dây dù cột chặt, đi vào trại Cải Tạo. Trong đó có tôi.
Để trở nên một công dân hữu ích cho xã hội mới, một xã hội văn minh, tiến bộ,
người không bóc lột người, một xã hội bình đẵng, không có giàu nghèo, ai ai cũng
được lao động như nhau, vì lao động là vinh quang, tôi đã được đảng Cọng Sản
giáo dục gần năm năm rưỡi, gột rữa sạch mọi tư tưởng ăn bám xã hội trong tôi bấy
lâu nay. Tháng sáu năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt (6/1981) tôi tốt nghiệp
ra trường với một chứng chỉ chứng nhận, in ronéo ba chữ to tướng :GIẤY RA TRẠI
phía dưới có chữ ký và khuôn dấu Bộ Công An nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa hẵn hoi.
Nhờ thời gian trong trại, tôi đã thắm nhuần lý thuyết chủ nghĩa Cọng Sản và
thông thạo lao động thực tiễn, tôi đã trở thành con người mới. Tôi thực sự trở
thành con người mới. Tôi đã học được rất nhiều điều từ một nền văn hóa, văn minh
của Xã hội Chủ Nghĩa mà trước đây chế độ Giáo Dục miền Nam rập khuôn theo đế
quốc không dạy cho tôi. Nền giáo dục đồi trụy ấy chỉ dạy cho tôi trở thành một
thầy giáo cả đời chỉ biết cầm phấn. Hôm nay tôi hãnh diện mà khoe rằng, tôi đã
biết chăn trâu, chăn bò, chăn heo (từ cơ bản này tôi có thể trở thành nhà lãnh
đạo đất nước trong tương lai). Biết thế nào là cuốc lật những đám đất cằn cỗi bỏ
hoang hơn ba mươi năm. Biết giá trị những củ lang, củ mì. Bài học giá trị này
đích thân Trung tá Hạnh, Trưởng trại A 30, truyền dạy cho tôi với khẩu quyết:
Làm ăn no đủ, nhờ củ với khoai,
Làm ăn lai rai nhờ khoai với củ.
Cái ích lợi còn nhiều lắm, kể ra không xuể. Nền văn hóa văn minh của Xã hội Chủ
nghĩa thật tuyệt vời. Tiếc cho những ai bỏ chạy quá sớm ra nước ngoài, không
được hưởng ơn mưa móc của đảng Cọng Sản và Nhà nước và nhất là không hưởng được
chút sái của nền văn hóa đó. Tiếc thay!
Về nhà, với chứng chỉ tốt nghiệp trên tay, tôi được Hợp tác xã Xây dựng thu dụng
ngay với chức năng đạp xe ba gát chở xà bần đi đổ. Tôi không bị bóc lột như
trước kia làm thầy giáo. Tôi được trả lương xứng đáng với công việc: sáu đồng
một ngày. Mỗi tuần được hưởng một ngày nghỉ ngơi, không lương. Tôi vô cùng sung
sướng. Trên đường về tôi hân hoan trong lòng: Từ nay ta thực sự đã thành một
công dân trong một xã hội hết sức tốt đẹp mà ít nước nào trên thế giới có được.
Đó là "NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HÔI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM" Và tôi cũng tính nhẩm một cách
"lô gic" trong đầu cách chi tiêu với số lương ấy: Sáu đồng = Ly cà phê đen quốc
doanh 2$ + Gói thuốc lá đen Hoa Mai 4$. Cơm ngày hai bữa có má lo. Từ đó tôi an
tâm hăng say, miệt mài lao động cho đến ngày được phép rời đất nước thân yêu, để
lên đường đi định cư ở nước thứ ba.
Giã Từ :
Tháng 11 năm 1991, tôi đem hết gia đình vào Sài Gòn để chờ máy bay. Thời gian
này, tôi gặp lại Lãng, Hinh, Tâm lùn và Sang. Lãng vẫn tiếp tục dạy học vì anh
không có "nợ máu; với nhân dân. Anh được chuyển sang dạy cấp hai. Nay anh đã có
vợ và hai con. Tâm cùng vợ bán sữa đậu nành sống lây lất qua ngày. Tối hì hục
xay đậu. Sáng hì hục đẩy xe ba gác ra chợ Bà Chiểu bán. Sang cũng tốt nghiệp từ
một trại Cải Tạo miền Nam, về vớ được một bà lỡ thì, bán chuối ở chợ Ông Tạ.
Ngày ngày phụ với vợ vác những quầy chuối bán từ đầu chợ đến cuối chợ. Hinh cũng
đã có vợ và một con. Phụ một chân sai vặt cho "ông bà bô" bán hàng trong một
quán cóc ở Gò Vấp, kiếm cơm ngày hai bữa.
Trong một bữa nhậu chia tay cuối cùng gần cổng xe lửa số 6 (bò bảy món Ánh Hồng
xưa) thăm hỏi những bạn bè cũ còn lại được những ai, thì được biết Đỗ Danh Đạo
vượt biên, nay đang ở Tây Đức. Còn bao nhiêu thất tán trong trận cuồng phong
thổi vào Sài Gòn tháng tư, bảy lăm. Bấy lâu không gặp lại một ai. Bữa ăn thật
buồn. Tâm lùn cố pha trò nhưng vẫn không đánh tan nỗi u sầu nặng trĩu trong lòng
mọi người. Lãng vẫn còn nói lắp:
- Thế... thế, trước khi rời khỏi Việt Nam, ông có định đến thăm Trịnh Công Sơn
lần chót không?
Mọi người lúc ấy mới chợt nhớ ra là mình còn một người bạn tên là Trịnh công
Sơn. Tôi hơi e ngại chuyện đến thăm. Sợ bị hiểu lầm dựa hơi, nhờ cậy. Tôi kể lại
chuyện gặp hai ông Trịnh ở Nha Trang năm 1970, Sơn không thấy tôi hay không nhận
tôi. Sang chép miệng:
- Đọc báo thấy nói ổng quen toàn những văn nghệ sĩ từ cái thời Nhân văn Giai
phẩm ngoài Bắc như Văn Cao, Phùng Quán, Hoàng Cầm... không hà!
Sang lại chửi đổng:
- Mẹ! Thấy sang bắt quàng làm họ!
Hinh tiếp lời:
- Tôi có lần đến cà phê của anh ta. Chung quanh anh ta lúc nào cũng có một đống
bu quanh.
Tâm hỏi:
- Thế anh ta có nhìn thấy ông không?
Hinh tặc lưỡi:
- Anh ta lúc nào cũng bận tíu tít với cái đám bung xung thì làm gì có thì giờ
nhìn thấy tôi!
Tâm phấn khích quay sang tôi:
- Ngày mốt ông lên máy bay hả? Được rồi, trưa mai 12giờ, dẹp hàng xong, tôi chở
ông lên chỗ ông Sơn ở, ông vào xem thử ra sao! Bây giờ Nhà nước cấp cho ông ta
một cái vi la to lắm không biết của ai chạy bỏ lại. Mẹ! Không biết làm đến chức
gì mà ngon thế? Tâm lại chửi đời. Các bạn xúm nhau mỗi người một câu, xúi tôi đi
thử:
- Ông cứ đi thử cho biết tình đời! Chết thằng tây đen nào mà sợ!
Trưa hôm sau, Tâm chạy chiếc xe Honda cà tàng, xành xạch chở tôi đến vi la của
Sơn đang ở. Tâm dừng xe bên kia đường chói chang nắng gắt giữa trưa, bảo tôi qua
bấm chuông. Căn biệt thự có tường vây cao quá đầu bao bọc. Dọc bên trong có
trồng trúc kiểng cao quá tường. Tôi bấm chuông. Cánh cửa sắt hé mở. Dưới tàn một
khóm trúc ngay cổng, hai thanh niên vạm vỡ đang ngồi nhâm nhi. Chai Whisky vơi
quá nửa. Một người hỏi tôi:
- Ông hỏi ai? Có việc gì?
- Tôi là bạn của ông Sơn lâu lắm rồi. Đến thăm thôi, không có việc gì cả!
- A! Anh Sơn đang nghỉ trên lầu! Ông đứng đây chờ một chút. Tôi lên thông báo
rồi cho ông hay.
Anh ta bỏ ly rượu xuống bàn, bước vào nhà. Độ hai phút trở ra nói:
- Anh Sơn đang mệt cần nghỉ ngơi, sáng giờ uống hơi nhiều. Nếu ông cần gì, xin
viết giấy để lại, chúng tôi sẽ trình với anh Sơn.
Nói xong anh ta xé trong tập sổ tay một tờ giấy con đưa cho tôi và cây viết Bic.
Tôi lưỡng lự không biết phải viết cái gì. Nhìn qua bên kia đường thấy Tâm đang
đưa tay quẹt mồ hôi trán, lòng tôi bất nhẫn. Tôi lia ngay một hàng không nghĩ
ngợi: "Anh Sơn! Từ năm 1967 đến nay mới có dịp vào Sài Gòn. Ngày mai tôi sẽ lên
máy bay đi Hoa Kỳ, nên ghé thăm anh tí chút, nhưng không được gặp. Thôi, xin hẹn
lại kiếp sau". Đưa trả lại tờ giấy cho ngươì bảo vệ, tôi quay lưng đi thẳng.
Trên đường về, Tâm hỏi:
- Sao? Không có Sơn à?
- Có! Nhưng tên bảo vệ nói là Sơn sáng nay uống rượu hơi nhiều nên mệt, cần nghỉ
ngơi. Hắn bảo tôi cần gì thì viết giấy để lại.
- Ông có viết không?
- Ban đầu tôi định không viết. Nhưng nhìn thấy ông đứng ngoài nắng nhễ nhại mồ
hôi, tôi đâm bực, viết đại một câu cho bỏ ghét. Bây giờ nghĩ lại thấy cải lương
quá!
- Câu gì mà cải lương?
- Xin hẹn lại kiếp sau!
Tâm cười ha hả:
- Thì đúng boong! Ông qua Mỹ rồi, làm gì có ngày về lại Việt Nam để gặp lại
nhau? Không là kiếp sau à!
Tâm lại hỏi:
- Ông có nghĩ rằng họ sẽ đưa tờ giấy đó cho ông Sơn không?
- Không! Tôi nghĩ là không! Lúc tôi viết mấy chữ đó, liếc mắt thấy nó nhếch mép
cười. Tôi chắc rằng khi quay lưng đi, chúng nó sẽ vất vào giỏ rác ngay. Vã lại,
với chức quyền như Sơn hiện giờ thì ngày nào lại chẳng có khối thằng đến xưng là
bạn để cầu cạnh, lợi dụng. Họ bận tâm làm gì!
Tâm vẫn ức:
- Ông Sơn làm nhạc thì ăn cái dải gì mà cầu cạnh?
Tôi phì cười vì cái ý nghĩ đơn giản của Tâm:
- Bán sữa đậu nành như ông, bán chuối lề đường như ông Sang thì không cần. Nhưng
ông viết văn, làm nhạc thì phải khom lưng cười cầu tài đó!
- Sao ông biết?
- Tôi không biết ông Sơn đang nắm giữ chức vụ gì, nhưng cứ suy đoán thì thấy
ngay. Này nhé! Cứ đem so sánh với những tay một đời theo đảng, mấy ai đã được ân
sũng như thế? Vi la này! Những hai bảo vệ này! Còn vô khối bỗng lộc ngõ trước,
ngõ sau thì đủ biết Sơn đang giữ chức vụ lớn và quan trọng lắm.
- Mới tới đây có mấy phút mà nghe ông nói như thánh nói!
- Cần gì phải thánh mới biết! Cứ nhìn đầy tớ gác cổng mà uống whisky thì biết
ngay đời sống của thầy!
Sáng hôm sau, một ngày cuối tháng 11 năm 1991, tôi bước chân lên máy bay, gạt
nước mắt giã từ quê hương yêu dấu để đến một đất nước xa lạ, nhưng có tự do. Ở
đó con người mới có cuộc sống thực sự của con người.
Mấy Lời Kết :
Trịnh Công Sơn giờ đã xuôi tay, giã từ cuộc đời, sau hơn bốn mươi năm ngụp lặn
trong danh lợi như tất cả những ai sống trên cõi đời này. Chết là hết. Ngẫm câu
"Thế sự du du nại lão hà" mà ngao ngán.
Cũng may, trong thời gian tôi bị cải tạo, gia đình tôi còn cất dấu được tập hồ
sơ công vụ của tôi và một ít hình ảnh kỷ niệm ở Bảo Lộc, tôi mới ghi lại được
những tài liệu chính xác về ngày, tháng, năm về một quãng đời có dính dáng đến
Trịnh công Sơn dạy học ở đây. Nếu không thì chắc chắn, khi mới đọc qua tiêu đề
"Về một quãng đời... ." sẽ có người kêu lên ngay rằng- "Lại thêm một thằng nữa
nhảy ra xưng là bạn của Trịnh Công Sơn. Cái loại này bây giờ ở đâu lòi ra nhiều
quá. Xúc đổ đi không hết! Đời chó thật!"
Nay, nhân đọc mấy bài báo nói về họ Trịnh, gọi là tưởng niệm, thấy hai phe khen
và chê có những điểm không đúng về con người đời thường của Trịnh Công Sơn và
cũng do sự thúc đẩy của bạn bè, lần đầu tiên tôi tập cầm bút viết lên những lời
thô thiển, nhớ sao viết vậy, không văn vẻ. Mong được lượng thứ.
Nhìn lại những tấm hình chụp bốn chúng tôi khi ở chung với nhau trong ngôi nhà
của bà Trần thị Phi năm 1964, tôi không khỏi ngậm ngùi. Nguyễn Văn Ba, Trịnh
Công Sơn đã về với cát bụi. Nguyễn Hảo Tâm không biết giờ này đã từ Ấn Độ về
chưa? Còn tôi, làm thân lưu lạc xứ người, không biết bao giờ mới trở lại quê
hương.
Nhìn nét mặt bốn người thuở hai bốn, hai sáu, trẻ trung, hồn nhiên, vô tư thật
dễ thương. Cái miệng Sơn cười rộng thoải mái, cái vầng trán cao, đôi mắt hiền
lúc nào cũng mơ màng, tạo nên khuôn mặt có nét dễ thương, ưa nhìn. Có lần tôi đã
nhận xét, Sơn hiền lành đến độ nhu nhược, nếu không nói là hèn. Cái hiền đó bị
người ta lợi dụng. Cái "thiên tài" của Sơn như con dao sắc, tự nó không làm hại
ai. Ai lợi dụng được Sơn thì xử dụng được con dao đó. Khi ở Bảo Lộc, Sơn đã bị
Hoàng Phủ Ngọc Tường lợi dụng Sơn vào mưu đồ chính trị của mình để lập công với
Cộng Sản tàn sát dân Huế Tết Mậu Thân mà Sơn không hay biết cứ tưởng đó là lòng
yêu nước. Sau về Sài Gòn, trong thời gian trốn lính, Sơn bị hai người bạn "chí
cốt" là Trịnh Cung và Đinh Cường lợi dụng sự nổi tiếng của Sơn để ké chút hào
quang. Chắc chắn hơn ai hết, hai ông Cung và Cường đều biết Sơn đang đi vào con
đường nào mà vẫn cứ bao che, biện hộ để hưởng sái. Sái của cái danh hão!
Sau 75, Sơn càng bị nhà cầm quyền khai thác triệt để, như một trái chanh, "thiên
tài" của anh để phục vụ cho mưu lược chính trị. Có lúc Sơn phải than thở riêng
với vài bạn thân về hai chử nên hay không "thỏa hiệp". Cuối cùng không dám có
dũng khí bứt ra khỏi vòng "kim cô" danh lợi.
Từ đó Sơn lún mãi vào "một cõi thiên đàng" hay "một cõi đi về?" để hưởng thụ
những xa hoa đã một đời mơ ước. Người trần mắt thịt mà! Đừng bắt Sơn phải làm
thần thánh! Và Sơn đã toại nguyện cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay.
Tôi và các bạn tôi, một thời ở Bảo Lộc, đối với Sơn, chỉ là bạn đồng nghiệp
trong một thời gian ngắn ba năm, nên là những kẻ vô danh. Nhưng trong lòng chúng
tôi luôn luôn vẫn dành cho anh một khoản lớn chứa hình ảnh và những tiếng hát
của anh về những bản tình ca. Chúng tôi yêu mến anh và bây giờ tình cảm đó vẫn
còn nguyên vẹn.
Tôi tha thiết kêu gọi những ai đã từng lợi dụng Sơn, xin hãy ngừng lại đi thôi.
Hãy để Sơn yên nghỉ. Bởi vì Sơn không có ai là bạn cả. Sơn đã có lần tự thán
"rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình".
Nhớ lại ngày Sơn đưa tôi tập bản thảo "Ca khúc da vàng" cho tôi xem. Tôi đã nói:
- Loại nhạc này nó không hợp với con người của ông... Hôm nay tôi cũng sẽ nói:
- Ông Sơn à! Hơn sáu mươi năm qua, với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, người ta vẫn thích
và vẫn hát "Dư âm" chớ người ta không hát "Người đi xây hồ Kẻ Gỗ" hoặc "Em đi
làm Tín dụng". Trường hợp ông cũng vậy. Ít nhất là có tôi. Đến nay đã bốn mươi
năm qua, tuổi đời hơn sáu chục, có những buổi chiều mưa rã rích trên đất khách,
quê người, tôi bỗng chợt lẫm nhẫm mấy câu "Chiều này còn mưa sao em không lại!
Nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhau. Hằn lên nỗi đau! Bước chân xin em về
mau!..." với một nỗi xúc động nghẹn ngào. Chứ tôi không thể hát những lời trong
"Em ra nông trường, Anh ra tiền tuyến". Cái loại nhạc đẻ non bằng thuốc kích dục
để đáp ứng nhu cầu chính trị giai đoạn mà ông đã đẻ ra hằng loạt để trả nợ áo
cơm nó sẽ chết yểu. Ông còn nhớ bài "Vui xây Ấp Chiến lược", ông sáng tác cấp
tốc lúc học Sư phạm để chúng tôi đi dạy thực tập không? Chúng tôi đã chê. Và ông
đã để nó chết ngay vừa mới lọt lòng.
- Ông Sơn! Bây giờ ông đã về nơi ông muốn. Bây giờ người ta tha hồ tô son, vẽ
phấn cuộc đời ông. Huyền thoại hóa cuộc đời ông. Mục đích để làm gì? Để vinh
danh ông chăng? Ca tụng ông chăng? Một phần nào đó thôi. Thực chất vẫn là lợi
dụng ông, lại là cái chết của ông để quay phim, in nhạc, viết sách, làm thơ, làm
băng về ông để... bán. Và hội thảo, hội thoại, tưởng niệm, đúc tượng, thành lập
Câu Lạc bộ v.v... thậm chí lợi dụng tên ông trong các dịch vụ mua bán làm ăn như
Cà phê Trịnh Công Sơn, Quán Trịnh Công Sơn...thật nhố nhăng. Chung qui cũng một
chữ: trục lợi.
Trước ông, lịch sử Việt Nam đã có biết bao "vĩ nhân" về văn cũng như võ đã dày
công dựng nước và giữ nước. Hỏi mấy ai được nhà nước tổ chức rầm rộ, ồn ào như
đám ma của ông không? Tôi nghĩ chẳng cần phải có câu trả lời. Bởi ông đã có công
gì cho đất nước ngoài mấy bản nhạc xu thời mà mọi người còn đang tranh cải? Nếu
thực sự nó có giá trị lâu dài thì chỉ là cho cá nhân ông thôi. Lợi gì cho đất
nước! Bây giờ thực sự ông đã đứng ngoài vòng cương tỏa. Ông hãy nhìn lại xem. Có
phải quanh ông chỉ là đám nhặng xanh đang lăng xăng làm trò múa rối?
Riêng tôi, tôi vẫn thích và thương ông với con người nghệ sĩ, bình dị, tự nhiên,
hiền lành. Một thuở mà chúng tôi vẫn thường gọi ông một cách thân thương: "Chàng
nghệ sĩ nhứt y nhứt quởn"*.
Nguyễn Thanh Ty (E mail: tythanh2001@yahoo.com)
Quincy, mùa Đông năm 2001.
* Nhứt y nhứt quởn: Chỉ một bộ quần áo duy nhất.
click để trở về những bài viết Nguyễn Thanh Ty
|