free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer


Thơ Và Truyện


Nguyễn Thanh Ty
- Trung Học Đệ Nhất Cấp :
Văn Hóa Tương Lai;55-59
- Trung Học Đệ Nhị Cấp :
Võ Tánh ;59-62
hiện ở Hoa Kỳ
- E-mail :
tythanh2001@yahoo.com

HÌNH BÓNG NHẠT NHÒA

Nguyễn Thanh Ty

T rong vùng ký ức mù mờ của tôi, tôi còn nhớ một nhân vật có tên là “thằng Bổ ”.
“Thằng Bổ ” bao nhiêu tuổi, hình dáng ra sao, tôi không bao giờ biết. Bởi “ Thằng Bổ ” là một nhân vật kỳ bí, lúc ẩn, lúc hiện như ma trơi. Mỗi khi dân làng tôi nói về “ nóù” là phải hạ thấp giọng xuống, thầm thì. Hoặc ghé vào tai nhau nho nhỏ, trong khi mắt liếc để dè chừng chung quanh.
Lúc ấy, tôi độ chừng sáu hay bảy tuổi. Cái tuổi quá nhỏ làm sao biết được những chuyện người lớn. Nhưng Má tôi có một cái quán nhỏ bán đủ thứ lặt vặt cho bà con chòm xóm những món cần thiết hàng ngày. Do đó bao nhiêu tin tức nóng hổi, giựt gân, đều đi qua trạm thông tin của Má tôi. Tôi phụ bán hàng cho Má tôi, nên, muốn hay không muốn, tai tôi đều nghe hết.
Tôi biết đến nhân vật “ thằng Bổ ” là do những thầm thì to nhỏ của mấy ông sáng sớm đến quán Má tôi làm một ly rượu đầu ngày hay mấy bà ghé mua một xị nước mắm, mấy trái ớt sừng, năm ba củ tỏi, trái chanh về làm bửa mắm cho gia đình ăn cơm với cá khô nướng.
Họ ghé vào tai nhau :
- Hồi hôm thằng Bổ dìa !
-Thiệt hả ? Hồi nào ?
- Hồi nửa đêm ! Nó băng sông từ Hố Dâu bơi dìa !
- Hèn gì mới sớm bửng tui thấy mấy thằng mật thám đi lượm truyền đơn !
Truyền đơn ! Đó là giấy tử hình ! Đó là tờ giấy gây sự chết cho bất cứ dân thường nào lượm và cất dấu nó. Tôi nghe loáng thoáng người ta xầm xì :
- Hồi hôm Việt Minh rải truyên đơn trắng chợ Đầm !
- Bữa hổm Việt Minh cũng dìa Đồng Bò treo cờ khắp nơi!
- Nghe nói ở Thái Thông, Thái Tú cũng đầy truyền đơn!
Tôi cũng không hay biết “ Thằng Bổ ” bằng cách nào đã huấn luyện dân xóm tôi thành một lực lượng Việt Minh chống Pháp đông đảo lên cả trăm người.
Cứ mỗi buổi chiều mành về bán cá xong, thanh niên từ mười tám tuổi trở lên cùng với những người lớn như Ba tôi, Bác Năm, Bác Ba, con bà nội Mười tôi, Cậu Sáu, Cậu Tám, con bà ngoại tôi ... và rất đông “ bạn nghề” đều tham gia huấn luyện “ quân sự ” đánh Pháp.
Họ xếp hàng tư, tay mỗi người cầm một ống lồ ô dài thước rưỡi giả làm súng “ mút cà tông”, kèm theo một viên đá cuội để khi có lệnh hô “bắn” là gõ liên hồi vào ống lồ ô nghe như tiếng súng cạch, cạch, cạch.
Trên đầu mỗi người đều quấn đầy giây bông nho ( tigôn) bứt ở ven sông Tòa Tỉnh, lòng thòng xuống tận lưng để ngụy trang.
Họ đi đều bước theo nhịp đếm của một người đi ngoài hàng.
Một, hai ... một, hai ...
Ban đầu, hàng ngũ rất lộn xộn, xiên xẹo. Họ vừa tập vừa đùa giỡn, nói cười ầm ĩ, như một trò chơi thú vị. Sau mấy lần thì đội quân đã đâu vào đó, do người “ chỉ huy” lạ mặt rất nghiêm nghị, khéo léo hướng dẫn.
Với bước đi rầm rập, nhịp nhàng, họ đi từ đầu xóm đến giữa xóm rồi vòng trở lại. Họ hát vang một cách hùng hồn : ...
“Bắc Nam Trung cùng nhau ta kết đoàn”...
Rồi chuyển sang :
... Một mùa thu năm xưa cách mạng tiến ra phất cờ ...
Bọn trẻ con chúng tôi cũng bắt chước hát theo.
Nhưng tôi không biết tên bài ca là gì và cũng không bao giờ thuộc hết bài hát.
Ba tôi chê tôi dở ẹt, thua thằng em tôi mới năm tuổi mà thông minh hơn tôi nhiều. Mỗi khi tập trận xong, tản hàng, chúng tôi đứng trước nhà chờ Ba tôi cùng các Bác về, tôi thì trơ mắt ra ngó, còn thằng em tôi thì vỗ tay hát mừng :
- Bác Năm Trung ta kết đoàn về kê!
“Bắc Nam Trung kết đoàn” nó đổi thành câu hát riêng dành cho Bác Năm.
Với cái giọng ngọng nghịu dễ thương của nó, ai cũng bồng bế, hun hít, khen ngợi. Ba tôi vui và hãnh diện với nó lắm.
Trong lúc người lớn đi đều hàng, ngững mặt về phía trước hát vang vang, thì lũ trẻ con chúng tôi chạy theo hai bên vỗ tay reo hò. Người già cũng đứng hai bên đường hoặc trước cửa nhà vỗ tay trợ oai. Cái không khí trong làng tưng bừng, náo nhiệt,vui như đi đánh giặc thiệt!
Sau thời gian đi đứng, tới, lui nhịp nhàng ăn khớp với những hiệu lịnh, đoàn quân được huấn luyện cách đánh giặc.
Khi được lịnh :
- Tản hàng ! Phục kích !
thì cứ mười người một toán, chia nhau chạy vào các đường luồng, núp hai bên các hông nhà, hờm cây lồ ô trong tay như động tác giương súng sẵn sàng tác chiến.
Khi nghe vị chỉ huy hô : - Bắn !
Tiếng đá cuội gõ vào ống lồ ô cạch, cạch, cạch nghe liên tu bất tận. Cứ đường luồng này vừa dứt tiếng, thì hẽm kế bên tiếp nối gõ. Trận phục kích kéo dài chừng hút hết điếu thuốc rê thì nghe có tiếng hô :
- Ngưng bắn ! Tập họp !
Mọi người từ trong các hẽm, các đường luồng túa ra tề tựu đông đủ, xếp hàng ngay ngắn rồi hát vang bài ca chiến thắng ... Bắc Nam Trung cùng nhau ta kết đoàn ... trước khi giải tán.
Thời gian gần nữa năm, xóm tôi sống trong không khí tưng bừng, náo nức. Ai ai cũng hăng hái, sục sôi chờ ngày được lịnh đánh đuổi giặc Tây, dành độc lập cho nước nhà.
Lũ trẻ chúng tôi không biết gì về cái chuyện hệ trọng sắp xãy đến. Chúng tôi chỉ thấy đó là những ngày vui nhộn, hấp dẫn, kích thích hơn là các trò chơi thả diều, u mọi, giựt cờ ...

. . . Một buổi sáng năm 1945.
Không khí làng tôi bỗng nhiên im lặng một cách bất thường. Mới tờ mờ sáng, ai nấy cũng vội vội, vàng vàng, chạy đi, chạy lại. Nhưng tuyệt nhiên không ai nói một lời. Tất cả đều im lặng. Những hàng bánh căn, bánh xèo, bánh canh, bán mọi buổi sáng, bữa nay cũng không thấy dọn ra. Đường làng vắng ngắt.
Khi trời sáng rõ mặt người thì, ào một lúc, từ trong các nhà ở bờ sông, từ các đường luồng ở mé biển, vô số người trên tay cầm gậy tầm vông vót nhọn, hối hả chạy lên phía Lầu Ông Tư.
Một lúc sau có mấy người mang dao và mã tấu bên hông sáng quắc, cầm loa thiếc kêu gọi sắp hàng chuẩn bị đi “ mít tinh”.
Tất cả người già, đàn bà, trẻ nít trong làng túa ra, đứng xa xa để coi. Đám con nít không biết ất giáp cũng cố chạy lên tận đằng trước để coi cho rõ. Tôi là một trong đám tò mò hiếu kỳ đó.
Cái không khí bữa nay lạ lắm. Nó không náo nhiệt vui vẻ như những lần tập trận giả. Trên nét mặt ai nấy đều lộ vẻ căng thẳng đầy nổi lo âu. Chỉ có mấy người đeo mã tấu, tôi không biết mặt vì không phải người trong làng, là bừng bừng sát khí. Họ vụt lên đàng trước, thoắt cái, họ có mặt đàng sau, để đôn đốc và cổ vỏ tinh thần dân xóm tôi hăng hái tiến lên.
Trong số họ có “ Thằng Bổ” không ? Trong đầu tôi, hình ảnh tưởng tượng về “ Thằng Bổ ” chập chờn nhiều khuôn mặt. Có cái dữ dằn, có cái lạnh như tiền, có cái lại hiền lành xuề xòa ... tôi thấy trong đám lạ mặt đó, ai cũng có thể là “ Thằng Bổ ” cả!
Khi hàng ngũ đã chỉnh tề, một người đeo mã tấu lớn tuổi nhất, bất ngờ rút trong người ra một lá cờ đỏ sao vàng, xỏ vào một cái cán cờ ai đó vừa tới, rồi dương cao lên trước đoàn người, hô to :
- Tất cả hãy tiến lên ! Tiến lên đánh đuổi giặc Pháp dành lấy tự do, độc lập cho nước nhà !
Đoàn người cũng đồng loạt giơ cao tầm vông lên trời và hô lớn:
- Tiến lên ! Tiến lên !
Có lẽ nhờ hô to, hơi nén dồn trong lồng ngực chứa đầy nổi lo âu thoát ra ngoài, đoàn người hăng hái hẳn lên, tiếng hô “ tiến lên” càng mạnh mẽ vang động cả làng .
- Bước đều ! Bước ! Một, hai! ... một, hai! ...
Người chỉ huy ra lệnh cho đoàn người tiến lên về phía Tỉnh đường.
Đoàn người chưa bước được mươi bước thì :
- Đùng, đùng, đùng ...
Một loạt tiếng súng liên thanh “ mi trây dết” nổ giòn từ những lổ hổng của bờ thành Lầu Ông Tư bắn ra. Đạn vãi như mưa bấc. Những người đi đầu trúng đạn ngã quay ra đất, chết lập tức. Những người đứng sau bị thương ngã dụi xuống, kêu la, rên rỉ ầm ĩ. Một quang cảnh náo loạn, kinh hoàng xãy ra quá bất ngờ. Đoàn biểu tình tan nhanh như cơn gió thoảng. Mạnh ai nấy chạy tan tác. Phần đông là nhảy xuống bờ sông bơi về nhà hay trốn qua Cồn giữa. Bỏ lại tại chổ hơn mấy chục người vừa chết vừa bị thương quằn quại.
Đám trẻ con khóc la vang trời không biết chạy đi đâu. Đụng đâu lũi đầu vô đó để trốn. Tôi không biết bằng cách nào đã lũi được vô nhà ông Phán Minh gần đó. Khi tỉnh hồn, tôi nhận ra bà Phán Minh đang ôm tôi và con Liên, con của bà, cũng trạc tuổi tôi, ở dưới bộ ván ngưạ giữa nhà.
Chặp sau, từ Lầu Ông Tư chạy ra hai chiếc xe nhà binh màu đất sét. Lính lê dương nhảy xuống, súng ống lưỡi lê rần rần. Chúng vừa xí xô, xí xà “ mẹt, mẹt” vừa khiêng thây người quăng lên xe, không cần biết ai chết hay bị thương, chở đi mất.
Lâu lắm, không biết thời gian bao lâu, nửa giờ hay một giờ sau, tiếng khóc than vang động của người trong làng đi kiếm chồng, con, bị lạc hay bị chết, rộ lên khắp nơi.
Tôi nghe thấy tiếng Má tôi khóc mếu máo kêu tên tôi :
- Con ơi ! Con ở đâu ?
Tôi mừng quýnh lên, gỡ tay bà Phán Minh, chạy ra ôm chầm lấy Má tôi, bật khóc nức nở. Má tôi vào cám ơn bà Phán và dẫn tôi về nhà.
Mãi chiều tối những người bị thương mới dám mò về. Người bị thương nhiều lắm, nhưng không ai dám đi nhà thương, sợ Tây bắt. Họ tự băng bó và chữa trị bằng thứ thuốc gì kiếm được . Bác Ba tôi bị cụt hai ngón tay, ngón trỏ và giữa của bàn tay phải. Cuối năm đó bác Ba gái sanh đứa con gái đầu lòng, để kỷ niệm nhớ đời “ trận đánh Tây”, bác đặt tên con là Cụt. Tôi gọi là chị Cut.
Bác Năm tôi bị tét mông đít, phải nằm sấp mà ngủ gần ba tháng mới lành. Ba tôi và các cậu tôi may mắn không hề hấn gì.
Sau vụ đánh Tây bất thành đó, không còn thấy ai nói năng gì về chuyện tập trận trở lại. Người trong xóm lại thì thầm :
- Thằng Bổ chết rồi !
Thằng Bổ chết rồi, những người lạ mặt đeo mã tấu cũng không thấy trở lại, không biết họ ra sao. Nhưng họ để lại thảm họa cho làng tôi. Những ngày tháng tiếp theo, nhiều người trong làng tôi bị mật thám chỉ điểm, bị bắt đi rất nhiều.
Khi được thả về, người nào cũng xanh xao, ốm yếu. Có người ôm ngực ho ra máu. Có người trở thành mất trí, lúc tỉnh, lúc điên.
Ai làm mật thám cho Tây ? Nó là ai ? Nó ở trong làng mình hay ở ngoài phố ? Hay là nó trà trộn trong xóm mình từ lâu mà mình không hay ? Có bao nhiêu thằng mật thám ở trong xóm mình ?
Những ánh mắt, những lời thầm thì, người trong xóm hỏi nhau các câu hỏi bí ẩn đó. Không ai dám cả quyết là ai. Nhưng có hai người khả nghi lắm. Hai người đó có những hành động đáng nghi ngờ. Nhưng không ai dám chỉ mặt đặt tên. Họ chỉ tránh không giao thiệp, tiếp xúc.
Hai tháng sau ngày “ đánh Tây hụt” tàu Nhựt từ ngoài biển nã đạn pháo vào Nha Trang ầm ầm để chuẩn bị đổ bộ lên bờ bắt lính Pháp.
Sợ trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết, dân làng tôi bỏ nhà cửa, bồng bế nhau đi lánh đạn. Có kẻ chạy về nhà quê tận Thành, Phú Lộc, Đại Điền ... có kẻ chạy ra đèo Rù Rì, Lương Sơn hay xa hơn nữa Phú Hữu, Ninh Hòa.
Ba tôi bỏ hai anh em tôi trong hai cái thúng ở hai đầu gánh, gánh chạy tuốt ra tới Lương Sơn thì hụt hơi. Má tôi ôm bọc quần áo, lết thếch chạy theo sau với một đám đàn bà con gái cũng ra Lương Sơn.
Ở Lương Sơn có “ Nhà Mồ Côi” do mấy bà Xơ nuôi dưỡng các em bé không cha, không mẹ.
Trên nóc nhà có hình chữ Thập Đỏ nên Tây hay Nhựt đều không dám xâm phạm đến. Dân chạy nạn xin mấy bà Xơ dựng lều tranh ở xung quanh tá túc một thời gian. Mấy bà Xơ thương tình dân chạy loạn nên cũng tận tình giúp đỡ. Mấy ngày trước khi Nhựt bắn cà nông vào Nha Trang, tôi ngồi chơi sau hè nhà, không biết do ngủ gục hay trúng gió, té nhào xuống sông. May mà hôm đó nước cạn, trán chỉ đập vào be chiếc ghe đậu dưới cừ. Bất tỉnh. Ba Má tôi bồng lên, hú ba hồn chín vía cho tôi tỉnh lại. Lát sau tôi tỉnh lại và không có triệu chứng gì nguy hiểm. Cái trán hơi bị móp vô và bầm thôi. Má tôi bôi dầu cù là lên trán. Bà còn bắt thằng em tôi đái vô chén, cho tôi uống để tan máu bầm.
Tưởng thế là xong. Ai dè khi ra Lương Sơn được hai ngày thì cái tráng tôi sưng lên một cục to bằng cái khu chén. Tôi nóng sốt, mê man li bì suốt mấy ngày đêm. Ba, Má tôi hốt hoảng đi kiếm lá bìm bìm giã với muối hột đắp lên cho nó xẹp.
Ba hôm sau chổ đắp lá làm mủ. Cái khu chén trên trán tôi căng da như cái bong bóng, rồi vỡ miệng. Mủ lẫn máu bầm chảy dầm dề cả mặt, không kịp chùi.
- Mủ chảy ra cả chén ! -
Sau này Má tôi kể – Má sợ quá, khóc quá chừng !
Tội cho con mà không có thuốc gì xức cho con lành!
Thời gian chạy giặc, Ba tôi phải mua cá từ Lương Sơn gánh chạy bộ lên nhà quê, băng theo đường rừng, gần cả chục cây số để bán, làm kế độ nhật. Sáng sớm tinh mơ ông đã đi, tối mịt mới về chổ trốn giặc.
Thấy cái trán tôi càng ngày càng lở loét, ông thương đứt ruột, đánh liều mò về Nha Trang để kiếm thuốc.
Nha Trang trong những tháng Nhật chiếm đóng, đa số đều tản cư, nên vắng hoe, không một bóng người ngoài phố. Ba tôi vừa dò chừng vừa đi, cứ sợ Nhật bắt. Cuối cùng ông cũng tìm mua được một chai thuốc dán hiệu “ Con Rắn”.
- Thiệt mừng hết lớn ! – Ông nói.
Vậy mà nhờ chai thuốc dán “ Con Rắn” cái trán tôi lành hẵn. Chai thuốc cũng vừa cạn sạch. Vết thương ra đi để lại trên trán tôi một cái sẹo lớn giống như nửa vành trăng. Chỉ thiếu ba chấm tròn ở trên là thành chử tâm : - Một vành trăng khuyết,ba sao giữa trời !
Cái vành trăng khuyết lõm vào trán khá sâu. Ba tôi sờ vào mới biết cái trán tôi bị bể xương chớ không như ông tưởng chỉ bầm sơ sài.
- Thằng nhỏ tui mạng thiệt là lớn ! Phật trời độ cho nó, chớ bể xương trán như vầy mà sống sót bằng chai thuốc dán thì thiệt là lạ !
Mỗi lần ai tới chơi, Ba, Má tôi đều kể chuyện cái trán tôi và kết luận y như vậy.
Trái lại thằng em sáu tuổi của tôi thì mắc bệnh cam tích. Nó vẫn ăn chơi bình thường. Nó vẫn ca hát luôn miệng và đôi khi quẩn theo chân Má để giúp bà đôi việc vặt. Nhưng nước da nó càng ngày càng vàng. Cái bụng càng ngày càng to. Nhiều người bày bắt cóc cọt vàng làm thịt, băm nhỏ, cuốn lá thúi địt, nướng cho nó ăn. Có người lại chỉ cách hái trái dẹp già, lấy hột cho nó ăn. Hột khô thì Ba tôi rang lên, giã thành lớ, trộn đường đen, ép thành từng cái bánh in nhỏ để cho nó ăn.
Bất cứ ai bày biểu món thuốc gì Ba, Má tôi cũng vội vàng làm theo để chữa trị chứng cam tích cho con. Nhưng bệnh không thuyên giảm chút nào. Chứng cam tích càng ngày càng lậm. Đôi mắt nó bị lờ đi. Cuối cùng thì mù hẵn. Nó quờ quạng đi lại trong nhà trông rất tội nghiệp. Nó không hề khóc lóc.
Nó vẫn hát : - Bác Năm ta về kê !
Khi tình hình chiến tranh tạm lắng dịu, người dân xóm tôi lục tục về lại làng. Ban đầu một hai gia đình đi trước dọ đường. Thấy êm êm, người về càng ngày càng đông.
Gia đình tôi cũng gồng gánh đi theo. Hai anh em tôi lại được Ba tôi gánh ở hai đầu thúng. Về lại nhà cũ, Ba Má tôi vừa mừng lại vừa lo rầu. Bệnh thằng em tôi càng trở nặng. Có người bày ăn gan gà trắng. Mỗi ngày Má tôi ra chợ Đầm tìm mua cho được con gà trắng để về lấy lá gan chưng cách thủy cho em tôi ăn. Nó ăn chừng ba chục lá gan thì sức yếu hẵn và đi luôn. Ba Má tôi vật vã khóc than. Tôi cũng thương thằng em quá chừng. Bây giờ không còn ai chơi với tôi. Bây giờ tôi không còn nghe nó hát :
- Bác Năm ta về kê nữa !
Mỗi lần cúng cơm cho nó, Ba tôi hay khấn vái hồn nó có linh thiêng thì hãy phù hộ cho tôi, mạnh khoẻ, ăn chơi.
Ông thường chép miệng tiếc nuối :
- Nồi đồng thì mất ! Nồi đất thì còn !
Quả đúng như Ba tôi nói. Tôi suốt đời chỉ là cái nồi đất. Nhiều khi cái nồi đất còn sức miệng, bể nắp nữa.
Đời sống làng tôi dần dần trở lại bình thường. Má tôi lại mở quán như xưa. Ghe mành lại ra khơi. Rổi từ nhà quê lại theo xe ngựa lóc cóc mỗi ngày xuống xóm tôi chờ mua cá. Sinh hoạt làng chài trở về nếp sống cũ, lại rộn ràng, tấp nập, ồn ào, náo nhiệt như xưa.
Hai kẻ tình nghi làm mật thám cho Tây, bây giờ nghênh ngang lộ mặt. Đó là lão Sáu Hanh và lão Chín Chánh. Nhà lão Sáu Hanh xéo trước nhà tôi, đối diện với nhà bác hai Si. Lão Chín Chánh ở phía sau đường luồng nhà Sáu Hanh. Hai người này bây giờ ngang nhiên giắt “ giò heo” ở lưng để đi làm việc chớ không còn lén lút dấu cất như xưa.
Người làng tôi nghiến răng, rũa nộp cho hai thằng chết sình, chết chướng.
Đi ra đường thì bị xe cán nát thây. Xuống biển thì bị cá xà đản. Nhưng không ai chết cả. Và người làng càng sợ hai tên này, càng lánh xa chúng .
Mãi ba năm sau, lão Chín Chánh không đau ốm gì, bỗng dưng hộc máu mồm, chết bất đắc kỳ tử. Người ta xầm xì :
- Bây giờ trời mới quả báo !
Không biết có phải vì sợ quả báo hay không, lão Sáu Hanh, sau đó xin nghỉ làm mật thám và mua một chiếc xuồng nhỏ để đi câu sông, sống lại đời lương thiện. Nhưng một đời lão không rữa sạch được hai chữ Việt Gian.
Những người bị Tây bắt nhốt một thời gian, khi thả về đều mang bệnh hậu. Ai cũng húng hắng ho khi trở trời. Đôi khi còn ho ra máu. Trong số những người đó, tôi nhớ rõ nhất là ông Bảy Mạnh, ông Sáu Chúc, ông Ba Đen và ông Chín Bốc. Bốn người này có những cá tánh đặc biệt khó quên khi đến uống rượu tại quán má tôi.
Rất nhiều người trong xóm đến quán má tôi uống rượu. Có người thích rượu thuốc, tức rượu trắng có ngâm thuốc Bắc. Có người chỉ thích uống rượu đế nấu bằng gạo. Cũng có người thích uống thứ rượu mạnh hơn như rượu Công Xi tức rượu của Nhà nước, do hãng Nhiêu Bá sản xuất. Hãng này nằm giáp ranh giữa sân vận động và Ty Nông Nghiệp Nha Trang. Đối diện Ty Nông Nghiệp và hãng rượu là là trường Nữ Tiểu Học và dãy cư xá của Viện Pasteur. Muốn mua rượu được Nhiêu Bá phải có môn bài. Quán má tôi nhỏ nên không có môn bài, phải “múc” lại quán lớn của bà Phán Liên. Mỗi lít mắc hơn vài đồng. Vì vậy, cũng một đồng một ly “xây chừng” cao cở nửa gang tay, quán bà Phán Liên bán thì đầy miệng ly, quán má tôi bán, mức rượu phải giựt xuống một lóng tay mới có lời.
Tuy vậy người trong xóm uống rượu lẻ thích đến quán má tôi hơn. Họ nói :
- Quán Cô Bảy bình dân !
Nhưng đúng ra là má tôi cho họ mua chịu. Mấy ngày sau có tiền đem đến trả cũng được. Ba tôi thì rầy má tôi :
- Bà biết cái nghề bán quán, hể bán chịu là mất khách rồi cụt vốn.
Rồi ông giảng giải tại sao :
- Họ mua chịu bữa nay vài đồng. Hôm sau họ chỉ có một đồng đủ để uống một ly rượu. Đến quán mình họ sợ bị đòi, nên đến quán khác uống. Vậy là bà mất khách.
Má tôi nghe cũng gục gặt hiểu ra, nhưng khi họ nài nĩ thì bà cũng mềm lòng bán thiếu cho họ.
- Người trong xóm cả mà ! Không lẽ mấy đồng mà họ giựt của mình! – Bà nói.
Ấy vậy mà khi má tôi không còn bán quán nữa, tính ra người nợ má tôi khá đông, số tiền tổng cộng lên tới vài trăm. Có đòi, ban đầu họ hứa. Riết họ nói lỳ :
- Tui hổng có tiền trả ! Cô chửi tui vài tiếng để trừ !
Má tui chỉ còn biết cười trừ.
Cái khổ tâm nhứt của tôi hồi ấy là bị Má tôi sai đi đòi nợ. Đã đòi không được còn bị nạt nộ đôi khi còn bị mắng nhiếc nữa. Không đòi được tiền về mà còn ôm mặt khóc tức tưởi. Má tôi an ủi vỗ về, hứa sẽ không sai đi nữa. Những món nợ vài đồng, vài chục đồng, “ để lâu cứt trâu hóa bùn”.
Tôi phụ bán hàng cho má tôi những lúc chưa đến giờ đi học. Hoặc những ngày nghỉ học. Lâu ngày, tôi rành rẽ và thuộc hết các giờ giấc và thói quen của từng khách hàng.
Sáng sớm, mới chống tấm liếp lên là ông Ba Chà ( còn gọi là ông ba Đen, có lẽ lúc sinh ra ông đã đen nên cha mẹ ông đặt tên cho ông như vậy chăng ) là người khách mở hàng đầu tiên.
Không cần ông nói, tôi đã rót cho ông ly rượu Công Xi rồi. Ông thò tay bốc thêm mấy trái ớt xiêm trên cái trẹt gần tầm tay, bỏ vô miệng nhai rau ráu, rồi ngữa cổ uống ực một cái hết cả rượu lẫn ớt. Ông móc túi trả một đồng bạc, lấy mu bàn tay chùi hai bên mép, rồi đi về nhà. Má tôi nói bán rượu cho ông Ba Đen không có lời vì ổng ăn ớt nhiều quá. Cứ cách khoản chừng ba tiếng đồng hồ thì ông lại đến uống một ly. Chừng năm sáu giờ chiều thì nghe tiếng bà vợ ông trong nhà la hét, tông cửa chạy ra cầu cứu hàng xóm. Ông Ba Đen đã nổi cơn điên. Từ ngày Tây thả về, ông Ba Đen ở ru rú trong nhà. Cửa liếp luôn đóng im ỉm. Xung quanh nhà có hàng rào làm bằng cây sắn đan khít lại. Vợ con ông đi bán cá về, muốn vô nhà phải hé cửa để lách mình vô. Cơn điên của ông cũng nổi cơn bất thường. Lúc thì buổi sáng, lúc buổi chiều. Không ai biết vì sao ông lại bị điên. Ông không bao giờ nói chuyện với ai. Ông lầm lầm, lì lì.
- Tướng ông cao lớn, vạm vỡ như vậy mà bị “ đơ dèm buya rô” tra tấn đến nổi phát điên thì phải biết !
- Người trong làng đoán chừng.
Ngược lại với ông Ba Đen, ông Bảy Mạnh lúc nào cũng lang thang ngoài đường, đầu trên xóm dưới. Ông cứ lòng vòng trong xóm, miệng thì lãm nhãm “ mỏa? rẻm me moa! rẻm me moa!”
Mấy tiếng “ rẻm me moa!” được người trong xóm giải thích bằng nhiều nghĩa khác nhau. Người thì nói lúc bị Tây tra tấn, chúng hỏi ông có làm Việt Minh không ?
Ông trả lời là : Moi ? Jamais-moi ! ( Tôi hả ? Không bao giờ!).
Người lại nói, Tây dụ ông làm mật thám cho nó, ông nhất định không chịu làm :
- Mỏa! rẻm me moa! ( Tôi hả ? Đời nào ! )
Sự thật ba chữ “ mỏa ! rẻm me moa!” đúng nghĩa như thế nào thì ông Bảy Mạnh chưa có lúc nào tỉnh để giải thích với chòm xóm. Ông lúc nào cũng ở trong tình trạng say lúy túy. Ông đi nghiêng bên này, ngã bên kia, khật khà, khật khưởng. Thấy vậy mà ông không bao giờ té hay ngã chúi rụi vào hàng rào nhà ai. Khi đến quán tôi, tay đưa đồng bạc, miệng ông nói :
- “ rẻm me moa” là tôi hiểu ngay ông muốn mua rượu chớ không phải nói
“Tao không bao giờ làm mật thám” hay “ Tao không phải là Việt Minh ”.
Tôi có cảm tình với ông nên ly rượu bao giờ cũng nhỉnh hơn ly ông Ba Đen một chút.
Ban đầu thì đám trẻ con chạy đằng sau để hò reo theo ông “ rẻm me moa” ầm ỹ một cách vui nhộn. Nhưng dần dần chúng cũng chán cái trò chơi đơn điệu này nên ông Bảy Mạnh hằng ngày vẫn một mình chân nam đá chân xiu, đầu làng cuối làng với “ rẻm me moa”.
Tiếng ông lảm nhảm nhưng từ đằng xa người ta vẫn nghe rõ mồn một.
Ông Sáu Chúc lại có vẻ thần bí khi ông uống rượu. Nhà ông nghèo lắm. Cái nhà ông ở sau lưng nhà bác Năm tôi, không biết phải gọi là cái gì cho đúng. Nó thấp lè tè. Nóc nhà chỉ cao tới đầu tôi. Hai mái nhà sà xuống gần mặt đất. Khi vào phải khom xuống chun vô. Bên trong tối mò mò vì không có cửa sổ, nhưng có nhiều đốm nhang cháy đỏ. Ông thờ đủ thứ. Hai ba cái kệ thờ. Giữa nhà, hai đầu nhà, mỗi nơi một cái. Nhang bó, giấy ngũ sắc chất đống bên cạnh. Giường ngũ là một vạt tre bện lại. Hai thằng con trai ông là thằng Bờ , thằng Bụi, ngủ dưới đất. Đứa nào cũng bụng ỏng như cái trống nhưng có sức mạnh của con nhà biển. Hai thằng này chơi “đánh củi” rất giỏi, luôn luôn ăn chúng tôi. Chúng có hai lợi điểm. Thứ nhứt là chúng nó khỏe. Thứ hai là củi của chúng là củi chà. Cha nó chặt từ những gốc cây ngoài đảo về để chụm. Củi chúng tôi là củi bó, mua từ trại củi ông Cai Tám trên xóm Mò O, ngay ro, thẳng đuột. Trò “ đánh củi ” cũng rất hấp dẫn, gay cấn và quyết liệt của bọn trẻ chúng tôi. Hai vạch dài được vẽ dưới đất, cách nhau năm thước. Chúng tôi đứng vạch này ném củi của mình về vạch kia. Củi ai gần vạch nhứt thì ăn hết các cây củi khác. Nhưng gần quá cũng nguy hiểm. Mấy cây củi ném sau dể hất cây củi mình qua bên kia lằn vạch để chiếm phần thắng. Củi hai anh em thằng Bờ ,thằng Bụi đầy gai, ngạnh, ném tới đâu là ghim cứng xuống đất. Còn củi chúng tôi thì bị củi chúng tung qua khỏi lằn vạch dể như chơi. Tôi chỉ lén lấy cắp ở nhà chừng hai cây để chơi. Nếu thua nhiều quá sẽ không đủ củi cho má tôi nấu trong ngày. Mỗi ngày bà chỉ đủ tiền mua một hay hai bó mà thôi. Hú họa có thắng được thằng Bờ tôi cũng không dám mang củi nó về nhà. Má tôi sẽ biết tôi bỏ quán đi đánh củi. Ăn đòn là cái chắc.
Ông Sáu Chúc đã nghèo vậy, mà mỗi lần trước khi uống, hai tay ông bưng ly rượu, giơ ngang trán một cách trịnh trọng, miệng lâm râm đọc thần chú hay khấn vái điều gì đó, xong, đổ bớt một phần tư rượu xuống đất rồi mới uống phần còn lại. Tôi cứ lấy làm thắc mắc và tiếc tiền cho ông. Má tôi nói ổng thờ “ Ông” tức là thờ cá voi. Dân làng chài kính trọng cá voi, không bao giờ dám gọi tên mà chỉ gọi một cách thành kính là “ Cá Ông”. Cá voi chết họ gọi lạ “ Ông lị”. Ai ai cũng tin tưởng tuyệt đối rằng người nào trông thấy “ Ông Lị “ đầu tiên thì người đó cùng cả gia đình phải bịt khăn trắng để tang ba năm như cha hay mẹ mình chết vậy. Sau ba năm để tang và nhang đèn cúng vái thường xuyên, gia đình đó sẽ phát lên giàu có ba đời.

Cách đây hơn năm năm, ông Sáu Chúc sáng sớm ra biển làm cái việc vệ sinh đầu ngày đã phát hiện ra một “ Ông” “ to bằng con trâu đang “lị” trên bờ nước. Ông hô hoán lên. Và hội đồng tế lễ làng đã làm lễ chôn cất “ Ông” trọng thể tại Cồn giữa, gần Hòn Đá Chữ. Trên đầu Cồn có một cái miếu thờ “Ông”.
Hằng năm, quãng tháng sáu, nước sông Cái cạn bày đất thì người Xóm tôi tổ chức cúng “ Ông” linh đình. Một gánh hát bội được mướn về hát ba ngày, ba đêm với sự tích “ Kết nghĩa đào viên”, “Quan Công phò nhị tẩu” và “Huê Dung đạo”. Những ngày đó là ngày hội lớn của dân biển và cũng là ngày dân phố tò mò xăn quần, lội sông, kéo nhau từng đàn, từng lũ đi xem phong tục lạ lùng, đầy màu sắc mê tín dị đoan.
Nó cũng là dịp, là nơi lý tưởng hò hẹn của trai gái nữa.
Vậy mà đã hơn năm năm, ông Sáu Chúc vẫn cứ nghèo mạt rệp, đâu thấy có dấu hiệu gì phát lên. Cái nghèo của gia đình ông, theo cách nói của dân xóm tôi là “ nghèo khạc ra tro, nghèo ho ra máu”. Ông vẫn đi “bạn” cho mành Si và thằng Bờ, thằng Bụi theo ông đi “ qua lồ”. Bà Sáu Chúc là người Quảng Nam. Bà có khuôn mặt rỗ và cái miệng rất rộng lúc nào cũng nhai trầu. Nước cốt trầu đặc quẹo, đỏ lòm tràn ra hai bên mép. Chiều chiều bà bưng rổ cá chia phần ăn của ông Sáu Chúc đem đi bán trong xóm. Tiền chỉ đủ cho ông uống rượu và bà ăn trầu. Hai thằng Bờ, Bụi được chia phần “ qua lồ” đi ăn quà vặt một lúc là hết.
Từ lúc mành vô bến khoảng hai giờ chiều, ông Sáu Chúc rời ghe, thẳng tới quán má tôi uống một ly đầu ngày, cho đến sáu bảy giờ tối ông lui, tới, uống đến ly thứ tư thì ngấm say. Lúc này hai tay ông bắt đầu nắm lại và đấm vào ngực mình, tiếng nghe bịch, bịch. Ông vừa đấm vừa đi ra phía bờ biển. Sau khi đấm liên hồi kỳ trận, tơ tớt cái ngực, ông phóng xuống biển lặn một hơi dài. Bà Sáu Chúc đứng trên bờ giải thích với mọi người đang đứng xem có phần lo lắng :
- Ổng ngày nào cũng xuống hầu “ Ông” !
- Sao bà biết bà Sáu ? – Có người hỏi lại. – Lỡ ổng say rượu rồi nằm luôn dưới nước thì sao ?
- Làm gì có ! Mấy năm nay, ngày nào ổng cũng đi hầu như vậy mà !
Một lúc sau, ông Sáu trồi lên mặt nước, bơi vô bờ. Ông tỉnh hẳn rượu và đi vô nhà.
Một ngày kia cũng như thường lệ, ông Sáu vừa đấm ngực vừa chạy xuống đuôi cồn, phóng mình xuống nước, đi hầu ông. Lần này ông lặn khá lâu. Bà Sáu bồn chồn chờ đợi. Bà đi tới, đi lui, nhai trầu hết miếng này đến miếng kia, vẫn không thấy ông Sáu Chúc trồi lên. Bà bắt đầu la làng xóm bài hãi. Thanh niên trong làng phóng xuống nước tìm ông. Nước sông trôi ra cửa biển cuồn cuộn. Trời tối mò mò. Sáng hôm sau, xác ông Sáu Chúc trôi tắp vào thềm cừ Lầu Ông Tư.
Gia đình ông Chín Bốc thật đặc biệt vui nhộn. Chiều nào hai ông bà cũng làm náo động cả xóm. Riết rồi người lớn không thèm để ý nữa. Có chăng họ chỉ trề môi chê :
- Thiệt là già đầu mà không nên nết !
Ông bà Chín Bốc năm đó chừng hơn năm mươi tuổi, không con cái gì cả. Hai vợ chồng sống trong một túp lều tranh tương đối khá hơn nhà ông Sáu Chúc. Nhưng hai bên vách làm bằng lá dừa nước cặp lại, bị bọn trẻ con vạch ra để nhìn vào bên trong nhiều lần, thành như những lỗ chó chun khắp nơi. Nghe nói hai ông bà ở đâu tận làng Mỹ Á, Tam Quan dắt nhau vào xóm tôi từ lâu lắm, lúc còn thanh xuân lận. Ông Chín Bốc có một chiếc ghe câu nhỏ đậu nhờ sau cừ nhà tôi. Độ tám chín giờ tối là ông xuống ghe đi câu. Mờ sáng trở về. Ông lên bờ, tháo cái đèn khí đá hai kháp ra, đổ bột “ cặc bia” đã đốt trong đêm, đem đèn xuống nước rửa sạch, trước khi về nhà. Bà Chín đã chực sẵn ở bờ sông, bưng rổ cá ông câu trong đêm te tái mang ra chợ Đầm bán.
Tôi thường bươi trong đống bột ông vừa đổ để lượm lại những viên khí đá nhỏ xíu bằng ngón cẳng cái, đào lổ chôn, đốt đèn chơi.
Hai ông bà đều ghiền rượu. Nhưng dấu nhau đi uống. Mỗi lần ông Chín đến quán tôi uống thì đặn tôi :
- Lát nữa bà Chín hỏi con, bác uống mấy ly thì con nói có một ly thôi nghe !
- Dạ ! Con biết mà bác Chín !
Tôi trả lời nhặm lẹ mà trong bụng cứ cười thắt cười. Mới rặt ròng bà Chín cũng vừa dặn tôi xong, cũng câu y như vậy, chỉ khác là đổi bà thành ông thôi. Hai ông bà cứ như chơi trò cút bắt, một lúc trời sụp tối thì đã dến ly thứ năm hay thứ sáu rồi.
Ông Chín xỉn xỉn, giọng nhừa nhựa, bắt đầu tra hỏi bà Chín tiền ở đâu mà có đi uống rượu. Bà Chín cũng cà gật nói là tiền để dành.
- Bà nói là tiền bán cá được bao nhiêu thì đủ mua gạo nấu, mua mồi đi câu, mua đá “cặc bia” để thắp đèn thì còn đâu mà có ? Hả ? Hả ? – Tiếng ông Chín Bốc quát lớn.
- Thì tui để dành được mấy đồng từ mấy hôm trước !
- Mấy hôm nào ? Ngày nào bà cũng có tiền uống rượu, không biết công tui cực khổ đêm hôm ! Cất dấu ở đâu thì đưa ra ngay !
- Tiền đâu mà dấu ! Hổng tin ông tới đây lục!
Bà Chín vừa nói vừa lộn hai cái túi áo bà ba ra cho ông Chín coi. Ông Chín nhào tới mò lưng quần bà thì bà xô ông ra, tông cửa chạy ra ngoài. Ông Chín rượt theo. Bà Chín chạy lòng vòng, từ nhà này sang nhà kia. Sau bà là ông Chín rượt đuổi. Sau ông Chín là đám con nít hơn chục đứa nối đuôi chạy theo, vừa vỗ tay vừa la :
- Tụi bay ơi chạy theo mau lên ! Bà Chín sắp tuột quần rồi !
Cái màn diễn của hai ông bà Chín hôm nào đoạn kết cũng giống nhau nên mọi đứa trẻ xóm đều thuộc lòng, nhưng cũng cứ khoái coi hoài vì chưa thỏa tính tò mò vì ông bà Chín hạ màn đột ngột quá, tụi nó chưa mãn nhãn.
Bà Chín chạy một hồi thấm mệt. Ông Chín cũng bở hơi tai. Mồ hôi mẹ, mồ hôi con, đổ ra ròng ròng trên hai khuôn mặt đỏ ké. Bà Chín chun tọt vô nhà, ông Chín chun theo. Phen này mày có chạy đằng trời ! Bất ngờ bà Chín đứng thẳng người, đưa tay giựt sợi lưng quần, tụt hẵn cái quần dài xuống đất, đứng tô hô, tồng ngỗng trước mặt ông Chín. Ông Chín sững người bất ngờ. Đám trẻ con hò lên :
- Bà Chín ở “tuồng” tụi bay ơi !
Ngày xưa làm gì có quần lót. Bà Chín cứ đứng tô hô. Ông Chín lật đật vói tay lên kệ thờ cầm cái đèn hột vịt xuống, thổi tắt phụt. Trong nhà tối om. Không thấy tiếng cãi cọ nữa. Lát sau nghe có tiếng thở mạnh và tiếng cái chỏng tre cựa mình. Đám con nít vạch phên nhìn vô. Chỉ thấy tối mò mò.
Người bị Tây bắt thả về bị tâm thần còn có hai người nữa. Hai người này có học thức cao, nói tiếng Tây “bóc, bóc”. Người xóm tôi rất kính nể họ.
Đó là anh Bảy “Dẹo” và chú Chín Ú. Ngoài Cậu Ba tôi và ông Phán Liên có bằng “ Ri Me” nói tiếng Tây như “gõ cây” ra, làng tôi chỉ có anh Bảy và chú Chín Ú có bằng “ Đít Lôm” mà thôi. Anh Bảy là con bà Hai Tỵ nhà ở xế cửa nhà Xã Tả, chuyên cho vay nặng lãi “ xanh xít đít đuôi” . Tôi không rõ bà có bao nhiêu người con. Nhưng hiện tại sống sót chỉ có ba. Ba người con của bà đều có tật. Người chị cả là chị hai Tỵ. Kế đến là anh Bảy. Anh bị vẹo chân phải. Khi đi, người lệt hẳn một bên, kéo lê cái chân bị tật lết trên đất. Do vậy anh có thêm cái tên “ dẹo” (vẹo) : Bảy Dẹo.
Người em gái út là chị Xù. Chị Xù lấy anh Năm Bẩn, con bà dì Năm tôi. Mấy đứa nhỏ trong xóm kêu lén sau lưng chị là chị “ Xè Lú”, bởi chị và anh Bảy,chị hai Tỵ đều lé. Lé ghê gớm chớ không phải “ lé kim” thường thường như người ta gọi là “ mại”.
Anh Bảy vừa cao lòng khòng, vừa dẹp lép. Hai tay anh dài như hai tay vượn. Khi đi thân hình anh nghiêng vẹo, mà hai cánh tay đánh đòn xa, một cánh tuốt đằng đông, một cánh tuốt đằng tay. Đứng xa, nhìn dáng anh đi thật khổ cực, vừa động lòng trắc ẩn mà lại vừa buồn cười.
Người trong xóm ai cũng khen anh hồi xưa học rất giỏi, đậu tới bằng “Đít Lôm”, nói tiếng Tây “ bóc, bóc”. Vậy mà từ lúc “ Thằng Bổ ” về làng xách động bà con đi “ mít tinh” chống Pháp, bị Pháp phục trong Lầu Ông Tư bắn ra, lớp chết, lớp bị thương, lớp bị bắt tra tấn thiệt là thảm thương. Người chết đã chết. Người bị thương đã lành theo thời gian. Khổ thay cho những người bị điên, bị khùng một đời trở nên phế dụng.
Người ta nói Tây nó dụ không được những người giỏi làm việc cho nó thì nó tiêm thuốc độc vào ngươì, làm cho người đó trở nên khùng điên.
Tôi không biết có thực hay không ! Khi tôi bắt đầu vào trung học thì có dịp nói chuyện đôi lần với anh khi anh ghé nhà anh Năm Bẩn để xin tiền chị Xù. Những lần đó,nói cho đúng ra là tôi chỉ ngồi nghe anh nói, chớ tôi có nói được lời nào đâu. Anh huyên thuyên bất tận nói về những cuốn tiểu thuyết anh đang gởi in ở Pháp, tổng thống “ Đờ Gôn” viết thư khen và cả thống chế “Bê Tanh” nữa, cũng viết thư khen những bản nhạc anh sáng tác rất tuyệt vời. Bây giờ anh đang đợ i tiền bản quyền của anh, các nhà xuất bản bên Pháp gởi về. Anh nói rất say sưa, tôi cứ tưởng là chuyện có thật, nếu chị Xù không lên tiếng ngắt, khi chị đưa tiền cho anh :
- Nè anh Bảy ! Cầm tiền nè ! Về nhà ngủ đi ! Đừng đi ngoài đường nữa !
Chị dìu anh đứng dậy, đưa anh ra cửa, không cho anh tiếp tục nói nữa. Chị quay qua tôi :
- Chú Hai à ! Ảnh bị té giếng nên nói xàm ! Chú đừng tin lời ảnh nói mà tốn thì giờ. Chú mà nghe ảnh nói thì cả ngày cũng chưa xong. Suốt ngày anh Bảy đi lang lang ngoài đường. Anh cứ kéo cái chân tật nguyền tội nghiệp của anh lê khắp thành phố Nha Trang, miệng lẩm bẩm tiếng Tây một mình. Tuy áo anh vẫn bỏ trong quần, thắt giây nịt đàng hoàng mà sao trông cứ vẫn lôi thôi luộm thuộm, nhếch nhác.
Biết bao giờ anh mới nhận được tiền tác quyền của những cuốn tiểu thuyết và những bản nhạc từ bên Pháp gởi qua để anh hết cơn điên ?
Bên cạnh hình ảnh đáng thương của anh Bảy Dẹo là hình ảnh dễ thương của chú Chín Ú. Chú là anh của thằng Thừa mập mà chúng tôi kêu bằng cái hỗn danh là Cò Ù. ( trong truyện Thương nhớ một mình). Chú lớn hơn thằng Cò Ù những một con giáp. Bởi thằng Cò Ù là con đời chồng sau của má nó. Có lẽ ông chồng đời trước của má nó là một tay nghệ sĩ hay sao mà đặt tên các anh chị nó đều mang những nốt nhạc ngũ cung trong cổ nhạc.
Đầu tiên là Mợ hai Sự, bà này lấy Cậu Ba tôi ( các cách gọi sau là của tôi, theo thứ bậc thông gia với Cậu tôi ) tiếp theo là Cậu ba Lự. Cái tên này trật chìa, không nằm trong ngũ cung, nhưng có liên quan mật thiết với tôi một thời gian. Cậu có nhiều con gái. Cô thứ năm là chị Sò, gã cho anh Rắc ( Jack). Sau này là chủ nhân khách sạn Nha Trang bảy tầng lầu. Cô thứ sáu là Ốc gã cho anh Thơ. Cô thứ Bảy là Ngao, cậu hứa khi tôi đậu tú tài thì gã cho. Tôi mừng lắm cố công học hành. Khi tôi đậu tú tài xong, vợ cậu, tức mợ Ba, chê gia đình tôi nghèo không chịu gã. Cậu Ba Lự thương tôi lắm nhưng nể vợ không dám quyết định, sợ gia đình xào xáo. Tôi thất tình ,thất chí bỏ ra Qui Nhơn học Sư Phạm. Sau cô Ngao bị Mợ Ba ép gã cho một anh có bà con với tiệm vàng Mỹ Kim.
Kế đến là dì Năm Xàng. Dì có bệnh xuyển nên không dám lấy chồng. Người ta nói ai mà có bệnh xuyển lấy chồng mau chết lắm. Muốn trừ bệnh xuyển ngoài việc uống thuốc quanh năm, còn phải nuôi thêm một con khỉ trong nhà để tăng thêm phần hửu hiệu trong việc chữa bệnh. Dì Năm Xàng cột con khỉ bằng giây xích trước cửa nhà,vào một cây cột. Mỗi lần lên chơi nhà Cậu Ba tôi, tôi phải đi vòng xa xa, sợ con khỉ thình lình phóng ra chụp cắn.
Những người con trai kế tiếp là Cậu Tám Cống, Chín Ú, Mười Liêu.
Ba người sau này đều học giỏi. Ai cũng có bằng “ Đít Lôm”.
Sau vụ dân làng đi “ mít tinh” chống Pháp bất thành, hai Cậu Cống và Liêu trốn qua Hố Dâu theo Việt Minh, được Việt Minh đưa đi đến căn cứ Hòn Hèo ẩn núp. Nghe đâu Hòn Hèo bị Tây lái máy bay “ Bà Già” ra thả bom, nhóm Việt Minh tại đây bị chết hết. Từ đó về sau, gia đình thằng Thừa không nghe tin tức gì về hai người con Cống và Liêu.
Chú Chín Ú trắng trẻo đẹp trai, năm ấy, tức năm tôi lên trung học, chú độ chừng hăm tám hay ba mươi tuổi. Vợ chú cũng xinh đẹp, mãnh dẻ, trắng trẻo. Chú có hai đứa con gái nhỏ rất giống chú, dể thương vô cùng.
Người trong làng gọi chú là thằng Chín khùng. Nhưng tôi thấy ngoài cái tật chú hay đánh lưỡi “tróc, tróc” ra, chú ăn nói đâu ra đó, và nhiều khi rất khôn ngoan nữa là khác. Có lẽ cái tật đánh lưỡi mới xuất hiện sau khi chú được Tây thả về làm cho chú thành khác người thường chăng ? Cứ mỗi lần nói một câu gì đó, chú phải đánh lưỡi “ tróc,tróc” chen vô vài lần. Hoặc khi đi hay ngồi một mình chú đánh lưỡi liên hồi. Tiếng “ tróc, tróc” nghe giòn giả, chắc nịch, từ đàng xa nghe rất rõ. Nhiều khi chúng tôi nghịch ngợm bắt chước chú tập đánh thử. Tiếng đã nghe “ bạch, bạch” mà mới vài lần cái lưỡi đã mỏi nhừ. Cái miệng cũng cứng đơ.
Mỗi buổi chiều độ bốn giờ, bóng mát của Lầu Ông Tư, cao ba tầng, ngã dài xuống thềm cừ ngoài biển, chúng tôi thường tụ tập chơi hay học bài ở đó rất yên tĩnh và mát mẻ. Chú chín Ú cũng dắt con ra đó ngồi hóng mát. Chú thường kể cho chúng tôi nghe những chuyện khoa học lạ lùng rất hấp dẫn, chú đã đọc được trong sách Pháp. Trong bụng tôi lúc bấy giờ đã đầy nhóc truyện Tàu mà không có truyện nào lai lai hay giống chuyện của chú kể. Những chuyện như Lỗ Bình Sơn phiêu lưu ký, Bá tước Mông Tờ Cạc Lô, Những kẻ khốn cùng ... nghe rất mê man, tàng tịch.
Một lần, khi chúng tôi vừa ra tới nơi, đã thấy chú ngồi ơ ũđó rồi, tay đang cầm một vật gì dài dài, đen đen, đưa lên trước mặt, chăm chú quan sát rất kỷ lưỡng. Chú xoay tới, xoay lui, trở lên, trở xuống cái vật đó ngắm nghía mãi. Khi chúng tôi lại gần chú thì mới biết cái vật đó là cục cứt khô. Chúng tôi la lên :
- Chú Chín ! Chú cầm cục cứt khô làm gì vậy ? Gớm quá ! Vụt đi !
- Quăng đi chú Chín ! Thúi quá! Thúi quá!
Chú cười hề hề, ngoắc chúng tôi lại gần, tay vẫn còn cầm cái vật gớm ghiếc ấy. Chú bắt đầu giảng giải :
- Mấy em biết cái này là cái gì không ?
- Là cục cứt khô chớ gì ! – Chúng tôi đồng thanh trả lời.
- Vậy ở đâu mà nó có ?
- Thì mình ỉa ra chớ ở đâu nữa !
- Vậy là nó ở trong bụng mình chui ra phải không ?
- Đúng! Đúng !
Chúng tôi nhanh nhảu trả lời và để cho chú Chín biết mình còn rành rẽ hơn nữa, chúng tôi đọc luôn câu đố : “ Rầm rầm, rộ rộ, trong hố nhảy ra, đầu tà, đầu nhọn”. Đố là cái gì ? – Là cục cứt ! Chú Chín vẫn cười cười :
- Vậy cứt do đâu mà có ?
Câu hỏi này thì chúng tôi chịu, không trả lời được.
Chú giảng giải :
- Nó chính là cá thu, cá bè, thịt heo, thịt bò, rau cải, cơm gạo ... các em ăn hàng ngày vô bụng mà thành.
Rồi chú bắt đầu nói về sự làm việc của bộ tiêu hóa lan sang bộ tuần hoàn rồi bộ hô hấp để dẫn đến kết luận, cục cứt chính là chất bả của các thức ăn hằng ngày được thải ra, sau khi đã được tinh lọc làm thành chất bổ dưởng nuôi thân thể. Rồi chú hỏi ngược lại :
- Thế thì có gì gớm mà các em sợ ! Các em chưa biết, ở ngoài Bắc có một làng chuyên môn sống về nghề đi lượm cứt mà người Bắc thì thích nói văn hoa, họ gọi là “đi hót phân”. Phân là cứt, hót là hốt đó các em !
- Mà người ta hốt ba cái thứ thúi òm đó làm gì chú Chín!
- Người ta làm phân bón trồng lúa, trồng rau. Gọi là phân Bắc.
- Vậy là mình ăn gạo, ăn rau có cứt trong đó ?
- Đúng ! Nhưng lúa và rau đã tinh lọc chất bổ dưởng của phân để nuôi thân cũng như các em ăn các đồ ăn thức uống vào bụng vậy.
Rõ ràng là chú Chín Ú đâu có khùng. Có điều, chúng tôi ngồi nghe chú nói mà đừng có quá nhiều tiếng “ tróc, tróc” chen vô thì hay hơn nhiều.
Chú còn có tài câu cá dìa nữa. Loại cá này có nơi kêu là cá kình. Cứ vào khoảng tháng sáu trở đi, nước biển ấm, rong bắt đầu mọc ở những nơi có bùn và đá nổi lên mặt cát. Nhất là ở bệ cừ Lầu Ông Tư. Cá rất thích ăn rong non. Từng bầy, đông hằng trăm con, bơi ra, bơi vào ăn rong. Đứng trên bờ cừ nhìn xuống, trông rõ từng con lội dưới làn nước trong veo. Người đi câu đứng trên thềm cừ câu rất đông. Có rất nhiều người trên phố cũng vát cần xuống câu.
Nhưng có điều lạ là dân xóm tôi thì cá ăn lia lịa. Cứ mỗi lần thả nhợ xuống, giật cần lên, ít nhất là một con dính lưỡi câu. Có khi hai, ba con dính một chùm. Còn dân trên phố câu bằng cần câu Tây mắc tiền hoặc những cần trúc được thợ uốn rất khéo mà cả buổi trời mới được một hai con. Cá dìa giáng to bằng bàn tay xoe,ụ dãy đành đạch trên mặt đất thấy mà ham. Chừng hai tiếng đồng hồ nước biển rút ra xa, hết câu, người xóm tôi ai cũng đầy giỏ. Dân phố chỉ lèo tèo một hai con, mặc dù họ câu bằng mồi tôm rất mắc tiền.
Bí quyết nào mà hay vậy? Hãy nghe chú Chín giảng giải :
- Mấy em biết không ? Dân xóm mình đi câu là câu cơm gạo! Còn dân nhà giàu ở phố họ đi câu là cốt giải trí ! Mình đâu có ngu mà chỉ cách cho họ. Dẫu có chỉ cách, họ chưa chắc đã dám làm! Chú lại cười cười, đánh lưỡi tróc tróc mấy cái rồi tiếp:
- Để chú Chín kể mấy em nghe chuyện chú gạt mấy người trên phố, mấy em nghe cười nức bụng luôn. Chú kể bửa nọ có mấy người thấy chú câu được nhiều cá bằng thứ mồi gì lạ lắm giống như bơ “ Bờ rờ ten” của Pháp vậy, mới mon men làm quen và hỏi thăm. Chú Chín sốt sắng bày cách :
- Không phải bơ đâu ! Cái mồi vàng vàng tôi đang câu đây là làm bằng lòng đỏ hột gà đánh nhuyển với ruột bánh mì đó. Các ông cứ y như cách tôi bày mà làm sẽ câu được nhiều cá ngay.
Hôm sau, anh nào, chú nấy cũng đều có một cục mồi to làm theo cách đã bày. Nhưng hôm đó không câu được con nào. Cá dìa chê mồi lòng đỏ hột gà với ruột bánh mì của nhà giàu, không thèm ăn. Chú Chín Ú câu cạnh đó cứ làm lơ, bấm bụng cười thầm.
Thật ra cái bí quyết câu cá dià, xóm tôi từ nhỏ chí lớn ai cũng biết cả. Nhưng có người làm được, có người không . Tôi thì chịu chết. Thấy người ta câu thì ham, lại gần thì lộn mửa, ói ra mật xanh, mật vàng ngay.
Cái bí quyết thứ nhứt là lưỡi câu đặc chế, gọi là “ rường”. Loại lưỡi này phố không có bán. Dân câu nghề có kinh nghiệm về cá dìa là loài ăn tạp và háu ăn. Mỗi lần chúng bu lại dành mồi là cả đám chứ không từng con như loại cá khác. Họ mới nghỉ ra cách làm lưỡi câu thành chùm, từ bốn tới sáu cái, cột lại thành một cái. Khi giật lên không phải đầu thì phải tai, thế nào cá cũng dính lưỡi. Cách làm này rất công phu và tốn nhiều thì giờ để được một hai cái. Nhiều khi chất lượng kém vì cột không chắc, lưỡi tuột ra. Sau này anh Năm Bẩn làm thợ điện, có sáng kiến dùng mỏ hàn điện hàn chúng lại, vừa chắc lại vừa nhanh.
Anh dùng kềm cắt đít hết hàng loạt lưỡi câu, rồi cắm chúng vào một miếng vỏ bưởi dày độ nửa lóng tay, từng bốn hay sáu lưỡi một. Anh lại cắt sợi dây “ mí ” của đờn măng đô lin từng đoạn ngắn, uốn thành cái vòng nhỏ, đặt nó lên đít các lưỡi câu, chấm chì hàn vào. Thế là có một cái “ rường” ngon lành. Một ngày anh làm hàng trăm cái cung cấp cho nhiều người trong xóm đặt mua.
Cái bí quyết thứ hai, mấu chốt quan trọng nhất, là “ mồi quẹt”. Khi xưa, mỗi lần nói tới mồi quẹt là tôi bắt đầu ói rồi. Mồi quẹt làm bằng phân người vừa thải ra. Dụng cụ cần để làm mồi quẹt phải có là một mắt tre. Cắt vạt lưỡi mác một đầu. Đầu kia vẫn để kín. Và một chiếc đũa cái, to bản, chừng ba ngón tay khép lại. Sáng sớm tinh mơ, đi dạo theo mé biển, ( làng tôi, không có nhà vệ sinh, ai ở mé sông thì đi ở bờ sông, ai ở mé biển thì đi ở bờ biển ) chọn những cục phân nhuyển tinh ròng, không lộn hột me, hột ổi hay những bã khác, cho vào ống tre. Thêm nước biển vào vừa phải để khi nhào trộn mồi không khô mà cũng không nhão quá. Khi câu, người ta lấy chiếc đũa cái, quẹt một cục cở cái trứng gà để dành câu dần, khi hết sẽ lấy ra thêm. Còn ống tre thì đậy và dấu kín trong hốc đá để khỏi bị khô và nhất là không cho ai ... ăn cắp bí quyết ! Khi móc mồi, người ta khéo léo dùng hai ngón trỏ và cái, cầm đuôi “ rường” lăn tròn theo chiếc đũa cái. Mồi sẽ dính chặc trong chiếc “ rường”. Thả xuống nước, cá dìa đánh hơi “ thơm” của mồi nhanh như người ta đánh hơi mùi “thơm” của tiền vậy, bất kể sống chết nhào vô mà dành giựt.
Ngư ông cứ thế mà giật cần. Tuy khéo léo vậy mà đến lúc cá ăn bạo, ngư ông lật đật quẹt mồi cho kịp, hai ngón tay vẫn dính “mồi thơm” tèm lem. Nhưng không hại gì! Người ta vẫn lấy nước làm sạch mà ! Hết buổi câu, cứ chà xát bàn tay xuống cát ướt một lúc là sạch. Nếu vẫn còn mùi “ thơm” thum thủm thì có sao ! Ngày mai câu tiếp, lại dính trở lại như cũ, làm sao tránh khỏi. Nói tới mồi quẹt, tôi không quên được chuyện Má tôi kể :
- Cậu Tám mày bửa đó câu được nhiều cá dìa lắm. Cẩu nhờ tao đem ra chợ Đầm bán dùm. Người ta thấy cá còn tươi nên xúm vào mua rất đông. Cậu Tám mày đứng chổng mông đằng sau lưng tao cứ nhắc chừng : - Chị Bảy ! Chị bán rẽ quá ! Coi chừng lỗ tiền mồi! Tao thắc cười muốn chết mà phải bặm gan lại không dám cười. Chừng về nhà kể lại ai cũng cười sặc nước miếng! Các bạn đã có ai từng ăn cá dìa ( cá kình ) chưa?
Tôi là dân biển, sinh ra tại biển và lớn lên tại biển, dám cam đoan với bạn rằng :
Tiếng cá mú là loại ngon nhưng không sao sánh được với cá dìa. Với cá dìa, bạn có thể kho, nướng, nấu chua, nấu ngót, chiên vàng, hấp tương hay bất cứ món nào mà bạn có thể nghỉ ra, đều ngon cả. Thịt cá dìa trắng tinh, dai mà dòn. Da cá dìa có lúc “ quớt “ lên, dai hơn da thịt gà mà khi cắn vào miệng lại dòn dòn như nhai sụn.
Thế mới biết ông bà ta đã nói “ Đừng trông mặt mà bắt hình dong”. Tuy nó là loài ăn tạp, nhưng bản thân nó không tạp như người ta tưởng.
. . . Năm một ngàn chín trăm bảy lăm, nghe nói nước nhà từ nay thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc, ai ai cũng mừng rơn.
Ngày trước, Ba tôi đêm đêm lén mở rađiô nghe đài “ địch”, tức đài phát thanh Hà Nội, để nghe “Cụ Hồ” nói chuyện “ chi viện Miền Nam, đánh thắng Mỹ Ngụy”. Sáng hôm sau cùng các bạn già, đã một thuở gậy tầm vông, đứng lên hát bài “ Bắc Nam Trung cùng nhau ta kết đoàn”, thầm thì bàn tán, thêm mắm, dặm muối theo ý lạc quan của mỗi người, rồi vừa uống trà, vừa rung đùi khoái chí, chờ ngày đắc thắng khải hoàn, đón “ Bác” về với miền Nam “ ruột thịt”.
Nào ngờ, ngày thống nhất về, ngồi chưa nóng chiếu, mọi người chưa thấy tự do độc lập, ấm no hạnh phúc đâu hết, chỉ thấy ngăn sông cấm chợ, gạo không có ăn, nhà nhà đói khổ. Nhà tù mọc lên vô số khắp nơi. Ba tôi là một trong những người thất vọng não nề nhất. Thằng con trai ông đi dạy học, thằng rễ ông làm y tá, hai nghề này vô hại theo cách ông nghĩ, ông thường lạc quan nói với tôi và đứa em rễ :
- Hai đứa mày dạy học và làm y tế là tốt. Chế độ nào cũng trọng dụng. Đừng làm cảnh sát, mật thám mà có hại về sau.
Ý ông nói xa nói gần về cái “ngày sau” mà ông và đám bạn già từng theo Việt Minh cứu nước mong đợi.
Nay, ngày ấy đã đến. Và thằng con ông, thằng rễ ông bị “ kách mạng” bắt đi cải tạo trước tiên. Cùng với hằng trằm ngàn người khác. Cải tạo mút chỉ mù khơi. Ông không còn nước mắt để khóc nữa. Cái ngày mong đợi của ông nó đến một cách cay đắng, phủ phàng quá. Hàng xóm ái ngại nhìn ông, sáng sáng, chiều chiều, ông bắc đẩu trước cửa nhà, ngồi bất động hàng giờ, đôi mắt vô hồn mắt nhìn theo mây bay, miệng lẩm bẩm :
- Cái chế độ gì mà lạ kỳ! Cái chế độ gì mà lạ kỳ !
Người trong xóm lại nhớ đến ông Bảy Mạnh lúc nào cũng lảm lảm câu vô nghĩa “ rẻm me moa” hay chú Chín Ú cứ tróc tróc lưỡi, rồi cười cười. Tệ hơn nữa là ông Ba Chà lên cơn điên đánh vợ con hay ông Sáu Chúc tự hành hạ mình đến chết.
Cậu Sáu tôi cũng có một người con bị đưa vào trại cải tạo, đâu tận Long Khánh.
Bác Năm tôi, xưa bị bắn tét đít, nay phải trốn chạy bằng chiếc ghe mỏng manh, nhỏ xíu, giữa biển cả trùng dương để tìm một thứ tự do khác, thứ tự do có không khí để thở, vừa đến được đảo BiĐông đã phải bỏ thây nơi quê người vì bệnh kiết lỵ.
Người làng tôi đa phần có chồng, con đã từng ... một hai !... một hai !... Bước đều! Bước! Ưởn ngực hát vang bài ca cứu nước, nay bị xúc hết lên vùng “kinh tế mới” để thấy được “ lao động là vinh quang”.
Hơn hai mươi lăm năm qua, cộng thêm thời gian từ ngày gọi là “Kách mạng mùa thu” - ... một mùa thu năm xưa, cách mạng tiến ra, phất cờ ... năm một ngàn chín trăm bốn lăm đến nay, sách vở nào ghi chép hết biết bao oan hồn, uổng tử đã nằm xuống cho cái độc lập nước nhà ngày nay thành tựu. Nhưng chính cái độc lập tự do bánh vẽ ngày nay lại dày xéo quê hương, đọa đày người dân, khổ đau, quằn quại hơn bao giờ hết.
Người dân vẫn còn sống trong cảnh áp bức, bất công, khắc nghiệt hơn thời phong kiến, thực dân nhiều.
Dân xóm tôi đã khổ nghèo triền miên vì miếng cơm manh áo, lại càng khổ hơn nữa vì thất học, dốt nát, cả tin nên hay bị gạt. Họ đã bị lôi cuốn trong cái không khí sục sôi yêu nước, quyết lấy máu mình để đánh đổi một đời sống tươi sáng, có độc lập và tự do cho con cháu đời sau.
“Một thiên đàng trên mặt đất cho mọi người” như khẩu hiệu đã đề ra trong ngày “cách mạng mùa thu năm xưa” đã từng hứa hẹn. Ngày nay, cái thiên đàng hảo huyền đó không thấy đâu, mà cái hệ lụy “ cách mạng mùa thu” vẫn còn vương lại khắp nơi, khắp mọi gia đình.
Cái hệ lụy cũ chưa phai mờ, năm bảy lăm lại chồng thêm cái mới.
Người dân xóm tôi, xưa đã từng.
Nay lại từng.
Hơn sáu mươi năm qua biết bao lớp bụi thời gian đã đổ xuống che lấp dần dĩ vãng để người ta quên đi một quá khứ đau thương.
Nhưng liệu những hình ảnh bi thương, thê thảm trong lòng người dân xóm tôi có nhạt nhòa không ?

Nguyễn Thanh Ty
Quincy, mùa thu năm 2003.