Xuống Cồn coi Lửa !
Nguyễn Thanh Ty
Vừa khi đọc cái nhan đề này ắc hẳn có bạn sẽ mĩm cười và buột miệng :
- Khéo đặt cái nhan!
Nếu bạn là người có óc tiếu lâm và máu tếu trong người.
Nhưng cũng chắc có bạn là người mẫu mực, nghiêm túc sẽ cau mày mà phán rằng :
- Thật là nhảm nhí, bậy bạ quá! Văn chương chữ nghĩa cái giống gì không biết !
Vâng! Tôi cũng vậy. Tâm trạng tôi cũng đã từng có hai ý nghĩ y như thế.
Và mới đây thôi, một “ nữ độc giả” khi đọc bản thảo truyện này cũng có đề nghị tôi sửa lại cái đầu đề thành
“Lửa Xóm Cồn” cho nó thanh nhã.
Nhưng, xin thưa ngay rằng: Tôi có nhiều lý do để vẫn giữ nguyên cái nhan đề “ Xuống Cồn coi lửa”.
Trong đó có hai lý do chính được dẫn sau đây :
- Xuống Cồn coi lửa! Đó là chuyện có thật trăm phần trăm, đầy đau thương và nước mắt.
Hoàn toàn thật và hoàn toàn đứng đắn, không hề có ý đùa cợt nhảm nhí hay khiêu dâm gì cả.
- Nếu theo đề nghị của “ nữ độc giả thân mến” đổi thành “ Lửa Xóm Cồn” thì nội dung cái truyện
này không nhập nhĩ gì với cái nhan đề. Vì cái chữ “ lửa” này nó mang ý nghĩ hoàn toàn khác.
Nó mang hơi hướm của“ Lửa đốt chùa Hồng Liên”(Hỏa thiêu Hồng Liên Tự) hay “ Lửa Kách mệnh”
của những nhà ái quốc, ái quần. Cái thứ lửa mà dân xóm tôi đã một lần nếm mùi vào độ mùa thu năm 1945
mà hệ lụy vẫn còn di căn đến tận bây giờ. (Đọc truyện Hình bóng nhạt nhòa )
Cái “ lửa” mà tôi sắp kể cho các bạn nghe đây là “lửa thật” theo nghĩa đen, chứ không theo nghĩa bóng,
nghĩa gió đâu. Nó đã từng thiêu rụi xóm nghèo tôi biết bao lần. Người dân xóm tôi trắng tay bao nhiêu lần
cũng vì cái “ lửa” trần trụi và “đầy hiện thực”đó.
Và cái nhan đề này cũng chỉ là ghi lại nguyên văn câu cửa miệng của “mấy người trên Đầm”
( người ở trên phố ) rũ nhau, kêu nhau ới ới để xuống xóm tôi coi cháy nhà.
– Bà con ơi! Mau mau xuống Cồn coi lửa!!!
*********
Đầu thập niên 40, khi tôi mới bắt đầu ôm vở đến học lớp Năm nhỏ ( lớp Mẫu Giáo bây giờ )
tại nhà thầy giáo tổng Lâm ở trong xóm thì tôi đã biết sợ thế nào là cháy nhà. Cái ấn tượng hãi hùng
“té cứt té đái trong quần” khi cuống cuồng chạy thoát thân tránh lửa lúc cha mẹ vắng nhà hãy còn sâu đậm trong trí nhớ.
Cái cảnh cháy nhà ghê gớm đó đã ám ảnh tôi trong rất nhiều năm sau này.
Nhưng hãy khoan nói về chuyện cháy nhà và chuyện lửa củi đã.
Xin các bạn thư thả vài phút cho tôi có “ lời bàn Mao Tôn Cương” về cái chuyện nhiêu khê,
ngộ nhận giữa hai chữ "Cồn” và “Lửa”.
Âu đó cũng là sự “ ngẫu nhiên” hay “ tất định” của hai chữ “ Cồn, Lửa” đi đôi với nhau
mà xảy ra nhiều vấn nạn cho các bạn. Và nhất là cho cá nhân tôi.
Tôi xin trở lại với hai ý của hai bạn biểu trưng cho sự nghiêm túc và tếu ở trên để nói về cái mặc
cảm của tôi, một cư dân Xóm Cồn, đã sinh ra tại Xóm Cồn, uống nước chè hai của dòng sông Cái,
tắm nước biển mặn, ăn cua cá ốc ghẹ của Xóm Cồn mà lớn lên.
**************
Khi lên tiểu học, học ở trường Nam Tiểu Học, mỗi khi có ai hỏi tôi ở đâu thì lập tức tôi trả lời như cái máy đã sắp sẵn :
- Dạ! Tôi ở Nguyễn bỉnh Khiêm !
Tôi chối bỏ cái xóm tôi. Tôi mặc cảm và xấu hổ khi nói về xóm tôi. Xóm gì mà lại có cái tên thô lậu,
quê kệch. Lại thêm con đường cũng mang tên “đường Xóm Cồn”. Chẳng bù các bạn tôi ở xóm
“ Phương Sài ”, “Xóm Mới” “ Xóm Xưởng”, “ Xóm Mã Thánh ”, “Xóm Mã Vòng ”...
Những cái tên xóm của người ta nghe sao mà văn hoa, đẹp đẻ, êm ái, nhẹ nhàng. Còn cái tên
xóm mình nghe sao mà ... phát rầu, phát mắc cỡ.
Lại còn bị người “trên Đầm” chế giễu, chọc quê : Xuống Cồn coi Lửa !!!
May quá! Sau năm 1954, người Bắc di cư ồ ạt vô Nam tránh ôn dịch Cọng Sản, tụ về gần xóm tôi.
Họ cất nhà dọc theo bờ sông, bắt đầu từ lầu Ông Tư Yersin, chạy dài cho tới ngã ba Ty Kiểm Lâm,
ngay cây bàng đôi sừng sững cao tận trời xanh. Đoạn đường này ngày xưa là đoạn chúng tôi sợ nhất
mỗi khi đi một mình vào những ngày gió mưa, u ám.
Dòng sông Cái từ thượng nguồn đổ về cửa biển, đến Cồn Dê* ( nơi có người nuôi dê ở đây từ lâu nên thành tên)
thì rẽ làm hai nhánh. Một nhánh chảy trước mặt Tháp Bà, chui qua cầu Bóng, ra thẳng biển. Nhánh kia
chảy qua cầu Hà Ra, vòng vào một cái đầm rất lớn, ước chừng năm mẫu tây, nằm ngay trung tâm phố
và uốn theo bờ chợ Đầm, chạy xuống xóm tôi, ra biển.
Dòng nước vì uốn vòng nên mỗi năm cứ khoét sâu vào bờ tạo thành một vực thẩm thẳng đứng,
sâu hun hút. Dây hoa nho ( tigôn) mọc um tùm làm bờ vực thêm tối om om, tăng thêm phần ghê rợn
và gớm ghiếc. Ở đó, chúng tôi thầm thì với nhau, là hang ổ của vô số “ ma da ”. Những con ma ở
dưới nước, trong trí tưởng tượng, đen trùi trũi, mình đầy rãi, nhớt nhợt, chuyên rình bắt trẻ con trấn
nước để thế mạng cho nó đi đầu thai kiếp khác.
Con đường này, từ đó, mỗi ngày càng thêm đông đúc nhà cửa. Ở gần lầu Ông Tư là nhóm người Nùng,
họ nói tiếng Tàu, tiếng Việt chỉ lơ lớ đôi ba tiếng. Đa số họ sống với nghề làm và bán “cà rem cây lúc lắc”
và thịt bò khô ăn với đu đủ bào chua. Lên phía trên chút nữa, dọc theo bờ tường Toà Hành Chánh Tỉnh
là nhóm người Bắc răng đen, chít khăn mỏ quạ, chuyên bán xôi bắp nhưn đậu xanh, xôi đậu đen muối mè.
Nhóm thứ ba ở gần cây bàng đôi, một số là công chức và một số buôn bán ở chợ Đầm.
Chính quyền đặt tên xóm và tên đường là Nguyễn bỉnh Khiêm. Ông Khiêm này, tôi học lịch sử thì biết.
Ông là trạng Trình, đã từng bói cho Chúa Nguyễn một quẻ “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”
để di dân về phương Nam lập nghiệp muôn đời cho con cháu về sau.
Tôi cũng là hậu duệ của Chúa Nguyễn chớ bộ! (sic)
Vì vậy, mỗi khi có ai hỏi, tôi lấy làm hãnh diện ra mặt và hùng dũng trả lời :
- Dạ! Tôi ở Nguyễn bỉnh Khiêm ạ!
Nhưng thưa các bạn thân mến! Cho dẫu tôi có mạo nhận rằng tôi là dân “chính cống Hà Lội”
ở tận ngoài Bắc xa lắc, xa lơ hay là dân “ Hoàng phái Tôn Thất hay Bửu Hoàng” gì gì đó ở xứ Thần kinh
ai ai cũng là “Ôn” cũng là “ Mệ” đi chăng nữa, chứ đừng nói chi dân Nguyễn bỉnh Khiệm gần Cồn quá,
người ta vẫn nhận ra tôi là dân Xóm Cồn “chính hiệu con nai vàng” không sai một ly ông cụ, bởi cái giọng
đặc sệt Cồn của tôi.
Giọng nói dân xóm tôi có một âm ngữ đặc biệt không thể lẫn với ai được. Dẫu cho ngay bây giờ,
ở ngay cái đất Huê Kỳ này, mà ai ở Xóm Cồn vừa mới qua định cư, khi mới mở miệng vàng ra
là người nghe biết ngay rằng.
Ngoài cái âm sắc ngay đơ cẳng cuốc chẳng lên bổng, xuống trầm như những địa phương khác,
thêm cái cách nói nhấm nhẳng như dùi đục chỏi tai ( dùi đục chấm mắm cáy) cục mịch, thô lậu,
quê mùa ra, dân xóm tôi còn không phát âm được chữ “ a ” và chữ “ r ” và “ tr ”.
Chữ “ a” nói thành “ e”. Con ké ( cá). Nước đé (đá). Số be ( ba)...
Chữ “ r” nói thành “ giờ”. Cái giỗ ( rỗ ). Cái giá ( rá ) Chả giam ( ram )...
Thêm vần “ tr” lại càng không được. Cái chàn ( tràn) Cái chẹt ( trẹt )...
Và cái câu nói tượng thanh nhất, dân Nha Trang chính cống ( origin ) chưa pha trộn tạp chủng, tạp ngôn,
nói dễ nhận ra ngay là :
- Mình đừng nói “ăn cuôm, ngừ ta cừ” ( Mình đừng nói ăn cơm, người ta cười)
thì dân xóm tôi phải là diễn viên kịch nói có âm điệu xuất sắc nhất.
Khi tôi chưa lưu lạc giang hồ thì tôi cũng là một diễn viên tài tình về giọng nói này. Tôi diễn
tài tình đến nổi tôi phải đau khổ vô cùng cho chính tôi vì cái giọng ấy. Lên trường thì bạn bè chế giểu :
- Hôm nay mày có uống nước “đé” không ?
- Bài “ ke” “ phẻ dì nước” ( bài ca Khoẻ vì nước ) mày thuộc chưa ? v.v...
Về xóm thì bị mấy em gái cạnh nhà chọc ghẹo :
- Mấy đứa ơi! Ra nghe anh chàng học trò nói “ tiếng vó” nè! Ăn cuôm bày đặt nói
tiếng “ vó” : Ăn cư... ơ...m...! - Ngừ ta thì nói ngừ ta cho rồi! Còn uốn môi, cong miệng nói : ngư... ờ...i !!!
Mỗi lần nhái giọng tôi, các cô cứ trề môi dài cả thước để diễu và cùng nhau ôm bụng cười nắc nẻ.
Thiệt là muốn độn thổ cũng chẳng được.
Năm tôi học với thầy tổng Lâm trong xóm, thầy thương tôi lắm. Thầy nói với cha tôi :
- Thằng con anh nó thông minh lắm. Sau này chắc khá được đó!
Cha tôi bỏ bụng mừng thầm. Nhưng tôi không cho là như vậy. Tôi nghĩ là Thầy ghét tôi.
Bữa nào cũng y như bữa nấy. Giờ học tan, bọn trẻ ranh đã u về nhà, nghe giọng nói tiếng cười
của chúng vui vẻ vang rân trong xóm, còn tôi thì Thầy bắt ngồi lại nói cho được tiếng “ ba” mới cho về.
Tôi bặm môi, bặm miệng nói mấy chục lần tiếng “ ba” một cách dõng dạc, rõ ràng như thế mà
Thầy cứ cố lắc đầu. Tôi tức muốn phát khóc và nghĩ thầm :
- Lỗ tai Thầy bị cứt ráy trám hết rồi! Hay là Thầy muốn hành mình chơi!
Đến khi tôi khóc oà lên Thầy mới chịu cho về. Hôm sau, cái màn ( hát bội Thạnh Xương )
lại diễn y như cũ. Tôi vẫn không phát âm được tiếng “ ba”, “cá”, “đá”...
Ấy! Thế mà tôi không ngờ đã phát âm được vần “ a” một cách ngon lành từ hồi nào không hay!
Và tôi mừng thầm không còn ai nhận ra tôi là dân Cồn nữa. Tôi ăn nói văn hoa như người trên phố.
Mấy bạn gái học cùng lớp cứ tưởng tôi là con nhà giàu, con nhà dòng dõi, nếu không thượng lưu
thì cũng trung lưu. Nhìn cách tôi “ vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” và nhất là những buổi học tổ,
trai gái học chung, tôi thao thao giảng lý hóa trên bảng đen thì các cô cứ há hốc mồm ra mà nghe,
mà ngưỡng mộ một “anh tài”. Tôi cứ vờ đi mà hãnh diện và đắc ý ngầm một cách nhún nhường.
Nhưng thói thường cũng có những kẻ ghen ăn, ghét ở. Mấy thằng bạn thân, thấy tôi được một vài
cô ghé mắt xanh đon đả chào mời, cười nói thì đâm ra ghen tị và tìm cách nói xấu tôi trước
mặt các cô để hạ nhục tôi.
Cái câu mà tôi cay nhứt là : - Đồ cái dân Cồn mà làm phách!
Những lúc nghe bọn nó nói như thế tôi ức lắm. Ức tím mặt, lộn gan. Tôi ước gì mình có
sức mạnh như “Ẹc Quyn” hay như “ Samson” tôi sẽ thoi vào mặt chúng, mỗi đứa một thoi cho hả.
Nhưng than ôi! Bọn chúng thằng nào cũng to con như con trâu mộng. Còn tôi thì nhỏ con, nhỏ thó
như con chuột nhắt thì làm gì được chúng. Chỉ còn biết hăm trong bụng :
- Mai mốt tụi mày già rồi biết tay tao!
(Bây giờ đã hơn năm chục năm qua, bao nhiêu là vật đổi sao dời, nghĩ lại tôi lấy làm mừng cho
mình đã không “ thoi ” được đứa nào cả. Nếu có, thì bây giờ tôi phải ân hận biết bao!)
Khi lết đến hết trung học và bắt đầu “ lê gót giang hồ ”, lang bạt khắp nơi, chính tai nghe,
mắt thấy nơi này chốn nọ, tôi mới nghiệm ra rằng, cái câu của cổ nhân nói từ xưa, từ
“ cái đời ông Nhạn ỉa cứt su” rằng- thì- là: “ không nơi nào đẹp bằng quê hương ta cả”.
Lúc ấy tôi mới thấy cái Xóm Cồn tôi đẹp đẻ vô cùng. Đẹp từ cái phong cảnh hửu tình, bên sông,
bên biển, đến cái nhân tình thế thái thăng trầm của tình làng, nghĩa xóm.
Quả thật, bạn hãy cùng tôi nhìn lại cái Xóm Cồn của tôi coi! Sao mà phong cảnh nó đẹp lạ, đẹp
lùng và đẹp “cực kỳ” như thế.
Bạn hãy đứng trên Chùa Phật Trắng ở Mã Vòng hay đứng trên Tháp Bà ở Xóm Bóng mà ngắm
nó xem. Mỗi nơi, mỗi cái nhìn nó có vẻ đẹp khác nhau rõ rệt.
Từ chùa Phật Trắng nhìn xuống, theo tiếng chuông ngân mỗi lúc mỗi xa, tiếng chuông ngân
nga tắt lịm dần thì cái xóm tôi nó có vẻ mờ mờ, ảo ảo trong sương khói với dòng sông Cái
uốn khúc bao quanh, lấp lánh ánh mặt trời.
Đứng trên Tháp Bà nhìn xuống thì xóm tôi rõ là hình dáng cái liềm cắt lúa đang được đặt trên
một cái mâm bạc sáng loáng, lóng lánh ánh lưu ly những lúc vừa rạng đông, khi mặt trời vừa
nhô lên khỏi mặt nước biển, non con sào. Cán liềm quay về phía phố Nha Trang và được đính hai
hạt minh châu là Lầu Ông Tư Yersin và Tòa Hành Chánh tỉnh bệ vệ uy nghi. Lưỡi nó xuôi về hướng
Đông Bắc, quay mặt ra hướng mặt trời mọc. Lưng liềm được dòng sông Cái tiếp giáp với biển và
Xóm Bóng làm thành cửa biển, vuốt ve nó ngày đêm. Đầu mũi lưỡi liềm quay về hướng Chụt Cầu Đá
để nhìn ngắm biệt thự Bảo Đại, vị Hoàng đế cuối cùng của thời phong kiến. Và lưỡi liềm được sóng
biển ngày đêm nhẹ vỗ triền miên mài dũa. Bọt sóng bao quanh, trắng lấp lánh làm ta có cảm tưởng
lưỡi liềm bén ngót, ánh lên ánh thép. Đầu mũi liềm lại gần tiếp giáp với Hòn Rùa ngay cửa biển,
đang nằm im lìm trầm ngâm nghĩ ngợi từ hàng ngàn năm nay về cái truyền thuyết bà Thiên Y Thánh Mẫu
tại sao lại từ bên Tàu sang tìm cha mẹ nuôi năm xưa làm chi để gây nên cảnh binh đao trên dòng sông Cái này?
Lưng liềm thì vững vàng bề thế che chở cho Hòn Phụ Tử ( còn gọi là Hòn Đá Chữ )
muôn đời trơ gan cùng mưa nắng để bảo vệ di tích chồng và con của bà Thiên Y.
Chếch về nguồn một chút nữa, chui qua khỏi chiếc cầu Bóng xinh xắn là Cồn Dê**
quanh năm cỏ cây xanh ngắt một màu. Đối diện Cồn Dê là núi Hố Dâu nằm sau lưng
Tháp Bà. Hố Dâu và Cồn Dê cùng đua nhau soi mình dưới dòng nước trong veo, lặng lờ chảy.
Cảnh đã đẹp xinh lại càng thêm tình thêm tứ.
Cái tình xóm làng, lân cận của đủ thứ dân ba miền đất nước, trôi dạt về đây đã mang theo,
hòa hợp, hòa tan vào nhau đủ thứ mùi vị chua ngọt cay nồng. Có lúc nó cũng mặn chát như
nước biển. Đôi khi nó cũng ngọt mềm như nước dòng sông Cái. Nhưng rồi bao ngày tháng trôi qua,
bao năm dài ròng rã, ông ngoại tôi dân Quãng Nam, gã con gái cho cha tôi dân Bình Tây, Hòn Khói,
cha chú Huề dân Bình Định, cưới vợ cho con trai, dân Bắc di cư, cậu Sáu tôi kết duyên cùng người vợ Huế...
Cô Lợi dân Tuy Hòa Phú Yên mới dạt về có mấy tháng, lên làm công cho tiệm phở Tân Thành
ở chợ Đầm, mỗi lần về Xóm thăm mẹ cũng bắt đầu nói tiếng Bắc :
- Thế là ông “ thấu ” lại cho tui hai đồng! Khi cô đi xích lô về Cồn và bảo ông xích lô thối lại tiền.
Cô nói “ thế là” theo giọng Bắc nhưng vẫn giữ cái gốc Phú Yên “thối lại” thành “thấu lại”.
Gia đình ông Hai Bảnh người Nam đi lính, đổi về Nha Trang, thuê nhà ở giữa xóm. Sáng, chiều
người ta nghe tiếng bà vợ ông gọi con :
- Con Sá...o..., thằng Bả...i... ở đâu dìa ăn cơm! ( Con Sáu, thằng Bảy)
Đó là những “đặc sản” chỉ ở Xóm Cồn tôi mới có được cái hương vị “đậm đặc” như vậy,
thì làm sao khi đi xa, tôi không nhớ, không thương cho được.
Nhưng thôi! Tôi đã mạn phép đôi dòng để nói về cái tôi non dại ngày xưa đã đầy tự ti mặc cảm
về cái nghèo xóm tôi, về cái thô kệch cục mịch của xóm tôi và cả cái tên xấu xí của xóm tôi,
con đường xóm tôi mà tôi đã từng có thời kỳ chối bỏ nó, gọi là tạ lỗi với tổ tiên, ông bà,
cha mẹ và cái xóm thân yêu của tôi.
Bây giờ thì nó đã không còn nữa. Người ta đã học đòi cái gọi là “ kinh tế thị trường ”
xóa tên xóm tôi, san bằng xóm tôi và cả di tích lịch sử “ lầu Ông Tư Yersin ”, để bắt một chiếc cầu
bê tông cốt sắt đồ sộ, qua bên kia bờ xóm Bóng, để phục vụ du lịch cho Ông-Tây-Ba-Lô-Bà Đầm-Túi-Bao-Tử
lấy đồng đô la gọi là ngoại tệ. ( Những người mà trước kia bọn họ gọi bằng thằng, bằng con một cách
miệt thị, và dùng cả tên tổng thống của họ để đặt tên cho chó )
Bây giờ tôi xin mời các bạn hãy XUỐNG CỒN COI LỬA !!!
Phừng phừng dầu lửa, dầu xăng! Nhà Bà Hai đã cháy!
Khi tôi leo tới lớp Nhứt thì gia đình bà Hai, bà Ba từ Phú Yên đã nhập vào xóm tôi mấy tháng rồi,
dạo gần giáp Tết. Cái mốc thời gian tôi thường đánh dấu bằng những năm tôi đi học lớp mấy...lớp mấy.
Chớ nói bằng con số thì cái trí nhớ của tôi e chừng không trung thành cho lắm. Đôi khi nó trác tôi nhiều
cú cũng lộn tùng phèo, đầu óc trở thành lú lẫn. Vậy xin các bạn khi đọc bài tôi viết cũng đừng có hỏi tôi
năm mấy, tháng mấy, ngày gì mà tội cho tôi. (Cũng giống ông nhạc sĩ * nào đó làm cho con người ta có
bầu rồi mà cũng không nhớ mấy tháng, còn bày đặt làm nhạc hỏi “ Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em” hát
ông ổng khắp nơi, làm cho em bé trốn biệt không dám trả lời.)
Khi ấy thì xóm tôi đã đông đúc lắm rồi. Nhà cửa đã san sát với nhau như bát úp chứ không rãi rác
như mấy năm trước. Cách nhau đâu chừng ba năm chớ mấy. Còn nhớ, hồi ở lớp Ba, khi mành giăng
lưới ra phơi từ đầu xóm đến cuối xóm, chúng tôi vẫn còn nhiều khoảnh trống để chơi trò U mọi,
Giựt cờ mà. Cũng tại cái “ chiêu bài” kháng chiến của chính phủ “cụ Hồ” mà dân bốn tỉnh Nam Ngãi
Bình Phú đói khổ ngất ngư gần chết, phải bỏ làng, bỏ xóm chạy tét vô Nha Trang kiếm cơm mà sống.
Hỏi họ vì sao lại chạy ? Họ ngao ngán trả lời :
- Chính phủ kháng chiến mà thành ra “ chú phỉnh khiến chán”. Cơm không có ăn, ngay
cả củ khoai, củ sắn cũng không. Quần áo cũng chỉ còn cái khố.
... Vì không còn đất trống ở bờ sông cũng như phía biển nên nhà bà Hai, bà Ba phải cất
nhà sát gần mé nước biển.
Tôi kể chuyện lúc nào bà Hai, bà Ba cũng dính liền với nhau, không tách riêng ra được,
bởi hai bà là hai chị em ruột. Hai bà lấy hai ông chồng. Hai gia đình cùng sống chung một mái nhà.
Sáng sớm cùng ra khỏi nhà. Chiều sâm sẩm cùng về một lượt. Hai ông chồng thì hiền như hai cục đất.
Suốt ngày người ta không nghe thấy tiếng của hai ông chồng mà chỉ nghe tiếng hai chị em bà Hai,
bà Ba gấu ó liên miên. Giọng Phú Yên của hai bà nói líu lo như chim chiền chiện. Lũ trẻ chúng tôi
nghe không kịp nên không hiểu đầu đuôi ất giáp gì. Chỉ thấy bà Hai bắn một tràng đại liên như mưa bấc
thì bà Ba chấm câu bằng tiếng súng cối: Dẫy na! Dẫy na các ông!* Hai bà vừa cãi nhau vừa nấu cơm chiều.
Khói trong nhà bay ra mù mịt, um tùm. Không biết có phải cãi nhau hay không, hay là do cái cách nói
chuyện kiểu to giọng như mấy người Tàu xí xô, ngộ nị tùng pha, nghe như sắp đánh lộn tới nơi, nhưng
một lúc sau, tụi nhóc chúng tôi đang chơi gần đó phải xê ra xa một chút để hai bà dọn mâm cơm ra
trước cửa nhà để ăn. Bốn người quay quần vừa ăn vừa nói chuyện với nhau vui vẻ như chưa hề to tiếng
với nhau như lúc nãy.
Gọi là nhà cho nó có vẻ, chứ thực ra chổ ở của hai cặp vợ chồng bà Hai bà Ba chỉ là cái chòi nhỏ xíu hà.
Mà xóm tôi làm gì có nhà. Hơn ba trăm nóc gia, thực sự là nhà chỉ đôi ba chục cái ở mé bờ sông mà thôi.
Còn về mé biển toàn là chòi và chồ. Cái nào cất toàn trên mặt đất thì gọi là chòi. Chòi lớn, bốn năm người ở.
Chòi nhỏ, ở một mình hay hai vợ chồng. Nhà nào cất sát bờ nước phải có trụ chống chân cho nước khỏi
ngập gọi là chồ. Thuỷ triều lên thì nước rập rình dưới sàn chồ. Thuỷ triều rút thì dưới chồ là chổ lý tưởng
để mấy ông ngủ trưa. Gió mát từ biển đưa vào “phẻ” hết ý.
Mấy ông cứ quần đùi ống rộng, mình trần, nằm ngay trên cát trắng mà ngáy, mà kéo cưa “ líp ba ga”.
Ông Sáu Hanh chuyên môn vắt chân chữ ngũ mà kéo cưa. Bọn tôi lấy dây nhợ làm cái thòng lọng,
một đầu tròng vào hai “cái trứng gà” của ông đang lòng thòng dưới háng, một đầu tròng vào ngón cẳng
cái của chân đang vắt lên trên, rồi thình lình la lên như cháy nhà. Ông Sáu giựt mình thức giấc, bung
người dậy. Cái chân vừa xoãi ra kéo theo sợi dây nhợ thắt hai cái “trứng gà” lại. Ông Sáu đứng lên không
được mà ngồi dậy cũng chẳng xong. Có lẽ hai viên ngọc quí của ông bị thắt cứng, đau thấu trời xanh,
nên chỉ nghe ông kêu thét lên :
- Ối trời đất ơi! Chết tui rùi!
Tiếng cười rộ lên như pháo tết của các bà đang ngồi hóng gió gần đó làm cho ông nín bặt và lui cui
lo gỡ sợi dây oan nghiệt của cái tụi “ cô hồn các đảng” chơi trác ông. Lúc này thì tụi tôi đã lũi ra
mấy góc chòi trốn hết rồi. Ông mà nắm đầu được thằng nào là lòi ra cả đám ngay.
Ông Sáu Hanh làm mật thám cho Tây, ai mà không sợ. Sợ mà ghét. Cho nên tụi nhóc tôi phá
ông được lần nào thì bà con khoái chí cười thầm lần nấy, chớ không lên án.
Dưới chồ cũng là nơi lý tưởng cho mấy bà ngồi đè đầu nhau ra bắt chí hay gầy sòng tứ sắc
trong khi chờ đợi mành về. Và cũng là trung tâm ngồi lê đôi mách một ngàn lẻ một chuyện trên đời.
Tiếng chòi dần dà thành từ ngữ quen miệng để mọi người trong xóm nói khiêm nhường với nhau.
Như nhà dì Năm tôi chẳng hạn. Hồi dượng Năm còn sanh tiền, cha tôi với duợng vần công cho nhau
cất hai cái nhà tuy mái tranh vách đất nhưng so trong xóm vẫn có vẻ bề thế lắm. Mỗi bề ba thước,
năm thước. Cửa sổ, cửa cái bằng ván đóng mở đàng hoàng chớ không phải chống liếp như chòi
hay chồ của đa phần trong xóm. Ấy vậy mà, mỗi lần dì Năm tôi than vãn cái cảnh góa buạ của dì
với bà con đến mua bánh kẹo hay trái cây hàng của dì, dì hay nói câu :
- Mẹ góa con côi tui có cái “chòi” này để chui đụt, chun vô chun ra hằng ngày cũng là nhờ
một phần công lao của dượng Hai nó! (Ý chỉ cha tôi )
Cả một cái xóm tôi ở chỉ có hai nhà của Ông Hương Bộ Tám và Ông Xã Tả là mới thực sự là nhà.
Không những là nhà mà còn phải gọi là “ cơ ngơi” mới đúng. Nhà nào cũng xây hình chữ U nhiều phòng ốc.
Mái ngói âm dương. Cột kèo bằng gỗ mun, gỗ trắc bóng lưỡng. Cửa sổ có chấn song, kéo qua kéo lại để
đóng mở. Cửa chính có bốn cánh, ghép bản lề bằng sắt, làm bằng gỗ mun đen bóng. Chung quanh nhà là
tường bao bọc, cao quá đầu, xây bằng đá san hô đẽo vuông vức, kết dính bằng vôi và mật đường.
Chúng tôi chỉ thập thò ngoài cổng nhìn vô chớ đâu có được cơ hội bước vào bên trong. Cứ nhìn tám
cái “ảng” to tướng đặt thành hai hàng ngay ngắn chính giữa sân, dùng để muối mắm ăn quanh năm
là đủ biết sự giàu có của hai nhà phú hộ.
Sau này con Ông Xã Tả, chị Cang, mở một quán ở đầu hồi nhà cho thuê truyện Tàu, Tín Đức Thư Xã,
tôi mới có dịp nhón gót nhìn vào bên trong, mỗi khi đi thuê truyện cho Má tôi.
Còn nhà Bác Hai Si mới cất sau này bằng ngói vãy cá mỏng lét và tường xây bằng gạch tuy cũng lớn
nhưng so với hai nhà kia thì không ăn thua gì. Vả lại Bác Si có hai vợ và hai dòng con, dòng nào cũng
năm bảy đứa vừa trai vừa gái nên cũng không đủ chổ để ở. Thành ra cái nhà cũng trở nên nhỏ xíu.
Cái chuyện cất chòi hay cất chồ ở xóm tôi thiệt là đơn giản và mau lẹ. Từ lúc cất cho đến lúc hoàn
tất chỉ nội trong ngày hay chừng nửa buổi là xong.
Như cái chòi của gia đình bà Hai, bà Ba kìa. Buổi sáng hai cặp vợ chồng lên nhà quê mua tre,
lồ ô, cót cà ràng và lá dừa. Đến đứng bóng thì trở về với một xe ngựa chở đầy tú hụ lên tận nóc xe.
Chỉ có một cái cưa, một cái đục và con dao mác dùng để cưa tre, đục lỗ và chẻ lạt và đủ dùng cho việc cất “ nhà”.
Xế chiều thì cái chòi của bà Hai, bà Ba đã hình thành.
Chúng tôi vừa chạy quanh bãi chơi trò “ giựt cờ” vừa coi cất nhà một cách thích thú.
Căn chòi trông xinh xắn, nhỏ như đồ chơi được làm bằng vật liệu mây, tre lá giống như
cái tổ chim sẻ khi nhìn thấy bà Hai, bà Ba khom lưng chun vô chun ra. Vậy mà có cả hai
cái chỏng tre và bếp núc nữa.
Căn “nhà lý tưởng” của hai cặp vợ chồng son ở xeo xéo đối diện với “căn nhà” vợ chồng Bác
Sáu Chúc, cha mẹ thằng Bụi, thằng Bờ bạn hàng xóm với chúng tôi, không phải bạn học.
Tụi nó không chịu đi học. - Đi “qua lồ”* có tiền sướng hơn. Đi học khổ chết cha! Hai anh em nó cùng nói như thế.
Một buổi chiều mùa hè đã gần bảy giờ rồi mà trời hãy còn sáng lắm. Chúng tôi lại rượt đuổi
nhau chơi U mọi như thường lệ thì thình lình nghe tiếng bà Hai la làng chói lói. Bà tuôn từ trong chòi ra, miệng la bài hãi :
- Bớ làng xóm ơi! Cháy nhà! Cháy nhà !
Tiếp theo sau là bà Ba bung ra theo, miệng cũng la làng la xóm :
- Quớ làng xóm ơi! Cứu tôi! Cứu tôi !
Người bà cháy như cây đuốc. Cái nhà cũng cháy bùng lên, vừa khói vừa lửa mịt mù.
Hai ông chồng đang mãi mê chơi cờ tướng dưới cái chồ gần đó nghe tiếng vợ la, hớt
hải phóng về thì đã muộn. Bà Ba nóng quá phóng mình xuống biển cho tắt lửa. Khi ông
chồng kéo được bà lên bờ thì mặt mày tay chân bà đã tuột da đỏ lòm. Đầu bà trụi lũi không
còn một sợi tóc. Bà Hai nhanh chân nên chỉ bị cháy xém nửa mặt và nửa đầu tóc.
Trong lúc dân làng xúm vào mỗi người một tay. Người này cây nạng phơi lưới, người kia
thùng thiếc múc nước biển, vừa tạt nước, vừa đập túi bụi vào căn nhà cháy thì lũ nhóc chúng
tôi hơn chục đứa đứng xa xa vừa vỗ tay, vừa cười, vừa hát :
- Phừng phừng dầu lửa, dầu xăng... nhà bà Hai, bà Ba đã... cháy... !!!
Chưa đầy nửa tàn điếu thuốc rê thì căn chòi của hai bà đã tanh bành, té bẹ thành một đống
tả bí lù nào tre, nào tranh, nào cà ràng, thứ nào cũng cháy rụi hoặc cháy xém. Các thứ còn
lại thì ướt nhem nước biển chẳng còn ra hồn món nào.
Ông Ba đã lật đật đưa bà Ba đi Nhà Thương băng bó vết thương. Bà Hai ngồi sát mé nước bù lu,
bù loa vừa đau đớn vì vết phỏng, vừa tiếc của dành dụm bấy lâu nay tiêu theo bà hỏa :
- Trời ơi là trời! Tiền tui dấu trên mái tranh mấy trăm đồng! Mồ hôi nước mắt của tui! Trời ơi là Trời!
Lúc này, mấy bà đàn bà xề xuống, an ủi dỗ dành bà Hai và hỏi căn do làm sao mà ra nông nổi.
Bà Hai vừa nước mắt, nước mũi, sụt sịt kể :
- Tui với con Ba đang nấu cơm. Tui biểu nó tắt đèn đi, trời còn sớm mà. Nó không nghe tui !
Con trời đánh đó bưng cây đèn hột vịt để lên cái trang thờ. Ai dè hớ hên làm sao không biết,
cây đèn rớt xuống cháy tà la ra, đụng cái thùng dầu hôi còn lại một nửa, bửa nay chưa bán hết.
Dầu nó bùng lên, tui chạy ra không kịp. Còn nó lính quýnh, cái ống quần mắc kẹt trong cái chỏng! Trời ơi là trời!
Mấy bà nghe xong, thỏa mãn cái sự tò mò, tản ra, bàn tán mỗi người một câu không ăn nhập gì
tới cái đám cháy và sự tan gia bại sản của người bị nạn.
Bà Sáu Chúc vừa nhổ toẹt bãi trầu ra đất đỏ lòm vừa trề cái môi dày đầy quyết trầu vừa nói :
- Tui nói rồi mà con mẻ không nghe! Làm cái nghề bán dầu, bán xăng lậu nguy hiểm lắm !
Bà Chín Bốc chêm thêm :
- Ham mau giàu thì cũng có ngày Ông Bà quở mà !
Chị Thường Con chắc lưỡi hít hà :
- Cũng may là nhà của mấy con mụ ở xa ngoài mé biển chớ không thì cả cái xóm mình
tiêu luôn rồi! May thiệt là may !
Chúng tôi gọi bà Hai, bà Ba thiệt ra là không đúng cách. Hai bà chỉ hơn chúng tôi chừng mươi mưòi hai,
mười ba tuổi thôi. Phải kêu bằng chị thì đúng hơn. Nhưng nhìn cái bộ dạng xấu xí của hai bà với
cái miệng lúc nào cũng “dõn dõn” chúng tôi không có cảm tình. Hai chị em lùn quẵn mà lại to bè
bề ngang. Hai cái chân thì chữ bát đi lạch bạch. Khuôn mặt tròn như cái bánh bèo.
Tóc tai thì lưa thưa mà kẹp một lô kẹp xước trên đầu. Nhưng cái bộ dạng xấu xí như
Chung vô Diệm của hai bà không phải là lý do chính đáng làm mất cảm tình chúng tôi.
Cái chính yếu là hai bà đã dành mất cái “ giang sơn” của chúng tôi một phần đất. Bây
giờ chúng tôi chơi U mọi hay Giựt cờ phải né nhà bà ra. Mỗi khi chạy ngang trước cửa
thì hai bà đuổi chúng tôi như đuổi tà. Nhứt là lúc bà dọn mâm cơm ra thì chúng tôi phải
đi thật xa hoặc dẹp chơi luôn.
... Tối lại, tôi hí hửng kể chuyện cháy nhà cho cha tôi nghe lại còn thêm câu hát,
tưởng đâu cha tôi sẽ vui vẻ và cười. Ai ngờ ông xán tôi một bạt tai nổ đom đóm con mắt, tiếp luôn mấy câu chửi tắt bếp :
- Thằng cha mày! Người ta hoạn nạn vậy mà còn cười , còn ca hát chọc ghẹo nữa
là làm sao! Rõ là theo cái đồ mất dạy!
Tôi vừa xoa cái má nóng bừng như lửa, vừa lùi ra sau, miệng còn chống chế :
- Còn tụi thằng Bờ, thằng Bụi,, thằng Thông, thằng Thúi, thằng Ỉnh... nữa chớ đâu phải mình con !
Cha tôi vớ cái ghế đẩu giơ lên, miệng quát :
- Mày còn đứng đó nói nữa, tao xán cái ghế lên đầu chết cha mày bây giờ !
Mày là thằng có đi học mà đi bì với tụi nó hả! Cho mày ăn đi học uổng công tao với mẹ mày quá !
Ngó lên cái ghế đẩu lăm lăm trong tay ông già, tôi ôm đầu lủi mất.
... Ba ngày sau, bà Ba về nhà, đầu cổ tay chưn quấn băng trắng nõn. Khuôn mặt
chỉ còn chừa hai con mắt,cái miệng để húp cháo và cái lổ mũi để thở. Một tháng sau,
tháo băng. Da bà đỏ hỏn, láng cón như bọc nylon. Hai con mắt bà bị xếch lên coi rất dị hợm.
Đã xấu, bây giờ bà càng xấu xí hơn với khuôn mặt loang lổ chổ trắng chổ đen như con lang.
Còn bà Hai chỉ bị cháy xém nửa mặt. Chổ bị xém in luôn vào thịt nên khuôn mặt nửa xám nửa trắng,
trông giống Hắc Bạch lão bà trong truyện Phong Thần.
Từ đó hai bà bắt chước người xóm tôi đi bán cá chớ không dám đi buôn dầu xăng lậu nữa.
Căn chòi sau đó được chòm xóm giúp dựng lên như cũ.
Chúng tôi bây giờ thương hai bà hơn và hai bà cũng không còn xua đuổi chúng tôi nữa.
Thỉnh thoảng ngồi vui, có ai nhắc lại chuyện cũ, hai bà nói :
- Một lần thì tởn tới già. Đâu dám đi nước mặn nữa mà hà ăn chưn.
Đó là vụ cháy cuối cùng ở xóm tôi.
Ông Năm Chi mũi giải thò lò !
Ông bà ngoại tôi là dân Quãng Nam. Ông bà trôi dạt vào Xóm Cồn mang theo nghề đóng ghe.
Bà ngoại tôi mở ngôi quán nhỏ bán đủ thứ vật dụng từ cây kim sợi chỉ cho tới xì dầu nước mắm,
tiêu hành chanh ớt, trầm hương vàng bạc giấy ngũ sắc để cúng cô hồn các bác...
Má tôi hồi còn con gái phụ với bà ngoại tôi ngồi bán quán đã làm cho cha tôi mê mệt với cái nhan sắc của bà.
Ông ngoại tôi lập ra cái “ xưởng” đóng ghe. Nói tiếng là cái xưởng cho nó có vẻ chứ thực ra chỉ là
mấy tấm phên che mưa nắng được dựng tạm hờ ngoài bờ biển. Nắng chiếu, mưa tạt chiều nào, che chiều ấy.
Hai người phụ với ông ngoại tôi trong việc đóng ghe là ông Hồ ( không phải cái ông “Hồ già” đem mấy
ông râu xồm, mũi lõ bậy bạ ở tận bên Tàu, bên Tây về thờ đâu ) và ông Năm Chi. Ông Hồ này là bác
ông bảy Mạnh dở khùng, dở điên suốt ngày cứ lảm nhảm “ Rẻm Me moa”. ( Xin đọc Hình bóng nhạt nhòa)
Ông Hồ năm đó đã già rồi. Tay chân ông chỉ còn da nhăn nheo bọc xương. Nhưng ông vẫn còn khoẻ lắm.
Ông ngoại tôi kể chuyện hồi còn thanh niên ông đã từng đánh nhau với cọp ba ngày ba đêm liền.
Cuối cùng cọp phải chịu thua và bỏ đi. Hồi ấy, tức trước khi tôi chưa ra đời, theo cách nói của
cha tôi là tôi còn nằm dưới ngón cẳng cái của mẹ tôi, làng Xóm Cồn còn hoang vu, bờ bụi um tùm,
dân cư thưa thớt, chừng vài chục gia đình mới tới lập nghiệp. Cọp từ bên Hố Dâu đêm đêm bơi qua sông Cái,
vô làng rình bắt heo trong chuồng. Ông Hồ đã một mình tay không quần thảo với cọp.
Ông rất giỏi võ. Cọp không làm gì được ông. Cọp và ông nghinh nhau bằng mắt.
Ai chớp mắt thì thua. Mắt ông Hồ sáng hơn điện, nhìn cọp một ngày mà không chớp.
Cọp thua. Từ đó về sau cọp không dám về làng nữa. Ông ngoại tôi kể chuyện nghe như mới
xãy ra ngày hôm qua. Lúc giúp ngoại tôi, mắt ông Hồ hãy còn tinh anh lắm. Tôi thường theo
nắm da tay ông nơi cùi chỏ và da ngực ông nhằn qua, nhằn lại chơi.
Ông rất hiền, khi tôi hỏi chuyện đó có thiệt không thì ông chỉ cười và gật đầu,
nhe hai hàm lợi không còn cái răng nào.
Khi ngoại tôi đốt lửa để uốn hai tấm ván dầy làm be ghe, thì ông Hồ vận sức néo dây dừa,
kéo ghịt hai đầu ván lại chụm vào nhau làm mũi ghe và lái ghe. Tiếng dây dừa néo vào nhau
kêu lên kin kít. Hai bắp tay ông không còn cơ bắp nữa mà là toàn gân với da và xương.
Ngoại tôi với ông Hồ rất ăn ý nhau trong công việc đóng ghe. Nhưng đặc biệt là ít trò chuyện.
Mỗi khi nghỉ giải lao, hai ông rót mỗi người một bát nước chè to, màu đỏ quạch, trong cái ấm
đất vần bên bếp lửa rồi mỗi người bập một điếu thuốc rê to bằng ngón tay cái, mắt ngó mông lung
ra ngoài biển. Chỉ nghe có tiếng húp nước chè và thấy khói thuốc bay lên lảng đảng.
Mỗi lần đến chơi “ xưởng” đóng ghe của ông ngoại tôi, tôi thường xin ông cho tôi chơi cái khoan tay
tự chế của ông. Cái khoan nó kích thích trí tò mò của tôi lắm. Ông ngoại tôi thương và chìu ý tôi.
Ông tháo cái lưỡi khoan ra và bày tôi cách xử dụng cái khoan. Cái khoan có hai kháp. Kháp trên để cầm.
Kháp dưới xoay tròn theo cái dây da bò của cái cung giống như người ta kéo đờn cò vậy.
Tôi kéo qua kéo lại cái cần, khoan cái khoan không xuống đất. Cái kháp dưới xoáy sâu thành một lỗ tròn.
Và tôi khoái chí với công trình của mình. Đến khi ông ngoại tôi làm việc trở lại thì tôi đã khoan được
một hàng lỗ mấy chục cái rồi. Nhưng ông ngoại tôi lại khổ công và mất thì giờ để cậy đất bít cái lỗ
để đút lưỡi khoan vào. Ông không la rầy tôi mà chỉ mắng yêu :
- Thiệt là cái thằng cháu ngoại tui !
Ông Năm Chi thì không làm chung một chỗ với ông ngoại tôi. Ông có “xưởng” riêng.
Xưởng của ông là một tấm phên làm bằng khung tre, cặp cà ràng được gá một bên trên hàng rào,
trước nhà ông Hai Liều là cháu họ ông Năm Chi, một bên chống lên, sụp xuống bằng một đòn tre,
tùy theo nắng trưa hay xế bóng. Ông ngồi ở đó vót nan, đan rỗ, đan thúng, đan nia và giỏ nhốt gà.
Khi ông ngoại tôi có người mướn đóng ghe thì thuê ông đan “mê”. Mê là cái đáy của ghe.
Hồi đó ghe không đóng đáy bằng gỗ hay bằng nhôm như bây giờ. Mành lớn, ghe câu nhỏ, xuồng rổi ...
đều làm đáy bằng mê. Mê đan bằng cật tre già. Mê đan xong được “ lận”vào khung ghe và được gắn
chặt bằng những hàng “đinh tre”. Đinh tre còn gọi là “chốt” nếu nhỏ, lớn hơn gọi là “ con sẻ”.
Đinh tre đầu to đầu nhỏ. Khi mê được gắn chặt vào thành ghe, ông ngoại tôi dùng cái “ chàn” tiện bằng
phẳng đầu đinh. Nhìn vào, không ai biết mê được gắn vào ghe bằng cách nào. Khi ghe được hoàn
thành phần căn bản, ông ngoại tôi lật úp ghe lại, đưa cái mê lên trời. Ghe được kê hai đầu trên bốn
cây nạng có nhánh hình chữ V để ghe khỏi nghiêng hay ngã. Ông thuê người đi hốt cứt bò tươi mỗi ngày,
về phết đều lên mê và dùng những cây xâm có bản nhỏ như cái dầm ăn bánh bèo, để xâm cứt bò vào
những khe còn hở. Khi lớp cứt bò này khô thì ông phết lên lớp khác. Độ mấy lượt như vậy thì ông quết
“dầu rái” lên. Cũng mấy lượt dầu rái. Phết cứt bò hay dầu rái cũng đều dùng cái xơ dừa già được cắt ra.
Mỗi miếng to bằng bàn tay. Miếng này mòn thì thay miếng khác. Cái mê bây giờ bóng lưỡng chất dầu
và trở nên cứng cáp chứ không còn mềm như trước. Đoạn ông dùng “ chai ” để xảm những khe hở lớn
dọc theo be ghe. “ Chai ” cũng là dầu rái nhưng còn nguyên chất, dạng cục, màu vàng ngà lẫn màu trắng đục.
Muốn xảm vào ghe phải bỏ chai vào nồi đất, nung nóng cho nó chảy mềm ra, nắn thành con cói, to bằng ngón
tay cái cho dễ xảm. Để khỏi dính tay, ông ngoại tôi thỉnh thoảng thấm tay vào tô dầu lửa.
Xảm chung với chai, ông ngoại tôi nhét vỏ cây “ cây giấy” vào trước cho bít lỗ. Chừng mươi ngày chờ
chai và dầu rái khô hẵn, chiếc ghe coi như hoàn tất.
Ghe đi biển cứ ba tháng, hay lâu lắm là năm tháng phải đem lên bờ “ làm nước” một lần.
Trong nước biển có con hà, mắt thường không thấy được. Khi nó bám vào ghe thì ăn lủng ghe.
Nó bám vào hàng hàng lớp lớp, dầy đặc chớ không phải vài ba mươi con. Lúc đó nó đã lộ nguyên
hình là một loại hàu to bằng ngón tay, đầu nhọn, phía trên miệng há ra như miệng núi lửa. Đập ra,
bên trong cũng có tinh thịt và cơ quan tiêu hóa như hàu mà nhỏ xíu thôi.
Ghe được đưa lên bờ để vài ngày cho khô nước rồi người ta dùng bùi nhùi hay rơm rác
đốt lên xông khói vào đám hà cho nó chết khô. Đoạn dùng dao hay bay thợ hồ xủi cho nó tróc
ra hết. Mấy bửa nữa thì bắt đầu phết dầu rái và xảm lại những chổ chai bị khô bong ra. Mê ghe
cũng lại được trét cứt bò và quết dầu rái.
Mỗi năm ít nhất người ta cũng phải “ làm nước” ghe hai lần vào những ngày trăng tròn.
Tôi đã đưa các bạn đi một vòng khá xa theo chuyện đóng ghe của ông ngoại tôi và cách
thức bảo quản ghe không biết để làm gì ? Nó có ăn nhập gì vào cái chuyện “ Xuống Cồn coi lửa” ?
Chắc là tôi đã đi lạc đề sang cái chuyện “ Xuống Cồn coi đóng ghe” rồi!
Ồ! Không phải đâu! Nếu chỉ nói một câu ngắn gọn: Ô! Cháy nhà! Cháy nhà! Bà con ơi! Xuống Cồn
coi cháy nhà! Xuống Cồn coi lửa! thì cái chuyện tôi kể cho các bạn nghe đã xong từ hai hàng mở đầu!
Mà chỉ cái nhan đề không thôi thì cũng đã đủ rồi cần gì phải tới hai dòng ?
Mà cháy nhà ở đâu lại chẳng có! Lửa ở đâu lại chẳng giống nhau ? Việc gì phải xuống tận Cồn coi lửa!
Xóm tôi đa phần sống về nghề đánh cá, câu cá và chài lưới nên phần đông đều có mành lớn,
ghe nhỏ hay xuồng bé cả. Do đó nhà nào cũng dự trữ dầu rái, chai cục để hàng nửa năm làm “ nước ghe” một lần.
Hai cái món dầu rái và chai cục thì phải mua từ Bình Định, Phú Yên mới có. Muốn mua phải đặt
từ mấy tháng trước mới được. Bạn hàng phải gánh nó từ “ ngoãi ” ( ngoài ấy) vô, trong cặp “ nừng”
làm bằng tre đan kín, mất cả tháng trời, băng đèo lội suối mới đem vô được. Do đó giá thành rất mắc.
Dân xóm tôi phải mua dự trữ dùng đôi ba năm cho đở tốn tiền công gánh. Dự trữ thì cất ở đâu ?
Cái chòi nhỏ xíu làm gì có nơi cất dấu cho an toàn khỏi sợ trộm cắp ? Chắc ăn nhứt là đào lỗ ngay
trong nhà mà chôn. Đào ngay dưới gầm giường, gầm chõng là yên chí. Mấy cái khạp đất mua của
người Chàm ở Phan Rang, Phan Rí gánh ra bán, được cho dầu rái vào, đậy nắp, chôn xuống, lấp
đất lại là ngủ yên không lo lắng chi cả.
Nhưng “nó” lại là một nguyên nhân dẫn tới cháy nhà mà không ai dám vào để chửa cháy!
Còn nguyên nhân thứ hai là cốt mìn, thuốc súng và chất nổ nữa! Chốc nữa tôi sẽ kể sau.
Tại các bạn sốt ruột, hối quá cho nên tôi phải “xì” ra trước đôi chút để các bạn có đôi phần
thoải mái, vừa ý cái sự tò mò nóng ruột.
Bây giờ tôi xin được trở lại chuyện ông Năm Chi. Nãy giờ để ổng ngồi đan mê một mình thì ổng buồn lắm.
Mỗi lần đi học, đi ngang chổ ông ngồi , thấy ông cặm cụi đan với cái dùi đục làm bằng gỗ hương
bóng lưỡng và cái xảm nan trên tay, tôi lại liên tưởng tới hình ảnh Ông Phạm ngũ Lão ngồi đan “sọt”
bị lính của Đức Trần hưng Đạo lấy giáo đâm vào đùi mà không hay vì vừa đan ông vừa lo nghĩ việc nước,
tìm cách phá giặc Nguyên. Hình này vẻ trong sách tập đọc lớp Ba. Đùi ông bị giáo đâm máu chảy
dầm dề mà ông vẫn không hay. (?)
Ông Năm Chi không bị giáo đâm để gây sự chú ý cho lũ trẻ con chúng tôi, nhưng ông lại
có cái khác làm chúng tôi vừa gớm, vừa tò mò, rồi sinh ra chọc ghẹo phá phách ông mỗi lần đi ngang.
Đó là cái lỗ mũi của ông. Ông Năm Chi có cái lỗ mũi lạ lắm. Mũi ông huếch lên trời, chìa ra hai cái lỗ
to tướng, sâu hun hút vào trong. Nhưng đó cũng chẳng phải là điều gớm và lạ gì mấy. Cái gớm ghiếc
là hai dòng mũi xanh đặc từ trong mũi ông cứ thập thò, thụt vô, thòi ra như hai con sâu xanh đang
cựa quậy vậy. Đặc biệt hơn nữa, tôi ngồi hàng giờ trước thềm nhà Cậu Ba tôi, đối diện với nhà
ông Hai Liều, để theo dõi coi ông có hỉ hay xùy ra không. Nhưng không! Chưa lần nào tôi thấy ông
đưa tay lên bịt một lỗ, rồi hỉ lổ kia như ta thường làm khi bị khịt hay chảy mũi. Có lẽ tay ông quá
bận để đan đát chăng ? Mỗi lần hai dòng mũi xanh lè chảy từ mũi ra đến tận bờ môi thì ông hít vào
nghe đánh “ tọt” một tiếng. Hai con sâu xanh lập tức thụt vô trong. Mấy giây sau nó lại thò ra và lại
nghe tiếng “ tọt” rõ to khi ông hít vô. Tôi đem sự quan sát này như một khám phá mới mẻ ra nói với
bọn thằng Jean, thằng Cạch, thằng Lía, Phát bét, So Trọc, Cò Ù... thì tụi nó cười rần lên bảo :
- Tưởng gì chớ ông Năm Chi mũi giải thò lò, tụi tao biết từ đời não, đời nao rồi. Bây giờ mày
mới biết thì trễ tàu mấy ngàn lần rồi.
Tôi quê quá. Cái gì tôi cũng bị theo đuôi tụi nó. Tụi nó còn bày cho tui hát ghẹo ông Năm nữa.
Tụi nó rập lên hát ông ổng :
- Ông Năm Chi mũi chảy thò lò! Ông Năm Chi mũi giải thò lò!
Thế là, mỗi lần đi học ngang qua chổ ông Năm Chi ngồi đan thúng, chúng tôi giả bộ đứng lại
coi, để lắng nghe những tiếng “ tọt”... “tọt”... rồi nháy mắt với nhau, vừa đi vừa hát :
- Ông Năm Chi...
Ông Năm ngước mắt lên nhìn lũ trẻ ranh một giây rồi cúi xuống cặm cụi đan trở lại, miệng lẩm bẩm :
- Lỗi tự trong nan thừa lỗi ra!
Lần nào cũng vậy. Tôi không hề thấy ông tức giận hay to tiếng mắng mỏ chúng tôi về
sự chọc ghẹo tai ác này. Chỉ nghe ông lẩm bẩm trong miệng: - Lỗi tự trong nan thừa lỗi ra!
Chúng tôi hỏi nhau ông ấy nói như vậy là nghĩa gì. Không đứa nào giải đáp được. Thằng Cò Ù bảo
đi hỏi anh nó là chú Chín Ú.
Chú chín Ú còn gọi là Chú Chín khùng, anh thằng Cò Ù, lớn hơn nó đến một con giáp vì
nó là con đời chồng sau của má nó. Trong khi chúng tôi gọi bằng chú Chín thì nó hảnh diện
chỉ gọi bằng anh Chín. ( Xin đọc Chú Chín Ú trong Hình bóng nhạt nhòa)
Thắc mắc của chúng tôi được chú Chín Ú giải nghĩa rành rọt vào một buổi chiều mát trời ngay tại
cừ Lầu Ông Tư khi bóng mát của cái lầu ba tầng ngã xế về mé biển. Chú nói :
- Ông Năm ổng chửi cha tụi mày mà tụi mày không biết hả ? Ổng nói “ Lỗi trong nan
thừa lỗi ra” là theo cách thức ổng đan thúng, đan rỗ. Khi gày nan đầu tiên để đan, người ta gày năm nan.
Cái nan thứ năm ở giữa là nan lẻ. Nan này có nhiệm vụ gài chặc những nan chẳn như hai, bốn, sáu, tám ...
Cái nan đó họ đặt cho cái tên là “nan thừa”, nhưng thực sự rất quan trọng. Khi bắt nan để đan mà sơ
ý bắt lộn cái nan thừa thì cả cái thúng, cái rổ đều xộc xệch phải tháo ra đan lại từ đầu. Vậy cái “nan thừa”
ví như người cha trong nhà. Cha trong nhà không biết dạy con nên những đứa con hư, mất dạy như tụi mày
mới đi chọc ghẹo một người lớn tuổi đáng ông nội, ông ngoại tụi mày. Hiểu chưa ? Hử! Hử!
Còn tại sao cứ chảy mũi hoài mà không chịu hỉ ? Tụi bây có biết tại làm sao không ?
- Tụi tui làm sao mà biết được chú Chín! Hổng biết mới tới hỏi Chú, chớ biết rồi thì hỏi làm chi ?
Chú hỏi thiệt cắc cớ !
- Không biết thì nín thinh, nghe tao nói nè. Ổng bị bịnh “ long óc”. Hai cái dòng xanh lè
chảy lòng thòng đó là óc trong đầu chảy ra. Ổng mà hỉ đi thì óc sẽ hết. Mà con người ta khi hết óc
thì tụi mày biết rồi chớ gì! Ngủm...! Ngủm...! Biết không ?
Khúc đầu tụi tôi nghe còn có lý chớ đoạn sau thì rõ ràng chú Chín khùng nói “ thiên trời địa đất” rồi.
Ai mà tin cho được! Óc gì óc dễ chảy vậy !
- Thiệt là “ lùng” quá ! Chú Chín “lùng” quá !
Chúng tôi nháy mắt xầm xì to nhỏ với nhau.
Thằng Cò Ù tức mình vì anh nó bị cho là “ lùng” nổi cáu lên sừng sộ :
- Anh Chín tao giải nghĩa “ pha học” vậy mà tụi bay cho là lùng hả ?
( Lùng: tiếng lóng, chỉ có bọn tôi hay dùng để chỉ sự láo xạo, nói khoác, chuyện không có thật )
Tuy nhiên, tụi nhóc chúng tôi nghe xong đứa nào cũng té ngữa, tá hỏa tam tinh. Ông Năm Chi thấy tẩm ngẩm,
tầm ngầm vậy mà thâm thiệt. Miệng ông độc hơn thịt vịt xiêm lai. Ngày nào ổng cũng chửi cha mình mà
mình không hay lại còn nhe răng cười khoái chí tử nữa chớ. Vụ này tôi nín luôn, không dám kể lại cho cha
tôi nghe. Nếu kể lại thì thế nào cũng lãnh một bạt tai trời giáng nữa. Chí ít cũng năm roi ngựa quắn đít.
Từ đó về sau, chúng tôi không đứa nào dám ho he chọc ông nữa. Đi học ngang qua ông, đứa nào cũng
lấm lét né qua phía nhà cậu Ba tôi.
Nghĩ lại cũng lỗi tại mình trước. Tinh nghịch, rắn mắt đứng hàng thứ ba sau quĩ và ma thì
người lớn phải răn dạy là đúng rồi. Trách ông Năm Chi sao được!
Xuống Cồn mua “ hột”!
Xóm tôi ngoài ghe mành đánh bắt cá bằng lưới ra còn có ghe câu . Ghe câu có nhiều loại :
Câu thẻo, câu mực, câu dầm... Ngoài hai thứ trên còn một loại đánh bắt cá một cách
nguy hiểm chết người nữa. Đó là đánh bằng chất nổ. Thứ đó không gọi là mành hay ghe mà gọi là
“ xuồng bắn”. Bởi nó chỉ dùng một chiếc xuồng hai người chèo là đủ.
Đồ nghề gồm thuốc súng, thuốc bồi của đại bác, sau này là chất dẻo TNT, giây ngòi và kíp nổ.
Ít khi họ dùng lựu đạn “ Em mờ ca đơ” (MK2 : loại lựu đạn có khứa như vỏ trái mãng cầu ) hay
“Ô Ép” ( O.F : loại lựu đạn tròn láng, màu vàng giống trái lê ) vì sức công phá của nó dưới biển không lớn.
Đôi khi họ cột chùm theo mìn để tăng thêm sức nổ bồi nếu gặp đàn cá lớn.
Đó là nguyên nhân thứ hai gây ra cháy nhà mà không một ai dám vô chữa cháy.
Làm nghề “xuồng bắn” là lấy mạng mình để đổi lấy miếng ăn. Nhiều người đã chết banh thây
trên xuồng hoặc chết chìm dưới nước vì bị sức ép của nước khi mìn nổ làm bể gan, bể ruột.
Nguy hiểm vậy sao lại có người dám làm ?
Cũng chỉ vì nghèo khổ, miếng cơm manh áo mà ra cả. Vả lại ít vốn mà nhiều lời.
Ai mà không ham. Cái lợi làm cho tối mắt là vậy.
Nội cái xóm tôi nhiều lắm là chỉ có ba hay bốn nhà làm mà thôi. Còn ăn theo thì tùy.
Ai ham tiền thì nhảy vô. Cái nghề “ xuồng bắn” rất dễ ăn. Chỉ ... ình... một tiếng là có tiền trăm trong túi rồi!
Chỉ cần một chiếc xuồng nho nhỏ dài chừng ba thước, ngang một thước rưỡi và vài quả mìn là đủ.
Trúng một cú bằng ghe mành làm một mùa. Bằng ghe câu làm cả năm.
Vậy thì sao cả xóm không liều làm một chuyến ? - Đâu phải dể ăn !
Làm nghề “ xuồng bắn” phải gan dạ, dầy kinh nghiệm và hiểu biết về chất nổ và nhất là phải rành
rõi đặc tính của từng loại cá nữa. Cái sau mới là quan trọng. Đâu phải ai ai cũng rành sáu câu đâu.
Các loài hải sản mỗi thứ có cách bơi lội, di chuyển khác nhau. Có thứ thì thích nổi trên mặt nước,
đôi khi còn rũ nhau bay lên trời như chim cả đàn, như cá chuồn bay. Có thứ đi lưng chừng nước
như cá bè chan. Có thứ lặn sâu đôi ba thước nước như cá sòng, cá bạc má. Lại có thứ đi sát mặt
nước như cá đối. Loại này tụ nhanh mà tán cũng nhanh. Vân vân và vân vân.
Người kể chuyện thuở ấy còn quá nhỏ không biết hết và cũng không rành nên nêu vài cái ví dụ e
chừng cũng không thiệt trúng lắm. Coi như kể tượng trưng cho có lý do chớ không phải bài nghiên cứu
về cá đâu nghen!
Do những đặc tính của cá khác nhau như vậy nên người đi “ xuồng bắn” phải biết chế tác
mìn theo yêu cầu “thực tế”. Mìn có cái ngòi dài để nổ chậm khi vừa chìm xuống vài thước
nước mới đủ sức sát thương loại cá ở lưng chừng nước, càng nhiều càng tốt. Có mìn ngòi
ngắn vừa chạm nước là nổ ngay mới hiệu quả. Lâu vài giây là cá phân tán đi hết, kể như uổng công, phí của.
Nhưng mìn tự chế làm bằng tay, liều lượng thuốc bỏ không đều. Khi tổ trác, vừa châm ngòi là mìn
nổ trên tay: chết! Mìn ném xuống tịt ngòi không nổ, lặn xuống vớt lên làm lại, thình lình phát nổ :
- chết! Đó là mìn bị nín. Đủ thứ cách chết. Nhẹ nhất là cụt tay hay cụt chân.
Có theo dõi một vụ đánh mìn mới thấy rằng ai yếu tim dễ bị đứng tim mà chết lắm.
Đánh cá bằng mìn không đi xa bờ lắm. Đứng trong bờ nhìn ra khoảng vài trăm thước, một buổi sáng
nắng mới tưới rói, mây xanh ngắt, mặt nước phẳng lờ như mặt hồ thu, gió hiu hiu thổi không đủ
gợn con sóng nhỏ, một chiếc xuồng thả lửng lờ. Cách xuồng chừng đôi ba chục thước, một
người ở trần ( có khi ở truồng luôn) đang nằm trên một ống tre làm phao, mặt đeo kính lặn,
ngó xuống nước, một tay ôm trái mìn to bằng cổ cẳng dài chừng gang rưỡi tay, tay kia cầm
con cúi đang ngún cháy. Ngọn khói nhẹ toả trên mặt nước thấy rõ. Người nằm trên ống tre cứ
nhẹ nhàng quẫy hai chân trên mặt nước đi tìm những đàn cá đang đi vào bờ kiếm ăn. Cá đi hàng đàn,
đặc nước. Kể có hàng vạn con mỗi đàn. Người bơi cứ bơi. Lá lượn cứ lượn. Thật là cảnh thanh bình êm ả.
Có khi cá lao vào cả người, nếu ta nằm im không nhúc nhích, cục cựa. Trong tích tắc, con cúi được
châm vào ngòi dẫn cháy và ... ình..., một tiếng nổ trầm đục, không âm vang nhưng rung chuyển
mặt nước làm bốc lên một cột nước khá cao. Đứng trong bờ cảm nhận được mặt đất rung nhẹ.
Tiếng nổ kêu ình... chứ không kêu ầm... như trên mặt đất. Sức nổ của trái mìn nằm ngay
trung tâm đàn cá, chấn động nước, cá tức mà chết hàng đàn, nằm trắng xóa dưới mặt biển.
Có nhiều con còn thoi thóp, bơi dựng đầu, miệng ngáp ngáp thở. Chiếc xuồng lập tức lao tới.
Hai người, hai cái vợt, liên tục lặn xuống vớt cá, trồi lên đổ vào xuồng. Chẳng mấy chốc đã đầy xuồng.
Bơi vào bờ để chuyền cá. Trên bờ nghe tiếng nổ, mấy bà vợ và con cái đã chực hờ rổ rổi ( loại rổ lớn )
để đựng cá. Xuồng lại tiếp tục vớt cá. Mấy bà vợ hối hả mang cá ra chợ. Đám con lại tiếp nhận cá.
Mỗi vụ nổ như vậy, thu hoạch chừng vài thiên. Tức vài ngàn con. Không kể đám con nít từ bảy đến mươi,
mười hai, mười ba tuổi ào ra, hôi cá còn sót. Mỗi đứa cũng vài ba chục con, “đủ nấu, đủ kho, đủ cho ...
mẹ vợ ... tương lai”.
Cha tôi không bao giờ cho mẹ tôi mua loại cá bắn mìn. Ông nói :
- Cái thứ “ cá bắn” ăn rất độc. Chất thuốc mìn ngấm vào cá, ai có phong ăn vào
sẽ trổ phong. Nhứt là phong ngứa. Ăn vào, tối ngủ gãi tuột da.
- Làm sao biết được cá nào là cá đánh lưới, cá câu và cá đánh mìn ?
- Dễ òm ! Cứ ngó cái bụng con cá là biết! Cá bị đánh mìn con nào bụng cũng bị bể nát hết!
Chất thuốc mìn còn độc hại hơn nhiều đối với những ai bị thương tật vì nó. Như lão Tám Chóng,
nhà cạnh ông Ba Đen tức ông Ba Chà ( Xin đọc truyện Hình bóng nhạt nhòa ) bị mìn nổ bất tử,
may mà chỉ cụt có bàn chân mặt thôi. Khi cho ra khỏi nhà thương, bác sĩ dặn kiêng cữ sáu tháng
không được gần đàn bà. Chờ cho xương lành hẵn. Không biết vì mụ vợ lão hay là lão lên cơn,
quên lời bác sĩ dặn, mới ba tháng sau khi từ nhà thương về, mụ vợ có chửa rồi đẻ ra thằng Đỡ.
Cha tên Chóng, đặt thằng con tên Đỡ. Chưa kịp mừng thằng con trai đầu lòng đầy tháng, lão phải vào
lại nhà thương để cắt cụt cái chưn lên tận đầu gối vì chổ bị thương trước làm độc, ăn luồn lên.
Nhưng vẫn chưa tởn, năm sau mụ vợ lại đẻ thêm thằng Khá. Thằng anh tên Đỡ thì còn đỡ đỡ.
Bây giờ thằng em tên Khá thì rõ là khá hẳn. Lão Tám Chóng lại vào nhà thương lần nữa để cắt cụt
cái chưn tới háng. Lần này thì lão tởn tới già. Mụ vợ lão còn trẻ và còn hăng lắm, dầu có nài nĩ lão
giúp cho một phùa nữa, chỉ một phùa nữa thôi cho thỏa, để đẻ thêm cho lão thằng Giàu hay con
Sang gì đi nữa lão cũng xua tay, lắc đầu ngoày ngoạy.
Lão sợ quá mà hết ham. Chẳng lẽ lần tới lại cắt cụt ngang bụng ? Nếu vậy thì lão lúa đời rồi còn gì!.
Thế là ban đầu lão đi hai chân ngon lành, tuy bị cụt chút ít. Bây giờ lão cũng đi bằng hai chân, nhưng
chân mặt phải thay bằng cây nạng chống vào nách, chân trái nhảy lò cò, đi khập khểnh, cà thọt, cà thọt từng bước.
Thật là tiền định! Lão tên Chóng ( Chống) có lẽ ông già, bà già lão biết trước cơ trời thế nào cũng
có ngày chống nạn nên đặt tên lão là Chóng. Chống Đỡ Khá. Vậy mà chẳng đỡ, chẳng khá chút nào.
– “Cả nhà lão không có âm đức”. Người xóm tôi dè biểu nhà lão như vậy.
( Quả nhiên, tháng 4 năm 1975, trong lúc mọi người cuống cuồng, hoảng hốt lo sợ trước
cảnh hỗn loạn vô chính phủ thì hai thằng Đỡ và Khá nhảy ra mang băng đỏ, đeo súng M.16,
xưng là du kích, đi bắt nhiều người trong làng làm việc cho chế độ cũ trước kia, nộp cho
Công An Cộng Sản để lập công. Trong đó có tôi. Một năm sau trong trại tù Đá Bàn, tôi hay
tin hai đứa cùng một bọn đầu trâu mặt ngựa trên Đầm bắt cóc một người con gái mang ra bờ
biển Nha Trang hãm hiếp rồi giết chết để phi tang. Cả bọn bị bắt. Thằng Đỡ bị xử tử ngay
tại Núi Sạn Đồng Đế, thằng Khá 15 năm tù. Nhãn tiền. )
Làm nghề “xuồng bắn” mau phất lên lắm. Thấy rõ nhứt là “ xuồng Tấn”. Tức ông Tấn làm
nghề bắn cốt mìn. Xóm tôi gọi tắt những nhà làm nghề đó bằng cái tên ghép lại. Như
“ xuồng Mạnh”, “xuồng Hảo” v.v...
“ Xuồng Tấn” chỉ có ba năm, từ hai bàn tay trắng mà đã có ngay một toà nhà ngói Tây đỏ,
thềm xi măng láng cón, mát rượi. Trước thềm rộng “mênh mông chi điạ” như cách nói của
mấy ông hàng xóm, trưa nào cũng đến nằm ngủ nhờ thoải mái. Cửa lớn, cửa sổ đều bằng gỗ
bằng lăng hay gỗ hương.
Nội cái thềm nhà cao cách mặt đất nửa thước tây cũng đủ thấy vẻ giàu có rồi.
Tiếng lành đồn xa. Chẳng mấy chốc, các làng chài quanh NhaTrang như Chụt, Cầu Đá, Bình Tân...
nghe tin, cũng ham làm giàu tắt, mon men xuống xóm tôi mua lại chất nổ để hành nghề.
Nghề bắn cốt mìn cũng có những điều kiêng kỵ như làm mành hay như đi điệu tìm trầm.
Lên núi thì không được kêu tên cọp mà phải gọi là Ông Ba Mươi. Xuống biển không được
kêu cá voi mà phải tôn lên là Cá Ông. Nghề “ xuồng bắn” kíp nổ không được gọi xách mé
là hột nổ mà chỉ được gọi là “ hột ”. Cái tiếng “hột” còn có cái nghĩa “ác ôn côn đồ” độc quyền
của quí bà đã “ cầu chứng tại Tòa”, do vậy, đã có không ít chuyện cười ra nước mắt cho mấy
người làng khác đến xóm tôi mua “ hột ”.
Có một ông lớ ngớ xuống hỏi thăm chổ nào bán hột. Một người trong xóm chỉ cho ông ta một
đám người đang đè đầu nhau bắt chí chờ mành vô để mua cá.
- Ông cứ đến hỏi đám đàn bà đó, có người sẽ bán cho!
Ông này lơn tơn tới nơi, thầm thì :
- Mấy bà này có bà nào bán hột không ? Bán cho tôi một ít hột !
Tức thì nổi lên tràng cười rộ, cười ngặt nghẽo của đám đàn bà xung quanh đó. Còn đám
được hỏi thì đỏ mặt tiá tai, sừng sộ :
- A! Cái thằng cha già mắc dịch! Đồ vô duyên! Đi hỏi lãng òm! Có đi chổ khác không,
tui cho chiếc guốc lên đầu bây giờ !
Có bà nhảy dựng lên, vỗ bẹn bồm bộp, sưng sỉa :
- Hột hả! Cái “hột ” tao thì có! Cái thứ đồ gì đâu không biết mắc cỡ. Nhè đàn bà mà đi hỏi mua hột!
Thiệt là cái đồ đàn ông lãng xẹt!
...
Chất nổ, thuốc súng, ngòi nổ đều được chôn dấu trong nhà.
Dầu rái, chai cục, dầu lửa đều được chôn dấu trong nhà.
Nhưng hai thứ dễ bắt cháy này cũng khó có thể làm cho cháy nhà, cháy tiêu cả xóm một cách dữ dằn,
hung bạo như vậy.
Còn một thứ nữa cũng ghê gớm không kém. Nó đã là trợ thủ đắc lực và cũng là một trong ba
nguyên nhân đưa và rước Bà Hỏa về tàn phá xóm tôi.
Đó chính là gió. Nói tới gió là phải nhớ tới trận Xích Bích trên sông Trường Giang.
Các bạn còn nhớ trận Xích Bích trong Tam Quốc Chí không ? Các bạn còn nhớ đoạn Khổng Minh
bắt mạch trị bệnh và kê cho Chu Du một toa thuốc thần sầu quĩ khốc không? Chu Du chỉ mới đọc
cái toa thôi, liền vã mồ hôi và hết bệnh ngay tức khắc!
Tôi xin nhắc lại cái toa này, nếu bạn quên, để dẫn đến chuyện cháy nhà Xóm Cồn tôi :
- Muốn đánh Tào Công. Mọi việc đều xong! Chỉ thiếu gió Đông!
Vâng, cả một kế hoạch tỉ mỉ được dàn dựng bấy lâu, nào lừa lấy tên, nào khổ nhục kế để kết liên hoàn,
nào trá hàng... để đánh một trận “hỏa chiến” với phe Tào Tháo trên sông Trường Giang mênh
mông bát ngát mà rốt cục không có gió Đông, chỉ có gió Bấc thì chỉ có thiệt hại từ chết tới bị
thương cho phe Đông Ngô mà thôi.
Xóm tôi cũng từng điêu tàn nhiều lần cũng tại gió mà gây ra. Nhưng ngược lại, không phải
gió Đông mà lại là gió Nam.
Khoảng từ tháng sáu cho đến tháng tám âm lịch những ngọn gió lào từ phía bên kia dãy
Trường Sơn thổi ra biển, mang theo cái nóng khô, nóng rát mặt, nóng cháy nhà của đá núi có t
ên là gió Lào. Dân xóm không gọi là gió lào mà gọi là “ rực Nam”. Cái “rực Nam” làm cho những
căn chòi làm bằng lá dừa, cà ràng, cót, nứa... khô cong lại, khô nứt nẻ ra, từ phên vách cho chí mái nhà.
Rực Nam thổi điên cuồng, thổi ào ạt liên tục từ mười giờ sáng cho đến hai ba giờ chiều mới dịu bớt.
Nó thổi liền tù tì hai tháng. Người người đều khô quắt theo nó. Nhà nhà đều xác xơ vì nó.
Nấu bếp hay tàn thuốc rê, sơ sẩy một chút là tai họa liền. Mọi vật đều có thể bốc cháy bất cứ lúc nào.
Ngoài cái thằng “ Rực nam” hung hãn ra, nó không những đi một mình mà còn rũ thêm cái thằng
“ Nồm săng” cũng ghê gớm không thua gì! Thiệt là một cặp thần trùng “ chằng tinh đi với gấu ngựa
” để cố hại xóm tôi.
Cái thằng “ rực Nam ” vừa tạm thời lui ra sau sân khấu thì thằng “ Nồm săng” xuất hiện liền.
Ban đầu thì chỉ có thằng “ Nồm” không thôi. Nó đi từ biển vào mang theo hơi nước mát mẻ.
Bà con ta hân hoan đón chào nó như một vị cứu tinh đến đúng lúc người và vật sắp chết nóng, chết khô.
Nhưng chưa kịp thiu thiu một giấc nồng thì thằng cha nó là “ Nồm săng” ào tới. Nồm săng cũng là gió đông nam.
Nó thổi nhè nhẹ, mát rượi thì gọi là nồm. Thổi mạnh quá, tốc cả váy, tốc cả mái nhà, bay cả lưới đang phơi,
cuốn theo cát hắt vào mặt, vào mũi người ngồi hóng mát bên bờ biển thì gọi là “Nồm săng”.
Cái gì thái quá cũng không tốt. Mấy ông già, bà lão vừa nhắc nhở con cháu :
- Nè! Trời rực Nam đó! Tui bay coi chừng lửa củi nghen!
Lại quay sang dè chừng :
- Nồm săng quá! Mấy đứa nấu cơm, kho cá dè chừng gió chớ không thì cháy nhà như không đó nghe !
Nồm săng tiếp chân thằng “ rực Nam” từ hai ba giờ chiều cho tới sẩm tối thì ngưng. Nhưng được cái
“ Nồm săng” thỉnh thoảng đến viếng thôi chứ không thường xuyên. Nó mà thường xuyên thì một
năm phải cháy nhà hết sáu tháng vì nó thổi trực tiếp từ ngoài biển vào không gì che chắn được sức gió.
Nói tới cháy nhà thì xóm tôi đã bị cháy rất nhiều lần trong quá khứ. Cái quá khứ từ năm 1940 trở về
trước còn lạc hậu, tối tăm lắm lắm.
Cái vụ cháy nhà bà Hai, bà Ba kể trên coi như là vụ cuối cùng mà tôi đã ở cái tuổi mười hai,
tận mắt nhìn, tận tai nghe và tận tay vỗ để hát một cách thơ ngây, ngu ngốc cùng lũ trẻ con
cũng ngây thơ, ngu ngốc không kém: “ Phừng phừng dầu lửa, dầu xăng, nhà bà Hai đã cháy...”
Nhưng cháy xong rồi thì xóm tôi lại lục tục, người trước, kẻ sau làm lại cái mới. Dĩ nhiên nhiều
người cũng đã khóc than, tiếc cho công lao, tiền bạc dành dụm bấy lâu nay đã “theo ông, theo
bà thần hoả bay lên trời”.
Họ giúp nhau, mỗi người một tay, nay nhà này, mai nhà kia. Chẳng mấy chốc xóm lại
đông vui với những căn nhà, những căn chòi mới.
Không một ai truy cứu hay đổ thừa tại con A hay bà B hoặc ông C làm cháy nhà cả.
Họ mặc nhiên chấp nhận rũi ro cùng nhau gánh chịu, không than vãn, không kêu ca hay buông một lời oán thán.
Một vụ cháy nhà điển hình !
Thình lình lửa phực lên từ một căn nhà nào đó, tiếng la hớt hải kêu lên. Ban đầu là một tiếng thất thanh.
Tiếp theo là cả một âm thanh hổn độn của cả xóm :
- Quớ! Làng xóm ơi! Cháy nhà! Cháy nhà rồi !
( Cha tôi kể lại vụ cháy ghê gớm năm tôi mới sáu tuổi, đi học lớp “Năm nhỏ”
trường ông tổng Lâm trong xóm)
Gặp lúc “rực nam” cả tháng, gió thổi về mạnh lắm. Chưa đầy mấy phút, lửa đã lan
sang hai bên cạnh và phía bên kia đường. Lửa cháy cao tạo thêm gió. Gió to giúp lửa càng
thêm phừng phừng. Lửa cháy từ đuôi cồn cháy lên. Tiếng ống tre nổ. Đùng! Đùng! Những
khạp dầu rái, những thùng dầu lửa con gà chôn dưới đất gặp sức nóng, nổ bùng lên,
lửa càng bốc dữ dội. Ầm! ầm! Thỉnh thoảng gặp nhà “ xuống bắn” thuốc súng, thuốc bồi,
ngòi nổ cất dấu, bén lửa vừa cháy, vừa nổ, xoè ra những tia xanh lè. Tiếng nổ rít lên trong
gió cuốn, mịt mù khói lửa. Ầm! Ầm! Ầm! Ngọn lửa theo chiều gió tạt bên này, tạt bên kia,
liếm tới đâu cháy tới đó. Tiếng người lớn la ơi ới, tiếng trẻ con kêu khóc vang trời.
Ban đầu còn dùng gậy gộc, đập lửa. Múc nước biển, nước sông tạt vào. Nhưng không ăn
thua gì với vài thùng nước trước biển lửa ngùn ngụt dữ dội. Mọi người chỉ còn biết bồng bế
nhau lội ra biển, lội ra sông để tránh lửa, tránh nóng. Xuôi tay, phó mặc nhà cửa cho thần lửa
hoành hành. Chỉ lo cho mạng sống. Lửa như hai con Hỏa Long đang hả cái miệng đỏ lòm nuốt
chửng từng căn nhà hai bên đường. Nó nhe nanh múa vuốt, lồng lộn quẫy đuôi đi từ cuối xóm
đi lên. Lửa đi tới đâu tiếng nổ đi theo tới đó. Tiếng nổ phát ra từ những mắt tre, lớn nghe như tiếng pháo đại.
Lửa khói ngút trời. Lửa bốc ngọn cao hơn năm thước. Tiếng còi hụ cấp báo từ Lầu Ông Tư
nghe vang rền hoà trong tiếng gió cuốn, tiếng lửa reo và tiếng nổ lúc lách tách, lúc đì đùng.
Dân trên Đầm tuá xuống càng lúc càng đông, đứng đen đặc ở Lầu Ông Tư coi lửa cháy.
Xe chửa lửa hụ còi chạy tới Lầu Ông Tư rồi khựng lại không dám xuống nữa. Lửa cháy hai bên đường.
Đường hẹp vừa vặn một lối xe đi. Chạy vào giữa hai con rồng lửa có mà nạp mạng.
Nuớc xịt từ hai vòi rồng trên xe, do hai người lính cứu hỏa bơm bằng cái cần bơm, phun ra yếu xìu
so với cơn giận dữ của lửa, chỉ cứu được những nhà gần đó chớ đâu cứu được cả xóm.
Ngọn lửa hoành hành chừng hai tiếng đồng hồ đã nuốt chửng nguyên cả xóm hơn năm trăm nóc gia.
Thần lửa đã hả cơn. Lửa lui dần dần, để lại những đám khói còn cháy âm ỉ vướng vất đây đó.
Trời sụp tối.
Lập loè đóm lửa hòa với tiếng khóc lóc kể lể tỉ tê từ đầu xóm đến cuối xóm.
Người thì dành dụm bỏ ống cả năm chờ giáp Tết cạy ra, may cho bầy con tấm áo,
tấm quần mới ăn Tết. Người thì dự định sữa lại cái chòi cho tươm tất một chút.
Người thì định cuối năm cưới vợ cho con... Tất cả đã theo bà Hỏa.
Xóm tôi ai nấy thường “ bỏ ống” những đồng tiền dư dã, dè xẻn từ tiền chợ.
Họ cưa những khe nhỏ trong cây cột nhà làm bằng tre, nhét vào đó nay mồt đồng,
mai năm cắc. Cuối năm, chẻ cái mắt tre đó ra, lấy tiền sắm Tết. Có nhà thì bỏ vào heo đất.
Nhưng heo đất, vắng chủ nhà, hay đi bậy bạ lắm. Đã đi thì đi luôn ít khi về trở lại.
Bây giờ thì trong tiếng than khóc kể lể người ta mới nghe “xì ra” nhà nào dấu tiền vào
mái tranh bao nhiêu, nhà nào dấu vào cạp vách bao nhiêu, ống tre bao nhiêu được kể
ra theo giọng khóc nỉ non kéo dài nhừa nhựa như tuồng hát đến hồi bi thảm, ai oán vẳng từ bờ sông,
bờ biển nghe đứt ruột, đứt gan.
Sáng sớm hôm sau, nhà nào, nhà nấy cầm cây khơi đống tàn tro còn âm ỉ nóng,
bươi chổ này, moi chổ nọ để hòng kiếm lại đôi chút vàng bạc chảy ra từ cái vòng kiền,
vòng xuyến hay đôi bông tai cất dấu trong hộp bánh bích qui.
Cái cảnh hoang tàn sau trận cháy thê thảm y như một bãi chiến trường. Những cột nhà
chưa cháy hết, xám đen, đứng chơ vơ giữa trời. Những lu, những vại chứa nước bể tan tành,
ngổn ngang mãnh vỡ. Những thùng thiếc móp méo, những chai lọ nước mắm, xì dầu, nước tương,
chén bát, nồi niêu bể thành từng mãnh vụn. Không một thứ gì còn dùng được.
Họ khom mình bươi móc, tìm kiếm hồi lâu, không được gì. Họ đứng trơ trơ ra đó với
nổi thất vọng ê chề. Đôi mắt vô hồn với thân xác rã rời mệt mỏi. Xung quanh đám cháy,
ba bề nước xanh vẫn bao bọc. Nước đã đứng nhìn lửa cháy. Nước đã bình chân như vại,
trước nổi đau của những kẻ khốn cùng. Cái câu “ nước, lửa tương khắc” đã một lần không đúng.
Kiểm điểm lại sau trận hỏa hoạn, hầu như chín mươi phần trăm nhà nhà đều bị cháy.
Chỉ có hai nhà còn nguyên vẹn không sứt mẻ chút nào. Đó là nhà Hương Bộ Tám và nhà Xã Tả.
Nhà gạch, mái ngói và ở biệt lập có tường vây, lửa nào vói tới. Một số nhà tranh vách đất sát bờ
sông tuy không bị cháy nhưng cũng sứt càng, gãy gọng.
Lúc lửa còn đang tung hoành tới giữa cồn, cha tôi hối mẹ tôi bồng hai anh em tôi lội ra
giữa sông đứng cho an toàn. Mẹ tôi bồng hai anh em tôi hai tay mà run cầm cập như
người bị bệnh chống nước ( sốt rét) .
Cha tôi hối hả dùng thau, múc nước sông tạt lên mái tranh liên hồi kỳ trận cho
ướt nhẹp mới thôi. Rồi ông tạt vào các vách. Nhất định ông phải bảo vệ cho được
căn nhà chừng nào hay chừng nấy.
Khi cuộc chiến đã tàn, ngó lại cái nhà tôi thiệt thê thảm. Các vách đất ướt nhẹp bây giờ long ra,
đất sét tụt xuống chưn nền, bầy hầy nhèm nhẹp, để trơ lại bốn phên vách mầm trĩ làm bằng tre,
trống hoác. Chính giữa gian thờ, mấy bức tranh xuân tứ bình, mai lan cúc trúc cùng các bức tranh sự
tích Phạm Công Cúc Hoa cõng hai con Nghi Xuân, Tấn Lực đi đánh giặc Sầm Hưng, Tam Tạng
thỉnh kinh với mấy đệ tử Tề Thiên, Trư Bát Giới, Sa Tăng đều rách tả tơi, rơi xuống nền nhà.
Trên vách còn trơ lại mấy cọng sắt móc trên mấy cây đinh choen hoẻn. Dưới bếp, chén bát,
nồi niêu trong chạn, lăn lóc ngổn ngang đầy bùn đất. Trên nhà, giường ngủ mền gối, mùng màn
ướt nhẹp, nước nhểu ra vàng vàng còn chảy thành dòng
Cha tôi phải mất hai ngày dọn dẹp cho sạch sẽ. Rồi ông lại lên nhà quê mua đất sét
cùng rơm để về trát lại vách. Mẹ tôi phải mang hết quần áo, chiếu chăn xuống sông giặt giũ cho hết bùn đất.
- Ướt còn, cháy mất! Cha tôi nói trong hy vọng và tự tin.
Trận hỏa hoạn đã làm cho dân làng tôi trắng tay. Đã nghèo lại càng thêm cơ cực.
Những người đi “ bạn” mành lại vay tiền chủ ghe ( nậu ) để cất lại cái chòi để ở.
Hàng xóm chỉ giúp nhau cái công chớ ai đâu có tiền mà giúp.
Trong cơn nguy khốn này, cái tình hàng xóm láng giềng mới có cơ bộc lộ rõ nét.
Họ giúp cho nhau xong, chỉ ngồi ăn với nhau bữa cơm, uống xị rượu đế để đền công.
Ai thương xót đoái hoài cho họ bằng tình làng, nghĩa xóm ?
Những người trên Đầm chỉ chờ xóm tôi cháy để rũ nhau : - Xuống Cồn coi lửa !
Phải chăng đó là thú vui của họ? Đây là dịp hãn hữu giải trí đầy kích thích cho họ. Thú vui không mất tiền.
Nhưng cháy nhà, lại làm nhà. Dân xóm tôi quyết không rời mãnh đất này. Mãnh đất mà họ đã
chọn làm quê hương thứ hai. Họ quyết bám chặt nó để truyền lại cho đời con đời cháu, hy vọng sẽ khá hơn.
Đã bao lần họ trắng tay vì thần hỏa. Nhưng sau đó họ vẫn vui vẻ, gắng sức làm việc bằng
mồ hôi và sức lực của mình để xây dựng lại.
... Bắt đầu thập niên năm mươi, những căn nhà ngói đỏ, tường gạch quét vôi màu vàng
dần dà mọc lên thay chổ cho những căn chòi, căn chồ tối tăm xùm xụp. Đời sống dân xóm
tôi khá lên. Nhiều mành, nhiều ghe đã chạy bằng máy động cơ. Đã xa rồi một thời chèo, chống.
Cá, tôm được mùa đầy khoang. Câu hát, tiếng hò trong những đêm giã sắn nhuộm lưới dưới ánh
trăng lại vang lên khắp xóm. Người người no đủ. Con cái được cắp sách đến trường. Có người
còn làm tới chức thầy giáo, như tôi chẳng hạn. Có kẻ làm tới quan hai, quan ba như thằng Đàn, thằng Lía...
Xóm tôi từ từ vươn lên trong sung túc. Nhà có ra-dô, nhà có máy hát quay giây thiều.
Tối tối cả xóm bu lại chật sân nhà Bác Hai Si, để nghe Út Trà Ôn ca mùi mẫn những bài
“Tôn Tẩn giả điên”, hay “ Tình anh bán chiếu”... Lũ trẻ con chí choé dành nhau những cây
kim máy hát bị mòn bỏ ra...
Thỉnh thoảng những trận cười thích thú của bà con nổ ra vui như “ giặc” mỗi khi giây thiều gần
hết tua làm cái dĩa hát quay chậm lại, giọng Út Trà Ôn biến thành lè nhè, ồ ề như ông Tây bị ho khàn cổ...
Nạn cháy nhà từ lâu đã bị hạn chế và chận đứng. Dân trên “Đầm” buồn hiu hắt vì không còn cơ
hội kéo nhau “ xuống Cồn coi lửa” nữa.
Ngày vui qua mau! Không ai ngờ một trận “ Hỏa thiêu Hồng Liên tự” khác đã bất ngờ ập tới.
Lần này ngọn lửa không những đốt tan hoang một ngôi chùa Hồng Liên mà cả hàng ngàn ngôi
Chùa khác và luôn cả một Miền Nam.
... Tháng Tư năm 1975, ngọn lửa “đế quốc Cọng Sản” từ miền Bắc thổi vào, đã hung hãn
đốt quê hương tôi từ vĩ tuyến 17 cho chí mũi Cà Mau. Tất cả đều thành tro bụi. Xóm tôi lại một lần
nữa hứng chịu cảnh đau thương. Lần này, ngọn lửa ghê rợn hơn gấp trăm lần với sự giúp sức của
hai ngọn gió độc tên là “ hà chính” và “ chuyên chính vô sản”. Nó tàn độc ngàn lần hơn so với “ rực Nam” hay “ Nồm săng”.
Nó bứng luôn cả nền nhà. Dân làng tôi lại phải tứ tán khắp nơi cầu thực.
... Tôi trở về thăm lại quê hương sau mười mấy năm bỏ làng, bỏ nước ra đi.
Đêm. Đứng trên chiếc cầu đúc bê tông, bắt từ xóm Cồn qua xóm Bóng, nhìn xuống,
làng tôi đã không còn một dấu vết nào, cho dẫu là một bờ cừ, hay một vài cây cột chống.
Tất cả đều biến mất. Chỉ còn toà nhà ba tầng lầu mang tên “ Nhà Nghỉ Bộ Nội Vụ” đèn đuốc
sáng choang cùng tiếng cười, tiếng nói của những người tự xưng là kẻ chiến thắng.
Họ đã đập tan tành Lầu Ông Tư Yersin cổ xưa để xây một tòa nhà này thay thế.
Họ đã xóa bỏ một di sản văn hóa vô giá mà cả thế giới không có được, một cách không thương tiếc.
Họ đã thực hiện đúng lời “Bác” dạy: - Làm “kách mệnh” là phải đập đổ tất cả cái cũ để xây dựng cái mới.
Nhìn dòng nước sông Cái chảy qua cầu, nước mắt tôi đã chảy theo không ngừng trong đêm tối.
Quincy, mùa hạ năm 2004.
Nguyễn Thanh Ty
• Cồn Dê: Bây giờ đã hết nuôi dê.Thay vào đó là một Nhà hàng có tên “ Hải Đảo”. Đi qua đó bằng một chiếc
cầu xi măng bắt từ đoạn giữa Hà Ra qua Cồn Dê .
• “ Nhạc phẩm: “Bây giờ tháng mấy” của Nhạc sĩ Từ công Phụng. Xin lỗi! Tác giả đã “giỡn” với Ông một chút.
• Qua lồ: Trẻ con giúp việc vặt dưới ghe mành.
|