KHOẺ VÌ NƯỚC !
KHỔ VÌ NƯỚC ! !
Nguyễn Thanh Ty
Sáng hôm nay thức dậy, bộ xương già của tôi đau nhức râm ran khắp nơi, nhất là ở các khớp.
Tôi biết ngay là trời đã trở.
Mở toang cửa sổ, nhìn ra ngoài, quả nhiên y như rằng.
Ngày hôm qua trời đẹp như mơ, nắng vàng hanh có gió thu nhè nhẹ. Bầu trời xanh lơ trên cao.
Vài đám mây trắng lười biếng lững lơ trôi.
Thế mà sáng nay bỗng trở nên u ám, rầu rĩ như bộ mặt của người mất sổ gạo. Hình như sắp có mưa.
Người ta nói “ngũ thập tri thiên mệnh” thật không sai. Mà bây giờ thì tôi đã ngoài sáu bó, đã thành viên
ngoại từ lâu, thì cái sự biết trước mệnh trời là lẽ đương nhiên.
Nói biết mệnh trời thì có hơi thái quá. Nhưng biết trước ngày mai trời đẹp hay xấu thì các cụ ông,
cụ bà cở sáu chục trở lên ai cũng là nhà thiên văn cả. Nghĩa là đều có thể tự mình biết “mệnh trời”,
không cần phải mở “đài” nghe “dự báo thời tiết cho tàu chạy ven biển”. Tàu bị đắm ngoài biển rồi “đài”
mới báo có bão đang tới. Gió cấp tám.
Đang vươn vai, uốn lưng, ẹo qua, ẹo lại vài cái cho bộ xương co giãn bớt nhức, tôi bỗng nhớ lại
bài hát “Khoẻ vì nước” hơn năm mươi năm về trước.
... Mỗi buổi sáng, trước khi vào lớp, thầy Ngụy Như Bàng, giáo viên thể dục thể thao với bộ đồ soọc trắng
và cái tu huýt trên miệng, thổi toét toét, tập cho chúng tôi bài tập thể dục mười lăm phút.
- Vươn vai - Hít - Thở – Nhón hai chân, dơ cao hai tay làm người khổng lồ, đi hai vòng.
Thôi! – Hít – Thở – Chống hai tay vào hông, rùn đầu gối xuống, nhảy theo kiểu ếch, hai vòng.
Thôi! - Hít - Thở ...
Trước khi chấm dứt buổi tập, Thầy cho chúng tôi hát vang :
- Khoẻ vì nước kiến thiết Quốc gia. Đoàn thanh niên ta góp tài ba...
Dứt bài hát, Thầy hô to: - Tan hàng ! Vừa hô, Thầy vừa cong cánh tay phải lại, bàn tay
đặt úp lên ngực, ngay trái tim. Chúng tôi làm theo động tác của Thầy. Khi Thầy dứt tiếng hô,
chúng tôi đồng rập hô theo :
- Cố gắng ! Cố gắng ! Vừa hô vừa vung mạnh cánh tay ra như cách chào. Rồi ùa ra như đàn bướm vỡ tổ.
Sao bỗng dưng tôi lại nhớ đến bài hát này và cả tên Thầy Ngụy Như Bàng, cái tên có vẻ như Tàu,
rất khó nhớ đối với tôi thuở ấy?
Cả bài hát và tên Thầy đã lâu lắm rồi, chìm khuất trong dĩ vãng xa thật là xa,
chưa có lần nào gợi nhớ trong tôi, kể từ khi tôi rời Tiểu Học.
Từ bài hát “khoẻ vì nước”, tôi lại liên tưởng đến sự khổ nhọc của dân Xóm Cồn tôi.
Từ đời ông, đời cha cho đến đời tôi đều khổ vì ... nước.
Tôi lại lan man sang cái chuyện tiếng Việt, chữ Việt với cái hay và cái dở.
Bởi cái sự thiếu và thừa của nó.
Có người thì cứ tấm tắc khen “ rằng hay thì thật là hay!”.
Có người lại lắc đầu ngoày ngoạy mà than rằng “ nghe ra ngậm đắng nuốt cay thể nào!”.
Đến thời “ cách mạng ” tràn vô Nam, mang theo câu vè “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp
Việt Nam ”với lối dạy vần a, bờ, cờ ( a,b,c) lại càng rắc rối cái sự đời.
( Dạy các em thì bắt đọc là bờ, cờ. Khi nói đài phát thanh BBC thì các Thầy, Cô lại dấu dấu,
diếm diếm đọc là đài Bê Bê Xê. Chẳng thấy ai đọc là đài Bờ Bờ Cờ cả,
từ ông Chủ Tịch nước cho chí phó thường dân.)
Lấy ví dụ chữ “ nước ” trong cái nhan đề “ Khoẻ vì nước - Khổ vì nước” mà tôi sắp con cà,
con kê, kể cho bạn nghe, sau bửa cơm chiều, bạn ngồi xĩa răng hoài không biết làm gì
cho qua thời gian, chờ giờ đi ngủ, bạn sẽ thấy một chữ “nước” dư dùng cho hai nghĩa.
Nhưng nói trong nhà với nhau thì được. Khi nói với người nước ngoài thì họ sẽ mù tịt,
không biết mình nói cái gì ?
Giống như thời kỳ Pháp thuộc người ta hay diễu câu :
Lèo lèo me dông đô bố cu tết bốp! ( l’élèvre maison d’eau beaucoup tête beufle) tiếng Pháp bồi có nghĩa :
Học trò nhà nước đầu bò lắm ! Tây Ca Lồ, bố nó cũng không hiểu.
Hay như năm đầu tiên mới qua Mỹ, nghe mấy người hưởng trợ cấp chính phủ khoe rằng :
“Ai ít gờ ren phá dơ” ! ( I eat grandfather) tiếng bồi dịch sát nghĩa là: “ Tôi ăn ông nội ! ”
Ông nội là tiếng lóng người Việt nam dùng để chỉ tiền trợ cấp. Mấy ông, bà Mỹ “ xô xô quớt cơ
” trơ mắt ếch ra nhìn, đố mà biết !
Nhưng khi mình với mình, nói với nhau thì lại hiểu nhau dễ dàng .
Do đó, các bạn đều có thể đoán chữ “ nước ” ở mệnh đề trước là “nước nhà”.
Còn mệnh đề sau là... nước uống.
Như vậy, hai chữ “ nước” không nhập nhĩ gì với nhau cả. Nhưng bạn còn phân vân chưa chắc,
có phải tôi định nói với nghĩa như vậy không ?
Bởi tiếng Việt, chữ Việt, nói hay viết đều giống nhau, không khác một ly ông cụ.
Tàu, Tây nó không thế. Chữ nào thì nghĩa nấy. Rành rẽ phân minh.
Không có lập lờ đánh lận con đen như ta hay dùng để gọi là... “ chơi chữ ”.
Hai chuyện kể sau đây để bạn thấy rõ cách “ chơi chữ ” của tiếng Việt.
Chuyện này xãy ra ở ngoài đất Bắc. Nơi từ xưa nổi tiếng ngàn năm văn vật;cho đến nay ai đó vẫn tự hào vậy!!!
-- Chuyện thứ nhất là một anh bộ đội, cấp bậc, quân hàm cũng khá lớn, “về hiêu”, mở một quán bên đường,
bán nước kiếm cơm qua ngày. Trước cửa quán, anh treo hai câu đối :
Suốt tuổi trẻ xả thân vì nước.
Lúc về già bán nước nuôi thân !
-- Chuyện thứ hai, cũng anh bộ đội, loại thương binh phục viên, chuyên bán nước trà vối trên tàu lửa.
Người ta nghe anh rao ơi ới, từ đầu tàu đến cuối tàu :
- Bán nước theo tàu đây !
Không có “ lời bàn Mao Tôn Cương”. Qúy vị hải nội chư quân , ai muốn hiểu sao thì hiểu .
Nhưng tôi tin rằng mấy vị “cựu cải tạo viên”, bây giờ gọi là H.O, có cho kẹo cũng không dám nghĩ bậy bạ đâu.
Trong óc vừa loé lên ý tưởng “đen tối, nghĩ xấu cách mạng” là Đảng ta và Nhà nước ta ở bển biết liền.
Dù ở phương trời nào cũng bị tó cổ về mà cải tạo lại. Mà mỗi lần nghe hai chử “cải tạo” đã xanh máu mặt rồi.
Tối ngủ còn nằm chiêm bao, đổ mồ hôi hột, giật mình thon thót.
Cán bộ đã từng dạy dỗ, răn đe :
- Chúng mày có mà chạy đằng giời! Chúng mày lên giời thì chúng ông nắm chân kéo xuống!
Chúng mày chui xuống đất thì chúng ông túm tóc kéo lên !
( Bạn phải tuyệt đối tin tưởng lời dạy của Đảng ta, qua lời cán bộ quản giáo. Bởi Đảng ta nói và
làm trước sau như một. Không bao giờ thay đổi, chỉ có bổ sung. Bằng chứng là năm 2000,
Đảng ta đã túm tóc tổng thống Mỹ, Bill Clinton sang Hà Nội để hạch tội. Và ngày 19 tháng 11 năm 2003,
Đảng ta “ buộc” chiến hạm Mỹ, tàu khu trục USS Vandergrift, phải vào Cảng Sài Gòn, nằm ở đó ba ngày
từ 19 đến 22, để nhân dân ta nhìn rõ bản mặt quân đế quốc.
Trên tàu có hai trăm tên Hồng Mao mắt xanh, mũi lõ chuyên đi ăn cướp nước người.
Cũng nghe nói viên Hạm Trưởng phải chuẩn bị lưới B.40 rào xung quanh tàu để chống... hoa hồng,
do dân Sài Gòn phản đối ném xuống cho chìm tàu.)
Theo tự điển Hán Việt của Đào duy Anh thì “nước... nhà” Tàu nó viết là “quốc gia”.
Nước... uống, nước sông, nước suối, nước biển v.v... viết là “ thủy”.
Từ chữ “quốc” đến chữ “thủy” xa nhau đến ba mươi sáu ngàn dậm. Tề Thiên Đại Thánh
phải dùng "phép đằng vân" bay mới tới.
Người bình dân chẳng cần phải giở từ điển làm chi cho nhiệt, ai ai cũng biết quốc là nước,
vì từ nhỏ đã nghe trẻ con đọc Tam Tự Kinh ngoài đường ỏm tỏi như vẹt học nói :
- Thiên (là) trời, địa đất, thất mất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà, bắp nhớt ...
Ủa không phải ! Xin lỗi ! Gia nhà, quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nha răng...
Chúng tôi ưa nghịch ngợm đổi vài chữ khi đọc cho vui, khỏi ngủ gục như :
quốc (là) nước thành bắp ( là) nhớt ( bắp già luộc có nhiều nhớt). Cự cựa, nha răng đổi thành cục cựa, nhe răng ...
Đọc nhanh, không để y,ù nghe giống nhau lắm.
Còn chữ nước là... nước thì ai nấy đều đã nghe nói “ Tình quân dân như cá với nước". Cá mà không có nước
thì cá chết. Nước mà không có cá thì không ... không sao hết ”. ( Phép tam đoạn luận theo kiểu thịt heo ba rọi)
Chạy lòng vòng một hồi cho các bạn tiêu bớt cơm chiều, tôi trở lại chuyện “khổ vì nước”
để kể cho bạn nghe những nổi nhọc nhằn mà người dân xóm tôi phải cam chịu suốt mấy chục năm qua,
mặc dầu làng tôi chỉ cách “ rô bi nê nước máy” có một trăm thước, vẫn không có nước để uống và tắm giặt !
Còn cái chuyện “ quốc gia, nước nhà” là đại sự, kẻ dân ngu khu đen này không dám lạm bàn.
E thần khẩu lại hại xác phàm.
Lại nói về cái làng Xóm Cồn của tôi. Nó chỉ là một cái cồn cát nho,ũ nằm thoi loi giữa sông và biển.
Nếu không dính được chút xíu ở Lầu Ông Tư thì nó đã thành một cồn đảo. Muốn tiếp xúc với phố chợ
chắc mọi người phải đi đò hay sắm xuồng riêng cho gia đình.
Cũng còn may !
Nhưng bên cạnh cái may lại là cái rủi. Cái rủi đó là làng tôi hứng chịu cảnh khát ... nước suốt hơn nửa thế kỷ.
Đó là mốc thời gian mà tôi biết được khi tôi lên bảy. Trước đó nữa thì chắc là ... nhịn khát !
Làng tôi ba bề là nước bao bọc. Chỉ có tí xíu da cổ dính với đất liền. Vậy mà không có nước uống.
Đào xuống vài thước đất là có nước, nước trong veo, mà là nước... mặn.
Những ngày trời mưa thì mừng hết lớn. Nhưng nước hứng từ giọt mái tranh chỉ chứa được một lu để dành
xài trong vài ngày là hết. Ngoài cái lu, cái ảng to hơn chút đỉnh ra, đâu còn vật dụng gì to hơn để chứa.
Nếu có đi nữa cũng không biết để nó ở đâu vì nhà nào cũng chỉ bé bằng bàn tay, đủ cho vợ chồng con cái chui ra,
chui vào, lấy đâu chổ để đặt cái ảng to kềnh ?
Còn nước sông ư ? Đó là nước chè hai ( xà hai). Nước giao hoà giữa biển và sông nên cứ lờ lợ
chỉ dùng để tắm giặt chứ không tài nào uống được. Đành phải lặn lội đi gánh nước đường xa.
Cái thuở còn gánh nước bằng đôi vò đất nung của mấy người Hời từ đất Chàm Phan Rang, Phan Rí
mang ra bán, là nổi cơ cực nhất của dân xóm tôi.
Lúc nãy tôi có nói cách “ rô bi nê” chỉ một trăm thước mà không có nước uống là cớ làm sao ? Đó là nước
“phông tên” trong Lầu Ông Tư. Khi Ông Tư ở nhà thì ông cho dân làng đem vò vô hứng nước
từ phông tên về uống. Khi ông đi vắng thì ông gác dan Chà Và nhất định không mở cổng sắt.
Mà khổ nổi, Ông Tư lại thường xuyên đi vắng!
Với đôi gióng thắt bằng dây mây, hai đầu gióng là hai cái vò đất đã nặng hơn chục ký lô rồi,
bên trong mỗi vò chứa chừng mười lăm lít nước, mà người gánh là những bé gái chưa đầy mươi,
mười lăm tuổi, gánh chạy trên con đường đá lởm chởm từ Lầu Ông Tư lên xóm Mò O, đến gần chợ Đầm,
tới nhà ông Năm Đạo để xin múc nước, rồi gánh chạy về. Được hai vò nước, vừa đi vừa về,
nhanh lắm cũng phải mất hai tiếng đồng hồ.
Đó là những ngày gặp may, gia đình ông Năm Đạo có ở nhà, để còn được xin vào giếng nhà ông mà xách.
Những ngày gia đình ông đi Nhà Thờ, cổng đóng thì còn phải đi xa hơn nữa, xem nhà nào có giếng thì vào xin.
Có hôm chưa chắc người ta cho vào múc.
Nhà ông Năm Đạo ở ngay đầu xóm Mò O. Trước mặt nhà ông là bến mò o. Người dân xóm tôi
không biết tên ông là gì, chỉ thấy gọi ông Năm, ông có đạo, thường đi Nhà Thờ và đọc kinh
mỗi buổi tối nên gọi là ông Năm Đạo. Ông có lòng từ tâm đối với kẻ nghèo. Ngoài việc
cho vào nhà múc nước ông còn hái trái sa bô chê cho ăn nữa. Vườn ông có trồng mấy
chục cây, cành lá xum xuê. Đến mùa, trái quằn nhánh, xà thấp xuống đất.
Khi nhà ông Năm Đạo đi lễ thì các bé gái vòng qua sau lưng Nhà Lao còn gọi là Cải Hối Thất,
có con đường ngắn ngũn chừng độ chục nóc nhà, tên là Đoàn thị Điểm. Đường này phía đầu
chợ Đầm giáp với cuối đường Nguyễn công Trứ. Nhà Thầy Ngụy như Bàng ở ngay góc cua này.
Còn nhớ mày mạy nhà Thầy nấu dầu dừa. Dừa khô hàng đống trước cửa nhà. Nhân công ngồi đập dừa,
lấy cơm dừa để nấu dầu. Thỉnh thoảng chúng tôi tạt ngang xin những mộng dừa ăn. Mộng dừa xốp,
hơi ngòn ngọt và béo. Đầu đường là nhà ông quan Một, giáp với đường Nguyễn bỉnh Khiêm.
Ông này đi lính Tây, lên tới chức Quản, nhưng thường gọi là ông Một. Con ông là thằng Bông Xỉu
cùng lớp với tôi, học rất dốt, nhưng cậy thế cha, làm tàng vô cùng. Nhà nó cũng to lớn, có vườn rộng
như nhà ông Năm Đạo nhưng lòng thì hẹp hơn nhiều. Đã không cho vào xách nước lại còn xịt chó
“bẹc giê” sồ ra, nhe hàm răng nhọn hoắt, trắng nhỡn, qua cổng sắt hăm dọa.
Có lẽ vì bên cạnh giếng có cây khế ngọt. Đến muà, khế rất sai, chín vàng lòng thòng đầy cây.
Thằng Bông Xỉu sợ dân Cồn vừa gánh nước nhờ, vừa hái trộm khế nên nó “ canh me” rất kỹ.
Cách nhà thằng Bông Xỉu hai căn là nhà ông bán kẹo kéo “ méo miệng” ( có đề cập trong truyện
Thương nhớ một mình) có giếng nước ngọt. Bên cạnh giếng cũng có cây khế, nhưng ông cho phép
các em cứ hái ăn. Ông dặn chừng là đừng hái trái non, ăn chát, uổng lắm.
Ngày ngày ông đánh kẹo kéo ở gốc cây xoài xum xuê lá gần đó. Lòng ông và lòng cô con gái
cũng ngọt như nước giếng và những quả khế chín vàng. Khi có ai ở nhà thì các em bé xóm tôi
cứ tự do vào xách nước. Trừ lúc ông đi bán kẹo, cô con gái đi học và bà vợ ông đi chợ, cổng khóa.
Tuy cực nhọc vậy mà đi gánh có chị, có em hàng đoàn đông vầy, cả chục người, cũng vui đường xa,
quên mệt. Cứ vài trăm thước laiỉ dừng chân ngồi nghỉ. Để tránh cho nước khỏi bị chao, trào ra ngoài,
chị em bẻ lá thầu đâu hoặc lá bàng non thả trên mặt để nước giữ độ bình lặng.
Nhưng còn có cảnh vấp đá té nhũi, hay quai gióng lâu ngày kẽo kẹt với đòn gánh, mòn dần không hay,
nữa đường đứt phựt, hai cái vò bể tan tành. Tay ôm mặt khóc, tay thu gom mãnh vò bể, quãy về làm
bằng chứng cho cha mẹ thấy. Lại còn bị mấy đứa tiểu yêu trong xóm theo chế nhạo “ Lêu lêu ! Đứt
gióng bể dò (vò ) giả đò đau bụng ! Lêu lêu!”
Năm tôi hết bậc Tiểu Học, 1954, thì Chính Phủ bán dầu lửa hiệu Con Gà đựng trong thùng thiếc sáng trưng.
Dân xóm tôi dùng dầu xong lấy thùng thiếc đi gánh nước. Cha tôi lựa hai khúc củi, dùng rựa tẳn
mẳn đẽo thành hai cái then đóng vào hai bên miệng thùng, cột vào đó một đoạn dây dừa để các em
tôi gánh thay cho gióng. Khỏi sợ đứt nữa. Thùng thiếc nhẹ lại chứa được hai chục lít.
Năm tôi đậu “ Đít lôm” tức Trung Học đệ Nhất cấp, cha mẹ tôi sắm cho một chiếc xe đạp để đi học xa,
tức trường Trung Học Võ Tánh ở tận Xóm Mới.
Chiếc xe đạp ban ngày dùng đi học, ban đêm được trưng dụng chở nước. Các em tôi đở phần vất vả.
Cha tôi lại mày mò đẽo một khúc củi nữa cột vào cái “ bọt ba ga” xe. Các em tôi chỉ việc gá then thùng
vào hai đầu khúc cây, quấn vài vòng dây dừa là chở nước rất nhẹ nhàng.
Nhưng cái xe đạp lại cam cảnh khổ. Chưa được nửa năm, hai cái vỏ xe mòn nhẵn không còn một tí gai nào.
Đi không khéo, cán phải đá nhọn là lủng. Dắt bộ về nhà hì hục vá lấy. Đến lúc vỏ lủng to quá phải đi
xin mấy cái vỏ cũ hơn nữa, cắt ra từng khúc lót bên trong. Khi đi, xe cứ nẫy lên cà xục, cà xịch,
giống như con ngựa què.
Bỗng nhiên một hôm, tôi không nhớ rõ năm, Chính Phủ có lẽ đang lúc rãnh rang, nhìn thấy cái sự
“khổ vì nước” của dân xóm tôi quá, bèn ra ơn, cho xây một “ rô bi nê” nước ở đầu xóm, sát tường
thành Lầu Ông Tư, chổ năm xưa Tây đặt súng máy, bắn chết và làm bị thương hằng trăm người dân
thơ ngây, vô tội xóm tôi. Họ đã vì lòng yêu nước, hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh, cầm gậy tầm vông
đứng lên đánh nhau với súng “ mút cà tông” và “ mi trây dết” của Pháp.
Khi xây xong, dân làng thấy cái “ rô bi nê” bằng đồng sáng choang, phản chiếu ánh mặt trời lóa mắt,
mở ra mấy vòng, nước trong vòi chảy ra như nước Cam Lồ của Phật Bà Quan Âm. Ai nấy đều hân hoan,
sung sướng, mừng rỡ như lượm được tiền trăm.
Họ biết ơn và ca tụng Chính Phủ hết lời. Ngàn năm một thuở! Dễ dầu gì!
Chỉ được mấy ngày đầu, nước hơi mạnh một chút. Sau đó thì nó cứ ri rỉ như thằng cu tí đái.
Lại xãy ra cái cảnh chen lấn giành giật. Ai cũng nói “ tui trước”. Thùng này vừa đút vô thì bị thùng
khác xô ra. Cả hai đều không hứng đựng giọt nào, mà thùng thì bị móp méo. Nước đã ít lại cứ chảy ra ngoài đất.
Về sau, không biết ai đó đã đề nghị nên xếp hàng theo thứ tự để bà con còn có nước để dùng.
Thế là thùng gánh nước, cứ từng đôi nối đuôi nhau, kề vai sát cánh rất thân thiết, từ cái
“rô bi nê” kéo dài tới Chùa Khuôn Lam Tì Ni hơn cả trăm thước.
Tội nghiệp cho cái “ rô bi nê” số phận rơi vào tay nhà nghèo nên cũng hẩm hiu! Đến phiên ai
hứng cũng đều muốn nước chảy mạnh thêm cho mau đầy, để còn về nhà làm công chuyện khác,
nên cố vặn thêm chút nữa. Cứ thế, chẳng mấy chốc, mấy đường gai xoắn ốc bên trong mòn lĩn,
trơn tuột, thành ra “trớt quớt”. Không vặn hay có vặn nó cứ bao nhiêu đó mà “són” ra.
Có cái ngược đời oái oăm ở chổ rất tức cười. Đúng là tức mà lại cười.
Mùa hè cần nước thì nó chơi ngặt, không chịu chảy khá một chút. Đến mùa mưa, nhà nào cũng
hứng nước mưa tràn trề thì cái “ rô bi nê” lại chảy xối xả suốt ngày đêm, làm xói mòn đường đi thành
con mương. Con mương này chạy băng qua đường cái, xuyên bên hông nhà ông Sơ, gần bờ
sông để thoát xuống sông. Lâu ngày nước xói tới móng nhà làm ông bà Sơ la làng bài hãi, làm đơn
thưa tới Ty Lục Lộ. Thế là Ty Lục Lộ khóa đường ống. Nước từ đó về sau hết chảy.
Cái “rô bi nê” bây giờ đã sứt cái nắm vặn, còn trơ lại cái cốt nhọn, hoen rĩ trở thành màu xanh xỉn.
Dân làng tôi “ cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ ”. Trở lại tiếp tục cong lưng gánh nước đường xa.
Thế giới ngày càng tiến bộ. Khi nghe nói loài người sắp lên dạo chơi mặt trăng, trình độ xóm tôi
cũng tiến bộ lên theo trông thấy rõ.
Có mấy nhà nghĩ ra cách đóng những chiếc xuồng bên trong lót bằng thiếc thành cái bồn chứa.
Họ chèo lên tận Cầu Sắt ở chợ Mới múc nước sông ngọt chở về đổi. Họ gọi là“đổi nước” chớ không kêu
“bán nước”. Cứ năm cắc một gánh. Khi họ về tới bến, người làng gánh thùng xuống đổi.
Đời sống có phần dễ chịu, thoải mái hơn xưa. Tắm giặt phủ phê không còn phải tiết kiệm từng gáo một.
Vài năm sau, mấy nhà chuyên môn chở nước đi đổi, sắm ghe to hơn, thùng chứa lớn hơn và có cả máy
“Cô le” để chạy ghe và bơm nước từ ghe lên bờ cho người đổi. Không còn cảnh phải mang thùng
lội xuống tận bờ nước nữa.
Mấy nhà sàn sát mé sông càng sướng hơn. Nhà tôi cứ đứng trên sàn, cầm vòi đút vô thùng tô nô,
chờ đầy là trả tiền. Khỏi gồng gánh chi cả.
Thật là tiện nghi, văn minh số một không ai bằng!
Nhưng nước sông nhiều khi cũng nguy hiểm quá. Rác rến, xác súc vật chết trong mùa dịch, mùa lụt,
trôi lềnh khênh trên sông, trông thấy mà ghê. Có những con trâu, con bò chết sình trương, phồng
căng nứt da dưới nắng, trôi dập dề trên sông, lên xuống theo con nước. Mùi thúi xông lên nồng
nặc quến rũ bầy kên kên đen thui, cả mấy chục con, bay lên, đáp xuống, bươi móc cái xác
để rúc rĩa ăn thịt. Thấy mà lộn mữa.
Nước chứa trong thùng tô nô, có hôm còn có mấy con cá lòng tong bằng đầu đũa bơi lội nhởn nhơ.
Biết vậy, nhưng đành vậy, chớ biết làm sao hơn. Trong cảnh khổ, người ta chọn cái ít khổ hơn để mà sống.
Khoảng năm sáu tư, sáu lăm, quân đội Đại Hàn, sát cánh cùng quân đồng minh, mang “ kim chi cay xé họng ”
cùng súng ống sang miền Nam nước Việt, được mệnh danh là “tiền đồn của thế giới tự do”
đánh đuổi quân xâm lăng Cọng Sản, ngăn chận làn sóng đỏ do Bắc Việt đem từ Trung quốc và Liên xô về.
Họ đã mang theo kỷ thuật làm giếng cấp tốc ở những nơi đóng quân, dù trên núi cao hay rừng sâu,
luôn có nước để dùng. Đó là cách “ đóng giếng”.
Tôi không biết cái kỷ thuật “ nguyên bản” của mấy anh “ kim chi ” đóng giếng ra sao,
chớ nhìn mấy ông thợ An Nam của mình, tới đóng cho nhà tôi một cái, thiệt là dễ òm.
Người An Nam ta giỏi cái tài bắt chước ( đúng ra là ăn cắp bản quyền) rồi sau đó xào nấu,
chế biến theo cách của nhà nghèo, chủ yếu là dùng sức người thay cho máy móc.
Toán đóng giếng nước gồm năm người. Họ mang theo năm ống nước bằng gang pha kẽm.
Mỗi ống dài năm thước, đường kính mười phân tây. Hai đầu có tiện gai để ráp nối.
Ống đầu tiên đóng xuống được hàn kín và làm nhọn đầu bằng một cục sắt.
Phía trên cục sắt chừng năm phân, người ta khoan lổ. Mỗi lổ cách nhau một phân.
Có đến hằng trăm lổ trong phạm vi chiều dài ống năm tất. Để đóng ống xuống đất được dễ dàng
và thẳng đứng theo đường dây dọi, họ làm một giàn giáo phía trên, ở đó treo một cái ròng rọc.
Chạy theo ròng rọc lên xuống là một quả tạ nặng chừng mười ký lô. Khi đã định vị chổ đóng do
chủ nhà chỉ định, họ bắt đầu đóng giếng. Công việc thật đơn giản. Hai người nắm sợi dây
treo quả tạ, kéo lên, thả xuống cái đầu ống đã được che lại bằng khúc cây để ống không bị
móp hoặc méo lệch gai.
Ba người kia ngồi hút thuốc, uống cà phê sữa đá do chủ nhà đãi. Ống thứ nhất lút xuống đất ngon lành,
không gặp trở ngại vì toàn là đất cát. Hai người vừa kéo ròng rọc nghỉ tay, ngồi uống cà phê và hút thuốc.
Hai người khác thay phiên, ráp khúc nối cho ống thứ hai xong, bắt đầu kéo ròng rọc.
Cả gia đình tôi theo dõi họ làm một cách hào hứng. Ông trưởng toán nói chuyện với cha tôi
về những trở ngại khó khăn đã gặp phải. Nhiều khi thất bại đành bó tay. Tiền (chủ nhà) mất, mà tật mang
vì gặp phải tảng đá to tổ bố nằm sâu dưới đất. Đóng xuống nữa không được, mà rút ống lên thì
không có cách nào kéo nổi, phải bỏ mấy ống gang. Hoặc có khi đóng tới ống thứ năm,
tức đã sâu tới hai mươi lăm thước mà vẫn không gặp mạch nước ngầm cũng đành bỏ luôn.
Nhà tôi gặp may, mới có ba ống, mười lăm thước, ông trưởng toán đã ngữi thấy mùi bùn.
Có mùi bùn là có mạch nước ngầm.
Để trắc nghiệm cho chắc ăn, họ thọc xuống lòng ống một ống nhựa nối dài từ máy bơm hơi.
Cho máy nổ. Hơi gió sẽ thổi xuống tận đáy ống, xuyên qua những lổ khoan, xé tan khối bùn bao
quanh ống, tạo thành một khoản rộng, nước bị sức ép từ lòng đất, chun vô ống theo những lổ khoan,
bắn vọt lên khỏi miệng ống. Lúc đầu, nước mang theo bùn có màu đen xám, đặc quẹo.
Vài phút sau nước trong dần và phun lên có ngọn cao tới vài mét. Thế là đạt kết quả mong muốn.
Nếu thấy lượng nước phun lên yếu quá họ sẽ tiếp tục đóng thêm một ống nữa. Nhưng như thế cũng
phiêu lưu vì đóng sâu quá lại e rằng đến mạch nước mặn thì hoài công.
Có nước rồi, cũng chưa phải xoa tay khoan khoái đâu. Đó mới chỉ là sơ sơ nửa bản tình ca thôi.
Nữa bản tình ca sau là phải có mười lăm thước ống bằng kẽm nữa, nhưng nhỏ hơn, đường
kính chừng bốn phân để thọc vô lòng ống vừa đóng để lấy nước từ dưới lên. Ở đầu ống phía
dưới có gắn một cái “ rờ le” tức cái lưỡi gà để chận nước, chỉ cho lên chớ không cho xuống.
Đầu ống phía trên gắn liền với một máy bơm mạnh chừng nửa ngựa để bơm nước lên.
Nước mới bơm lên có mùi bùn thum thủm. Đó là mùi khí "mê tan" hay a cê ty len.
( Tôi làm lanh giải thích theo “ pha học” nhưng mấy người xung quanh “ xì ” một tiếng, bĩu môi nói :
- Mùi bùn thì nói mùi bùn cho rồi, còn bày đặt nói khí nọ, khí kia! )
Nước bơm lên chứa trong nhiều thùng tô nô. Qua một đêm, nước hết mùi, trong veo,
ngọt hơn nước sông múc từ Cầu Sắt về. Khi nhà tôi đóng thành công giếng đầu tiên rồi thì có vài nhà
cũng mướn toán thợ đó đến đóng cho mình. Dần dà xóm tôi có thêm hơn năm nhà có giếng đóng.
Người trong xóm đến xin “ đổi” nước ở đây. Họ không “đổi” ở mấy chiếc xuồng nữa.
Được cái tiện lợi là cũng năm cắc một gánh, lại được nước sạch và muốn lúc nào có lúc ấy,
không phải đợi từng chuyến xuồng về rồi giành giựt kẻ trước người sau như trước.
Chừng đâu ba năm sau, tôi đi học xa trở về, thì thấy nhà tôi có nước máy. Cha tôi không dùng giếng đóng nửa.
Theo lời ông kể lại :
- Tiền đổi nước không bù lại tiền điện để chạy máy bơm. Hồi xưa kẹt quá, không có nước dùng,
mắc mấy cũng phải làm để có nước ở nhà xài và giúp đở bà con xung quanh. Bây giờ Chính Phủ
đã đặt ống cái, dẫn nước máy từ Cầu Dứa về, tốt hơn, rẽ hơn, thì tội gì xài giếng đóng.
Cha tôi cũng nhẫn nha kể lại cho tôi nghe cái chuyện lắp đặt ống nước vô nhà có nhiều cái vô lý,
nhiêu khê nẫy sinh, làm khó dễ người dân để làm tiền một cách hết sức trắng trợn. Họ biết mình
cần thì siết hầu bóp họng bao nhiêu lại chẳng chịu. Ông chép miệng :
- Cái trào nào cũng vậy! Người dân đen thấp cổ bé miệng là chịu thiệt thòi.
Đơn xin bắt nước máy nộp lên Ty Lục Lộ cả nửa năm không thấy ư hử gì hết.
Tới hồi muốn quên luôn thì có anh nhân viên của Ty xuống gạ rằng muốn cho mau
phải có chút trà nước để ảnh lo cho. Mình biết tỏng là đã đến hồi đơn mình được đem ra xét.
Dù không trà nước, trước sau gì họ cũng làm. Làm ăn tiền chớ có làm không đâu.
Biết vậy những cũng phải lòi ra năm trăm, một ngàn. Nếu không nó đút đơn mình
lại ở đưới chót, ai biết được, lại phải chờ cả năm nữa.
- Lúc thi công, mấy ông đào đường đào banh tành, bé tẹ trước cửa nhà rồi bỏ đó đi mất.
Mấy ngày không thấy tăm dạng. Lên Ty hỏi thì Dần đổ cho Mẹo, Mẹo đổ cho Thìn.
Thìn giải thích là còn nhiều chổ khác nữa mà người thì ít. Muốn được ưu tiên thì phải biết chuyện chút chút. Lại tiền.
- Cái đồng hồ nước của Ty bán, không được tốt . Xài mấy tháng là hư.
Bác muốn thì con đổi cho cái đồng hồ của Mỹ tốt lắm, không hư mà chạy chậm ít tốn. Một anh gạ gẫm.
Anh khác thầm thì :
- Bác muốn nước vô nhà cho mạnh, thêm cho tụi con ít trà nước, tụi con đục
bên dưới ống cái và thay ống nối vô nhà to hơn thường lệ, bác tha hồ xài thả ga.
Cha tôi kết luận :
- Tao muốn khùng lên với tụi nó. Cái quân gì mà đụng đâu ăn đó.
Tao muốn xong việc cho mau nên cái gì cũng ừ tuốt. Té ra, sau này đi hỏi mấy
nhà khác cũng y chang cái tuồng hát bội Thạnh Xương, hát đi, hát lại.
Rốt cuộc, nhà nào nước cũng chảy như thằn lằn đái. Cái “ rô bi nê” phải mở suốt ngày đêm,
lúc nào nó chảy mạnh được thì nhờ lúc ấy.
Chuyện cha tôi kể nghe như chuyện tiếu lâm nhưng cũng còn khả dĩ vì nhân công muốn kiếm thêm
tí tiền còm riêng. Năm tám hai ở tù về, tôi làm nghề dệt vải rất cần nước để ngâm và giặt sợi,
nên làm đơn xin Ty Cấp Thoát nước bắt đường ống vô nhà. Quá trình cũng phải qua những
“khâu” U Như Kỹ nghĩa là y như cũ. Nhưng có thêm cái “khâu” tinh vi hơn, có văn bản,
điều lệ trong hợp đồng đàng hoàng. Đó là ” Cất láng trại cho nhân công ở ba ngày, để thi công”.
Mặc dù nhà tôi lúc bấy giờ ở ngay trung tâm phố. Tôi nêu thắc mắc thì được
trả ông Trưởng phòng trả lời rất “ lô gíc” :
- Văn bản hợp đồng đã qui định như vậy chịu thì ký, không thì thôi.
Ngày xưa cha tôi bấm bụng mà chịu. Nay thì tôi theo gương xưa, bấm gan nuốt giận để có nước dùng.
Đúng như cha tôi thường triết lý : Tức mà êm.
Dẫu sao thì qua hơn nửa thế kỷ người dân xóm tôi cũng đã theo thời gian mà tiến dần lên.
Từ cái thời “ đứt gióng bể vò, giả đò đau bụng” cho tới lúc có nước máy trong nhà để xài là cả một quá trình gian khổ.
Người dân xóm tôi đã bị o ép lắm điều. Đã khổ về vật chất lại càng khổ hơn về tinh thần.
Đó chỉ là một mãnh đời khổ nạn dành cho các bà, các chị, các em gái.
Thanh niên trai tráng trong làng lớn lên, lại càng “ khoẻ vì nước”, “ khổ vì nước” gấp bội phần.
Suốt thời gian thơ ấu cho đến khi tôi lên Trung học, làng tôi chỉ duy nhất có một người đi lính cho Tây,
lên tới chức Quản. Đó là ông Quản Hân. Nhưng ông không phải người làng Xóm Cồn tôi.
Gia đình ông từ đâu đổi tới thì tôi không biết. Chỉ biết khi thấy ông mua lại miếng đất trống cạnh nhà
Cậu Ba Lự, cách nhà tôi một căn, để cất nhà. Ông cất cái nhà to gấp ba nhà trong làng.
Lúc đó ông đã có hai người con lớn là anh Thiệu ( nhạc sĩ Thanh Châu ) và cô Dưỡng.
Cô Dưỡng học cùng lớp nhưng khác trường với tôi. Sau này cùng một khóa Sư Phạm Qui Nhơn.
Ông có cả lính hầu. Anh lính này tên là Dậu chuyên đi chăn dê cho ông Quản. Chúng tôi thân với anh
Dậu vì hàng ngày anh lùa dê đi ăn lá keo ở Sở Lục Lộ, nơi địa bàn chúng tôi hay nô đùa và hái keo chín
để ăn bằng những khoèo móc làm bằng những nhánh cây ghép lại.
Hai vợ chồng ông Quản Hân là người Bình Định rất giỏi võ. Nhưng nhiều lần chúng tôi núp dưới
sàn nhà để lén coi hai ông bà đấu võ thì cùng đồng ý là bà Quản giỏi hơn ông .
Lần nào cũng thấy ông đưa tay lên trời đầu hàng. Có điều lạ lùng và hấp dẫn chúng tôi rình
coi hoài là xưa nay làng tôi chỉ có các ông chồng mới có quyền la rầy hoặc đánh vợ mà thôi.
Bây giờ được thấy cảnh vợ đánh lại chồng bằng quyền cước ngoạn mục, lúc đá, lúc phi thân,
chém chặt bằng hai cánh tay thuôn thả, mỏng manh tưởng chừng yếu ớt của bà Quản mới
thật là đã con mắt. Một điều lạ nữa là, không bao giờ nghe ông bà to tiếng cãi vã với nhau.
Mỗi khi nghe tiếng huỳnh huỵch trên sàn gỗ là tôi biết ngay là đang có trận đấu.
Tôi thông tin mau lẹ tới bọn thằng Răng, thàng Lía, thằng Phát... nhanh chân tới coi. Xong trận đấu,
sáng hôm sau hai ông bà vẫn bình thường đi làm, đi chợ nấu ăn, vẫn đưa con đi học.
Hình như không có gì xảy ra. Và anh Dậu vẫn lắc đầu không hay biết chuyện gì khi
chúng tôi hỏi anh tối qua có nghe thấy gì trong nhà không. Tôi biết anh là người nô bộc trung thành
và rất kín tiếng đối với chủ.
Sở dĩ trong làng tôi không có lính vì không ai muốn đi lính cả. Tất cả đều trốn lính.
Cái cảnh đi lính trong đầu óc của mọi người trong làng là cảnh khổ sở,
đày ải ghê gớm như trong bài học thuộc lòng trẻ con chúng tôi học ê a là “Lính thú đời xưa”
... Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.
... Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan,
Chém tre, đẵn gỗ trên ngàn,
Hửu thân, hửu khổ phàn nàn cùng ai ?
Trai tráng là cột trụ trong gia đình. Làng chài khác với nhà nông, đàn bà con gái không thể đủ
sức lực ra khơi chèo chống. Chỉ có đàn ông và trai tráng đi biển mà thôi. Lúc mười ba,
mười bốn tuổi đã xuống ghe đi “ qua lồ ” kiếm tiền về cho gia đình rồi. Lên năm mười lăm,
mười bảy đã thành “ bạn nghề ” giỏi, càng kiếm nhiều tiền hơn vừa nuôi bản thân, vừa nuôi gia đình.
Nay bị đi lính, cột trụ coi như gãy. Và cái điều hệ trọng nhất là sợ chết trận.
Họ hoàn toàn không có một chút ý thức nào về chuyện “ đi quân dịch là thương nòi giống” hoặc
“ tòng quân là yêu nước” ... như sách báo tuyên truyền. Dĩ nhiên họ trốn lính là sợ khổ và sợ chết
chứ tuyệt nhiên không phải để “ phản chiến” như những nhà trí thức, luồn lách trốn lính, lấy hai chữ
phản chiến để làm bình phong che dấu cái mặc cảm hèn nhát của mình.
Cảnh sát khó lòng bắt được thanh niên trong làng tôi đi lính. Trừ trường hợp mấy anh chàng đi
coi hát bội, cải lương ban đêm bị dính chấu thì đành chịu. Rồi họ cũng tìm cách đào ngũ.
Làng tôi chỉ có một con đường duy nhất từ Lầu Ông Tư chạy dài xuống cuối xóm.
Mỗi lần có hành quân cảnh sát để bắt quân dịch thì thanh niên như có phép tàng hình,
biến mất hết, không còn một móng.
Mấy chiếc xe G.M.C nhà binh vừa đổ lính và cảnh sát xuống ở đầu xóm là đám con nít la rùm lên :
“ Bắt lính! Bắt lính !”
Và tiếng la chuyền đi lẹ hơn “ bà xẹt”. Thanh niên tới tuổi quân dịch phóng ùm xuống nước,
núp theo lườn mấy chục chiếc ghe đậu san sát nhau ngoài bờ sông. Có trời mà bắt được.
Lần nào đám cảnh sát cũng công cốc về không.
Bây giờ nghĩ lại, cái chế độ Cộng Hòa từ thời ông Diệm đến thời ông Thiệu sao mà “ khờ quá”.
Đã không kết quả gì lại còn mang tiếng ác nhơn, thất đức.
Nếu như học được một chút chính sách Nhà nước ta bây giờ thì một con mén cũng không sót.
Thiệt là dễ như lấy đồ chơi trong túi ra mà cũng không biết,không làm được. Hèn gì thua trận, mất nước là phải !.
Phải chép phương pháp bắt lính của Nhà Nước ta ra đây, đời sau con cháu còn nhớ để dùng lại,
hay phát huy thêm. Nếu không, lâu dần sẽ bị thất truyền, mai một thì uổng lắm !
Thi hành chánh sách bắt lính phải qua hai “ khâu”: Động viên và chuyên chính.
Khâu động viên, tức dùng chữ nghĩa tuyên truyền để mị dân.
Khâu thực thi chuyên chính, tức ai không thi hành thì có biện pháp xử lý nghiêm khắc để trấn áp và răn đe.
Thứ nhất là không được dùng và nói tới hai chữ “quân dịch”, đó là hành vi vô nhân đạo của Mỹ Ngụy o ép dân ta,
mà phải thay vào đó là “nghĩa vụ quân sự”
Nếu bị đưa tới nước khác đánh giặc mướn, như sang Campuchia đánh quân Khơ Me đỏ chẳng hạn,
thì phải nói là “nghĩa vụ quốc tế ”. Đứa nào nói đi đánh thuê là phản động đáng chém đầu để răn đe.
Khi “bị bắt” thì phải vui cười mà hô to lên rằng “tôi trúng tuyển”.
Khi bị chở ra chiến trường thì cha mẹ, họ hàng phải mang hoa và cờ xí ra “chiếc cầu vinh quang ”
để nhìn con em mình bước qua, hoan hô rầm rộ để tiển con em lên đường.
Ai khóc lóc, thương cảm là không yêu nước. Không yêu nước tức không yêu
“Chủ nghĩa Xã hội” tức là phản động
Khâu chuyên chính là cắt lương thực, tịch thu sổ gạo cả gia đình nếu trong nhà có con trốn “nghĩa vụ”.
Cha mẹ ngày nào cũng phải lên Phường ngồi làm kiểm điểm, khai rõ mọi tội trạng không biết
động viên con hoặc cố tình toa rập chống đối Đảng và Nhà Nước.
Chừng nào thằng con chịu ló đầu ra nộp mạng thì mới được tha cho. Về sinh hoạt hàng
ngày thì người trong làng không được quan hệ với những gia đình có “lập trường chao đảo”.
Nghĩa là bao vây, cô lập, cách ly như thể tránh xa người bị bệnh cùi hủi vậy.
Anh chị em liên hệ, lý lịch đều bị ghi là xấu “ bản thân gia đình có vấn đề”.
Khi bị ghi như vậy thì chỉ có nước một đời đi ăn mày!
Đây chỉ là vài nét đại cương. Nếu ai muốn có đầy đủ chi tiết hơn để làm
của gia bảo thì có thể gửi thư theo địa chỉ ..... ??? đính kèm để xin bản sao.
( Nhớ gửi kèm theo tem mới được trả lời ; có lẽ phải chờ hơi lâu một chút ;có thể ba ngày hay ba năm;
hay hơn nữa không chừng ? )
Nhờ chính sách vừa nêu trên, thanh niên trong làng tôi, sau ngày “giải phóng” đều trở thành “anh hùng” hết.
Đúng như Nhà Nước ta khoe với thế giới: Ra đàng luồng ( ngõ ) gặp anh hùng.
( Xóm Cồn tôi không có “ ngõ ” như ngoài Bắc, chỉ có đàng luồng, nên xin đổi lại một chữ trong
câu danh ngôn trên cho hạp tính cách địa phương)
Thiệt không sót một con đỏ, một con mén.
Ba năm sau, trong làng đa số nhà nào cũng có bằng “ liệt sĩ ” treo trên vách rất đẹp,
thay thế cho tranh tứ bình Mai, Lan, Cúc, Trúc trong ngày Tết.
Và thanh niên bây giờ phần nhiều đi bằng ba chân. Chân thứ ba do Nhà Nước ưu ái tặng trước khi
“ phục viên” về nhà đi bán vé số, hoặc ghi số đề.
Thanh niên trai tráng trong làng thi hành nghĩa vụ quốc tế hết thì còn ai mà ra khơi đánh cá?
Đang lo thì may quá! Nhà Nước đã chu đáo hết rồi. Tất cả ghe mành lớn, nhỏ đều được trưng thu,
tổ chức thành Hợp tác xã Ngư nghiệp hết.
Mọi “ khâu” đều có cán bộ Đảng viên lo.
Thiệt là khỏe re như bò kéo xe.
Mấy chủ mành và “ bạn nghề” già, ngủ một giấc, thức dậy thấy mình trở thành Xã viên.
Mọi người bây giờ thành chủ nhân ông của Hợp Tác Xã . Thiệt là oai phong lẫm liệt.
Người ta bây giờ vái chào nhau bằng hai tiếng “ Ông chủ!”
Dưới “ Ông chủ” mọi việc có Đảng quản lý.
Không còn cảnh người bóc lột người nữa.
Đời sống ấm no sắp sửa ló ra ở chân trời.
Ngày ngày dân làng tôi theo sự chỉ đạo của bí thư Xã kiêm chủ nhiệm HTX,
ra khơi đánh bắt cá. Cá đánh bắt bữa chớ, bữa chăng, được Ty Hải Sản thu mua.
Xã viên hàng tháng được cấp cho cái phiếu mua gạo. Không thấy tiền. Mấy “ Ông Chủ”
không ai dám hé răng hỏi nửa lời.
Tình trạng làm ăn làm ăn ngày càng lụn bại. Chủ mành, bạn nghề lắc đầu ngao ngán với cái chức
Ông Chủ của mình. Ông Chủ gì mà từng lít dầu thắp đèn cho tới ký gạo cứu đói
cũng phải hỏi xin ông quản lý.
Đến khi máy hư, ghe bể thì Hợp Tác Xã trả về cho chủ mành sữa chữa.Thời đó Ông quản lý chỉ thuộc làu nghị quyết;
chuyên gia đi họp và phổ biến nghị quyết của Trung Ương, của Tỉnh, của Quận, của Xã...
chớ đâu biết coi thời tiết, coi mây ráng, coi gió trở chiều mà đoán chuyến ra khơi ngày mai.
Còn máy móc ghe, cộ thì bù trớt .Còn đời nay nghe nói Ổng quản lý khá hơn ; nhưng lại ít thuộc nghị quyết
;thời gian họp và phổ biến nghị quyết lại ngắn đi .... nhưng lại ngâm cứu kỷ và rất thích học hỏi cái thời gian sau họp
Cú này thiệt là thắt họng.
Ghe nằm hàng hàng trên bờ, chờ mưa nắng làm cho nứt nẻ thêm.
Không có ai ngu dại bỏ tiền ra sữa cả. Rõ ràng cha chung, chết không ai khóc.
Thế là không có văn bản chi hết, cái Hợp tác Xã Ngư nghiệp rầm rộ, cờ xí khai trương ngày nào,
giờ lặng lẽ tan hàng, cố gắng, không kèn không trống.
Nhưng không lẽ để cái khẩu hiệu “ rừng vàng, biển bạc” nằm choen hoẽn một cách vô duyên
trước cổng Hợp Tác Xã Ngư Nghiệp vắng ngắt như Chùa Bà Đanh sao ?
- Ta không thể để cái khâu cơ bản xây dựng Xã hội Chủ Nghĩa là Hợp Tác Xã chết được.
Nhất định ta phải thắng. Đế quốc Mỹ sừng sỏ như vậy ta còn đánh thắng, sá gì ba chiếc ghe con lẻ tẻ.
Bí thư Xã kiêm Chủ Nhiệm HTX Ngư Nghiệp hồ hởi phấn khởi phổ biến lại cho Xã viên biết cái
quyết định quan trọng mà“ Tỉnh quỉ, Quận quỉ, Xã quỉ vừa mới bàn bạc và nhất trí xong”.
( Ông bí thư là người bình dân tức bần cố nông, không uốn lưỡi nói được chữ
“ ủy” nên từ trên xuống dưới ông đều kêu là “quỉ” hết. Dân xóm tôi cũng thông cảm và nhất trí với cách kêu của ông ).
Thế là sau cái nghị quyết đồng tình dơ nắm tay ấy, Tỉnh bỏ tiền ra đóng những chiếc tàu to hơn,
máy lớn hơn, có thể đánh bắt cá tận hải phận quốc tế.
Ngày hạ thủy, chiếc tàu mang tên Thống Nhất I đầu tiên ở xóm tôi được trang hoàng
cờ ngũ sắc xanh, đỏ, tím, vàng rực rỡ, từ mũi cho tới lái, chiêng trống rộn ràng,
phèn la inh ỏi, pháo nổ từng tràng bụp, xẹt. Khói pháo bay mờ mịt cả một đoạn dài trên sông, trước cửa biển.
Ngài Tỉnh Ủy long trọng đọc diễn văn chào mừng ngày thắng lợi vẽ vang của Tỉnh ta.
Kế hoạch đóng tàu đã hoàn thành trước chỉ tiêu ấn định hai ngày. Đó là nhờ ánh sáng của nghị quyết...
Ông còn nói nhiều điều huy hoàng, xán lạn nữa, nhưng dân chài hai bên bờ Xóm Cồn và Xóm Bóng
vỗ tay hoan hô to quá nên không nghe được ông nói gì. Chỉ thấy miệng ông lép nhép liên hồi.
Thỉnh thoảng ông ngưng lại một chút và tự vỗ tay ba cái một, theo nhịp ba, khen mình một phát, theo quán tính từ lâu.
Chiếc tàu Thống Nhất I với lá cờ đỏ sao vàng to như chiếc chiếu đôi, phất phới trên ngọn cột buồm,
từ từ tiến ra cửa biển như con kình ngư vừa thức giấc. Ra khỏi Hòn Rùa, người đứng trong
bờ nhìn theo, thấy sau đít nó bỗng phụt khói trắng cuồn cuộn và lao đi vun vút, nhanh gấp mấy
lần những chiếc ghe mành bé tí tẹo, cũ mèm còn sót lại từ cái “ đời ông Nhạn ỉa cứt su”.
- Thiệt là văn minh Xã hội Chủ Nghĩa có khác !
- Tàu Thái Lan làm gì bằng! Tàu Thái Lan là đồ bỏ !
- Mấy ông Cách Mạng mình giỏi hơn Việt Cọng hồi xưa nhiều
!
Mấy ông già thuộc hàng “ sư tổ ” trong nghề mành lâu năm xóm tôi đều hít hà, chắc lưỡi,
chép miệng tấm tắc khen ngợi hết lời.
Nhưng khốn nạn thay! Bảo nó chỉ chạy thử thôi. Không biết làm ăn ra sao, lái tàu cái kiểu gì không biết ?
Tàu ra tới hải phận quốc tế rồi mà thằng cha bí thư “ Xã quỉ ” cứ biểu nhắm hướng mặt trời chạy nữa.
Đến chừng đụng vô đảo Biđông Thái Lan, tàu leo lên rạng san hô ngầm, bể đít mới giật mình, dụi mắt.
Bảo quay về lại thì lão nói tàu bể rồi làm sao về được. Thế là cả đoàn người, mấy chục mạng
trên tàu đành phải ở lại xứ người.
Có mấy kẻ xấu miệng, ác khẩu cứ xầm xì với nhau, đổ riệt cho thằng cha “ bí thư xã quỉ
” lập kế, lấy tài sản XHCN để vượt biên.
Nói như thế là phản động. Phát ngôn bừa bãi. Nói xấu cán bộ Đảng là tội tru di tam tộc.
Không nghe ông Tỉnh Ủy động tịnh gì. Có lẽ ông ta đang ân hận trách mình vô ý, lúc đọc
diễn văn chào mừng con tàu Thống Nhất xuất hành, lại lấy lộn tờ điếu văn nằm túi áo bên
trái dành để chiều nay đọc cho đám tang một đồng chí mới qua đời, sau lễ hạ thủy con tàu.
Tại tờ điếu văn tiễn biệt chớ không phải tại ông bí thư xã không biết lái tàu.
Hình như có cái huông !
Chiếc Thống Nhất I vừa bị chệch hướng tháng trước thì tháng sau chiếc Thống Nhất II
cũng lạc đường sang Thái Lan luôn. Có lẽ chúng tìm đến nhau để cho tròn nghĩa chữ thống nhất chăng?
Quả là tội nghiệp cho chúng ! Ăn ở có thủy, có chung mới phải đạo làm nghề!
Chủ nghĩa xã hội lấy vật chất làm biện chứng khoa học thì nhất định không tin chuyện hoang đường,
mê tín, dị đoan. Làm gì có huông với không huông ? Chỉ được bố láo cái mồm !
Nhưng cứ hể đóng xong tàu nào là tàu ấy đi luôn. Một đi không trở lại.
Sau, Tỉnh ta không cho đóng tàu nữa. Đồng chí Tỉnh Ủy tuyên bố một câu chắc như đinh đóng cột :
- Để coi thử chúng mày có giỏi thì lấy cái gì nữa để đi theo đế quốc ?
Đó là những cái ưu việt xãy ra sau ngày nước ta thống nhất, độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc.
Lùi lại thời gian xa xa một chút như thời “ Mỹ Diệm” hay gần gần một chút như thời
“ Mỹ Thiệu” thì mấy trai làng tôi tuy nghèo nhưng xem ra sướng như tiên con. Sướng đến nổi “mọc lông cổ ”
như cách nói của mấy ông già trong xóm.
Mỗi ngày, chừng bốn, năm giờ sáng khi trăng xế chênh chếch đầu non tây thì mọi người lục tục
xuống ghe mành, kéo neo, chèo ra cửa biển. Khi gió nam non bắt đầu từ trong đất liền thổi ra
pheo pheo thì “ lái phụ” hô:
- Thả buồm! Cột đỏi ! Giữ lèo!
Các bạn nghề theo lệnh “thuyền trưởng” thi hành răm rắp. Khi buồm bắt đầu no gió, căng phồng,
đưa chiếc mành đi vun vút trên mặt biển yên như tờ thì các “bạn nghề” tiếp tục đánh thêm một giấc,
chừng một tiếng đồng hồ nữa. Giờ chỉ còn một mình “ lái phụ” điều khiển chiếc ghe đi đến
địa điểm thả lưới. Trời hừng sáng, mành tới nơi, đám bạn vùng dậy, người nào việc nấy,
nhanh nhẹn thả neo, thả lưới, thăm dò con nước, thăm dò cá nhiều, ít ...
... Đến trưa, mành lại theo gió nồm, buồm căng, xuôi về bến. Chuyện mua bán cá đã có “nậu”
và “ lái phụ “ lo. Đám bạn chỉ giặt lưới và gát sào phơi khô. Họ bắt đầu rong các hàng quà từ đầu
xóm đến cuối xóm. Chổ này một tô mì quãng, chổ kia một ly chè đậu đen. Chưa đã khát,
xề xuống một chút, làm thêm hai ly nước mía ép ...
Cứ thế, họ vui chơi, ăn hàng, tán gẫu với các cô bán hàng cho đến chiều tối, tụ lại nhà “nậu” để chờ chia tiền.
Rủng rỉnh tiền trong túi, họ kéo nhau lên Đầm ( phố ) coi hát. Đến khuya, nghe tiếng họ trở về cười nói vang rân.
Có kẻ về nhà ngủ với vợ con. Ai độc thân thì xuống ghe ngủ cho khoẻ. Bốn, năm giờ sáng
thì tiếp tục công việc như ngày hôm qua. Như tháng trước, như năm trước.
Cuộc sống êm đềm, bình lặng như dòng sông Cái cứ thế mà trôi. Họ lớn lên, cưới vợ trong xóm.
Đẻ con. Làng xóm ngày càng trở nên họ hàng với nhau. Nếu không là sui gia thì là thông gia.
Lâu ngày rễ chùm, rễ phụ quấn nhau tùm lum, tùm la. Có những cặp trẻ yêu nhau cái bụng đã
chang bang ra rồi, mà ông già, bà cả hai họ còn ngồi đưa cả bàn tay sáu ngón ra tính xem thằng
Nóc con lão Ba Mú có bà con gì với con É con nhà Tư Ngỗ không ?
Rốt cuộc rồi đâu cũng vào đó. Nồi tròn úp vung tròn. Méo úp méo.
Họ một đời chỉ biết “ khoẻ vì nước ... biển và khổ vì nước... biển” trong những ngày sóng êm
gió lặng cũng như những lúc giông tố bão bùng trên biển cả mà thôi.
Chuyện nước non, đội đá vá trời, thăm thẳm từng trên, có Chính Phủ lo.
. . . Mãi đến năm sáu mươi, làng tôi mới có một chàng Hiến Binh đội kết pi đỏ đầu tiên.
Đó là anh Sáng, con cậu Sáu tôi. Chẳng phải anh tình nguyện vào Hiến Binh là vì dân, vì nước gì đâu !
Chẳng la,ụ Lầu Ông Tư sau ngày ông Tư chết, không ai thay thế ông để tiếp tục công việc nghiên
cứu khoa học tại đây nữa, Chính Phủ mới trưng dụng toà nhà này làm Trụ Sở Hiến Binh Nha Trang.
( Việc nghiên cứu được dời hết về Viện Pasteur trước biển)
Tất cả gia đình Hiến Binh đều ở và làm việc tại đây. Trong đó có cô Sơn, con một ông thượng sĩ.
Hai anh chị Sáng, Sơn quen nhau ở ngoài thềm cừ Lầu Ông Tư mỗi buổi chiều tắt nắng.
Cô Sơn, người Bắc, dáng người rất đẹp mà giọng Bắc nói càng dễ quyến rũ. Chúng tôi ai cũng thích.
Nhưng bố cô Sơn đời nào chịu cho con mình dính đến bọn dân chài, khố rách, nên cấm tuyệt giao tiếp,
nhốt cô con gái trên lầu.
Một đêm nọ, anh Sáng tôi nhớ nhung quá, chịu hết nổi, bèn bậm gan leo tường lên lầu hai,
để gặp người đẹp. Ai dè ông thượng sĩ hắc ám, bố người đẹp Bắc kỳ nho nhỏ, chực sẵn,
quằn cho một trận. Còn dọa bỏ tù rục xương vì cái tội xâm nhập khu quân sự.
Vừa sợ thiếu điều thót dế lên cổ. Vừa hận đời sao quá éo le. Anh Sáng tôi phẩn chí quá ể.
Y hệt chuyện chàng Trương Chi và nàng Mỵ Nương trong cổ tích. Nhưng anh Sáng tôi ngon
lành hơn anh chàng Trương Chi chèo đò khù khờ, ngờ nghệch kia nhiều!
Anh vừa to con, vừa đẹp trai, lại có học thức chứ đâu dốt nát quê mùa như chàng Trương Chi
ngày xưa, cứ chèo thuyền qua lại trước lầu Ngưng Bích của Mỵ Nương. Chèo riết vừa mõi tay,
vừa đói rũn đầu gối, ôm hận mà chết.
Anh Sáng tôi quyết rửa hận bằng cách vừa đậu xong cái “ Đít Lôm”, anh lập tức ôm cái
“ Chứng Chỉ Trung Học Đệ Nhất cấp” còn mới tinh, mực in còn chưa khô, tình nguyện vào Hiến Binh.
Sau một thời gian huấn luyện tận Sài Gòn, mãn khóa, anh mặc bộ đồ Hiến Binh, đội kết pi đỏ,
trông rất oai hùng trở về chốn cũ để tìm người trong mộng.
Nhưng hởi ôi ! Người xưa nay đã theo cha thuyên chuyển đi nơi khác rồi. Anh Sáng tôi chỉ còn
đứng nhìn đám hoa đỏ của hàng rào dâm bụt tây, ông Tư trồng quanh tường rào, cười gió đông,
mà than thở cho mối tình dang dở. Không biết anh có nhỏ giọt nước mắt nào xuống đất để thành ngọc không.
Về sau, tôi không nghe ai nói lượm được ngọc cả. Hay có lượm mà họ tham lam rồi dấu biệt ?
Nếu thế thì nền văn học dân gian lại mất đi một chuyện Hậu Trương Chi do tôi viết rồi!
Uổng thật !
Sau ngày anh Sáng tôi trở về làng oai hùng trong bộ đồ Hiến Binh thì lần lượt xuất hiện thêm
vài người hùng khác nhưng trong những bộ đồ lính không quân. Cũng đội kết pi nhưng màu vàng
và có phù hiệu con rồng bay trước trán. Hai người lính không quân đầu tiên là anh Sáu Diệu và anh Ba Xáng.
Về sau thêm nhiều người hùng nữa mà tôi không nhớ hết. Cái dấu ấn đậm nét nhất trong tôi là
thằng Cò Ù tức thằng Thừa Mập, em chú chín Ú. Nó mới học hết lớp nhứt thì bỏ học.
Ở nhà một thời gian lêu lổng, hoang đàng rồi đăng lính Nhảy Dù, Thiên Thần Mũ Đỏ.
Cái ngày nó từ trung tâm huấn luyện trở về, chúng tôi trố mắt nhìn nó. Vừa ngạc nhiên, vừa thán phục.
Trông nó khác hẵn thằng Cò Ù xưa. Nó vừa oai hùng, vừa bảnh choẹ với chiếc bê rê đỏ đội lệch
trên đầu và bộ đồ rằn ri như da con báo. Chúng tôi phục nó sát đất và hãnh diện có một thằng bạn như vậy.
Bây giờ chúng tôi trịnh trong kêu nó là anh Thừa chớ không gọi là Cò U và mày tao như trước.
Nó ở chơi với chúng tôi bảy ngày và giả từ đi tới đơn vị bổ nhiệm.
Một tháng sau, người ta chở về cho má nó một cái hòm kẽm, trên phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ.
Nó đã tử trận và bây giờ nằm im lìm trong đó.
Hình như nó mới vừa mười bảy tuổi. Chưa tới tuổi quân dịch. Và cũng chưa biết mùi con gái.
Đám trẻ con trong xóm tôi cả bầy, cả lủ, nhưng được ôm cặp đến trường đếm chưa đầy mười ngón tay.
Lớn hơn tôi hai lớp có anh Len con bà Xã Tả, anh Tịnh, anh cô Cang cho thuê truyện Tàu, cũng
cháu bà Xã Tả, và anh Sáng tôi. Trang lứa với tôi có thằng Răng ( Jean), thằng Đàn, thằng Lía,
thằng Cạch, thằng Bông, thằng Sơ ( sau đổi tên là Thơ ) lấy chị Ốc con Cậu Ba Lự (sau đổi tên là Ngọc ).
Dưới tôi vài lớp là thằng Ri, em thằng Răng, thằng Phát bét, thằng So trọc, thằng Cò Ù.
Qua bậc tiểu học thì số sĩ tử rơi rụng dần. Hai thằng So và Phát nghỉ học, ở nhà đi mành,
kéo neo tát nước. Thằng Thừa tình nguyện vào lính. Chỉ còn đám chúng tôi là cố bám lấy chữ
nghĩa được chút nào hay chút ấy. Cha tôi một đời ao ước cho tôi được như Cậu Ba tôi là ông
mãn nguyện rồi. Ông thường bày tỏ sự ước muốn xa vời ấy bằng câu :
- Được làm công chức như Cậu Ba mày hay như ông Phán Liên là tiên trên đời! Ai đói no mặc ai.
Cứ tới tháng là lãnh lương. Mày ráng được như vậy là tao mừng rồi.
Và câu này thường được ông nhắc nhở nhiều lần kèm theo năm bảy roi mây quắn đít vì tội trốn học
đi hái ma dương và bắt dế dưới Xóm Mới. Hoặc nằn nì xin nghỉ học để đi mành, kéo
neo tát nước khoẻ hơn đi học.
Cha tôi đánh con cũng kiểu cọ lắm. Nếu tôi yếu tim như bây giờ thì đã đi đời nhà ma từ lâu rồi.
Mỗi lần anh em tôi có ai lầm lỗi điều gì thì ông bắt nằm xuống hết một loạt như cá hộp sắp lớp.
Không cần biết ai phạm lỗi. Cứ thằng lớn đầu nhất trong nhà là tôi, đánh trước để làm gương.
Ông nhịp nhịp cái roi mây trên mông đít tôi, vừa nhịp vừa dạy :
- Lớn mà không làm gương, nhỏ mới lập đường trèo lên! Biết không?
- Dạ biết ! Tôi mếu máo thưa chớ có biết ất giáp gì mà làm gương.
Trong lúc tôi lơ đãng thưa theo nhịp cầm canh của cái roi mây nhịp nhịp ở mông, thình lình
nghe tiếng gío của cái roi trên cao quất xuống, không kịp lấy gân, trân mình thì đã nghe tiếng
“ trót” thiệt ngọt, giáng xuống mông rồi. Hai cái mông nóng lên như lửa chớ không thấy đau.
Tôi đưa tay ra sau đít, chà xát lia lịa cho bớt nóng thì ông đã quát lên :
- Lấy tay ra ! Nếu không, tao quất một roi nữa là gãy lìa mấy ngón tay !
Cứ thế, ông đi hết một lượt năm, bảy anh em tôi, từ trai tới gái. Nhiều lần, lúc ông nhịp tới
đứa chót thì tôi đã ngủ hồi nào rồi không hay.
Bây giờ nghỉ lại thấy thương cha và biết ơn ông và cái roi mây nhịp nhịp. Nhờ vậy mà tôi
thuộc được hai mươi bốn chữ cái và bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Và hôm nay
mới được ngồi đây, mổ cò, viết lại những dòng lưu niệm này, cống hiến các bạn mua vui.
Nếu không, tôi đã là một “ bạn mành ” chính hiệu. Và chắc chắn tôi đã có một gia đình đầy đủ tay nghề :
Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Thằng rễ đóng đáy, con dâu đi mò.
Leo được tới đệ thất thì bọn chúng tôi chỉ còn vài mạng. Mà phải học trường tư thục
mới khổ cho cha mẹ chớ. Gia đình nào cũng vất vả, gian lao với tiền học phí đầu tháng.
Đến năm đệ tứ, thi lấy bằng Trung Học đệ Nhất cấp, sĩ số rơi rụng hết, như lá cuối thu,
chỉ còn mỗi tôi dính tòn teng một mình trên nhánh cây khô. Má tôi nói đó là nhờ phước đức ông bà để lại.
Sau kỳ thi đó thằng Đàn, thằng Lía tình nguyện vào Thủ Đức để sau chín tháng quân trường,
được mang cái “ quai chão” trên vai. Thằng Răng đầu đơn vào Nghĩa Quân,
ngày ngày ôm súng Ga Răng gác cổng trụ sở Phường Xương Huân. Thằng Cạch chui vô
không quân làm binh nhì để ôm cái chữ thọ.
Một mình tôi lẽo đẽo đến trường. Ba năm sau, đậu xong Tú Tài, tôi cũng giã từ trường
Võ Tánh để khăn gói quả mướp với chiếc ghế bố nhà binh ra Qui Nhơn học Sư phạm.
Vậy mà cha mẹ tôi cũng vui mừng lắm. Năm đó ông bà đã cúng nguyên một con heo quay
để đãi bà con trong xóm. Cha tôi rất vui lòng khi thấy tôi không phải đăng lính như mấy
đứa trong xóm. Nhất là mai mốt đây, tôi trở thành thầy giáo là niềm hãnh diện của ông và điều hệ trọng
là sự an toàn bản thân tôi. Không biết ông căn cứ vào đâu mà tin chắc rằng :
- Làm thầy giáo là yên tâm nhứt. Khỏi đi lính mà chế độ nào cũng cần.
Cứ tới tháng lãnh lương.
Tội nghiệp cho cha tôi. Cái tin tưởng vững chắc của ông chỉ kéo dài được có ba năm sau
ngày tôi trở thành thầy giáo, đã đổ ụp xuống đất một cách không ngờ. Ngày ông lọ mọ đi xe đò
từ Nha Trang vào tận quân trường Thủ Đức thăm tôi, khi nhìn thấy cái đầu hớt ca rê trụi lũi và thân
hình ốm nhom của tôi trong bồ đồ ka ki màu cứt ngựa rộng thùng thình, hai hàng nước mắt ông
chảy dài xuống khuôn mặt già nua.
Năm 1967, Cọng Sản dồn hết lực lượng quân sự miền Bắc tràn qua vĩ tuyến 17,
đánh phá khắp nơi cố chiếm cho được miền Nam . Quân lực Việt Nam Cọng Hòa
thiếu hụt quân số để chống đở. Chính Phủ phải ra lệnh tổng động viên thanh niên trong nước ra trận.
Công chức các ban ngành từ giáo dục cho đến y tế đều phải tòng quân lên đường cầm súng .
Năm 1968, Cộng quân quyết ăn thua đủ một phen với quân Cộng Hoà. Bộ Chính trị Hà Nội
cứ chắc nẫm một trăm phần trăm theo lời “ Bác ” :
Năm qua thắng lợi vẽ vang,
Năm nay tiền tuyến lại càng thắng to !
... Đánh cho Mỹ cút ! Đánh cho Nguỵ nhào !
Tiến lên ! Chiến sĩ đồng bào !...
Nào ngờ, tưởng lợi dụng được sự lơ đễnh đề phòng trong mấy ngày Tết thiêng liêng của dân tộc,
quân dân Miền Nam sẽ vui chơi ba ngày Tết mà xao lãng ,
đúng ngày mùng một Tết, trong lúc
nhà nhà đều trầm hương nghi ngút để rước ông bà, tổ tiên. Pháo nổ đì đùng đón Xuân Con Khỉ.
Súng đạn “a-ka” hùa theo tiếng pháo nổ dòn ở các tỉnh trong nam.
Súng nổ khắp nơi. Người chết khắp nơi. Ngày mừng vui đón Xuân biến thành ngày tang tóc điêu linh.
Nhưng ............
Chỉ tới mùng năm Tết, Pháo đã hết nổ ;súng đạn "a-ka" tắt ngòi ;để lại một "giải khăn sô" cho miền Nam ;đặc thù
là "giải khăn sô" cho miền Hương Giang Núi Ngự trong Tết Mậu Thân 1968 !
. Hai năm sau ;năm 1970 ;tiếng súng lắng dịu;người công chức "bị tòng quân" lại được trở về với nghề cũ.
Tôi được trở lại với đám học trò nhỏ.
Tưởng đâu sẽ được an nhàn trong nghề dạy dỗ cho đến ngày về vườn, hưởng cảnh gió trăng,
thơ túi, rượu bầu, sau lưng đủng đỉnh một đôi ...
Nào ngờ sau năm 1975, tôi lại khổ vì ... nước !
Không chỉ riêng tôi mà còn hàng vạn, hàng triệu người nữa, cũng khổ vì cái chử “Nước” lạ lùng được viết hoa này.
Cái chữ “ Nước” bây giờ không phải viết bằng chữ “ quốc” hay chữ “ thủy” như ở trên đã kể,
mà thay bằng chữ “cải tạo”.
Chữ “cải tạo” nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa trong chữ “nước” còn có cả sự trả thù, hạ nhục,
đày đọa, hành hạ thân xác lẫn tinh thần do người anh em cùng da vàng,cũng máu đỏ,mà lại cùng một mẹ sinh ra.
do chỉ khác nhau một điểm, đó là "Trường Học" : Trường "Mác-Lê-Mao" và Trường " Đế Quốc" !
.
Năm mươi năm trước, tôi đã thương cảm cho dân làng tôi, cho các em gái tôi đã một thời khổ vì ... nước.
Tôi đã khóc hết nước mắt cho các bác, các chú, các cậu tôi và nhiều người trong làng đã nằm xuống
lòng đất khi hát chưa hết câu : ... Một mùa Thu năm xưa Cách Mạng tiến ra, phất cờ... cũng đã khổ vì ... nước.
Đến thế hệ chúng tôi những tưởng được khoẻ vì ... nước, ai ngờ lại khổ nhiều hơn cũng vì ...
nước, khi “ Nước” được sơn son, thếp vàng bằng những chữ : thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc.
Bây giờ đến đời con, đời cháu tôi chúng lại càng khổ hơn nữa vì phải xa quê cha đất tổ sống đời sống
của những kẻ lưu vong, giống như loài chim đỗ quyên, hồn lúc nào cũng khắc khoải, lưu luyến nhớ về làng,
về nước, nơi cuống rún chưa lìa.
Nước bây giờ đã cách xa ngàn trùng.
Nguyễn Thanh Ty
Quincy, mùa Tạ Ơn 2003.
|