Vài nét về hai ngôi trường cũ Vinh Hồ A. Khái Quát Về Giáo Dục Khánh Hòa Trước năm 1975 : Truớc thời Pháp thuộc về giáo dục, Việt Nam chịu ảnh hưởng Trung Hoa từ chương trình, sách vở, lối học, đến cách thi cử, được học giả Đào Duy Anh ghi lại trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương như sau : “Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giám thụ dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ởũ kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.” Ngày xưa tại Khánh Hòa(KH) không có trường thi, muốn đi thi, phải ra tận Qui Nhơn, Huế. Có nhiều Ông Đồ từ các tỉnh phía ngoài vào KH dạy học. Đa số cha mẹ cho con đi học chỉ mong con thảo được tờ công văn để ra làm làng, đọc được tờ văn tự để mua bán ruộng đất, hay viết được tờ văn tế để cúng đình... Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, triều Gia Long, Khánh Hòa lập được 2 trường phủ: Diên Khánh và Bình Hòa (tức Ninh Hòa) và 2 trường huyện: Vĩnh Xương và Tân Định. Trường Phủ Diên Khánh tọa lạc tại phía ngoài cửa Tây, năm 1848 dời qua làng Phú Ân, ngoài cửa Đông, năm1823, đặt chức Đốc học Bình Hòa, đổi thành trường Tỉnh nhưng vì học trò quá ít nên đến 1829 đổi lại trường Phủ như cũ, bổ chức Giáo Thọ, năm 1866 đổi thành trường Tỉnh do Đốc Học phụ trách (trường huyện có Hướng Đạo) dời về xã Phú Mỹ. Trường Phủ Bình Hòa lập tại xã Bình Thành huyện Tân Định sau đổi thành Trường Phủ Ninh Hòa, năm 1845 dời về nền cũ phủ lỵ ở xã Vĩnh Phú (tiền thân của trường Pháp-Việt Ninh Hòa). Trường huyện Vĩnh Xương lập tại xã Vĩnh Điềm sau bị biến cố tàn phá dời đi nhiều nơi, đến đời Vua Đồng Khánh mới dời về làng Vạn Thạnh. Năm 1803, Văn Miếu thờ Khổng Tử lập tại thôn Phú Lộc, phủ Diên Khánh (trùng tu năm 1849). Tại Nha Trang có một trường Tiểu Học Pháp (École Francaise) dành cho con cái người Pháp và một số ít cho con cái các nhà quyền quý Việt Nam. Năm 1906, Trường Nam Tiểu học Nha Trang thành lập. Năm này cả Khánh Hòa có 24 trường tổng. Năm 1906-1907 theo quyết định của Toàn quyền Paul Beau một hội đồng cải tổ giáo dục được thiết lập đem chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và nền tân học vào chương trình học và chế độ khoa cử mới cho Bắc và Trung kỳ. Năm 1918, chánh quyền thuộc địa ban hành một hệ thống giáo dục mới trên toàn quốc về tổ chức hành chánh, chương trình học, qui chế giáo chức và tổ chức thi cử, đến đây cái học cũ trên toàn quốc hoàn toàn cáo chung, chữ Hán nhường chỗ cho chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Về sau người Pháp cải biến dần dần các trường phủ thành các trường Pháp-Việt. Tại Khánh Hòa từ 1920-1922: có 47 trường Từ 1928-1930: có 50 trường. Năm 1928, thầy Cung Giũ Nguyên đến dạy tại Trường Nam Tiểu Học Nha Trang với chức Trợ Giáo. (Muốn làm thầy giáo phải có bằng Thành Chung và phải đậu thêm bằng Khả Năng Sư Phạm, nếu trong vòng 2 năm mà không đỗ thì sẽ bị sa thải. Thầy giáo mặc áo dài đen, đội khăn đóng, mang giày hạ bóng, các thanh tra người Pháp cũng mặc như vậy). Trước năm1936, tỉnh KH chưa có bậc Trung học, đậu Tiểu học phải ra Qui Nhơn học tiếp. Năm 1936, Trường Trung học Tư thục Kim Yến (Institution Kim Yến) ra đời, là trường trung học tư thục đầu tiên tại Nha Trang dành cho học sinh từ Phan Thiết đến Qui Nhơn. Sau 60 năm Pháp đô hộ (1885-1945) và sau 30 năm chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán (1918-1945) năm 1945, KH có 6 trường Tiểu học công lập (dạy đến lớp Nhất) đó là các Trường: Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nam Nha Trang, Nữ Nha Trang, Khánh Hòa, Diên Khánh. Và một Trường Tiểu học Tư thục duy nhất là Hòa Khánh lập năm1934. Sau chiến tranh, niên khóa 1946-1947 một số trường Sơ học và Tiểu học mở cửa lại, cuối niên khóa, học sinh dự thi lấy bằng Sơ học Yếu lược và Tiểu học Pháp Việt Năm 1947: Trường Trung Học Nha Trang được thành lập, các năm đầu phải học tạm tại Trường Nam Tiểu Học Nha Trang, đến năm 1952, dời về cơ sở mới ở đường Bá Đa Lộc lấy tên là: “Trường Trung Học Võ Tánh” Từ niên khóa1951-1952, trường Tiểu học Pháp nâng lên thành Trường Trung Học Pháp (Collège Francais). Năm 1951, lần đầu tiên Nha Trang được chọn làm nơi thi bằng Cao Đẳng Tiểu Học cho 4 tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Darlac. Cũng từ đó, nền giáo dục bậc Trung học được Pháp giao lại cho Việt Nam, trường Võ Tánh bắt đầu áp dụng chương trình Việt song song với chương trình Pháp-Việt. Niên khóa 1954-1955 dạy hoàn toàn chương trình Việt. Niên khóa1952-1953 thêm Trường Trung học Tư thục Bồ Đề. Năm 1954, KH có 66 trường Sơ học và Tiểu học với 10. 588 học sinh (hs). Cuối niên khóa, số thí sinh dự thi bằng Tiểu học có 1.387hs thi tại 3 nơi: Trường Khánh Hòa (ở Diên Khánh), Trường Ninh Hòa, Trường Nam Tiểu Học Nha Trang&Trường Nữ Tiểu Học Nha Trang (trước chỉ có một địa điểm Nha Trang). Năm 1955, Bộ chọn Nha Trang làm nơi thi Tú Tài I đầu tiên và năm 1960 thi Tú Tài II cho các tỉnh Nam Trung Phần. Năm 1956 Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa, năm 1962 Trường Trung Học Diên Khánh, năm 1963 Trường Trung Học Vạn Ninh, Trường Trung Học Cam Lâm (Ba Ngòi) lần lượt ra đời. Năm 1957, Trường Trung Học Võ Tánh được Bộ nâng lên hàng Đệ nhị cấp. Năm 1960: có 56 trường sơ học công lập, 61 trường tiểu học công lập, 50 trường sơ học tư thục, 33 trường tiểu học tư thục, với tổng số 31.660hs, 7 địa điểm thi (Nha Trang 5, Ninh Hòa 1, Diên Khánh 1) Niên khóa 1961-1962 Bộ cho thiết lập Trường Nữ Trung Học Nha Trang. Năm 1962, Bộ cho mở lớp Đệ Nhất ở Trường NTHNT. Năm 1966 Trường Trung Học Vĩnh Xương dạy tạm tại Trường Tiểu Học Vĩnh Châu. Năm 1967: KH có 323 trường đủ loại với 51.362hs. Có 27 trường Trung học công tư với 12.057 hs. Số thí sinh dự thi gồm: Trung học Đệ I cấp có 1.303; Tú tài I có: 1.303 ban A + 1.937 ban B, C, D; Tú Tài II có 1.318 chung cho 4 ban. Bên cạnh các trường công, còn có Trường Trung học Bán Công Lê Quý Đôn và các Trường Trung học Tư thục: Tương Lai, Văn Hóa, Kim Yến, Bồ Đề, Đăng Khoa, Bá Ninh... kể cả Trường Văn Hóa Quân Đội Nha Trang. Năm 1946, người Pháp cho lập một Học Xưởng Kỷ Nghệ đặt tạm tại Ty Bưu Điện trực thuộc Ty Tiểu Học KH (thời gian học 1 năm, sau đó vào Sài Gòn, Huế học tiếp) năm1948 dời về Trường Nam Tiểu Học NT, đến niên học sau đặt bên cạnh Dân Y Viện gồm 2 dãy xưởng 3 lớp học, năm 1955 đổi tên là Trường Thực Nghiệp Nha Trang trực thuộc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ (thời gian học 3 năm) sau đó học sinh thi lấy bằng Khả Năng Chuyên Nghiệp, tương đương với bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, năm 1962, đổi tên là Trường Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhất Cấp, hè 1962 dời xuống Chụtt kề bên Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, năm 1966 được nâng lên hàng đệ nhị cấp, năm 1967 trường có 2 ban: Kỹ Thụât Toán và Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp gồm các ngành: kỹ nghệ gỗ, kỹ nghệ sắt (gò hàn), cơ khí (máy nổ, máy dầu cặn), máy dụng cu ỉ(tiện, nguội) điện khí (điện nhà, điện kỹ nghệ) niên khóa1966-1967: có 10 lớp, 400hs, 38gs. Ngoài ra còn có các trường tư thục dạy: lái xe hơi, đánh máy chữ, cắt may, sửa chữa máy nổ, lớp dạy Anh ngữ ban đêm. Cuối năm 1966 có đợt vận động, sau đó Viện Đại Học Cộng Đồng Duyên Hải Nha Trang ra đời dành cho sinh viên Miền Duyên Hải Trung Phần. Hải Học Viện Nha Trang bắt đầu xây cất năm 1921 tại Cầu Đá, Giám đốc đầu tiên là Ô. Armand Krempf, đến ngày 1/1/1930 khánh thành, ngày 1/1/1952 trao lại cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, vị Giám đốc người Việt đầu tiên là Ô. Ngô Bá Thành. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Hải có một thời làm việc tại đây, Thầy Nguyễn Hải dạyVõ Tánh khoảng năm 1956. B. Vài Nét Về Trường Trung Học Võ Tánh 1. Collège de Nha Trang (1947-1952): Năm 1947, Collège de Nha Trang (Trường Trung Học Nha Trang) được thành lập với một lớp Première Année ( Đệ Thất) khoảng 30hs học tạm tại Trường Nam Tiểu Học Nha Trang theo chương trình Pháp-Việt, tiếng Pháp được dùng làm chuyển ngữ. Niên khóa1950-1951: trường có lớp Quatrième Année (Đệ Tứ). Niên khóa 1951-1952: Trường bắt đầu áp dụng chương trình Việt song song với chương trình Pháp-Việt, bắt đầu nhận học sinh vào lớp Đệ Thất, bỏ lớp Đệ Nhất Niên (lớp thấp nhất bậc Trung học). Trường Nam Tiểu Học Nha Trang hình chữ H (đâu lưng với Trường Nữ Tiểu Học Nha Trang) một nửa của dãy nhà bên tay mặt từ cổng nhìn vào được dành cho trường Collège de Nha Trang (Trường Trung Học Nha Trang), ban Giảng Huấn gồm: - Thầy Trương Văn Như: Hiệu trưởng (1947-1952) kiêm Toán (sau Thầy mở Trường Tư thục Kim Yến). - Thầy Võ Thành Điểm: Giám thị, kiêm Hội họa, từ 1947 - Thầy Cung Giũ Nguyên: Pháp, Quốc văn - Thầy Nguyễn Dưỡng: Lý Hóa - Thầy Bửu Cân (1902-1975): Vạn vật - Cô Courtat: Pháp, Anh, Địa lý - Cô Samarcelli: Pháp, Sử, Địa - v.v... Học sinh đến từ các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận 2. Trường Trung Học Võ Tánh (1952-1975) : Địa chỉ: Số 1 đường Bá Đa Lộc, Nha Trang, khuôn viên rộng rãi tiếp giáp với các đường: Bá Đa Lộc, Hoàng Hoa Thám, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương. Phía đông là trường Collège de Francais, Lasan Bá Ninh. Phía tây là Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Phía bắc, Trụ sở Liên Đoàn Lao Động, xa hơn là Bệnh Viện Khánh Hòa và Sân Vận Động Nha Trang. Phía nam là Trường Nữ Trung Học chỉ cách 1 con đường Nguyễn Tri Phương. Năm 1949, khuôn viên này được Công Sứ Pháp và Nha Địa Chính KH cấp cho Trường. Ô. Tỉnh trưởng Khánh Hòa Trần Thúc Linh cấp ngân khoản xây dựng. Thầy Lê Tá được Nha Học Chánh Trung Việt cử làm Hiệu Trưởng là vị Hiệu trưởng có công nhất trong việc vận động và xây dựng trường: năm 1952 trường cất xong: 1 dãy lầu 2 tầng 8 phòng học: 4 trệt 4 lầu, mang tên “Trường Trung Học Võ Tánh” hướng ra đường Bá Đa Lộc, ngày khánh thành Ô. Tỉnh trưởng Trần Thúc Linh đọc bài diễn văn bằng tiếng Pháp. Niên học đầu tiên 1952-1953: có 2 lớp Đệ Thất, 1 lớp Đệ Lục, 1 lớp Đệ Ngũ (tất cả từ Trường Nam Tiểu Học NT chuyển đến). Năm 1954, nhiều Thầy và học sinh di cư vào Nam dừng chân ở Võ Tánh, Ô. Tỉnh Trưởng Khánh Hòa Nguyễn Trân cấp ngân khoản xây một dãy lầu dài 50m, hội Phụ Huynh Học Sinh tặng bàn ghế... các nhà Mạnh Thường Quân giúp tiền xây nhà Hiệu trưởng, nhà Giáo sư. Niên khóa1953-1954: tuyển thêm học sinh từ các trường tư thục, nâng tổng số lên 3 lớp Đệ Lục. Niên khóa1954-1955: 3 lớp Đệ Ngũ, riêng Đệ Ngũ 3 có 2/3 là nữ sinh. Dạy hoàn toàn chương trình Việt. Năm 1957, trường Trung Học Võ Tánh được Bộ nâng lên hàng Đệ Nhị Cấp nhưng mãi đến niên khóa 1959-1960 mới có Đệ Tam vì thiếu thầy. Kể từ niên khóa 1969-1970 đổi tên lớp: Đệ Thất, Đệ Lục đến Đệ Nhất gọi là Lớp 6, Lớp 7 đến lớp 12 (cả nước). Tóm lại, qua một quá trình xây dựng lâu dài, Trường Võ Tánh trông khang trang cổ kính chung quanh có tường xây, mặt tiền có 1 cổng chính với 2 cửa hông 2 bên. Phía cửa hông bên phải có một ngôi nhà nhỏ dành cho Ban Giám Thị và Ban Trật Tự. Từ cổng vào là sân đất rộng, giữa sân là cột cờ, cuối về phía tay phải nhìn ra đường là nhà để xe đạp và 1 cổng lớn để học sinh lưu thông bằng xe đạp. Qua khỏi sân đất: 2 dãy lầu 2 tầng nguy nga thẳng tắp dài khoảng 300m theo hướng đông-tây, mỗi tầng 8 lớp nối vào giữa bằng một vòm cung rộng, tại đầu 2 dãy lầu ở tầng trệt là Văn phòng Hiệu trưởng, Văn phòng Tổng Giám thị, Văn phòng Giáo sư. Phía sau là sân chơi tráng xi măng, rồi đến tòa nhà trệt nhiều phòng dành cho Đệ Nhất Cấp... Sau nữa là sân vận động. Đến năm 1973 có 30 phòng học, trên 3.000hs, cùng các phòng thí nghiệm, hội trường, thư viện. Có 55 lớp, riêng Lớp 6 có tới 10 lớp. Ban giảng huấn có trên 65 giáo sư. Các thời Hiệu Trưởng (kế tiếp Thầy Hiệu trưởng Trương Văn Như) : - Thầy Lê Tá: Hiệu trưởng 1952-1955 và trên 30 giáo sư: - Thầy Nguyễn Quảng Tuân dạy Việt văn 1954-1955 và 1964-1965 - Thầy Nguyễn Quang Gĩ từ 1954 - Thầy Đặng Đức Cường từ 1954 - Thầy Vũ Hữu Nghi từ 1954 - Thầy Bùi Trọng Bạch từ 1954 dạy Lý Hóa - v...v... - Thầy Nguyễn Vỹ: Hiệu trưởng (1955-1956) và trên 30 giáo sư: - Thầy Cao Văn Huy: Tổng Giám thị - Thầy Võ Thành Điểm: Giám thị, kiêm Thể dục - Thầy Nguyễn Xuân Vinh: Toán (tôtÙ nghiệp Kỹsư Hàng Không năm 1953 tại Pháp, tốt nghiệp Trường Võ Bị Không Quân Pháp năm 1955, về nước phục vụ tại Căn Cứ Không Quân Nha Trang là giáo sư thỉnh giảng môn Toán trường VT dạy mỗi tuần 4 giờ) - v...v... - Thầy Lê Khắc Nguyện: Hiệu Trưởng (1956-1959) và trên 60 giáo sư: - Thầy Đào Trữ: dạy Toán, Giám Học - Thầy Cao Văn Huy: Tổng Giám thị - Thầy Võ Thành Điểm: Giám thị, Hội họa - Thầy Phạm Văn Thanh (Văn phòng) - Thầy Hồ Văn Túy (Văn phòng) - Thầy Thạch Trung Giã: Việt văn (Thầy của Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Văn Liễu tức Trịnh Cung...) - Thầy Cung Giũ Nguyên: Pháp, Việt văn - Thầy Ưng Trung: Pháp văn - Thầy Lê Văn Đào: Anh văn - Thầy Nguyễn Hải: Toán - Cô Tôn Nữ Dung Đài: Anh văn - Thầy Trần Đăng Nhơn: Anh văn - Thầy Trần Thanh Lý: Toán - v...v... - Thầy Lê Nguyên Diệm: Hiệu Trưởng (1959-1972) và trên 65 giáo sư: - Thầy Đào Trữ: Giám học - Thầy Nguyễn Văn Dành: Tổng Giám thị - Thầy Sử Văn Tuy: Văn phòng - Nguyễn Văn Đỡ: Văn phòng - Nguyễn Văn Đại: văn phòng - Phạm Văn Thanh: Văn phòng - Thầy Bùi Văn Chọng: Lý Hóa, Trưởng Phòng Thí nghiệm - Thầy Nguyễn Quảng Tuân: Việt văn - Thầy Nguyễn Đức Nhơn: Pháp văn - Thầy Vũ Hữu Nghi: Việt văn - Thầy Bùi Ngoạn Lạc: Toán - Thầy Ngô Đức Diễm: Triết - Thầy Võ Túc: Triết - Nguyễn Thị Kim Thành: Pháp văn - Thầy Võ Doãn Nhẫn: Triết - v...v... - Thầy Nguyễn Đức Giang: Hiệu trưởng từ 1972-1973 và trên 65 giáo sư: - Thầy Nguyễn Thúc Thâm: Giám học - Thầy Nguyễn Lự: Phụ tá Giám học - Thầy Nguyễn Văn Dành: Tổng Giám thị - Thầy Vũ Thanh Triệu: Phụ tá Giám thị - Cô Trần Thị Hồng Trang: Hội họa - Thầy Đặng Như Đức: Sử Địa - Thầy Trần Phước Hải: Việt văn - Thầy Cao Quảng Hà: Vạn vật - Thầy Ngô Liệp: Toán - Thầy Đinh Gia Hoài: Lý Hóa - Thầy Lê Thế Nhiếp: Vạn vật - v...v... - Thầy Nguyễn Thúc Thâm: Hiệu trưởng từ 1974-1975 và trên 65 giáo sư: -Thầy Phạm Liêu: Pháp văn (1962-1975) - Thầy Hồ Đăng Châu: Việt văn (1959-1975) - Thầy Nguyễn Gia Bá: Lý-Hóa (1960-1975) - Cô Tôn Nữ Dung Kiều: Anh văn - Cô Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Việt văn - v...v... Sau 1975, Trường Trung Học Võ Tánh đổi tên. Ba chữ Bá Đa Lộc và hai hàng cây rợp bóng trên con đường dẫn ra biển cũng không còn nữa. C. Vài Nét về Trường Nữ Trung Học Nha Trang Ngày 20/8/1960 Cô Bùi Ngoạn Lạc nhận Sự vụ lệnh của Giám đốc Nha Đại Diện Giáo Dục miền Trung vào Nha Trang với hai nhiệm vụ: tách nữ sinh ở trường Võ Tánh, thành lập Trường Nữ Trung Học Nha Trang đầu tiên tại Miền Nam Trung Phần. Việc tách trường chia lớp kéo dài 3 tháng, đầu năm 1961 trường có đủ sổ sách các lớp. Ngày 14/12/0960 Bộ Giáo Dục ra nghị định thành lập Trường Nữ Trung Học Đêỉ Nhị Cấp và một nghị định khác cử Cô Bùi Ngoạn Lạc làm Hiệu trưởng và Cô Nguyễn Ngân làm Tổng Giám thị. Bộ cấp ngân khoản xây 15 phòng học tại Chụtt, nhưng vì xa thành phố (5 km) nên Ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Lý đồng ý đổi địa điểm, cấp cho Trường dãy nhà xe lợp tôn của trại lính Bảo An đường Lê Văn Duyệt (cơ sở ở Chụtt được Trường Kỷ Thuật mua, chuyển tiền về cho quỹ NTH) được sửa chữa chia thành 12 phòng học, 1 văn phòng Hiệu trưởng, 1 văn phòng Tổng Giám thị và 2 nhân viên. Cô Bùi Ngoạn Lạc, Hiệu Trưởng và Cô Nguyễn Ngân, Tổng Giám thị là những người có công nhất trong việc vận động và xây dựng trường. Niên khóa đầu tiên 1961-1962 có 810 nữ sinh, 17 lớp từ Đệ Thất đến đệ Nhị. (Đệ Nhất chưa đủ lớp còn học tại VT). Ban Giảng Huấn gồm 24 giáo sư: - Cô Bùi Ngoạn Lạc: Hiệu trưởng - Cô Đoàn Thị Thu Cúc (tức bà Nguyễn Ngân): Tổng Giám thị - Cô Lê Thị Oanh: Văn phòng - Cô Tôn Nữ Dung Đài: Anh văn - Cô Trương Thị Túy Trúc: Toán - Cô Vũ Thị Ngà: Hội họa - Cô Nguyễn Thị Thanh Trí: Hội họa - Cô Thái Thị Bạch Vân: Nữ công Gia chánh - Cô Lê Thị Thanh Tâm: Vạn vật - Cô Lê Thị Cúc: Triết - Cô Phạm Thị Hải: Anh văn - v...v... Các nữ giáo sư Võ Tánh được chuyển qua NTH cùng một số nam giáo sư dạy giờ, thêm 10 giáo sư tốt nghiệp khóa đầu tiên tại Đại Học Huế. - Niên khóa 1962-1963: thêm 1 giáo sư người Pháp, mở 1 lớp Đệ Tam C, thêm 1 lớp Đệ Lục, có 19 lớp với 947hs. USOM cho 1 phòng thí nghiệm nhưng không có đất xây. Năm 1962 Bộ cho mở lớp Đệ Nhất nhưng NTH thiếu giáo sư nên nữ sinh vẫn học tại VT. - Niên khóa 1963-1964: xây thêm 2 phòng học, thêm 1 lớp Đệ Nhị C, 1 lớp Đệ Ngũ, có 21 lớp, 1.120hs, 27 giáo sư, bắt đầu có y tá. - Niên khóa 1964-1965 tại NTH mới: Sau ngày Cách Mạng 1/11/1963, Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Vĩnh Xuân thuận cấp cho Trường 1 khu đất rộng bỏ trống trên 12.000 mét vuông ở đường Lê Thánh Tôn, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương cạnh trường VT, để xây Trường NTHNT (NTH mới) gồm 3 dãy lầu 2 tầng,10 phòng học (5 trệt 5 lầu) nối nhau bằng một nhà chơi. Có 22 lớp (thêm 1 lớp Đệ Tứ), 1158hs, 30 giáo sư, có 1 Giám thị đầu tiên. Bắt đầu từ niên khóa này, một nửa học ở Nữ Trung Học mới, một nửa học ở Nữ Trung Học cũ (cách nhau khoảng 200m). - Niên khóa 1965-1966: thêm1 lớp Đệ Tam, có 23 lớp, 1177hs, 36gs, xây thêm 1 dãy lầu thứ hai song song với dãy lầu trước, xây 1 bức tường bao quanh trường (sau 2 năm kéo bằng dây kẽm gai). - Niên khóa 1966-1967: thêm 1 lớp Đệ Nhị A, thêm 1 số giáo sư và 1 người Mỹ giúp dạy đàm thoại tiếng Anh, có 1 giám học, 1 thư ký, 1 gác dan, có 24 lớp, 1200hs. - Niên khóa 1967-1968: mở thêm 2 lớp Đệ Nhất A và Đệ Nhất C, có 27 lớp, 1.300hs. Đệ Nhất B vẫn học ở VT. - Niên khóa 1968-1969: thêm 1 lớp Đệ Lục, xây 1 nhà chơi dài 52m nối liền 2 dãy phòng học, xây1 nhà để xe, có 28 lớp, 1466hs. - Niên khóa 1969-1970: thêm 2 lớp Đệ Thất, 1 lớp Đệ Nhất, 1 lớp Đệ Ngũ, xây 1 phòng gia chánh nhưng thiếu dụng cụ, có 32 lớp, 1734 hs. Năm 1970 trường có đủ các lớp từ Đệ Thất đến Đệ Nhất với cả 3 ban A, B, C. - Niên Khóa 1970-1971: Lễ Kỷ Niệm 10 năm thành lập NTH với sự hiện diện của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tỉnh trưởng... Trường có 3 dãy lầu 2 tầng 10 phòng được nối với một nhà chơi rộng rãi dài gần 80m, tthêm 1 lớp Đệ Thất, 2 lớp Đệ Lục, 1 lớp Đệ Tứ, có 36 lớp, 2.154hs. Thi đậu Tú Tài 1 cao nhất thuộc niên khóa 1966-1967: 78% Thi đậu Tú Tài II cao nhất thuộc niên khóa 1969-1970: 74% Năm1973, Bộ cho lập ở các tỉnh Sở Giáo Dục Trung-Tiểu Học và Kỹ Thuật. Cô Bùi Ngoạn Lạc qua Sở làm Trưởng Ban Thanh Tra, Cô Tôn Nữ Diệu Trang thay làm Hiệu trưởng, từ đó trường có tên mới là Huyền Trân. Các thời Hiệu trưởng : 1- Cô Bùi Ngoạn Lạc: Hiệu trưởng 1961-1973 2- Cô Tôn Nữ Diệu Trang: Hiệu trưởng: 1973-1974 3- Cô Lê Thị Gia Hương: Giám học từ 1970-1973, X.L.T.V. Hiệu trưởng 1974-1975 - Cô Phạm Thị Trang: Giám học - Cô Nguyễn Ngân: Tổng Giám thị 1961-1975 Trường NTHNT- ngôi trường xinh đẹp quét vôi trắng hòa với màu trắng của áo dài nữ sinh như đàn chim thiên nga, tạo thành nét trinh nguyên quyến rũ độc đáo của miền Thùy Dương Cát Trắng hiền hòa, êm đềm, mát ngọt trong lòng khách du. Khen ai đã tạo ra nét thần tiên ấy! Sau 1975, trường cũng cùng chung một số phận với Võ Tánh: thay họ đổi tên. VINH HỒ Tháng 2/2007 Tài liệu tham khảo: - www.nhatrang.net - Non nước Khánh Hòa, Nguyễn Đình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003 - Những Chuyện Không Quên, Nguyễn Công Thuần, Giai phẩm 1999-Võ Tánh&Nữ Trung Học Nha Trang - Vai trò của các trường Trung học Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Ký, Gia Long hồi tiền bán thế kỷ XX, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Đặc san Xuân Đinh Hợi 2007, của CĐ Việt Nam TTFL - Nha Trang Ngày Xưa, Trần Đăng Hồng, Đặc san VT&NTH Nha Trang Nam CA, 2006 - Nhóm học sinh Đệ Thất đầu đời của Trường Trung Học Võ Tánh Nha Trang, Lê Văn Ngô, Đặc san Hội Ngộ VT&NTHNT San Jose, CA, 2004 - Vài nét liên hệ giữa hai trường Võ Tánh và Nữ Trung Học Nha Trang, Bà Bùi Ngoạn Lạc, Giai phẩm Hè 1998 Võ Tánh&Nữ Trung Học Nha Trang. - Mối liên hệ 2 trường Võ Tánh-Nữ Trung Học Nha Trang &chiếc cầu tình thương nối người đi với người ở lại, Bà Bùi Ngoạn Lạc, Đặc san Hội Ngộ Hè 2004 Võ Tánh&Nữ Trung Học Nha Trang, San Jose, CA. - Con đường đưa tôi vào Võ Tánh, Phạm Tín An Ninh, Đặc san Hội Ngộ Hè 2004 Võ Tánh&Nữ Trung Học Nha Trang, San Jose, CA. - Nữ Trung Học Nha Trang mười năm: sinh, trưởng, Bà Bùi Ngoạn Lạc, Đặc san Kỷ yếu Kỷ niệm Đệ Thập Chu niên Trường Nữ Trung Học Nha Trang. -Chuyến Xe Thời Gian, Hồ Văn Tâm, Đặc san Hội Ngộ Võ Tánh&Nữ Trung Học Nha Trang, Houston, TX, 2005 Vinh Hồ : (Trích đăng từ Đặc San Hội Ngộ Võ Tánh-Nữ Trung Học Hè 2007 tại Orlando Florida ) - Thân mời đọc thêm : -Vinh Hồ : Việc Học Hành Thi Cử Ngày Xưa