free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

| Home |    | Trung Học Võ Tánh |    | Trang Vinh Hồ |

Việc Học Hành Thi Cử Ngày Xưa

    Vinh Hồ



I. THỜI HỒNG BÀNG :

Nguồn cội Việt Nam là nước Văn Lang thời Hồng Bàng, cổ sử ghi: Nước Văn Lang có 15 bộ, vua Hùng đóng đô ở Phong Châu, có tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính, quyền chính cứ cha truyền con nối gọi là phụ đạo.

Dù cổ sử không ghi rõ việc ăn ở, phong tục, cũng như việc học hành thi cử ra sao? nhưng qua huyền thoại, truyền thuyết, người ta có thể biết được nước Văn Lang thời bấy giờ đã văn minh tiến bộ, đúc được trống đồng tinh xảo, Lạc tướng có ấn đồng lụa xanh. Về lạc điền, theo giáo sư Vũ Thế Ngọc, dân Lạc Việt là “chủ nhân đầu tiên trên thế giới biết nghề làm ruộng nước”. Qua các chuyện cổ dân gian như chuyện “Tục vẽ mình”: đời Vua Hùng thứ nhất, người Văn Lang làm nghề chài lưới thường bị thuồng luồng sát hại, nên Vua bắt dân lấy chàm để vẽ mình. Chuyện “Trầu cau” xin trích một đoạn dịch từ sách Lĩnh Nam Chích Quái: “Về triều, nhà vua xuống chiếu ban lệnh cho dân chúng từ đây phàm các việc lễ tục, cưới hỏi, hội họp đều phải lấy trầu cau ăn để mở đầu mọi việc.”

Học giả Vương Đàm nhận xét: “Muốn được khắp nơi áp dụng, chính vua Hùng đã ăn trầu khởi đầu rồi ban truyền khắp dân gian. Khi lệnh vua ban hành toàn dân tuân theo, xã hội cùng dân nước đã hoàn thành xong nền tảng đạo lý kỷ cương. Nếp sống xã hội con người có lễ nghi, văn hóa, lương tâm, trách nhiệm, vị tha, có kỷ cương, trật tự trong các mối liên hệ nhân ái: vua tôi, thầy trò, vợ chồng, cha con, anh em, đồng bào, quê hương, tổ quốc. Đời sống con người được xây dựng trong lâu đài chan chứa tình người. Như vậy trước khi ở Trung Quốc có Khổng Tử ra đời đưa ra các khuôn phép kỷ cương “quân thần phụ tử” buộc chung vào sợi dây “nhân nghĩa lễ trí tín” thì ở đất nước Việt từ trước đó đã hình thành một nền văn hiến đầy đủ, toàn vẹn.”

Về tôn giáo, Người Văn Lang có niềm tin mãnh liệt mình là con Rồng cháu Tiên, tôn thờ Trời Đất Thánh Thần, thờ cúng Ông Bà Tổ Tiên, còn gọi là đạo Ông Bà. Học giả Trần Đại Sỹ viết: “Nước tôi có một tôn giáo mà toàn dân đều theo đó là thờ các anh hùng dân tộc.”

Như vậy suốt 2621 năm, nước Văn Lang đời Hồng Bàng là một triều đại độc lập, thái bình, thịnh trị lâu dài nhất lịch sử, đã “hình thành một nền văn hiến đầy đủ toàn vẹn” tiến bộ về các lãnh vực tôn giáo, nông, công, ngư nghiệp, kể cả giáo dục.

Riêng về giáo dục, đã có chủ trương từ triều đình xuống làng xã qua các Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bồ Chính.

Làng xã là nơi có “nền nhân chủ làng xã” (nói theo học giả Kim Định) hay “xã thôn tự trị, truyền thống dân chủ” (nói theo học giả Vương Đàm) nơi đó “lệ làng” được coi là tập quán văn hóa lễ nghĩa ân tình, là sự giao ước vô hình bất thành văn nhưng ai cũng tôn trọng. Lệ làng buổi đầu là hiến pháp bất thành văn, về sau nhiều làng xã đã viết thành văn bản gọi là “khoán ước” hay “hương ước” tức là bản hiến pháp của làng. Nơi đó có hệ thống tổ chức khá tinh tế qua những từ ngữ như: chức sắc, kỳ lão, kỳ mục, kỳ hào, kè dịch, tuần phiên, tráng đinh, dân đinh, cố cùng... Nơi đó có Hội đồng chức sắc, Hội đồng kỳ mục, Hội đồng kỳ lão, Hội đồng quan viên, Hội đồng kỳ dịch (làm việc làng trong một thời gian quy định). Ngoài năm hội đồng trên còn có Ban Thủ khoán (xem xét việc vi phạm quy ước làng), Hội Tư văn phụ trách việc văn hóa giáo dục, Ban Tuần phiên trông coi an ninh và các phường hội tôn giáo, nghề nghiệp, võ thuật... Dân Lạc Việt được giáo dục về các mặt nhờ những ông Thầy, ông Thầy có thể là vua Hùng, Lạc Hầu, Lạc Tướng, Bồ Chính ở trung ương, ở các cấp, hay các vị chức sắc, bô lão, tộc trưởng ở các làng xã là nơi mà “Phép vua thua lệ làng”. Học giả Vương Đàm viết

: “Các bậc chân tu, thầy dạy học, lương y làm được các công việc giáo hóa, giáo dục, điều trị ích lợi cho dân làng, dân làng có bổn phận phải tôn trọng họ, lưu tâm biệt đãi họ, giúp họ có đời sông kinh tế bảo đảm, nếu họ gặp phải cảnh nghèo túng. (...) Người có đủ kiến thức trình độ mới được làm thầy. Các con em trong dân làng học chữ cũng như học nghề, thân tộc cũng như làng xóm giúp đỡ khuyên răn để người đi học cố gắng học tập, tuần phiên buổi tối đi tuần tra cũng nhắc nhở học trò chăm học. Những người lớn tuổi đi học ở bậc cao cũng được miễn việc tuần phiên, phu dịch. Người nghèo học giỏi được dân làng, thân tộc giúp đỡ tiền bạc. Nếu làng có nhiều người khoa bảng, học vị cao, nhiều nơi còn mở các nhà khảo văn, bình văn, giúp cho người đi học thêm nhiều tiến bộ.”

Đình làng, nơi thờ cúng Thành Hoàng, nơi hội họp bàn việc làng việc nước, cũng là nơi để dạy hoc.

Nước Văn Lang mất vào tay nhà Thục, rồi nhà Triệu. Thời nhà Triệu, Triệu Đà gởi cho Hán Vũ Đế một bức thư, hiện còn ghi trong các Tuyển tập Cổ văn Trung Quốc, chứng tỏ ông là người có văn học nhưng không thấy nói đến chuyện ông quan tâm đến giáo dục.

II. THỜI BẮC THUỘC :

Từ đời Hán, Đường bên Trung Hoa, Phật, Lão, Trang đẵ thịnh, nên Việt Nam đầu thời Bắc thuộc (nhà Tây Hán, nhà Đông Hán, nhà Tấn, nhà Đường) cũng đã du nhập ba tôn giáo trên. Sử có nhắc đến vai trò “khai hóa, dạy dân lấy điều lễ nghĩa” của Tích Quang, thái thú quận Giao Chỉ thời Tây Hán và “dạy dân dùng cày bừa mà khai khẩn ruộng đất” của Nhâm Diên, thái thú quận Cửu Chân thời Đông Hán, cũng như cuối đời Đông Hán có Sĩ Nhiếp (187-226) thái thú quận Giao Chỉ (sau đổi Giao Châu) trị dân “có phép tắc và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm mộ công đức, mới gọi tôn lên là Sĩ Vương. Cũng có người làm sử gọi ông là “Nam bang học tổ” tức người đầu tiên tổ chức việc học ở Việt Nam, còn sử gia Trần Trọng Kim thì viết: “ông ấy là một người có văn học rồi trong khi làm quan, lo mở mang sự học hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ nghĩa”.

Tuy nhiên dưới thời này không phải Nho Giáo hay Lão giáo mà chính là Phật Giáo mới thịnh hành, có những nhà sư Việt Nam nổi tiếng uyên bác như: Đạo Cao, Pháp Minh (TK thứ V), Đại Thừa Đăng (TK thứ VI), Thanh Biện (TK thứ VII). Thời này dân Việt học chữ Hán đa số tại các chùa chứ không phải tại các trường do người Tàu đô hộ dựng lên, muốn đi thi phải sang tận Trung Quốc để thi, như Trương Trọng (TKI), Lý Cầm, Lý Tiến. Riêng Khương Công Phụ đã đỗ đầu Tiến Sĩ ở Trung Quốc với bài phú hiện còn trong “Toàn Đường Văn”. Đời Đường đô hộ Việt Nam, có Vô Ngại Thượng Nhân, Phụng Đình Pháp Sư, Duy Giám Pháp Sư, La Thuận Thiền Sư...

III THỜI ĐỘC LẬP TỰ CHỦ:

- Thời Ngô: Vua Ngô Quyền (939-944) cởi ách Bắc thuộc hơn một nghìn năm, mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ ở nước ta, nhưng rất tiếc chỉ làm vua được 6 năm thì mất lúc 47 tuổi, nhà Ngô sau đó rơi vào loạn thập nhị sứ quân.

- Thời Đinh: Đinh Tiên Hoàng Đế (968-979) dẹp tan các sứ quân, lập ra nhà Đinh đặt tên nước là Đại Cồ Việt, nhưng làm vua mới có 12 năm thì bị ám sát, 2 năm sau, quân Tống sang xăm lược nước ta.

- Thời Tiền Lê: Lê Đại Hành Hoàng Đế (980-1005) đánh tan quân Tống, lập ra nhà Tiền Lê, làm vua được 24 năm thọ 65 tuổi. Vua sai các quan đại thần là Từ Mục, Phạm Cự Lượng, Ngô Tử An giúp đặt luật lệ, sửa sang mọi việc trong nước trong đó có việc học. Hai nhà sư La Thuận, Khuông Việt được giao việc đón tiếp, xướng họa với sứ giả Tống.

Tuy nhiên việc học (chữ Hán) sang thời Lý mới có quy mô.

- Thời Lý: Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) sùng đạo Phật, lưu tâm sửa sang mọi việc trong nước, hoàng tử phải cầm quân dẹp giặc, công chúa phải coi việc thu các thứ thuế, Vua trọng đãi người đi tu, làm chùa đúc chuông. Năm 1018, sai quan Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu thỉnh kinh Tam Tạng.

Năm 1043, Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cấm việc mua người để làm nô lệ. Vua sai đặt nhà trạm để chạy giấy công văn, những cung nữ phải học nghề thêu dệt gấm vóc.

Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đổi tên nước là Đại Việt, có ý muốn khai hóa việc học. Năm 1070, sai dựng Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và thất thập nhị hiền để thờ, nước ta có Văn Miếu thờ Khổng Tử và chư hiền bắt đầu từ đấy. Về binh pháp, nhà Lý nổi tiếng là giỏi khiến nhà Tống phải bắt chước.

Năm 1075, Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho mở khoa thi Tam Trường, đầu tiên ở nước ta, chọn 10 người ra làm quan. Năm 1076, lập trường Quốc Tử Giám, bổ người văn học vào dạy. Năm 1086, mở khoa thi chọn người vào Hàn Lâm Viện: Mạc Hiển Tích đỗ đầu được bổ Hàn Lâm Học Sĩ. Nho học nước ta thịnh lên từ đó.

Thời Vua Lý Anh Tông (1138-1175) quan Thái úy Tô Hiến Thành văn võ song toàn (người đời sau thường ví ông là Gia Cát Lượng), về văn, xin vua khai hóa sự học hành và làm đền Đức Khổng Tử tại cửa Nam thành Thăng Long để tỏ lòng mộ Nho học. Năm 1172, vua sai làm quyển địa đồ nước Đại Việt (Tàu đặt là An Nam).

- Thời Trần: Vua Trần Thái Tông (1225-1258) năm 1232 mở khoa thi Thái Học Sinh (tương đương với Tiến Sĩ) chia làm Tam Giáp (ba hạng). Đổ Tam Trường thì được thi Thái Học Sinh (tương đương với thi Hội).

Năm 1247, những người đỗ Thái Học Sinh, chọn 3 người xuất sắc nhất gọi là Tam Khôi: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa: Lê Văn Hưu đỗ Bảng Nhãn (sử gia viết sử Việt Nam đầu tiên). Đặt 2 Trạng Nguyên: Trạng Nguyên Kinh (vùng sông Hồng) và Trạng Nguyên Trại (vùng Thanh Nghệ Tĩnh) cứ 7 năm mở một khoa thi. Năm đó còn mở thêm khoa thi Tam Giáo (khoa Giáp, khoa Ất) để chọn nhân tài không phân biệt tôn giáo.

Năm1253 lập Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư Ngũ Kinh và lập Giảng Võ Đường để luyện tập võ nghệ.

Vua Trần Thánh Tông (1258-1278): mở mang thêm việc học hành, cho Trần Ích Tắc (người hay chữ nhất nước thời đó) mở học đường để các văn sĩ học tập. Mạc Đĩnh Chi học ở trường này. Năm 1272, bộ Đại Việt Sử Ký 30 quyển chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng hoàn tất do Lê Văn Hưu soạn (khởi soạn từ thời vuaTrần Thái Tông), nước ta có sử từ thời ấy.

Vua Tần Nhân Tông (1279-1293): việc văn học cũng thịnh lắm: bài hịch của Hưng Đạo Vương, thơ Trần Quang Khải, thơ Phạm Ngũ Lão, Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú.

Vua Trần Duệ Tông (1372-1377): Năm 1374, mở khoathi Tiến Sĩ đầu tiên của Việt Nam (trước tên là Thái Học Sinh) lấy hơn 50 người cho áo mão vinh quy.

Vua Trần Thuận Tông (1388-1398): Năm 1390, Chế Bồng Nga đem hơn 100 chiến thuyền sang đánh Thăng Long bị quân Trần Khát Chân bắn chết. Quan phụ chính Hồ Quý Ly đặt ra cách làm tiền giấy: tờ giấy ăn 10 đồng thì vẽ cây rêu bể, ăn 30 đồng thì vẽ con rùa, 3 tiền thì vẽ con lân, 5 tiền thì vẽ con phượng,1 quan thì vẽ con rồng. Việc học hành phép thi trước kia không có định văn thể, nay định lại làm tứ trường văn thể và bỏ thi ám tả. Nhất trường làm bài kinh nghĩa; nhị trường làm thi phú; tam trường làm chiếu, chế, biểu; tứ trường làm bài văn sách. Kỳ thi: năm trước thi Hương, năm sau thi Hội, ai trúng Hội thì vào thi một bài văn sách để định cao thấp. Các quan làm giáo chức ở các lộ, phủ, châu, thì được cấp từ 10 đến 15 mẫu ruộng, ở lộ có quan Đốc Học, ở phủ có quan Giáo Thụ.

- Thời Hồ (1400-1407): Hồ Quý Ly lên ngôi làm vua được 1 năm thì nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương để cùng lo việc nước. Việc học hành thi cử đều sửa sang lại, lấy toán học đặt thêm ra một trường nữa, nghĩa là trong những khoa thi có đặt thêm một kỳ thi toán pháp. Ai đỗ Hương thí, năm sau phải vào bộ Lễ thi lại, đỗ mới được bổ đi làm quan, qua năm sau nữa thì lại vào thi Hội, đỗ mới được là Thái Học Sinh. Bắt đầu chế độ 3 năm thi 1 kỳ. Đặt quan Giáo Thụ tại các châu, phủ.

- Thời Minh Thuộc (1414-1427) bắt mở nhà học ở các phủ, châu, huyện, rồi chọn thầy âm dương, thầy thuốc, thầy chùa, đạo sĩ, ai giỏi nghề gì cho dạy nghề đó. Vua Minh truyền lấy Ngũ Kinh, Tứ Thư và bộ Tính Lý Đại Toàn đưa sang ban cấp cho người An Nam học ở các châu, huyện; lại sai thầy tăng, đạo sĩ đi truyền giảng đạo Phật, Lão. Còn sách vở nước ta từ nhà Trần về trước thì thu hết rồi đưa về Kim Lăng. Còn sĩ tử ngày trước ở phủ mỗi năm 2 người; ở châu 2 năm 3 người; ở huyện mỗi năm 1 người; nay cải lại ở phủ mỗi năm 1 người; ở châu 3 năm 2 người; ở huyện 2 năm 1 người, được làm học trò tuế cống cho vào học Quốc Tử Giám rồi bổ đi làm quan.

- Thời Hậu Lê: Vua Lê Thái Tổ (1428-1433) Khi dẹp xong giặc Minh, Bình Định Vương sai Nguyễn Trãi làm tờ Bình Ngô Đại Cáo bằng chữ Hán còn ghi trong tập Hoàng Việt Văn Tuyển. Khi lên ngôi, Vua Lý Thái Tổ cho sửa sang việc học hành, lập trường Quốc Tử Giám ở kinh đô cho con cháu quan viên và con thường dân tuấn tú vào học, mở nhà học, đăt thầy dạy Nho học ở các phủ, lộ. Các quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống phải vào thi Minh Kinh Khoa, ở các lộ cũng mở khoa thi Minh Kinh cho kẻ ẩn dật để chọn nhân tài.

Tu sĩ bắt phải đi thi, đậu mới được làm đạo sĩ hay tăng sĩ, ai rớt phải hoàn tục làm ăn.

Vua Lê Thái Tông (1434-1442): Lệ 5 năm thi Hương 1 lần, 6 năm thi Hội 1 lần. Phép thi thì kỳ đệ nhất làm 1 bài kinh nghĩa, 4 bài tứ thư nghĩa, mỗi bài 300 chữ trở lên; kỳ đệ nhị thi làm bài chiếu, bài chế, bài biểu; kỳ đệ tam làm bài thi phú; kỳ đệ tứ làm 1 bài văn sách 1.000 chữ trở lên. Năm 1442, mở khoa thi Tiến Sĩ, ai đỗ được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu, khởi đầu từ đấy. Từ xưa đến nay nước ta chưa có địa đồ, Vua sai quan ở các đạo vẽ địa đồ ghi mọi sự tích trong hạt mình rồi gởi về bộ Hộ để làm quyển địa dư nước ta.

Vua Lê Nhân Tông (1443-1459) sai Phan Phù Tiên làm bộ Quốc sử kể từ vua Thái Tông nhà Trần đến Minh thuộc, cả thảy 10 quyển.

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) định phép thi Hương, sửa phép thi Hội, Vua thường ra làm chủ các kỳ thi Đình, lập ra lệ xướng danh Tiến Sĩ và lệ vinh quy bái tổ. Mở rộng nhà Thái Học: phía trước là nhà Văn Miếu, phía sau là nhà Thái Học, thêm phòng ốc cho sinh viên ở học. Làm kho Bí Thư để chứa sách. Vua hay ngâm thơ, đặt ra Quỳnh Uyển Cửu Ca, xưng là Tao Đàn Nguyên Súy, cùng Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận cả thảy 28 người xướng họa với nhau. Lại sai 2 ông này soạn bộ Thiên Nam Dư Hạ Tập gồm 100 quyển là hình luật đời Hồng Đức. Vua làm ra một quyển tên Thân Chinh Ký Sự. Vua sai Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt Sử Ký chia làm 2 bản: một bản kể từ đời Hồng Bàng đến Thập Nhị Sứ Quân gồm 5 quyển. Một bản từ Đinh Tiên Hoàng đến Lê Thái Tổ gồm 10 quyển.

Vua Lê Tương Dực (1510-1516): Quan Binh bộ Thượng Thư là Vũ Quỳnh làm xong bộ Đại Việt Thông Giám chia ra từ họ Hồng Bàng đến Thập Nhị Sứ Quân làm ngoại kỷ, còn từ Đinh Tiên Hoàng đến Lê Thái Tổ làm bản kỷ, cả thảy 26 quyển, Vua sai Lê Tung soạn bài Tổng luận về bộ sử ấy.

- Họ Trịnh (1570-1786): Nước ta học chữ Nho nhưng xưa nay đều mua sách in của Tàu, đến năm 1734, Chúa Trịnh Giang (1729-1740) bắt khắc bản in để in sách phát ra các nơi, cấm không cho mua sách in bên Tàu nữa. Ở Quốc Tử Giám đặt quan Tế Tửu và quan Tư Nghiệp để làm giảng quan mỗi tháng 1 lần tiểu tập, 3 tháng 1 lần đại tập.

Từ khi Lê-Mạc phân tranh, Bắc Triều họ Mạc vẫn mở khoa thi ở Thăng Long, Nam Triều họ Lê bận việc quân mãi đến năm1580 mới mở khoa thi Hội ở Tây Đô, từ đó về sau cứ 3 năm một lần thi Hội, nhưng cách thức thi cử còn sơ lược, đến năm 1664, Chúa Trịnh Tạc (1657-1682) mới định lại qui thức thi cử. Còn thi Hương đến năm 1678 mới định điều lệ rõ ràng. Từ đó cứ 3 năm 1 kỳ thi Hương: tại Thanh, Nghệ, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Quảng đều có trường thi. Đời vua Dụ Tông đặt lệ thí sinh nộp tiền Minh Kinh, đời Cảnh Hưng năm 1750 đặt lệ thu tiền Thông Kinh. Hễ ai nộp 3 quan thì được đi khỏi phải khảo hạch, biến thành cái chợ thi: thuê người làm bài, đút lót quan trường... ai có tiền cũng đều đi thi được. Chúa Trịnh Tạc sai quan Tham Tụng là Phạm Công Trứ soạn sách Việt Sử Toàn Thư kể từ vua Trang Tông nhà Hậu Lê đến vua Thần Tông gồm 23 quyển, nhưng không in. Đến năm 1676, sai Hồ Sĩ Dương xét lại bộ sử nhưng việc chưa xong thì mất. Chúa lại sai Lê Hy, Nguyễn Quí Đức chép nối từ vua Huyền Tông đến vua Gia Tông thêm vào 13 quyển gọi là Quốc Sử Thực Lục.

Năm 1775, Chúa Trịnh Sâm (1767-1782) sai Nguyễn Hoàn, Lê Quí Đôn, Ngô Thời Sĩ... soạn quốc sử, chép thêm từ Hi Tông đến Ý Tông gọi là Quốc Sử Tục Biên gồm 6 quyển.

- Họ Nguyễn (1600-1777): Năm 1674 Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) mở khoa thi Chính Đồ và Hoa Văn. Thi Chính Đồ chia làm 3 kỳ: Kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Quan Tri phủ, Tri huyện làm sơ khảo; quan Cai bạ, Ký lục, Vệ úy làm giám khảo. Đỗ thì chia 3 hạng: hạng nhất gọi là Giám Sinh bổ làm Tri phủ, Tri huyện; hạng nhì gọi là Sinh Đồ bổ làm Huấn Đạo; hạng ba cũng gọi Sinh Đồ bổ làm Lễ sinh hay Nhiêu học. Thi Hoa Văn 3 ngày, mỗi ngày làm một bài thơ, ai đậu được bổ vào làm việc ở Tam Ty.

Năm 1695, Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) mở khoa thi trong Phủ Chúa gọi là thi Văn Chức và thi Tam Ti (Xá sai ti, Tướng thần lại ti, Lệnh sử ti). Thi Văn Chức thì thi tứ lục, thơ phú, văn sách; thi Xá sai ti hỏi việc binh lính, tiền lương, từ tụng; thi Tướng thần lại ti và Lệnh sử ti chỉ làm 1 bài thơ.

Năm 1740, Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) định lại phép thi: những người đậu kỳ đệ nhất gọi là Nhiêu học được miễn sai 5 năm; đậu kỳ đệ nhị và đệ tam được miễn sai chung thân; đậu kỳ đệ tứ gọi là Hương cống được bổ đi làm Tri phủ, Tri huyện.

HÌNH THÀNH CHỮ QUỐC NGỮ :

Năm 1533, nhằm thời Nam Triều Lê Trang Tông 1533-1548 (được Nguyễn Kim lập lên làm vua tại đất Lào), cũng nhằm thời Bắc Triều Mạc Đăng Doanh 1530-1540 có người Tây Dương tên I-ni-khu đi đường biển lén vào giảng đạo tại các làng Ninh Cường, Quần Anh và Trà Lũ thuộc tỉnh Nam Định. Năm 1550, Linh mục Gaspard de Santa Cruz (người Bồ Đào Nha) đặt chân tại Can Cao, tức Hà Tiên (còn là lãnh thổ Chân Lạp) mở đầu phong trào truyền giáo của những người: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pha Lang Sa, Ý Đại Lợi, Hòa Lan... và dần dần hình thành chữ Quốc ngữ từ các nhà truyền giáo. Sách giáo lý còn gọi là sách Bổn, sách Phần, sách Kinh Nghĩa, từ đầu thế kỷ 17 được biên soạn bằng chữ Quốc ngữ (theo mẫu tự La Tinh). Linh mục Dòng Tên, Francisco de Pina (đến Đàng Trong năm 1617 là giáo sư Việt ngữ của Linh mục Alexandre de Rhodes) là tác giả của cuốn sách giáo lý chữ Quốc ngữ đầu tiên nhưng rất tiếc ngày nay không còn.

Tổng hợp những thành tựu của các giáo sĩ đi trước, năm 1621, Dictionarium Anamiticum-Lusitanum et Latinum (Tự điển An Nam- Bồ Đào Nha và La Tinh) của Alexandre de Rhodes có khoảng 8.000 chữ phiên âm theo mẫu tự La Tinh trở thành chữ Quốc ngữ được xuất bản.

Gần 2 thế kỷ sau, thời Nguyễn Ánh-Tây Sơn: Giám mục Pierre Joseph Georges Pigneaux de Béhaine (1741-1799) tức Bá Đa Lộc dấn thân suốt 25 năm giúp Nguyễn Ánh dựng nghiệp vương đã bỏ ra 4 năm biên soạn bản viết tay cuốn Dictionarium Anamitico-Latinum (Tự điển An Nam-La Tinh) hoàn tất năm 1772 (dày 729 trang), năm 1778 bị hỏa hoạn mất một phần tại Cà Mau, gần 40 năm sau, năm 1838, Giám quản Tông tòa Địa phận Bengale, Giám mục J.L. Taberd sưu tầm, sắp xếp, bổ túc thêm cho Dictionarium Anamitico-Latinum của Bá Đa Lộc và đem xuất bản tại Ấn Độ dày 620 trang gồm10.000 chữ chưa kể 39 trang danh từ thảo mộc Đàng Trong và 58 trang phụ đính các bộ chữ Hán chú giải bằng chữ La Tinh.

Giám mục J. L. Taberd cũng soạn thêm 1 cuốn tự điển thứ hai đề tên mình, in năm 1838 tại Ấn Độ (cùng một nhà xuất bản với cuốn Tự điển của Giám mục Bá Đa Lộc) mang tên: Dictionarium Latino-Anamiticum của J. L. Taberd (1794-1840).

Năm 1868, tại Sài Gòn, xuất bản Dictionnaire Elémentaire Annamite-Francais của Le Grand de la Liraye (một học giả am tường chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ).

Đó là 4 quyển tự điển Quốc ngữ đầu tiên.

- Thời Nguyễn Tây Sơn: Vua Quang Trung (1788-1792) muốn người Việt Nam phải dùng tiếng Việt Nam để gây thành cái tinh thần của nước nhà và cái văn chương đặc biệt không phải đi vay tiếng mượn chữ của người Tàu, nên khi thi cử thường bắt các quan ra bài chữ Nôm và bắt sĩ tử làm bài thi bằng chữ Nôm.

- Thời Nguyễn: Vua Gia Long (1802-1819) lập nhà Văn Miếu ở các doanh, trấn thờ đức Khổng Tử, đặt Quốc Tử Giám ở Huế, gọi tắt là Trường Giám ở Huế để dạy con các quan, các sĩ tử. Đặt thêm chức Đốc Học ở các trấn, dùng người khoa mục nhà Lê để coi việc dạy dỗ. Vua sai quan Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định soạn sách Nhất Thống Địa Dư Chí 10 quyển hoàn tất năm 1806. Năm 1811, sai quan tìm các sách dã sử nói chuyện nhà Lê, nhà Nguyễn Tây Sơn để sửa lại quốc sử. Văn Nôm cũng thịnh lắm như: Văn Tế Tướng Sĩ do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ tế (không rõ ai làm nhưng là một bài văn đại bút), truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du...

Vua Minh Mạng (1820-1840) khi mới lên ngôi đặt Quốc Sử Quán để làm Quốc sử, tưởng lệ khen thưởng cho người tìm được sách cũ, hay làm ra sách mới. Từ đó Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định Thành Thông Chí, Hoàng Công Tài dâng 1 bản Bản Triều Ngọc Phả, 2 bản Ký Sự; Cung Văn Hy dâng 7 quyển Khai Quốc Công Nghiệp Diễn Chí, Nguyễn Đính Chính dâng 34 quyển Minh Lương Khải Cáo Lục, Vũ Văn Tiêu dâng 1 quyển Cố Sự Biên Lục. Vua lại sai soạn nhiều sử sách và chính Vua cũng soạn bộ Ngự Chế Tiểu Bình Nam Kỳ Tặc Khấu Thi Tập và bộ Ngự Chế Thi Tập.

Mở Quốc Tử Giám cho các giám sinh được lương bổng ở ăn học. Đời Gia Long chỉ có thi Hương thôi, năm1822 mở thi Hội, thi Đình để lấy Tiến sĩ, năm 1829 cho những người trúng cách nhưng không cập phân, được đỗ Phó Bảng, khởi đầu từ đấy. Nguyên trước cứ 6 năm 1 khoa thi, nay đổi lại 3 năm 1 khoa thi: cứ năm Tí, Ngọ, Mẹo, Dậu thi Hương; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội, thi Đình. Trước kia ai đỗ Tam Trường gọi là Sinh Đồ, ai đỗ Tứ Trường gọi là Hương Cống, nay đổi Sinh Đồ là Tú Tài, Hương Cống là Cử Nhân. Năm1821 có 60 học sinh do quan Tế Tửu cầm đầu.

Tại tỉnh có quan Đốc Học, tại phủ có quan Giáo Thụ, tại huyện có quan Huấn Đạo: ngày lẻ giảng kinh điển Nho Giáo, ngày chẳn giảng về sử. Mỗi tháng có 3 ngày thi thử (thi Hương). Mỗi năm có 1 kỳ thi thử cho cả tỉnh. Đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là “Đỗ đầu xứ”.

Vua Tự Đức (1847-1883): sửa sang việc thi cử đặt ra Nha Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa để chọn người văn học ra làm quan. Lại đặt ra Tập Hiền Viện và Khai Kinh Diên để Vua ngự cùng các quan bàn sách vở, làm thơ phú, nói chuyện chính trị và sai soạn bộ Khâm Định Việt Sử từ đời thượng cổ đến hết đời Hậu Lê.


NÓI THÊM VỀ VIỆC HỌC HÀNH THI CỬ THỜI NHÀ NGUYỄN :

- Đi thi: Ai đỗ thi Hội được miễn sưu dịch. Thí sinh không có tội bất hiếu, không gây gỗ với xóm làng, không tang cha mẹ mới được đi thi. Thi Hương, năm 1807 có 6 nơi.

Thời Minh Mạng có 6 trường thi: Gia Định, Huế, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định.

- Trường Thi: là một khu đất hình chữ nhật (có hàng rào tre bao quanh) phần ngoài gọi là ngoại liêm dành cho thí sinh, phần trong gọi là nội liêm dành cho giám khảo (ở luôn cho đến hết thi mới được ra). Trường thi được chia bởi 2 đường thẳng góc tạo thành 4 vi bằng nhau. Nơi hai đường thập đạo giao nhau có 1 chòi canh do 1 Thập Đạo Trưởng canh giữ. Cứ 1.000 thí sinh thì có 300 binh sĩ canh gác. Thí sinh vào Trường Nhất đầu tháng (tính tháng âm lịch), Trường Nhì mùng 6, Trường Ba ngày 12. Ngày 20 công bố kết quả. Quan Đề Điệu có trách nhiệm toàn bộ. Có Chánh, Phó Chủ Khảo và các Giám Thị. Có các nhân viên phát và thu Quyển (giấy đóng thành tập) về cho các Di niêm phong, đánh dấu, rọc phách, xong giao cho các Đăng sao chép lại, rồi giao cho các Đối đọc duyệt lại. Các quan chấm thi chỉ được xem bản sao, bài thi do 2 giám thị chấm câu (thí sinh không được chấm câu). Chấm thi không cho điểm mà phân làm 4 hạng: ưu, bình, thứ, liệt (liệt là bị loại ngay).

- Bài Thi: đầu tiên là bài Kinh Nghĩa: Đầu đề là 1 câu trong Ngũ Kinh, Tứ Thư: phải giảng nghĩa y như trong sách Tống Nho đã học thuộc lòng. Một bài Kinh Nghĩa chia ra 8 đoạn có đối nhau, mỗi đoạn là 1 vế gọi là “bát cổ” mà sĩ tử nào cũng sợ.

Vào Trường Nhì: thi 1 bài Phú và 1 bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Đề thi quanh quẩn trong chính sự, điển cố, vịnh cảnh, vịnh sử... tất cả đều là những chuyện xảy ra bên Tàu.

Vào Trường Ba: thi văn sách, chế, biểu, chiếu. Văn sách là đưa ra 1 câu (nhà vua hỏi quần thần) nằm trong sách vở Tống Nho đã học. Chế và Chiếu là mệnh lệnh do vua ban ra, Biểu là loại văn do Vua viết.

- Kiêng Húy : có khoảng trên 400 chữ húy. Phạm húy là phạm trường quy, bị hỏng và có thể bị kết tội.

Đời Lý về trước không kiêng húy, kiêng húy bắt đầu từ đời Trần trở về sau. Thời nào cũng có công bố một danh sách kiêng húy cho thí sinh học thuộc lòng. Đời Lê, đặc biệt vua Lê Thánh Tông bỏ lệnh này.

- Thi Hương: Đỗ thi Hương chia làm: Cử Nhân, được làm quan được tiếp tục thi Hội. Tú Tài không được làm quan trở về làng dạy học. Đỗ đầu Cử Nhân gọi là Thủ Khoa hay Giải Nguyên. Đỗ Cử Nhân nhiều nhất là năm 1825: Hà Nội: 28, Nam Định: 27, Thanh Hóa: 17, Nghệ An: 33, Huế: 10, Gia Định: 15.

Đỗ Tú Tài nhiều gấp đôi gấp ba số đỗ Cử Nhân.

- Thi Hội: Cử Nhân lên kinh đô thi Hội thường chỉ trên dưới 150 người, khỏi phải mang lều chỏng vì có lính cầm lộng che.

Số thí sinh cao nhất thuộc năm 1844 có 281 Cử Nhân.

Đề tài bài thi cũng như ở kỳ thi Hương, nhưng có thể hỏi thêm về thời sự, đạo Phật, chính sự... là những kiến thức không có trong sách vở. Các triều đại trước Nhà Nguyễn, người đỗ cao nhất trong thi Hội gọi là Trạng Nguyên (như Nguyễn Bỉnh Khiêm), dưới là Bảng Nhãn (như Lê Quý Đôn), dưới nữa là Thám Hoa (như Nguyễn Đức Đạt). Nhà Nguyễn dựa theo nhà Thanh bỏ: Thái Hậu, Thái Tử, Tể Tướng, Trạng Nguyên.

Theo “Các Nhà Khoa Bảng Việt Nam: 1075-1919” của Ngô Đức Thọ: số người đỗ thi Hội trong suốt 843 năm là: 2.896 trong đó triều Nguyễn có: 557, nhưng chỉ có 2 Bảng Nhãn (Phạm Thanh, Vũ Duy Thanh), 9 Thám Hoa (Mai Anh Tuấn, Hoàng Xuân Hiệp, Vũ Huy Dực, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giai, Ngụy Khắc Đản, Đặng Văn Kiều, Vũ Phạm Hàm...), còn những người xuất sắc trong thi Hội gọi là Hoàng Giáp (như Huỳnh Thúc Kháng).

Theo “Vietnam and the Chinese Model” của A.B.Woodsite, từ 1821-1850: trong 15 kỳ thi Hội ở Bắc Kinh có 3.269 Tiến Sĩ, trong khi ở Việt Nam chỉ có 124, mỗi kỳ trung bình 10 người.

- Thi Đình: tại sân nhà Vua, dành cho ai đã đỗ Tiến Sĩ, thường Vua làm giám khảo, đỗ đầu gọi là Đình Nguyên (như Phan Đình Phùng). Đỗ đầu thi Hương, thi Hội, thi Đình gọi là Tam Nguyên (nhà Nguyễn có 3 người: Trần Hi Tăng, Nguyễn Khuyến, Vũ Phạm Hàm). Đình Nguyên, hay Tam Nguyên, được Vua ban yến tiệc, mũ áo, cờ biển, ân tứ vinh quy, khắc bia, khắc cờ biển.

Đỗ Cử Nhân vinh quy bái tổ về làng ngồi trên cáng, cả làng đi rước, làng mổ bò heo ăn khao, nếu nhà nghèo, làng làm nhà cho. Đỗ thi Hội thì dạo phố cờ biển vinh quy, được khắc tên trên bia ở Văn Miếu.

Thời Nguyễn có những ông Tiến Sĩ chống Pháp như: Hoàng Diệu, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Tống Duy Tân, Hoàng Tăng Bí, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Đỗ Huy Liệu...

Có những ông Cử Nhân chống Pháp như: Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Trung Định, Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Văn Trị, Nguyễn Phạm Tuân, Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Dương Bá Trạc...

- Văn Học Khoa Cử: tức nền văn học do chế độ khoa cử tạo ra. Bộ sách “Di Sản Hán Nôm Việt Nam, Thư Mục Đề Yếu” do Viện Hán Nôm biên soạn với sự cộng tác của Nhóm Học giả Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, NXB KHXH xuất bản tại Hà Nội, năm 1993. Số thư mục là 5.038 quyển, nếu kể số tác phẩm cũ có 7.000 tác phẩm. Số sách chủ yếu từ Thế kỷ thứ 10 đến 1918 (lúc chế độ thi cử bằng chữ Hán chấm dứt):
1.Chính trị xã hội: gồm 99 quyển, trong đó có 46 quyển về quan chức; 53 quyển về bang giao.
2.Địa lý: gồm 277 quyển, trong đó có 67 quyển về bản đồ; 97 quyển về địa lý toàn quốc; 113 quyển về địa lý địa phương.
3.Kinh tế: gồm 90 quyển, trong đó có 76 quyển về nông nghiệp (địa bạ, ruộng đất) 14 quyển về thủ công nghiệp.
4.Lịch sử: gồm 967 quyển, trong đó có 165 quyển về sử học; 519 quyển về sử liệu; 283 quyển về gia phả.
5.Ngữ văn: gồm 2536 quyển, trong đó có 782 quyển về văn thơ hợp biên; 801 quyển về văn xuôi, văn biền ngẫu; 845 quyển về thơ; 36 quyển về tuồng chèo; 19 quyển về văn học thiểu số; 53 quyển về thư mục.
6.Pháp chế: gồm 316 quyển, trong đó có 111 quyển về luật nhà nước; 205 quyển về hương ước, khoán lệ.
7.Quân sự: gồm 23 quyển về binh thư, võ khí.
8.Tôn giáo: gồm 898 quyển, trong đó có 148 quyển về Nho giáo; 218 quyển về Phật giáo; 162 quyển về Đạo giáo (giáng bút, sấm...); 11 quyển về Thiên Chúa giáo; 70 quyển về phong thủy; 289 quyển về cầu, cúng, bói toán, sao hạn...
9.Văn hóa giáo dục: gồm 572 quyển, trong đó có 378 quyển về sách giáo khoa; 194 quyển về thi cử.
10.Y dược: gồm 398 quyển, trong đó có 105 quyển về dược liệu; 293 quyển về y trị.

Việc phân loại trên do Giáo sư Trần Nghĩa làm.
Theo bản phân loại trên: Có 194 quyển về thi cử gồm văn, phú, thơ (trong các trường thi) và tiểu sử những người thi đỗ. Có 801 quyển về văn gồm văn xuôi, văn biền ngẫu viết theo phong cách thi cử. Có 782 quyển về văn thơ hợp biên là những tuyển tập gồm nhiều tác giả nhiều đề tài khác nhau, mỗi tác giả có một hai bài để thí sinh bắt chước khi đi thi. Có 845 quyển về thơ gồm những bài thơ đủ thể loại mà đa số là thơ Đường luật thất ngôn bát cú, hay ngũ ngôn bát cú mà chế độ thi cử yêu cầu.

Số người học chữ Hán rất nhiều, nhưng không mấy ai học nói tiếng Hán.

Mỗi nhà Nho Việt Nam trước hết là một nhà thơ, vì số lượng sách về văn thơ là đại đa số, riêng các sách về nông nghiệp, địa lý, y dược… cũng đều có kèm thơ phú.

Sách về thủ công ghi tiểu sử các tổ sư, các nghề, nhưng không có một chỉ dẫn nào về kỷ thuật. Không có một quyển sách nào về thương nghiệp, về họa, thêu, dạy nấu ăn.

Sách về nông nghiệp chỉ có đôi câu bàn về nông nghiệp, phần còn lại là tục lệ, nghi lễ, văn học. Chỉ có 1 quyển bàn về ảnh hưởng của thời tiết đối với mùa màng nhưng lại là chữ Nôm.

Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng không có một quyển nào nói về kỹ thuật làm đất, canh tác, chọn giống, phân bón, trừ sâu, dẫn nước, trồng trọt (chỉ nói về quản lý ruộng đất, thu thuế, lấy thổ sản, giải quyết kiện tụng đất đai).

- Trong Dân Gian Việc Học do gia đình tự lo liệu, không liên quan tới nhà nước. Gia đình đủ ăn, nhà nào cũng muốn cho con đi học để biết dăm ba chữ Hán dùng trong việc tế tự. Nhà khá hơn muốn cho con đi học để làm ông làng ông xã, nhà khá hơn nữa muốn cho con đi học để lều chổng đi thi ra làm quan, nếu rớt thì trở về nhà làm thầy cúng, thầy thuốc, thầy địa, thầy đồ.

- Thầy Dạy Học: Thầy đồ được người giàu có mời tới nhà ở để dạy con họ, thầy đồ cũng có thể mở lớp dạy tại nhà mình. Trẻ muốn đi học, cha mẹ dẫn đến trình diện Thầy, nếu Thầy chấp nhận làm đệ tử thì làm lễ cúng “khai tâm” bằng một con gà cồ vừa mới tập gáy. Thù lao cho Thầy chỉ là một khoản tiền phải chăng vừa với túi tiền của các nông dân nghèo. Mùa nào thức nấy, mang đến biếu thầy để tỏ lòng biết ơn. Ngày lễ ngày Tết là dịp để đi lễ Thầy:
Mùng một thì ở nhà cha
Mùng hai nhà vợ, mùng ba nhà thầy

Học trò đi xa, đến ngày lễ, Tết cũng cố gắng về thăm Thầy cũ.


Thầy dạy học nghèo phải làm thêm các công việc như viết câu đối, làm văn tế... Muốn làm thầy đồ ít nhất phải là anh khóa (khóa sinh). Tùy theo chỗ trong kỳ thi Hương: nếu đỗ kỳ thi thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thì gọi là khóa sinh trường nhất, trường nhì, trường ba. Nếu đỗ Tú Tài thì gọi là Ông Tú. Có nhiều người đỗ Tiến Sĩ nhưng không làm quan mà trở về làng dạy học, thường học trò rất đông lên đến hàng trăm, phải cử một anh học trò trưởng để giúp Thầy gọi là Trưởng Tràng. Bạn cùng học một Thầy gọi là bạn đồng môn.

Nổi danh đời Trần có trường của Chu Văn An, đời Mạc có trường của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đời Lê có trường của Nguyễn Thiếp, của Lê Quý Đôn, đời Nguyễn có trường của Nguyễn Đức Đạt, của Võ Trường Toản, của Nhữ Bá Sĩ...

Nền giáo dục Việt Nam xưa chịu ảnh hưởng Trung Hoa nặng nề từ chương trình, sách vở, lối học, đến cách thức thi cử. Học giả Đào Duy Anh viết:

“Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do.”

- Trường Học: phần lớn tại tư gia, chùa, đình, miểu, trong làng. Giáo dục được xem như là công việc của các Nho gia hơn là của triều đình. Không có một hệ thống tổ chức gồm cơ sở, nhân viên giảng huấn và điều hành từ trung ương đến địa phương. Chương trình học gồm mấy quyển sách như đã nói, tất cả chỉ chú trọng vào thơ văn, luân lý, đạo đức, không quan tâm đến khoa học, kỹ thuật. Phương pháp học tập dựa vào “nấu sử sôi kinh” và tập viết chữ đẹp như “phượng múa rồng bay”, làm thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách phải cho thật nhanh thật chỉnh, dùng càng nhiều điển tích càng tốt mới hy vọng đỗ đạt: “Tiến vi quan, thối vi sư”.

Lớp trí thức này gọi là sĩ phu đứng đầu trong xã hội, thuộc hàng ngũ lãnh đạo giúp vua trị nước, là bậc thầy trong xã hội, đóng vai điều khiển hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh hoạt bảo vệ và xây dựng đất nước. Lớp sĩ phu này cũng như cái học cũ của nhà Nho đã ngự trị trong xã hội Việt Nam từ thời Lý Trần cho đến thời Pháp thuộc.

- Cách dạy học: Quyển thầy dạy đầu tiên là Tam Tự Kinh: mỗi câu 3 chữ có vần do Vương Ứng Lân đời Tống biên soạn. Rồi đến Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết, Minh Tâm Bảo Giám cũng đều là sách có vần. Học trò phải học thuộc lòng và tập viết, viết được 8 hàng trong một trang giấy thì bắt đầu tập viết Ám Tả (viết một đoạn thuộc lòng). Học xong giai đoạn vở lòng này thì học đến Tứ Thư (Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học, Trung Dung) rồi tập làm câu đối, xong bước qua học Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Lễ, Xuân Thu, Kinh Thư, Kinh Dịch) rồi học làm một đoạn, hai đoạn (có sẵn những đoạn văn mẫu đủ loại như: phú, văn sách, kinh nghĩa, tứ lục... cứ thuộc lòng văn mẫu, khi thi cứ cứ theo văn mẫu mà viết), đồng thời học Bắc Sử (Sử Trung Quốc), Thông Giám Cương Mục của Chu Hi (từ đầu cho đến hết thời Bắc Tống năm1121).

Chế độ thi cử cũ kéo dài đến năm 1918 là chấm dứt, Nho học nhường chỗ cho Tây học, chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán.

Vì là lối học từ chương nên người có trí nhớ tốt chỉ cần học vài ba năm là có thể nhớ hết (khoảng 5.000 trang) do đó có người đỗ Tiến sĩ khi chưa đến 20 tuổi.

Chế độ học tập thời xưa tạo nên một đất nước yêu quý văn học, ham học. Theo tác giả Phan Ngọc: “Tỉ lệ người biết chữ ở Việt Nam đông hơn” nếu đem so sánh với các nước ở Âu Châu trước cách mạng Pháp. Tác giả Phan Ngọc cũng viết:

“Mặc dù việc học ngày xưa rất sơ sài nhưng công việc dạy học lại được quý trọng hết sức. Lý tưởng người trí thức xưa là “Nếu tiến lên thì làm quan, nếu rút lui về làng thì làm thầy”. Còn nhân dân thì có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, ông thầy được xếp hạng nhì trong ba người phải tôn trọng: “Quân, sư, phụ”. Những người cùng học chung một trường gọi nhau là đồng môn suốt đời gắn bó với nhau. Thầy chết học trò để tang 3 năm ngang với cha mẹ. Nếu thầy chết không ai tế tự, thì học trò phải làm nhà thờ, làm giỗ.


IV. THỜI PHÁP THUỘC (1883-1945) :

Theo Hòa ước Quý Mùi (1883) nước Nam chịu nhận nước Pháp bảo hộ, khi Pháp đặt xong nền bảo hộ thì “Cái học nhà nho đã hỏng rồi. Mười người đi học chín người thôi – Trần Tế Xương” Nho học nhường chỗ cho Tây học: lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Trường học gồm các trường công do Pháp xây dựng và một số trường tư nhằm đào tạo lớp trí thức biết tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ cùng ít nhiều kiến thức Tây phương mà phần lớn là để làm công chức cho chính phủ thuộc địa cũng như âm mưu đồng hóa người Việt Nam thành người Pháp về mặt văn hóa.

Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers từ 1879-1892 thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa đầu tiên tại Nam Kỳ, mở một số trường sơ học tại làng, tiểu học tại tổng, sang đầu Thế kỷ 20 thì thiết lập tại Trung và Bắc Kỳ.

Năm 1902, ông Doumer về Pháp, ông Paul Beau sang thay làm Tổng Đốc Toàn Quyền chủ việc khai hóa dân trí, lo mở mang sự học hành...Theo quyết định của Toàn quyền Paul Beau năm 1906-1907, một hội đồng cải tổ giáo dục được thành lập để đem chữ Pháp, chữ Quốc ngữ và nền tân học vào chương trình học và chế độ thi cử mới. Các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh phải dạy thêm chữ Quốc ngữ cho học trò ngoài chữ Hán.

Từ năm 1909 có chút đổi mới trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, như thêm 1 bài luận chữ Quốc ngữ, thêm 1 bài dịch Pháp văn ra Việt văn.

Năm 1910 có thêm bài thi cách trí, địa dư Việt Nam, lịch sử Pháp, nhân vật nước nhà, thời sự. Bài thi được chấm điểm theo Pháp với thang điểm từ 0 đến 20 với 6 hạng trúng tuyển: Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa, Đệ nhị giáp Tiến sĩ, Đồng Tiến sĩ và Phó bảng.

Năm 1907 mở một trường đại học ở Hà Nội nhưng đến năm 1918 mới hoạt động.

Năm 1918 ban hành một hệ thống giáo dục mới có quy củ thống nhất trên toàn quốc về hành chánh, chương trình học, qui chế giáo chức và tổ chức thi cử. Cái học cũ hoàn toàn chấm dứt.

Hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc gồm 3 bậc :

1. Trường tiểu học: chia 2 cấp :
- Cấp Sơ học: gồm các lớp Đồng ấu (hay lớp Năm), lớp Dự bị (hay lớp Tư), lớp Sơ đẳng (hay lớp Ba).
- Cấp Tiểu học: gồm lớp Nhì Một Năm (lớp Nhì Một Năm trở lên dùng toàn tiếng Pháp trong các môn học), lớp Nhì Hai Năm và lớp Nhất.
Trường Sơ cấp ở làng, trường Tiểu học ở tổng hay quận. Tại tỉnh lỵ có trường Tiểu học lớn.
Học sinh trường làng học xong lớp Ba, phải thi vào lớp Nhì Một Năm ở tỉnh. Khi xong lớp Nhất phải thi bằng Sơ Tiểu hay CEPCI (Certificat d’ Études Primaire Complémentaire Indochinoise), đậu bằng CEPCI được thi tuyển vào lớp Năm Thứ Nhất trường Trung học.

2. Trường Trung học (Collège hoặc Lycée): Chương trình học theo Pháp, chia 2 cấp:
- Cấp Cao đẳng Tiểu học (như Đệ nhất cấp sau này) gồm các lớp: Năm Thứ Nhất (Première Année), Năm Thứ Hai (Deuxième Année), Năm Thứ Ba (Troisième Année), Năm Thứ Tư (Quatrième Année) rồi thi bằng Thành Chung hay Cao Đẳng Tiểu Học tức DEPSI (Diplôme d’ Études Primaire Supérieures Indochinoises).
- Ban Tú Tài gồm: lớp Seconde (như Đệ Tam), lớp Première (như Đệ Nhị). Học xong lớp Première thi Tú Tài I, đậu thì vào lớp Terminale (như Đệ Nhất) rồi thi Tú Tài II. Đậu Tú Tài II mới vào Đại học.
Thời Pháp, Trung Tiểu học theo hệ thống 6-4-3, thời Việt Nam Công Hòa theo hệ thống 5-4-3.
Trước 1945, chỉ có một trường đại học duy nhất tại Hà Nội cho toàn Đông Dương.


V KẾT LUẬN :

Việc học hành thi cử ngày xưa kể từ năm1945 trở về trước đã có những mặt yếu kém của nó như đã phân tích trên, tuy nhiên từ ngàn xưa, người Việt vẫn tự hào mình là con Rồng cháu Tiên có 4.000 năm văn hiến rực rỡ lâu dài, có truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, thông minh, cần cù, chăm chỉ... do đó thời kỳ nào cũng xuất hiện những nhân tài lỗi lạc về các lãnh vực tôn giáo, chính trị, quân sự, văn học, giáo dục...

Ngày nay nếu chế độ giáo dục thi cử được quan tâm đúng mức, tất cả các con em đều được đến trường, rất cả các học sinh ưu tú đều được giúp đỡ khuyến khích, chương trình giảng dạy, thi cử dựa trên ba nền tảng đức dục, trí dục, thể dục (riêng trí dục chú trọng về khoa học kỹ thuật) thì triều đại Nhà Lý - Đại Việt, một triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Việt Nam sẽ được trung hưng trên mảnh giang san gấm vóc hình chữ S này.


VINH HỒ
- Tháng 2/2007

Tài liệu tham khảo :
- Nhận định các giá trị lịch sử Việt từ năm 2.879 tới năm 207 trước công nguyên của Vương Đàm đăng trên báo Khơi Nguồn số 2 tháng 11/2005
- Truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam, Nguyễn Thanh Liêm, ViệtBáo Daily Online, ngày 26/10/2006
- Vai trò của các Trường Trung học Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Ký, Gia Long hồi tiền bán thế kỷ XX, Nguyễn Thanh Liêm, Đặc san Xuân Đinh Hợi của Cộng Đồng Việt Nam TT FL
- Bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA, thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam, Trần Đại Sỹ, đăng trên Nguồn số 27 tháng 7/2006
- Bản sắc Văn Hóa Việt Nam của Phan Ngọc, Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2002
- Non Nước Khánh Hòa, Nguyễn Đình Tư, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2003
- Việt Nam Sử Lược quyển I và II, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu xuất bản 1971
- Sài Gòn 300 Năm Cũ, Nguyên Hương Nguyễn Cúc, Tiếng Sông Hương xuất bản tại Dallas, TX, 1999


(Trích đăng từ Đặc San Hội Ngộ Võ Tánh-Nữ Trung Học Hè 2007 tại Orlando Florida )

- Thân mời đọc thêm :
- Vinh Hồ : Vài nét về hai ngôi trường cũ : Trung Học Võ Tánh - Nữ Trung Học Nha Trang