Có một điều… Hương Cao Như thường lệ, hàng năm cứ đến cuối tháng 6, đầu tháng 7, tôi lại làm một chuyến viễn du, rời vùng đất giá lạnh , tìm về miền nắng ấm cho người bớt mốc meo. Năm nay, bỗng dưng cái máu Tây ba lô nổi dậy, tôi bèn làm một cuộc hành trình lang thang nhiều nơi. Hành trình dự định đi Las Vegas trước, nhưng khi hỏi người bạn về thời gian có thể tiện gặp nhau, tôi lại đổi thành đoạn ghé chót. Và chỗ ghé trước tiên là Vancouver. Chẳng là chúng tôi muốn xem sinh hoạt nơi đây như thế nào để nếu có thể, khi về hưu, dọn về miền nắng ấm này. Với ý nghĩ lần đi này càng ít bị lệ thuộc bạn bè đưa đón chừng nào càng tốt chừng ấy nên tôi đặt vé máy bay cùng xe để khi đến phi trường lấy xe, lái luôn về khách sạn cho tiện. Chà, một cuộc du lịch đầy hứng thú. Đúng như dự liệu, chúng tôi đến phi trường, lấy xe còn rất sớm, chưa tới giờ nhận phòng, sẵn có xe, chúng tôi lái vòng vòng quanh thị xã gần phi trường, với tấm bản đồ mà mấy tháng trước tôi đã tậu để xem cho quen. Đi vài ba tiếng đồng hồ hầu như chúng tôi biết gần khắp thị xã. Ghé vào tiệm ăn trước khi đến nhận phòng. Về phòng tắm rửa, nghỉ ngơi thật thoải mái và cảm thấy thán phục quyết định của mình lần này. Chiều xuống nhưng mùa hè của xứ này, trời vẫn sáng chói, chúng tôi quyết định rời khách sạn đi thêm một vòng, ăn tối. Hình như những thành phố của Canada giống giống nhau, cũng Safeway, cũng Superstore, cũng những mall với những cửa tiệm mà khi bước vào, nhắm mắt cũng biết cách sắp xếp của các đồ vật bên trong. Vì bắt gặp những cảnh quá quen thuộc nên chúng tôi quyết định ăn xong, về, …ngủ. Sáng hôm sau chúng tôi quyết định vào thành phố sớm để nếu có vì lạ đường, lái lớ ngớ cũng không sợ bị phàn nàn. Không khí dìu dịu của buổi sáng mùa hè thật thoải mái. Ở một nơi quá lạnh, tôi chưa bao giờ được mặc áo cánh tay, nay phong phanh với cái áo cánh tay. Thật hạnh phúc làm sao. Vì người coi bản đồ chậm hơn người lái nên cứ bị tình trạng đi lố đường. Không sao, cứ đi tới, coi bản đồ, tìm đường, quay lại. Chạy vòng vòng cuối cùng cũng tìm được phố. Lạng một vòng quanh các phố rồi tìm đường ra biển? Ôi! Bao lâu rồi không thấy biển!!! Nhìn biển mà lòng chùng xuống. Nhớ Nha trang vô hạn. Cũng đá chồng lên nhau, cũng tàu cũng bè, cũng cát…đen (không trắng như bãi biển Nha trang), cũng nước xanh, sóng vỗ. Men theo bãi biển, chúng tôi đến công viên Stanley, nơi nổi tiếng có một vườn hồng rất đẹp. Công viên quá rộng khiến chúng tôi lạc lui lạc tới, quay vòng vòng, cuối cùng cũng tìm ra được vườn hồng. Những con đường mòn với hàng cây cao vút cho ta cảm giác đang đi trong rừng. Trong công viên hoang dã như vậy, vẫn tìm được nhà vệ sinh sạch sẽ tiện nghi, đây có lẽ là khác biệt nhất của bắc Mỹ với Châu Âu. Ở Pháp, đi đỏ mắt không tìm ra nhà vệ sinh, tìm được nhà vệ sinh thì than ôi!!! phải trả cả 1 EU cho một lần xả….xui. Đến trưa thì hầu như chúng tôi đi gần hết những nơi đáng đi. Kiếm chỗ ăn trưa, về khách sạn nghỉ ngơi, chiều đi tiếp. Sau giấc ngủ ngắn, vẫn cứ lười biếng nằm trên giường, tự hẹn, chiều nắng tắt rồi đi, chiều nắng tắt lại hẹn tối, đến tối, lười biếng nói : Đi như vậy là đủ rồi, ngủ. Sáng hôm sau dậy sớm chuẩn bị ra phi trường. Vừa đánh răng, vừa nhìn gương, vừa nghĩ ngợi. Có một điều gì đó mình không nghĩ ra. Nhíu mày. Không lẽ cả một thành phố Vancouver chỉ một ngày rưỡi đến, đã khiến mình không còn muốn đi nữa sao? Điều gì làm mình không còn hứng thú nữa ??? Nhớ Lưu vô hạn. Kỳ đến Vancouver trước có Lưu, theo Lưu về Victoria, cùng nhau ôn những kỷ niệm xưa. Tôi kết bạn với Lưu từ năm đệ ngũ. Thân nhau vì cùng nghịch ngợm như nhau. Hai đứa cho đến lớn vẫn kêu nhau mi tau, dù Lưu đã trắng muốt trong bộ đồ hải quân, tôi yểu điệu trong tà áo dài tha thướt. Mỗi lần lên bờ Lưu thường ghé đến sở tôi rủ đi dạo phố Saigon. Nhớ những ngày học thi, tôi hay tới nhà Ky ở rọc rau muống học đêm. Lưu và Hạnh cũng là cư dân rọc rau muống, nửa đêm học mệt, hai anh con trai tới đấu hót vui như ngày hội. Qua Canada một thời gian, một buổi tối chuông điện thoại reo, tôi bắt lên. Đầu bên kia vang lên một giọng nói rất xúc động : “Hương đó hả? Lưu đây. Trong đám bạn bè chỉ còn mi kẹt lại. Qua Mỹ kỳ nào tau cũng hỏi tin mi. Lần này biết được số điện thoại của mi, tau vừa bước chân vào nhà là điện thoại cho mi đây” . Tôi thật sự cảm động khi cảm nhận được tình cảm bạn bè gắn bó qua giọng nói của Lưu. Chúng tôi nói chuyện như ngày nào còn bé. Sau đó, dù mới qua, điều kiện kinh tế còn eo hẹp, tôi vẫn quyết định qua Vancouver thăm Lưu. Có ngờ đâu lần gặp này là lần gặp cuối cùng của hai chúng tôi. Lưu từ giã cuộc đời vài năm sau đó. Mang trong đầu hình ảnh thật đẹp của cuộc gặp gỡ ngày nào, tôi hăm hở đến Vancouver để rồi rơi vào sự rỗng lặng, À, bây giờ thì tôi biết rồi : thiếu bạn nên tự nhiên tôi không còn hứng thú đi thêm nữa. Những lúc đi chơi xa tôi thường kết hợp sự nghỉ ngơi với gặp bạn bè, nên chọn những nơi có bạn để tới. Lần này như Kha Luân Bố đi tìm đất mới, tôi không nghĩ đến chuyện gặp bạn bè ở Vancouver nên đã bị rơi vào một nỗi trống rỗng vô vị sau khi làm xong một vòng quanh thành phố. Để xem. Tôi còn đi nhiều nơi sau Vancouver. Trả xe, khám xét, lên máy bay, tới LAX. Chưa xong, tôi còn phải bắt máy bay để qua San Jose gặp Đạm, người bạn của một thời tuổi nhỏ. Ối trời ôi, máy bay đi San Jose khiến tôi nhớ đến chiếc DC6 đã chở tôi từ Nha Trang đi Saigon, từ Saigon về Nha trang quá chừng. Nó nhỏ đến độ tất cả hành lý xách tay bị áp đặt đưa vào khoang máy bay hết. Ngồi trong máy bay mà cứ lảng đảng nhớ đến chiếc DC3, DC6 của những thập niên 60-70 đến độ máy bay đáp xuống cũng không hay. Phi trường San Jose có lẽ nhỏ như Tân Sơn Nhất dạo nào nên máy bay cũng nhỏ luôn. Vợ chồng Đạm bước vào đúng lúc chúng tôi tới chỗ xuống hành lý. Tay bắt mặt mừng Chúng tôi không gặp mặt nhau có hơn mười năm không chừng. Lên xe, nói chuyện huyên thuyên. Về khách sạn bỏ hành lý, rồi đi ăn, lại ríu ra ríu rít. Ôi thôi cả ngàn chuyện nói với nhau không ngưng. 11g đêm mà hai mắt vẫn sáng. Tuy nhiên để bảo toàn lực lượng cho những ngày kế tiếp, tạm chia tay, hẹn gặp ngày mai. Hôm sau, đúng 9g sáng, vợ chồng Đạm có mặt. Chương trình Đạm sắp đặt là đi San Francisco. Tuy nhiên chúng tôi vẫn đủng đỉnh đi ăn sáng. Sau đó la cà café. Tôi có cảm giác Pagode được dọn đến San Jose. Chào hỏi nhau rôm rả, bàn nọ la cà qua bàn kia tưởng như mọi người đều quen biết nhau. Không khí quán café ở San Jose không khác Saigon dạo nào. Gợi trong tôi một nỗi nhớ khôn nguôi. Rời quán café, chúng tôi trực chỉ đi San Francisco. Nếu San Jose cho tôi một cảm giác thân thương của Saigon ngày xưa thì phố phường San Francisco cho tôi cảm giác đang đi vào một nơi ở Châu Âu. Hàng hoá tràn ngập, rẻ và…dỏm. Người đông như trẩy hội. Đạm đưa đi qua cầu treo, về cầu khác, khỏi trả tiền cầu nhưng tiền xăng…gấp đôi. Ghé đến nhà một sư huynh cũng học Võ Tánh nói chuyện cho đến khuya. Bịn rịn chia tay nhau. 12g khuya về tới khách sạn. Tắm rửa là lên giường …ngáy. Không có thì giờ nằm dài đọc sách như ở Vancouver. Đạm lại tới đúng 9g sáng, chúng tôi dắt nhau đi ăn sáng, lại café, lại la cà, chuyện đâu mà lắm thế, cứ như cả ngàn năm dồn lại trong mấy ngày. Người này dành người kia nói. Đôi khi ngồi cả trong miệng nhau. Có lúc anh nói anh nghe, tôi nói tôi nghe, chúng ta cùng nói, cùng nghe. Vui thật là vui. Chiều hôm đó chúng tôi được vợ chồng Đồng mời đi ăn. Ước gì thời gian ngừng trôi. Những kỷ niệm cũ lại được nhắc nhở, chuyện mới pha chuyện cũ, nói cười rôm rả. Ăn xong về xem nhà mới của Đồng. Căn nhà thật đẹp…bên ngoài. Bên trong thì …hình như không có người dọn dẹp. Sách vở khắp nơi. Được ở trong căn nhà này chắc thoải mái lắm vì khỏi sợ sơ ý làm…dơ nhà. Cũng 12g mới bò về khách sạn. Bịn rịn chia tay với Đạm để ngày mai đi Los. Xe của khách sạn đưa ra phi trường hơi sớm, kiểm soát hành lý xong, ngồi thoải mái đọc sách chờ giờ lên máy bay. Cũng chiếc “DC6” nhỏ bé, hành lý xách tay lại phải đưa vào khoang. Tới Los khoảng trưa. Tuấn bạn em trai tôi tới đón. Bở ngỡ ban đầu, rồi chuyện trò. Thì ra ở một chỗ mà ai cũng quen nhau, Tuấn là em của Thuần Khê bạn tôi. Đoạn đường từ phi trường tới nhà em tôi không xa lắm. Cám ơn Tuấn đã bỏ thì giờ ra phi trường đón tôi. Phi trường Los quá lớn, 7 terminal, làm người đón khá chật vật. Cuối cùng thì tất cả cũng êm xuôi. Ở Los, người bạn đời của tôi không dám lái xe vì…sợ. Đường xá ở Mỹ kinh khủng quá, không hiền hoà như ở Canada nên …lạnh gáy. Chỉ một năm không gặp, hai đứa cháu trai song sinh lớn như thổi, đã cao hơn tôi cả nửa cái đầu. Trẻ con VN thế hệ sau này sao cao lớn quá. Hôm qua đi ăn đám cưới gặp hai em gái học trò cũ, mới ngày nào đứng ngang vai cô, nay cao hơn cô cả cái đầu. Một dấu hiệu đáng mừng. Lại xáp vào nói chuyện không ngơi với cô em dâu. Nào chuyện nấu ăn, nào chuyện vườn tược, áo quần, phim ảnh, nói đến khản tiếng. Sáng sớm, đứa em trai đã rủ đi dạo. Thật không thể tưởng tượng, sau lưng của một khu đô thị náo nhiệt là một khu…rừng. Cây cao vút hai bên đường, chim kêu, thiếu vượn hú là đủ bộ rừng rú. Không khí trong mát. Đi khoảng 2 mile là tới biển nhưng chúng tôi chỉ đi nửa đường thì quay về vì còn sửa soạn cho bữa ăn chiều. Buổi chiều gia đình người chị họ đến, chúng tôi ra vườn nướng thịt. Chị họ đem đến nào bánh bột lọc, nào chả giò, mì xào, khiến tiếng là ăn thịt nướng nhưng thịt nướng chỉ được đụng qua đũa mà thôi. Lại tiếu lâm, chuyện trò rôm rã. Từng tràng cười nối nhau không dứt. Khách khứa về, các cháu dắt nhau đi xem pháo bông, tôi đi ngủ sớm để còn tiếp tục những ngày kế. Sáng sớm đã nhận được điện thoại chủa chị Chi nói cở 9g tới đón. Sửa soạn trước ngồi chờ là thói quen của tôi, để khỏi làm phiền người khác phải chờ. Đường hơi khó tìm nên hơn 9g thấy xe chị Chi là tôi chạy ra ngay. Chị Chi là con thầy cô Nguyễn Bá Mậu dạy tôi từ ngày tóc còn để chỏm. Tôi thương mến thầy cô Mậu lắm. Kỳ hè nào qua Cali cũng tìm cách đến thăm thầy cô, đến nay thì các chị Chi, Diệp đã trở nên thân thuộc đối với tôi. Ông xã chị Chi thật mát mẻ, mạnh khoẻ trong bộ đồ soọc. Nhìn lại mình, quần tây, áo dài tay cứ như dân…Esquimo !!! Tay bắt mặt mừng, nói nói cười cười, cơ man nào là chuyện. Xe chạy ra biển, chạy suốt dọc biển. Rơi vào ngày lễ nên người đi chơi đông quá, vì vậy dự định qua phà, phải chuyển sang ngồi nhìn…tàu, ăn trưa và ước thành… triệu phú để mua một trong những chiếc tàu trước mặt. Nắng lên cao nóng ơi là nóng. Lần đầu tiên từ ngày tậu cái kiếng, tôi gắn tròng mát vào để tránh cái nắng chói chang. Về tới nhà nghỉ ngơi chút xíu, chị Chi cho bọn tôi tới Phước Lộc Thọ …hít-tu-kin, chờ 6g tới tiệm nem Ninh hoà gặp chị Diệp và anh An, phu quân của chị Diệp. Lại mừng mừng tủi tủi, bắt tay nhau thân thiết. Lại nói rào rào như mưa rơi, như bắp nổ. Ở đây tôi lại bắt gặp một điều rất là VN, đó là dành nhau trả tiền. Ai cũng muốn trả tiền cả khiến không khí có vẻ náo nhiệt. Cuối cùng anh An thắng, được…móc túi. Người Mỹ thấy chắc họ ngạc nhiên lắm. Trả tiền mà phải dành nhau. Có lẽ vì vậy mà đi đâu cũng nhớ VN, nhớ những cái đáng yêu lẫn đáng ghét của VN. Ăn xong, chia tay với chị Chi, hẹn ngày mai gặp, rồi đi theo chị Diệp về nhà chị một đêm để sáng gặp thầy. Thầy nay trên 100 tuổi nên ngủ nhiều hơn thức. Năm ngoái tôi tới nhằm lúc thầy ngủ, ngồi nói chuyện với chị Diệp rồi về, nên năm nay phải “phục kích” để được chuyện trò với thầy. Về tới nhà đã tối, vừa chuyện trò vừa mở băng “Lá thư từ chiến trường” xem, bình luận rôm rã. Xem phim mà không có bạn để bàn Mao Tôn Cương thì thật là buồn. Mấy ngày liên tiếp thức khuya, tôi đã buồn ngủ rục rã nhưng nghĩ đến mình chỉ có 1 ngày bên nhau, thấy phí quá nếu mình đi ngủ nên cố nhướng mắt nói chuyện. Cuối cùng cũng phải chịu thua cơn buồn ngủ. Thói quen dậy sớm đánh thức tôi từ 5g sáng. Rón rén ra ngoài. Khí trời buổi sáng thật mát mẻ. Đi dạo một vòng quanh sân sau, nhìn hoa nở. Ghé mắt nhìn 3 phía hàng rào ngăn cách hàng xóm, thấy cây đã đốn trụi, nhường chỗ cho 3 cái hồ bơi xanh biếc, tôi mỉm cười vu vơ, nghĩ đến câu “Bất chiến tự nhiên thành”. Kéo ghế ngồi bên hồ nước nhỏ anh An làm rất mỹ thuật, nhìn cá bơi, hoa súng nở. Lần đầu tiên tôi được chính mắt nhìn một đoá hoa súng từ từ nở. Hoá ra khi mặt trời vừa lên, đoá hoa súng đang búp nụ, hé dần. Mặt trời càng cao, hoa súng càng loé to ra. Nhìn hoa súng chợt nghĩ đến đời người, từ khi sinh ra đến lớn, già … cũng từ từ như đoá hoa súng nở rồi tàn vậy. Trầm tư trước hồ nước, thời gian trôi không hay. Trong nhà đã dậy, sửa soạn ăn sáng. Tôi rời hồ cá, vào tham gia, chờ anh Phạm Tín An Ninh hẹn 9g sáng sẽ tới thăm thầy. Sửa soạn ăn thì thầy dậy. Tôi vội tới nắm tay thầy, thầy nắm chặt tay tôi không rời, tôi vừa đi theo xe vừa giữ tay thầy. Thầy vẫn nhớ tôi, đứa học trò nghịch ngợm, hay vào lớp bằng đường…cửa sổ, nói chuyện liên miệng khiến nhiều lúc thầy phải đuổi cổ ra hành lang đứng để khỏi làm phiền các bạn học khác . Tôi nghĩ có lẽ đây là điểm chính mà ba má tôi quyết định không để tôi vào trường công cho dù tôi thi đậu trung học. Tôi nghĩ tôi vào trường công chắc 3 ngày là bị đuổi học. Tôi lớn lên, phát triển dưới sự bao dung và dạy dỗ của thầy cô, không bị thui chột vì những kỷ luật quá khắc khe, nên tính tình tôi cũng phóng khoáng theo sự rộng mở nầy. Đó là điều tôi thật lòng mang ơn thầy cô cho dù cô đã phạt tôi suốt hai năm trường, ngày nào cũng phải đứng lên đọc câu : “Il faut tourner la langue sept fois avant de parler”. Câu này đã theo tôi suốt đời. Mỗi lần muốn nói điều gì quan trọng là tôi lại suy nghĩ, có nên nói không ? Và nói như thế nào? Uốn lưỡi 7 lần. Uốn lưỡi 7 lần. Lời dạy không bao giờ quên. Ăn sáng xong, thầy vào giường nằm, chúng tôi tiếp tục ngồi nói chuyện, chờ anh An Ninh. Anh đến thật đúng giờ. Vui quá. Lần đầu tiên gặp sư huynh. Con gái anh lái xe đưa ba đến. Cô con gái thật xinh đẹp. Đưa nhau ra phòng khách, chuyện trò râm ran. Ngồi nói chuyện với anh An Ninh mà điện thoại tay của anh reo liên miên. Tôi chọc anh rằng nay anh đã thành VIP rồi. Hai hôm trước điện thoại để hẹn anh ngày giờ đến thăm thầy Mậu, anh đang dự cuộc nói chuyện với đài truyền hình khiến tôi giựt thót người, mình đã vô tình làm phiền anh. Gác điện thoại xuống tôi nghĩ : Chà mình quen với một VIP mà không biết. Anh bận rộn vì quyển sách sắp ra mắt ở Santa Ana. Chị Diệp vào phòng đẩy xe thầy ra. Chúng tôi cùng nhau chụp hình với thầy. Tình cảm quấn quit nhẹ nhàng thật cảm động. Tình thầy trò hơn 40 năm mà không hề phai lạt. Thầy ngồi một lát rồi vào phòng, chúng tôi tiếp tục nói chuyện như pháo nổ. Con gái anh An Ninh làm tôi rất ngạc nhiên. Điều đầu tiên khiến tôi kinh ngạc là kiến thức của cháu về văn chương, chính trị rất sắc bén. Điều thứ hai làm ai cũng phải tròn mắt khi cháu nói cháu 37 tuổi. Trông cháu chỉ hơn 20 tuổi thôi. Trẻ, đẹp, thông minh, ăn nói dịu dàng khiến không ai nghĩ cháu trên 30 tuổi. Điện thoại tay của anh An Ninh vẫn tiếp tục reo. Mãi đến 1g mới quyết định rời nhà đi thăm mộ cô Tùng Linh. Cô mất đã 5 năm. May mắn là những ngày cô còn tại thế tôi đã được thăm viếng cô mấy lần. Khu nghĩa trang thật bình an. Bia mộ nằm sát đất nên trông rất thẩm mỹ, không có cái vô, cái ra, cái lồi cái lõm như bia mộ dựng đứng. Mộ cô gần đường nên chỉ vài bước là tới. Anh An Ninh rất chu đáo, đem 2 giỏ hoa, một giỏ gởi thầy, một giỏ đưa lên mộ cô. Anh An Ninh xúc động nước mắt chảy dài, lầm rầm nói chuyện với cô. Chúng tôi ngồi quanh mộ chụp hình lưu niệm. Sau đó hai sư huynh muội chúng tôi chụp chung với nhau. Chia tay nhau mà lòng quyến luyến không nở rời. Tiếc rằng thời gian quá eo hẹp, 3g chiều anh An Ninh còn một cái hẹn khác, phải chia tay thôi. Mong được gặp lại anh lần sau với thời gian rộng rãi hơn. Chúng tôi vào nhà, chị Diệp sửa soạn bữa nướng thịt ngoài trời chiều hôm ấy. Gặp lại Quang, em chị Diệp. Tôi nghĩ có lẽ hơn 40 năm rồi. Tôi và Quang học cùng lớp năm đệ ngũ, đệ tứ gì đó. Quang hiền lành, tôi nghịch ngợm vì vậy chỉ gặp mặt trong lớp chứ chưa bao giờ nói chuyện với nhau. Anh, em chị Diệp hoạt bát, vui vẻ, chúng tôi xáp vào là nói chuyện không thôi. Thầy Mậu vẫn nhớ “cái con nói chuyện không nghỉ”, cứ chép miệng lắc đầu hoài. Đem đến cho thầy một chút hoài niệm của những ngày êm đềm xa xưa cũng nên lắm chứ. Ngày vui nào cũng phải tàn. Trời bắt đầu sụp tối, phải về sớm vì 2 vợ chồng chị Chi còn phải lái xe đưa tôi về Los, đoạn đường khá xa. Bịn rịn chia tay nhau hẹn ngày gặp lại. Năm nay tôi có một sơ xuất lớn đó là lịch trình của tôi tréo với Gái, người bạn rất dễ thương của tôi. Khi tôi báo cho Gái biết là 03-07 tôi có mặt tại Los thì Gái bảo tôi xuống nhà ở lại đêm để sáng 04-07 đi Las. Trật chìa nữa rồi. Lỗi tại tôi vì khi mua vé máy bay tôi không hề nghĩ 04-07 Gái lại đi chơi xa. Thường khi qua Los tôi hay ở nhà Gái, Gái dẫn đi Las chơi. Có năm qua lúc thúc ở nhà với Gái nửa tháng không đi chơi đâu cả. Mục đích của tôi là chỉ đi thăm bạn thôi chứ Los thì tôi đã đi quá nhiều lần, có còn chỗ nào lạ nữa đâu. Đến đây thì tôi biết chắc chắn một điều, điều mà tôi loáng thoáng thấy được khi ghé Vancouver, đó là những cuộc đi chơi xa của tôi chỉ là cái cớ để đi gặp bạn bè. Đó chính là nhu cầu của tôi, là mạch sống của tôi. Qua Vancouver vì mất mạch sống này, cuộc đi chơi trở nên nhạt nhẽo. Xin lỗi Gái và anh Tường. Nhớ đám con dễ thương của anh Tường lắm. Ty, Ni, Tập, Nô, Định. Cháu nào cũng thông minh và dễ thương cả. Lần sau chắc chắc sẽ điện thoại cho Gái để sắp xếp lộ trình cho khớp nhau, không trớt wớt như năm nay. Từ giã Los để tới Las. Đoạn đường này mới nhiều trắc trở. Ngay từ những ngày đầu dự tính đi đã trục trặc, đổi tới, đổi lui. Đến giờ chót mà cũng có trục trặc. Số là sau những thay đổi qua lại, bạn tôi hứa sẽ tới đón tôi ở phi trường và đưa tôi đi ra phi trường. Vì vậy tôi không lấy khách sạn ngày chót, định đến nhà bạn ở để sáng mai đi cho tiện, thế mà cũng bị xáo trộn. Giờ chót bạn tôi nói không thể đón tôi được vì phải đưa một người bạn khác đi chơi. Tôi hơi bối rối nhưng không sao, Las nhỏ, không làm khó tôi được. Vào net tìm chỉ dẫn. Biết được chút ít, tôi thẳng tiến. Đến phi trường, ra đường định đón taxi thì thấy một quầy như chừng là xe bus. Máu phiêu lưu của tôi nổi dậy, tôi mon men tới hỏi làm sao bắt xe bus về khách sạn, được chỉ qua quầy vé. Đến đây thì cứ như người hốt nhiên ngộ, tôi đi mua liền vé xe bus, chỉ mua một chiều vì nghĩ bạn sẽ đưa mình đi ra phi trường. Lên ngồi chểm chệ trên xe bus, thoát khỏi không khí hầm hập của Las, nhìn xuống khung cảnh nhộn nhịp của phi trường mà thầm thán phục mình. Mấy lần trước đi với Gái, cứ bám theo Gái và anh Tường nên có biết gì Las Vegas đâu. Hai người đặt đâu thì ngồi đó thôi. Nay cũng cám ơn người bạn, nếu không có những đổi thay vào giờ chót thì muôn đời cũng không biết đường xá của Las. Xe bus lái vào thành phố, lơ đãng nhìn quanh, nhìn phía trước xe thấy dòng chữ “Chúng tôi rất vui khi phục vụ quí khách. Xin liên lạc số điện thoại…” . Tôi vốn có tật ghi nhận những điều xem ra không cần thiết, vì vậy rút giấy bút, viết số điện thoại vào giấy. Biết đâu chừng. Xe đỗ lại đầu tiên ở Bellagio, rồi Paris, Bally, Flamingo, Imperial, cuối cùng Harrah’s. Bước xuống xe là gặp cái nóng khó chịu của Las ập vào người. Cái nóng thiêu người, cái nóng của vùng sa mạc khô cằn dễ sợ quá. Lấy hành lý xong vội nhanh chân chui vào khách sạn ngay. Mấy ngày liền thức khuya lại gặp cái nóng kinh người khiến tôi phờ phạc. Vào tới phòng để hành lý xuống liền điện thoại cho bạn ngay. Bạn nói đang bận tiếp những người khách. Chỉ kịp báo là có đem quyển sách rồi mệt quá, đưa số phòng để lỡ có muốn liên lạc với nhau thì cũng không bị đứt đường. Nghỉ ngơi lấy lại sức khoẻ xong là đi dạo Las liền. Người bạn đời của tôi kỳ trước chỉ ghé 3 ngày nên có vẻ còn thích thú trò đổ bác, la cà các máy nuốt tiền ngay. Tôi chẳng thú vị cái trò cờ bạc nhưng vì phải chầu rìa buồn quá, cũng chọt chọt, quay quay một chút để cúng…tiền. Las Vegas không chỉ là nơi đánh bạc mà còn nhiều thú vui chơi khác, tôi muốn lần này nhấm nháp cho đủ những thú vui ở đây. Ăn tối xong, tôi không còn hứng thú nữa, đành để người bạn đời lang thang các chỗ một mình, còn tôi lên phòng mở sách ra đọc. Cuốn sách trên 700 trang, nhờ các chuyến bay và những ngày không có bạn đã được tôi ngốn quá nửa. Không biết kỳ nghỉ này có tiêu thụ xong quyển sách không ? Hôm sau đi dạo phố, café, ăn sáng sớm vì sợ lát nữa mặt trời lên, ra đường chỉ làm mồi cho cái nóng. Biết bạn có khách phương xa đến nên không dám làm phiền. Sau bữa trưa tôi chào thua, rút về phòng xem…sách. Trước khi đi ăn tối, điện thoại cho bạn thì bạn bảo không thể tới đón tôi ở khách sạn được, chỉ đường cho tôi bắt xe bus đi Mandalay rồi từ Mandalay chuyển xe bus qua South Point, bạn sẽ tới đón ở South Point. Nhìn 3 chiếc va-li mà ngao ngán. Không biết có len nổi lên xe bus đông như nêm kia không ? Nói với người bạn đường, nhìn gương mặt ngần ngừ là tôi hiểu ngay. Chuyện đâu còn đó, đi ăn tối rồi dạo phố phường với cõi lòng thanh thản đi. Lại để người bạn đời đi chơi xì dzách, tôi về phòng tiếp tục đọc…sách. Hôm sau, vừa thức dậy là thay áo quần xuống đặt thêm một ngày khách sạn nữa. May quá, thứ sáu mà khách sạn vẫn còn phòng. Cám ơn giá xăng lên khiến lượng người đi giảm, giải quyết cho tôi mọi bối rối. Nhớ năm nào, có lần đi với anh Tường và Gái, 6 mạng phải chui trong một phòng vì không có khách sạn nào còn phòng cả. Xong thủ tục thuê phòng, trở về phòng, lại thêm một lần nữa tự thán phục mình : lấy tờ giấy có ghi số điện thoại, đặt xe bus ra phi trường. Thật dễ dàng. Nếu không có những trục trặc chắc gì tôi đã biết được những điều này. Cám ơn, cám ơn tất cả những ngẫu nhiên đưa đến cho tôi biết thêm đời. Hôm sau cũng thật sớm, sau khi nhấp ly café, ăn miếng bánh, chúng tôi lên xe bus, bỏ 5 USD lấy cái vé đi suốt ngày. Trước tiên là ngất ngưỡng trên tầng cao của xe bus downtown, ra downtown, đi quanh thành phố một vòng, nắng lên, trở về bến hỏi đường đi tới South Point. Thêm một lần nữa, nhờ sự ngẫu nhiên, biết luôn tuyến đường đi xe bus. Sau đó, nhờ xe bus, chỉ mất 5 USD, tôi đi dạo khắp Las mà không bị cháy nắng. Tìm được đường đến South Point, tôi điện thoại cho bạn đến lấy sách, khỏi làm phiền bạn phải vào internet kiếm đường vào khách sạn. Nhờ vậy tôi biết luôn đường đến outlet center bằng xe bus nữa. Cừ chưa ? Còn nữa. Ăn sáng, ăn tối, ăn trưa rặt bơ sữa, ngán quá, mơ một tô phở nóng có nước lỏng bỏng, thú biết bao nhiêu. Thế là tối đó chúng tôi nằm bò ra, mở phone book dò tìm địa chỉ các quán phở, thấy một số lớn tiệm nằm trên cùng một con đường trong khu phố Tàu. Thú vị về khám phá của mình quá. Lật bản đồ xe bus xin được trên xe. Người tài xế đòi 25 xu mà tôi cũng không có. Thế là anh ta cho luôn. Số là năm nào đi Mỹ tôi cũng đem về một túi nặng bạc cắc. Năm ngoái nghĩ được cách cho mấy cháu, đỡ phải mang về. Năm nay có bao nhiêu bạc cắc là dùng hết vì vậy đến 25 xu mà cũng không có. Và cái diệu kế tiêu hết bạc cắc bị vỡ tan tành. Thú vị nhất là phát giác muốn tới khu phố Tàu chỉ cần bắt xe bus tới Wynn, rồi từ Wynn đổi xe bus khác, qua vài bloc đường, phố Tàu hiện ra với cả chục tiệm Việt Nam. Vậy mà phải cong đuôi ngán ngẩm ăn đồ ăn tây. Phát hiện ra quán ăn Việt trễ quá nên chỉ thưởng thức có hai ngày, chưa đi hết vòng quán ăn Việt. Hẹn vài ba năm sau, khi hết ngán Las sẽ tới thăm. Bây giờ thì ngán lên tận cổ rồi. Người bạn đời của tôi nói không muốn đi Las nữa. Tạm biệt thành phố lấp lánh ánh đèn. Tôi chợt nghĩ, thành phố này nếu không có xăng dầu chắc sẽ biến trở lại thành một sa mạc khô cằn như con người không được nuôi dưỡng bằng phần tình cảm mượt mà cũng biến thành sa mạc hoang vu. Máy bay cất cánh với một điều khẳng định rằng không có bạn thì những thành phố tôi ghé qua chỉ là một sa mạc cằn cỗi. Trên phi cơ tôi ngốn hết trang sách cuối cùng. Cám ơn. Cám ơn tất cả. Hương Cau Hè 2008