Đồng Phước Tâm Tình Gởi Bạn ! Nữa Vòng Trái Đất
Nữa Vòng Trái Đất Cám ơn các bạn tôi Sương Biên Thùy, Nguyễn Bá Dĩnh, Cảnh Tịnh, Minh Dung, Bích Khuê đã cổ động tôi viết. Và riêng tặng chị Bùi Phi Phượng, người đã chia xẻ cùng tôi một đoạn đời không thể quên. Tôi ngồi đây trong Calgary mùa xuân mà tuyết vẫn còn rơi, lòng vui vẻ nhớ đến các bạn tôi và lời hứa với họ là tôi sẽ viết mà mỉm cười. Mấy năm rồi, lời hứa của tôi đã chỉ là lời hứa cuội. Qua phone, Sương Biên Thùy vừa khuyến khích vừa đe dọa tôi, “ĐP ơi, viết nhật ký trong tù đi. ĐP không viết thì tui viết đó.” Tôi ngồi đây, nhớ đến con bé con là tôi thuở 16 còn nhởn nhởn nhơ nhơ, vào cái năm lộn xộn ồn ào biểu tình bãi khóa tá lả 63, một buổi sáng từ phòng thẩm vấn của sở cảnh sát Nhatrang, đã bị lùa lên chiếc xe 4 bánh bịt bùng cùng với hai người bạn nữa của tôi là chị Phượng và Phụng. Thật thảm thương vì lúc 3 chúng tôi được lôi ra khỏi xe là lúc mà hai cánh cửa của nhà lao lớn Nhatrang đã thực sự đóng sập lại đàng sau lưng chúng tôi! Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại! Một ngày trong chốn giam cầm ấy dài thật dài đối với tôi khi mà mỗi tối, tôi phải nằm lăn qua rồi trở lại trên bộ ván là những mãnh gỗ thùng ghép lại, đếm tiếng chuột kêu chí cha chí chóe! Và đêm nào cũng như đêm nào, hàng đàn chuột cống “hành quân” náo loạn trên đầu tôi! Eo ơi, chuột già chuột trẻ chuột lớn chuột bé! Những đêm đầu tiên của cuộc đời “tù nhí”, tôi quả thật rất là kinh khiếp! Nhưng dần dà rồi tôi cũng phải biết thích nghi để sinh tồn. Cuối cùng, khi hai cánh cửa nhà lao ấy với khoảng trời tự do mở ra lại trên tôi, ngoái đầu nhìn trở lại để thấy mình thật sự đã trưởng thành hơn trong những nghĩ suy về con người và cuộc sống thì 2 tháng trong chốn ấy đã thật sự mang một ý nghĩa và giá trị lớn lao đối với tôi. Hai tháng tù tội ấy dù dài đăng đẳng nhưng không uổng phí. Nguyên do tại sao con bé con là tôi đây đã được “hân hạnh” bước vào để được tôi luyện trong nhà lao lớn ấy của Nhatrang, nếu phải kể ra thì thật dài dòng lắm. Sương Biên Thùy trong một bài viết ở giai phẩm Nhatrang năm 2000 đã khẳng khái tự thú là thuở ấy anh ta vì ham vui và vì mê gái (nói thế nhưng không phải thế, phải không SBT?), đã tuân lệnh nữ hoàng xuống đường của anh ta, phi thân lên lầu khóa cửa sắt lại để hô to hét lớn, đã đảo đã điếc vang trời dậy đất, khí thế bừng bừng! Nhưng con bé vô danh đã được anh ta phong tặng cho cái vương miện không biết cắt bằng giấy bìa cứng hay uốn bằng dây kẽm gai và đinh sắt rỉ thì lại chắc chắn không được oai phong, khí thế và lãng mạn như là anh ta vậy đâu! Con bé ấy thì chỉ bởi vì một chữ “NỘ” rất tầm thường của thế nhân mà thôi! Tôi phẫn nộ những ngày còn nhỏ Ba tôi đã đi biền biệt, nghe nói bị chế độ Ngô Đình Diệm truy lùng nên ông đã phải lưu vong qua cái xứ Cao Miên. Ba tôi là một thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng từ năm 1945. Khi Ông Diệm lên nắm chính quyền và áp dụng chính sách độc tài gia đình trị thì anh em ông đã tìm cách tiêu diệt những phần tử của các đảng phái quốc gia đối lập. Mẹ tôi thuở ấy nghĩ rằng Nhatrang tỉnh nhỏ hiền hòa, con nít không dễ học hư như con nít sống ở chốn phồn hoa đô thị nên bà đã để anh em chúng tôi ở lại Nhatrang cho một bà quản gia và một người anh họ lớn tuổi hơn chúng tôi trông coi. Bà một mình “thân cò” lặn lội vào Saigon, tảo tần kinh doanh để kiếm tiền nuôi bầy con ăn học. Lâu lắm, 3 hay 4 tháng Mẹ tôi mới về Nhatrang dăm ba ngày để thăm các con rồi lại đi. Tôi nhớ nhà tôi lúc đó còn ở cuối đường Độc Lập Nhatrang, gần khúc Mã Vòng. Đứng trước nhà tôi, nhìn xéo qua bên kia đường là thấy rất rõ ràng vòng hàng rào kẽm gai của khu nhà ga Nhatrang. Mỗi buổi chiều khi làm và học bài xong, tôi ưa thích băng qua đường, chui qua hàng rào kẽm gai, leo lên ngồi chò hõ trên 1 chiếc nền gạch đã đổ nát của nhà ga để nhìn những chuyến tàu lửa đi qua, mơ tưởng sẽ được trông thấy Mẹ tôi thò đầu ra ngoài cửa sổ toa tàu vẫy tay gọi tôi. Nhưng luôn luôn là khi trời bắt đầu sẩm tối, tôi tiu nghỉu thất vọng ra về, lòng tức giận cái ông Ngô Đình Diệm nào đó đã khiến anh em chúng tôi côi cút. Từ cả trước khi mà cuộc chống đối chế độ Ngô Đình Diệm bùng nổ, nhiều anh em bằng hữu của Ba tôi trong Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng đã bị bắt bớ giam cầm và bị tra tấn rất dã man. Nhiều người khi được thả về đã trở thành phế nhân. Tôi đã là một chứng nhân dạo ấy vì từng được theo Mẹ tôi đi thăm họ. Mẹ tôi thường đi thăm nuôi để tiếp tế thực phẩm thuốc men cho các bạn của Ba tôi ở trong tù. Có người khi ra tù không vợ con thân nhân thì Mẹ tôi đưa về nhà nuôi. Năm 1962, Mẹ tôi đưa từ Saigon về Nhatrang một người bạn của Ba tôi tên là Trần Thưởng mà anh em chúng tôi thương mến gọi là “chú Thưởng.” Chú là một thành viên của Đại Việt Quốc Dân Đảng đã bị chế độ ông Diệm bắt giam và bị tra tấn đến tàn phế thì mới được thả cho về. Chú Thưởng không vợ không con nên Mẹ tôi đã tự nguyện săn sóc cho chú. Thời gian sống với gia đình chúng tôi, suốt ngày chú nằm trên chiếc divan, rất ít khi đi lại vì chú quá yếu, không đi nổi. Trong nhà, tôi là người gần gũi và thường hay chuyện trò với chú nhất. Chú cũng rất là thương tôi. Vì gần gũi người bạn này của Ba tôi, vì thường hay được nghe chú kể lại những ngón tra tấn ác độc trong nhà tù của chế độ Ông Diệm mà tôi đã hết sức phẫn nộ. Bởi thế năm 1963, khi sự chống đối chế độ độc tài gia đình trị bùng nổ, tôi đã tham gia không một chút do dự sợ hãi. Chỉ đơn thuần bởi một chữ “NỘ” chứ lúc ấy, một con bé con mới 16 tuổi như tôi thì biết gì chuyện chính trị chính em, chuyện đại sự quốc gia dân tộc! Hè năm 1963 tôi đã theo các anh tôi vào Saigon để tham gia những cuộc biểu tình chống đối ở ngay tại thủ đô. Ngày mà nhà văn Nhất Linh tự tử để chống đối bạo quyền Ngô Đình Diệm, ngày song thất 7.7.1963, tôi đang có mặt tại Saigon và đã len lỏi chạy quanh các ngõ đường Saigon để cuối cùng leo lên được chiếc xe bus chen chúc những người đã cương quyết phải đưa tiễn cho được nhà văn yêu nước này đến nơi an nghĩ cuối cùng, dù rằng khắp mọi ngõ ngách, nơi đâu cũng có tai mắt của bọn mật vụ Nhu Diệm. Hết hè tôi về lại Nhatrang để tựu trường. Ngày học sinh Nhatrang bãi khóa, tôi đã đứng trong sân trường Nữ Trung Học để chứng kiến một số các bạn của tôi bị các nhân viên công lực lùa lên xe. Lọt lưới sáng hôm ấy nhưng qua hôm sau thì tôi đã bị công an đến tận nhà mời đi. Sau đó tôi được biết địa điểm quay truyền đơn của chúng tôi ở số 10 đường Hồng Bàng Nhatrang đã bị bại lộ và nguyên đám đã bị tóm! Về phòng giam sở cảnh sát, tôi đã gặp lại đông đủ các bạn tôi trong đó, kể cả những bạn hôm qua đã bị lùa đi từ sân trường Nữ Trung Học. Sau hơn một tuần bị giam giữ nơi đây mà đêm nào cũng bị dựng đầu dậy để cung cấp lời khai đến căng thẳng phờ phạc, tôi đã được chuyển về nhà lao lớn cùng với chị Phượng và Phụng để trở thành những nữ tù nhân chính trị thực thụ. Các bạn khác của tôi đã lần lượt được thả ra về. Nhớ lại một tuần bị “quay” như mòng mòng ở phòng lấy khẩu cung đến khủng hoảng thần kinh ấy, tôi đã vô vàn biết ơn người bạn của Ba tôi, chú Thưởng. Lúc cuộc đấu tranh chống ông Diệm đang ở vào giai đoạn căng thẳng nhất, chú đã “chuẩn bị” cho tôi một tư thế và tinh thần để “sẵn sàng đối phó” trong trường hợp mà tôi bị tóm. Chú chỉ bày và dặn tới dặn lui tôi, “Tụi công an sẽ uy hiếp áp đảo tinh thần con bằng mọi cách nhưng phải bình tĩnh để đừng khai bất nhất. Con hãy học thuộc lòng bản khai đầu tiên trước khi ký tên và nộp để những lần khai sau, con cứ như thế mà khai lại, không thêm không bớt 1 dấu chấm 1 dấu phết nào hết. Con nhớ đó.” Nhờ những dặn dò bày vẽ đầy kinh nghiệm của chú, tôi đã thoát được những cái tát tai nẩy lửa cùng những chiếc dùi cui thô bạo giáng xuống đau đến thấu xương và làm bầm tím mình mẩy mà mấy tên bạn khờ khạo của tôi đã thảm thương lãnh đủ! Tôi nghe lóm mấy gã công an chụm đầu thầm thì với nhau, “cái con nhóc này khôn quá!” mà trong lòng không thể nín được cười. Những ngày tôi đang còn nằm trong nhà lao Nhatrang thì ở nhà chú Thưởng trở bệnh nặng, Mẹ tôi phải đưa chú về lại Saigon. Và chú đã mất 10 ngày sau khi anh em ông Diệm chết. Hai ngày trước khi chú mất, Mẹ tôi vào bệnh viện Đồn Đất Saigon (bệnh Viện Grall) thăm chú. Khá đông đủ mặt các anh em Đại Việt Quốc Dân Đảng đứng quanh giường chú lúc bấy giờ. Mẹ tôi đã cầm tay chú và nói, “anh Thưởng, anh em ông Diệm chết rồi”. Chú cười méo méo cái miệng, thều thào, “Dạ, tụi hắn ác quá thì phải chết thôi”. Ai cũng thấy vui cho chú đã ra đi trong sự mãn nguyện. Anh em ông Diệm là những kẻ có tài và có sức. Nếu họ có thêm cái đức nữa để không tiêu diệt những đảng phái quốc gia và tôn giáo đối lập thì có lẽ năm 1975, miền nam Việt Nam đã không rơi vào tay cộng sản! Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tôi bình ổn trở lại cuộc sống học trò. Một hôm mấy đứa bạn và tôi rủ nhau đến thăm cô Cung, cô giáo anh văn lớp Đệ Nhị của chúng tôi. Cô Cung giới thiệu tôi về đọc cuốn “Guồng Máy”, “L'engrenage”, của Jean Paul Sartre mà cô khen là hay lắm. Tôi về đi tìm mua liền cuốn sách ấy và đã đọc. Tôi hiểu liền cô muốn “ngầm” nói gì với tôi, “Rồi chế độ nào cũng thế thôi, em bé ạ! Vẫn chiếc xe ấy. Vẫn người tài xế ấy. Chỉ khác người ngồi trong xe!” Cho dù lịch sử chỉ là một sự lập lại thì những người tuổi trẻ cũng không phải vì thế mà phải dừng lại và phải hủy diệt đi giấc mộng của mình - giấc mộng về một thế giới tươi đẹp hơn - phải không? Tuổi trẻ đứng lại và tuổi trẻ không có một giấc mơ là một tuổi trẻ chết! Vì thế mà giá như hôm nay bánh xe thời gian của tôi có thể quay ngược lại để tôi trở về cái con bé của thuở 16, 20 thì tôi biết chắc chắn rằng tôi vẫn sẽ làm lại những điều mà tôi đã làm, đi lại trên con đường mà tôi đã đi bởi vì con người có đạt được những điều mình ước mơ hay không chẳng quan trọng. Quan trọng là “tuổi trẻ của tôi đã có một giấc mơ”. Em không hề hối hận, thưa cô giáo của em. Hôm nay, lang thang đã 1/2 vòng trái đất, tôi mãi mãi vẫn còn nhớ đến những bữa cơm chia xẻ cùng nhau trong nhà tù của 3 đứa chúng tôi mà như một định mệnh thật lạ kỳ, tên của cả 3 đều bắt đầu bằng 2 chữ cái “PH”. Chị Phượng và tôi không cãi cọ nhau bao giờ. Nhưng tôi và Phụng thì “đấu nhau” đến phồng mang trợn mắt, đỏ mặt tía tai, lý do chỉ bởi vì chúng tôi mỗi đứa một giấc mộng riêng lẻ bên trời. Nhưng cãi cọ thì cãi cọ, rồi hai đứa chúng tôi cũng vẫn là bạn nhau. Có phải vì chúng tôi đã cùng nhau mang một mẫu số chung là “phận tù tội” như một trói buộc vô hình? Tôi không lý giải được! “L'intelligence et la logique n'y sont pour rien. C'est le coeur qui aime”. Chỉ biết rằng cái “miệng cứng lòng mềm” đã cho tôi sống những tháng ngày thật là vui vẻ để tận hưởng những thân thương của tình bạn trong chốn lao tù. Tôi nhớ chị Nhị, nhớ những săn sóc ân cần mà người niên trưởng “già tuổi tù” này đã đặc biệt dành cho 3 tên tù học trò non nớt chúng tôi. Con ma cũ là chị không hề bao giờ hiếp đáp đám ma mới chúng tôi mà còn ngược lại, tận tình giúp đỡ và gánh vác hết cho chúng tôi những công việc gì nặng nề nhất khó nhọc nhất. Một trái tim vàng! Tôi đi 1/2 vòng trái đất, lòng không khi nào quên những thùng nước ăn nước tắm nặng trĩu những ân tình mà chị Nhị đã mỗi ngày khệ nệ xách cho tôi. Tôi nhớ một chị mà tất cả mọi người trong phòng gọi là chị Tư. Chị Tư dịu dàng, hiền lành, và lặng lẽ. Ngày qua ngày, chị cặm cụi ngồi thêu hết chiếc áo gối này đến chiếc áo gối khác. Nhìn sự câm nín của chị, một con bé con hiếu động như tôi quả thật không thể nào ngăn được nổi tò mò thắc mắc trong lòng, “ trên mỗi đường kim kiên trì chị đi, trên mỗi đường chỉ chịu đựng chị rút, có len lỏi giấc mộng đời cỏn con nào không nhỉ (?)” Câu hỏi của tôi đã không bao giờ có câu trả lời! Nhưng cho đến hôm nay thì tôi biết rằng người nữ tù câm lặng này đã để lại một dấu ấn rất là sâu đậm trong tôi vì trong những giây phút mà tôi nản lòng nhất, chị luôn luôn là người mà tôi nhớ đến để tôi tự nhắc nhở tôi không được bỏ cuộc. Tôi nhớ đến con Cúc mập và cả cái đám “chị em ta” nữa, cũng ở trong khu “nữ tù nhân” chung một khoảng sân nhưng dãy của họ ngăn cách với dãy chúng tôi bằng một bức tường mà cổng bỏ ngỏ. Hai dãy nhà giam, hai thế giới tù tội khác biệt, và cả những con người bên trong hai thế giới ấy nữa! Một bên trầm lặng, khép kín. Một bên ồn ào, tung hê. Những buổi chiều ngồi trong sân chơi bên này nhìn sang bên kia ngắm họ chơi đùa, hát hò, khóc cười rất là hồn nhiên, tôi thích thú lắm và lòng tràn đầy ngưỡng mộ. Có phải bởi vì trong tận cùng trái tim tôi, “một bậc đại trượng phu muốn cười thì cười, muốn khóc thì khóc” mãi mãi là thần tượng? Có một hôm bọn họ chơi u mọi, con Cúc mập bị xô vào tường đến dập môi sứt trán, khóc rống lên. Giám thị trại chạy xuống, lôi cô ả giam vào xà lim. Hôm sau được thả ra, ả cũng lại cười, lại chơi u mọi, lại ngồi ca vọng cổ lâm ly mùi mẫn. Ở đứa con gái nhỏ này mà tôi quyết đoán chỉ cỡ bằng tuổi tôi thôi, đã tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt cuốn hút tôi. Tiếng ca vọng cổ của Cúc mập rất não nuột thê lương nhưng đôi mắt tròn xoe của cô nàng thì lại ngây thơ và trong sáng đến lạ lùng đã làm tôi xao xuyến, lòng chùng xuống trong một nỗi niềm cảm thương vô hạn! Thương cảm nhưng thán phục và mến mộ. Tôi đã lang thang 1/2 vòng trái đất để năm 1999 trở về lại Nhatrang, đứng trước ngôi trường Nữ Tiểu Học cũ kỹ không một chút đổi thay, lòng vẫn nguyên xúc động như mình đang là cô học trò bé nhỏ nghiêm trang đứng dưới cột cờ hát bài quốc ca. Cô học trò nhỏ “ngày ngày chào lá quốc kỳ, nhớ người chiến sĩ chết vì non sông.” Thấp thoáng bóng dáng cô giáo lớp Nhì B của tôi, cô Triều, người đã ươm trong trái tim tôi những giấc mộng ngọt ngào của tuổi thơ và tình yêu quê hương trường lớp với những bài hát “trường làng tôi, bức họa đồng quê,...” cùng với những vũ điệu “tuổi thơ, con chim non,...” “Cái con chim non nó kêu trên cành, trời mây thanh thanh nó chơi một mình”. Cám ơn cô đã trang bị cho em đầy đủ hành trang yêu thương và tự tin để đi vào cuộc sống. Tôi đã lang thang 1/2 vòng trái đất để thật cảm động và thật vui với tình bạn bất biến ngày mà chị Phượng đã bay tức tốc từ Seattle, WA qua Lowell, MA thăm tôi khi biết tôi cũng hiện đang có mặt trên đất cờ hoa. Hai chúng tôi đã suốt 2 đêm nằm thủ thỉ thì thầm trong ngôi nhà nhỏ ở Lowell, kể cho nhau nghe tất cả những câu chuyện đời từ dạo chia tay. Đời thật lạ lùng nên từ nhà lao Nhatrang đến đất Mỹ phải qua bao nhiêu là sông dài biển rộng mà rồi chúng tôi cũng đã trùng phùng nơi đây, mừng vui không kể xiết! Chị Phượng khăng khăng mời tôi qua Seattle chơi, nơi mà chị đang là chủ nhân của một nhà hàng ăn, nhà hàng “VietNam's Pearl” khá có tiếng với khách ViệtNam và với cả khách Mỹ nữa. Tôi rất vui mừng cho bạn tôi đã thành công qua bao khổ nhọc trên xứ người. Chị Phượng bắt tôi phải ra “travel agency” lấy vé máy bay liền. Nhét vào túi xách tôi 500US, chị nói, “ĐP phải để Phượng tặng ĐP 1 cái vé máy bay qua chơi với Phượng”. Tôi từ chối thế nào cũng không được hết nên cuối cùng phải đành với chị ra phố lấy vé. Tôi “book” vé từ Lowell về Calgary rồi một tuần sau mới từ Calgary bay qua Seattle. Hôm sau đưa chị Phượng ra phi trường Boston để tiễn chị lên chuyến bay trở về Seattle, tôi vẫy tay hẹn gặp lại nhau ở thành phố của chị để sẽ hàn huyên tâm sự tiếp. Nhưng trước khi rời Lowell đi Calgary, tôi đã ra bưu điện mua cái “money order” 500US để gởi trả lại tiền cho chị. Cầm lá thư có tờ chi phiếu bên trong và bỏ vào thùng thư, tôi thì thầm, “Chị Phượng ơi, đừng giận và buồn em nghe. Em sẽ xin chị khi em cần. Nhưng tình cảm tràn đầy của chị cho em thì em đã nhận rồi đó.” Nhà lao Nhatrang đã cho tôi bài học về Tình Bạn viết bằng chữ hoa mà hôm nay trên xứ người phiêu bạt, thứ tình cảm quý giá vô song này đã được chứng thực là vĩnh cửu, Tout passe Tout casse. Seule l'amitié Reste vivace. Tôi đã lang thang 1/2 vòng trái đất để trong hội ngộ Nhất C 65-66 hè năm 2001 tại Seattle, chứng thực một bài học nữa trong nhà tù Nhatrang là không một nỗi đắng cay hay thất vọng nào của kiếp người có thể hủy diệt được niềm vui sống trong lòng chúng tôi. Những mái tóc xanh giờ điểm bạc đã chụm lại bên nhau cười nghiêng ngả hả hê như những trẻ thơ. Khi tôi ngồi viết những dòng chữ này và đến đây, nước mắt tôi trào ra vì hạnh phúc. Những đau thương cuộc sống, những thù hận anh em, những đâm sau lưng bạn bè đã trở thành quá nhỏ nhoi trước hạnh phúc vô bờ này. Tôi đã lênh đênh, nổi trôi, phiêu bạt 1/2 vòng trái đất và rồi hôm nay vẫn trở về chốn cũ của khởi điểm tin yêu và hy vọng để nói tiếng cám ơn Nhatrang quê hương tôi, trường xưa, thầy cô, và bạn hữu. Tôi đi 1/2 vòng trái đất và biển Nhatrang vẫn mênh mông xanh ngát trong tôi. Đồng-Phước Calgary, Canada, May 6, 2002.
Back to Top