Lời sám hối muộn màng của một đứa học trò xà bát
Nếu biết Đồng Phước qua "Tâm Tình Gởi Bạn" Và "Nữa Vòng Trái Đất" trên mục Hồi Ký của Trang nhà Võ Tánh ;cũng nên đọc thêm "Lời sám hối muộn màng ...". Lời sám hối muộn màng của một đứa học trò xà bátLê Mai Lĩnh Đừng bao giờ nghĩ rằng ký ức ta là một kho chứa ta có thể lục lọi tự mình tìm kiếm ra được bất cứ điều gì đã nằm sẵn trong đó. Có những điều những tưởng như đã chết rấp, chết tiệt không bao giờ nhớ ra, nhìn lại, nếu như không có những người bạn một thời trai gần gũi, cạnh ta và sống mãi trong ta. Như ta đây, nếu không có những Nguyễn Bá Dĩnh, Phùng Văn Nguyên, Cao Thị Đồng Phước, Vũ Minh Dung... một thời Võ Tánh, ta đã không có những lời sám hối như thế này với Thầy, Cô, bè bạn một thời trai hoang đàng chi địa, dẫu đã muộn màng, nhưng cũng vô cùng cần thiết, cho chính lương tâm mình được thanh thản và cho mình xứng đáng được tha thứ. Trong đường học vấn có lẽ không có ai oai hùng và kinh khủng như tôi. Năm hai mươi tuổi, khi người khác đã là năm thứ nhất, thứ hai đại học, tôi mới hiên ngang nhận cho mình cái bằng Trung học Đệ nhất cấp hạng thứ. Để khỏi xấu hổ với mọi người, tôi nói rằng tại giặc Pháp xâm lăng, tại tản cư, tại kháng chiến, tại bình dân học vụ trong vùng Tề. Hàng chục lần chôn giấu sách vở trong bụi tre, dưới những tảng đất cày to tổ bố, nhưng khi Pháp rút lui, tìm lại sách vở đã không nhớ mình chôn giấu, cất giữ nơi nào. Lại nghỉ học theo trâu, lại nghỉ học theo bạn theo bè tát đìa bắt cá, trộm ổi trộm mía, bắt gà bắt vịt, rồi sau đó ăn đòn cha mẹ và nghe hàng xóm chưởi bới rầm trời rầm đất, trong khi chờ có người lên tỉnh nhờ mua vở viết mới. Ròi lại chôn khi nghe Tây về xóm trên, rồi lại giấu khi nghe giặc tràn ruồng bố. Thế cho nên khi vào lớp Đệ thất dậy xuân phơi phới, xác thân xúi giục bắt đàu yêu quỉ yêu ma, yêu luôn cô giáo Việt văn giọng nói ngọt ngào như mía lụi. Mùa hè năm 1962, tôi rời Quảng Trị, bạn bè năm đứa đưa tôi vào Huế để hôm sau đi máy bay vào Nha Trang. Đêm ngủ đò tại Huế, thằng bạn con nhà tỷ phú ở Đông Hà Phan Bá chiêu đải tôi một chầu. Dẫu là đêm trăng mùa hạ, dẫu còn thêm ngọn đèn hột vịt, tôi không còn nhớ rõ khuôn mặt người đàn bà đã hóa thân tôi từ thanh niên sang đàn ông đêm đó mặt tròn hay méo, tôi cũng chẳng còn nhớ lá đa hay lá vông, lá tre. Vào Võ Tánh, năm 1962, tôi học ban C. Tôi cũng mang theo hào quang le lói một cây văn nghệ và báo chí, một tay thuyết trình hùng biện của trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị, đồng thời cũng là một thi hào, văn bá có thơ đăng trên nhiều tờ báo tại Sàigòn. Một trời bát ngát vẫy vùng trước mắt. Và tôi bắt đầu ngang tàng, chơi trội và chơi nổi . Từ những kiến thức không do nhà trường mà từ những kiến thức sách vở. Ngay từ năm đệ thất, 1959, tôi đã gối đầu giường những cuốn Nhận Định của Nguyễn Văn Trung, những sách của nhóm Quan Điểm gồm Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, tạp chí Đại Học của Viện Đại Học Huế, tạp chí Quê Hương của nhóm Bác sĩ Trần Kim Tuyến, những bản dịch sách Triết của Lê Tôn Nghiêm, Trần Kim Dĩnh, tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, Những Vấn Đề Của Chúng Ta của Nguyễn Khắc Hoạch, tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo. Tôi đã học thuộc lòng vở kịch Ly Nước Lọc của Hoàng Anh Tuấn đăng trong Hiện Đại số 9. Tôi đã học thuộc bài viết của Vũ Khắc Khoan về vở kịch Lôi Vũ với tựa bài Sân Khấu Và Vấn Đề Xây Dựng Con Người... Hình ảnh một Lê Văn Chính thuyết trình hùng biện trước 700 học sinh Nguyễn Hoàng Quảng Trị với đề tài Giới Hạn Tự Do Của Học Sinh Tại Học Đường do thầy Việt văn Phạm Lộc khuyến khích và tổ chức cũng ngon cơm lắm chứ. Bài thuyết trình này năm Đệ Tam tại trường Võ Tánh, tôi làm lại và ngon cơm hơn, do thầy Việt văn Đặng Ngọc Ấn khuyến khích và tổ chức. Thử hỏi có ai đến trường đi học hút thuốc lá, mặc áo vét, đi giày cộp cộp, bước lên cầu thang đầu lớp, cuối lớp đã nghe và tưởng là thầy giáo. Có tôi. Một tôi học dốt. Thử hỏi có ai đến trường mang kính trắng (giả làm cận thị), cặp trong nách một cuốn sách Triết hay một cuốn truyện tiếng Anh, làm như mình là Triết gia thời đại. Có tôi. Một tôi học dốt. Tôi nghe nhà văn Nguyễn Bá Dĩnh cho biết, bấy giờ, một người bạn của Dĩnh tên là Dương Đức Ngọc muốn đánh tôi lắm. Mà tôi bị đánh là đúng. Nhưng sao dạo đó không có ai đánh tôi nhỉ. Nhưng sao dạo đó các thầy cô không ai ghét tôi nhỉ. Bằng chứng là khó tính nhất, nghiêm khắc nhất, học trò sợ thầy nhất như thầy Nguyễn Hữu Thứ, vừa là giáo sư Sử Địa vừa là Biện lý Tòa án, thầy lại khuyến khích và tổ chức cho tôi thuyết trình đề tài Thân Phận Người Đàn Bà Qua Ca Dao Việt Nam trước mấy trăm học sinh trường, đứng chật hội trường và đứng cả ngoài sân . Sinh hoạt văn nghệ và báo chí của trường, có tôi đi hàng đầu. Mùa hè 1963, cuối năm Đệ Tam, tôi bán áo quần, cái nào có giá, tôi bán chiếc xe đạp, tôi xuất bản tập thơ Nỗi Buồn Nhược Tiểu. Thơ nhỏ cỏn con, khổ sách cỏn con, nhưng lòng tôi đã là đại thi hào, đại thi bá. Nhà xuất bản cảm tình cá nhân tôi, đẹp trai, hiền lành, in thêm cho tôi 100 tờ quảng cáo Những Độc Giả Của Trào Lưu Văn Học Nghệ Thuật Mới, Hãy Tìm Đọc Nỗi Buồn Nhược Tiểu. Nhóm Sáng Tạo dạy tôi viết như thế. Đây là lúc thầy Cung Giũ Nguyên giận tôi nhất. Tường vôi trắt toát và nữ sinh của trường Lê Quí Đôn lại xinh đẹp nhất Nha Trang, thế là cái thằng tôi Trào Lưu Văn Học Nghệ Thuật Mới ngày nào cũng đem quảng cáo tới dán lên tường. Ngày nào cũng bị xé, ngày nào cũng dán lên. Thoạt đầu, tôi tưởng người của nhóm Tự Lực Văn Đoàn chơi tôi, ghen tài năng của tôi, cho tôi là người của nhóm Sáng Tạo. Nhưng một hôm, tôi bị người phu trường bắt quả tang lúc tôi dán, ông rượt tôi chạy vắt chân lên cổ. Nhân đây tôi xin tạ lỗi với vong linh nhà văn Nhất Linh. Cũng chuyện ngông nghênh này, tôi nghe nói nhà thơ Sao Trên Rừng đòi đ.m. tôi. Chuyện này tôi nghe kể lại, rằng thì là, đ.m. thằng Sương Biên Thùy chó chết nào đó đã hỗn với ông. Nha Trang là đất của ông. Ông là vua thơ ở đây. Ông chưa in được thơ ở đây. Hắn là thằng chó chết nào ở đâu dám in thơ trên lãnh địa của ông. Sau này, tôi có gặp Sao Trên Rừng tại tòa soạn báo Văn Nghệ tại nhà Lý Hoàng Phong, anh của nhà thơ Quách Thoại, nhưng tôi không dám nói tôi là Sương Biên Thùy, sợ Vua Thơ Nha Trang đánh . Như thế là tôi cũng biết sợ. Tháng 11 năm 1963, chế độ cụ Diệm bị lật đổ, năm đó tôi học đệ nhị ban C. Những lần đài phát thanh hay báo chí địa phương tới phỏng vấn học sinh của trường, thầy Hiệu trưởng Lê Nguyên Diệm thường chỉ định tôi đại diện học sinh trường trả lời phỏng vấn. Những lần học sinh trường được mời tham dự những chiến thắng quân sự của những đơn vị đồn trú trong địa phương, tôi được chỉ định viết và đọc diễn văn chào mừng. Cũng năm đó, học sinh toàn Nha Trang tổ chức Lễ Truy Điệu Nhà Văn Nhất Linh, tôi có chân trong ban tổ chức và là người điều hợp chương trình tại sân vận động. Năm sau nữa, tôi học đệ nhất. Bấy giờ, ham vui và mê gái, tôi theo nữ hoàng xuống đường Cao Thị Đồng Phước đêm đêm lên chùa ăn cơm chay, dự phiên họp, hôm sau về trường tham gia tổ chức bãi khóa. Cấp chỉ huy trực tiếp của tôi là Cao Thị Xuống Đường. Đại khái lệnh lạc như sau: Ngày mai khi nghe một hồi kẻng đánh, Sương Biên Thùy dùng khóa xe đạp khóa cửa sắt, lên lầu bên phải và hô to Đả đảo Trần Văn Hương. Sau đó có thể tôi đã trả lời: Kính thưa nữ hoàng thân yêu của lòng em, em đã nhận lệnh rõ, năm trên năm. Cuối năm đó, tôi thi hỏng Tú tài đôi. Yêu lung tung, năm bà mười chị tám cô sáu em ba cháu nhưng phi tú tài đôi thì bất thành phu phụ, mộng lên quậy tiếp trên Viện Đại Học Đà Lạt thành mây khói. Tan đàn rã nghé từ đây. Thôi đành đi làm sở Mỹ! Timekeeper, tại phi trường Phan Rang, cùng với mánh mung có tháng kiếm được cả 100 ngàn đồng trong thời giá vàng một lượng 9000. Ngày bước lên xe hoa về nhà vợ, cô hoa khôi khóa 1 Biên Tập Viên, chỉ còn 50 000 vừa đủ mua chiếc nhẫn hột xoàn hạng bét và bữa tiệc hạng xoàng tại nhà hàng Mékong Chợ Cũ Sàigòn giữa chú rể đẹp trai, con nhà nghèo, tú tài 1 và cô dâu đẹp gái, con nhà bậc trung, hai năm đại học. Rồi đi lính 7 năm, đi tù 9 năm, sau 17 năm sống với hoa khôi là chia tay, lấy vợ khác, nàng thua chàng 16 tuổi, bán bún bò Huế rất Huế. Giờ là lưu vong, đi cày. Ngày cày 3 tiếng, thiếu có chính phủ cờ Hoa bơm thêm phút tem, đau có mê đi ke mê đi két. Bài này tôi viết, trước là do sự xui khiến của lương tâm nhằm tạ lỗi với các thầy cô bạn bè tại trường Võ Tánh, rằng thì là, đã có một thời tôi vụng dại, ngu si làm buồn lòng quí thầy cô. Sau nữa là do sự yêu cầu của chị Trương Thị Bích Khuê cho số đặc san 2000 sẽ được phát hành trong mùa hè sắp tới của cựu học sinh Trung Học Võ Tánh và Nữ Trung Học Nha Trang. Hai ngôi trường có duyên nợ gắn bó với nhau. Bên thì tình nguyện làm vợ hay làm mẹ, bên thì tình nguyện làm chồng hay làm cha, cũng có lúc làm kẻ thù của nhau, đánh đấm nhau ra rít. Nhưng cũng nhờ thương nhau lắm cắn nhau đau nên mỗi lần, sau khi cắn nhau đau là một cu tí hay cái hĩm ra đời. Thà đông con hơn đông tiền. Lê Mai Lĩnh tôi xin khuyên quí anh chị huynh trưởng cứ cắn nhau dài dài cho sướng. Đêm qua ông nhà văn Nguyễn Bá Dĩnh thúc hối tôi viết bài cho chị Bích Khuê. Dĩnh nói là chị thích cuốn Đứng Ngồi Không Yên của tôi lắm. Ông Dĩnh còn đòi quyền cho ông kiểm duyệt bài của tôi trước. Tôi OK. Thực vàng sợ gì lửa . Như ta đây là Lê Mai Lĩnh, hai vợ năm con. Tính ra còn thua Nguyễn Du, bốn vợ, 21 người con. Như ta đây là Lê Mai Lĩnh gắng chạy đua cho bằng. Năm này mới 60 chứ mấy . Lê Mai Lĩnh
Back to Top