free hosting   image hosting   hosting reseller   online album   e-shop   famous people 
Free Website Templates
Free Installer

Trang Kinh Tế

( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.)

Không kể những vận động xúm xít để vào WTO, vấn đề trước mặt là liệu Việt nam có chấp nhận những nhượng bộ cần thiết để gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế hay không?


---------------------------------------------------------------------------------------

Cấm bán phá giá!
Vũ Qúy Hạo Nhiên

Việc thua kiện phá giá cá basa chỉ là một trong nhiều bài toán Việt Nam sẽ phải đương đầu khi buôn bán với nước ngoài. Thương trường quốc tế không phải là chỗ dễ chơi, muốn hội nhập còn phải học hỏi nhiều lắm.

Việt Nam đang sôi sục chuyện thua kiện bán phá giá cá tra tại Mỹ. Có đủ thứ lập luận được đưa ra về lý do thua kiện, và tất nhiên là trong đó có lời dè bỉu rằng “Chỉ là biện pháp Mỹ bảo vệ sản xuất nội địa” và có lời phê bình rằng “Thật là ngược với hiệp ước song phương hai nước và tinh thần tự do mậu dịch.”
Trước khi nói tiếp, xin được giải thích thêm về “phá giá.” Người tiểu thương Việt Nam thường hiểu “phá giá” nghĩa là bán dưới giá thị trường. Tại một nhà ga ai cũng bán dĩa cơm sườn với giá 5.000 đồng, bỗng nhiên có người bán với giá 3.000 đồng, thì bị bà con bạn hàng trách là bán phá giá và dèm pha thế này thế nọ.

Trong nền kinh tế thị trường, chê trách người “phá giá” theo nghĩa các tiểu thương nước ta hay dùng là sai. Trong kinh tế thị trường, cứ giá nào có người mua thì ta cứ bán, không thể chê trách việc đó được.
Cái “phá giá” đó không phải là “phá giá” khi nói đến thương mại quốc tế. Trên thị trường quốc tế, “phá giá” theo định nghĩa của WTO (Tổ chức Mậu dịch Thế giới) có nghĩa giá bán xuất khẩu của một món hàng rẻ hơn ở thị trường nơi sản xuất ra nó, hoặc giá bán xuất khẩu thấp hơn phí tổn sản xuất ra món hàng đó.
Vụ cá basa dĩ nhiên không phải là vụ bán phá giá đầu tiên, hay duy nhất, hay quan trọng nhất, trong các vụ bán phá giá. Nhiều nước trên thế giới cũng đi qua cửa ải này nhiều lần. Và cả hai chiều: vừa là nước bị kiện, vừa là nước đi kiện.
Mà không phải chỉ có nước giàu kiện nước nghèo không đâu. Trong năm 2002, trong khi Nhật không mở một cuộc kiện phá giá nào, thì Ấn Độ mở 76 hồ sơ kiện bán phá giá, trong đó có 12 vụ Trung Quốc, 9 vụ Cộng đồng Âu châu, và 3 vụ Mỹ.

Trong năm 2002, Top Ten kiện là những nước sau đây: Ấn Độ 76 vụ Mỹ 58 vụ; Argentina 26 vụ Cộng đồng Âu châu 23 vụ; Brazil 16 vụ; Australia 16 vụ; Thổ Nhĩ Kỳ 15 vụ; Peru 11 vụ Ai Cập 8 vụ Thái Lan 7 vụ Vô địch bị kiện phá giá thì là Trung Quốc, tổng cộng 39 vụ. Nhưng trong 58 vụ Mỹ khởi tố năm 2002 lại không có một đôi tượng Trung Quốc nào.
Các con số này cho thấy chuyện bán phá giá là chuyện rất “thường ngày ở huyện” trong thương trường quốc tế, không theo một quy luật riêng nào về “nước giàu / nước nghèo”, “nước lớn / nước nhỏ” gì cả. Muốn tham gia mậu dịch, phải làm quen với chuyện này thôi.

Như đã nói, WTO có hai định nghĩa phá giá. Định nghĩa thứ nhất là nước A xuất khẩu một món hàng sang nước B mà giá bán tại nước B thì thấp hơn giá bán tại nước A. Bán giá rẻ hơn giá ở nước B không phải là phá giá.
Thí dụ, một chiếc xe ô tô làm ra ở Nhật chẳng hạn, bán ở Nhật thì giá 40.000 USD mà chở qua Mỹ bán thì giá chỉ có 20.000 USD.
Các bạn có thấy có cái gì đó vô lý?
Nếu các bạn thấy điều này vô lý, thì tôi phải gióng chuông báo động các bạn coi chừng đang rơi vào cái tư duy kinh tế chỉ huy, chứ không phải kinh tế thị trường.

Chỉ có kinh tế chỉ huy mới có nói chuyện món hàng này nên giá thế này, món hàng kia nên giá thế kia. Chỉ có kinh tế chỉ huy mới có một “Ban Vật giá Chính phủ” để lâu lâu ra yêu cầu điều chỉnh giá, định giá trần, giá sàn, này nọ. Chỉ có kinh tế chỉ huy mới có khái niệm định giá món hàng trên thị trường dựa vào phí tổn sản xuất ra món hàng đó. Chỉ có ông Các Mác mới quyết định rằng giá trị, chữ giá trị hiểu theo định nghĩa của ông, của một món hàng là bao nhiêu đó thì giá bán của nó phải là bao nhiêu đó.
Trong kinh tế thị trường, chúng ta phải chấp nhận chuyện giá bán của một món hàng là một thứ không thể phân tích được “a priori”, trước khi đem món hàng đó đi bán. Vâng, đành thì là ta học trong trường rằng, trong tình trạng cạnh tranh hoàn hảo, giá món hàng bằng chi phí biên, nhưng tình trạng cạnh tranh có hoàn hảo chưa, hay còn một chỗ len lỏi nào đó, thì cũng phải bắt đầu bán món hàng đó rồi mới biết.

Ý tôi nói là thế này. Nếu đã nói là kinh tế thị trường, thì phải chấp nhận nguyên tắc căn bản, đó là giá mua giá bán một món hàng chỉ tùy thuộc cung cầu mà thôi. Cung cao mà cầu thấp thì giá thấp, cung thấp mà cầu cao thì giá cao.
Như vậy, một chiếc xe nếu ở Nhật không cung đủ cho cầu thì tự nhiên giá nó cao. Ở Mỹ cung nhiều hơn cầu thì tự nhiên giá nó thấp. Chiếc xe đó dù sản xuất ở Nhật hay ở đâu khác thì cũng thế.
Lại hỏi, nếu đã làm chiếc xe ra ở Nhật, mà giá ở Nhật cao thế, sao không bán quách ở Nhật mà mang sang Mỹ làm gì?
Chẳng phải có một mưu đồ đen tối gì đó sao?
Hỏi như thế cũng là tác phong xã hội chủ nghĩa. Trong kinh tế thị trường, người ta làm thế nào thì ... mặc kệ người ta, có thấy vô lý cũng phải chịu.

Nhưng suy cho cùng, cũng có cớ để một hãng bỏ thị trường giá cao, trả thêm tiền chuyên chở, để mang đến thị trường giá thấp. Trở lại thí dụ xe Nhật. Nếu cứ tiếp tục bán nhiều ở Nhật, giá xe ở Nhật sẽ từ từ xuống chứ không còn giữ cao được nữa. Cũng có thể ở Nhật một chiếc xe có thể để lâu mới bán được, vì những lý do không dính dáng gì đến giá xe, như người Nhật hay đi xe điện ngầm hơn là ô tô, người Nhật trả tiền cho chỗ đậu xe quá đắt nên người ta không thích mua xe. Thế là phải chờ lâu mới có tiền vào. Ở Mỹ có thể tốn thêm tiền chuyên chở và giá xe thấp tức tiền lãi trên mỗi chiếc xe ít đi, nhưng số xe bán được nhiều hơn, nhanh hơn, tiền vào vừa nhiều vừa mau. Sự luân chuyển nhanh chóng của hàng hóa và tiền bạc tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và đạt năng suất cao hơn.
Chẳng có một động cơ hay mưu đồ gì đen tối cả.
Xét theo tinh thần kinh tế thị trường và tự do mậu dịch, không có lý do gì để cấm một hãng không thể xuất khẩu với giá thấp hơn giá bán trong nội địa. Nhưng WTO lại cho phép các quốc gia được cấm điều này.
Thế còn định nghĩa thứ nhì của WTO thì sao? Định nghĩa thứ nhì của WTO là “phá giá” là bán dưới chi phí làm ra món hàng. WTO lại cho phép tính lại “chi phí” nếu giá thành các “chi phí” đã bị các yếu tố ngoài thị trường tự do làm cho giảm đi một cách giả tạo.
Định nghĩa này đi ngược lại lý thuyết kinh tế thị trường. Như trên đã nói, trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá bán một sản phẩm sẽ bằng chi phí biên làm ra sản phẩm đó. Mà chi phí biên thì nhỏ hơn chi phí trung bình. Tức là nếu bán với giá chi phí biên sẽ vi phạm luật cấm phá giá. Khổ thế! WTO lại chống lại việc tham gia một thị trường cạnh tranh hoàn hảo?

Vả lại, tất cả các nghiên cứu kinh tế đều kết luận rằng xưa nay không ai bán dưới chi phí mà sống sót cả. Trên lý thuyết, có thể có trường hợp, trong một thị trường mà các nhà sản xuất phải bỏ ra $9 để bán một món hàng $10, một tay đại gia có thể bán giá $8, chịu lỗ $1 một miếng, bán cho đến khi các cơ sở nhỏ hơn chịu không nổi, sạt nghiệp, tay đại gia nắm tuốt thị trường, lúc ấy tha hồ nâng giá lên $11, $12 hay hơn để bù lại lỗ cũ mà không sợ mất khách.
Trên thực tế chưa ai làm việc này thành công cả. Vì sao? Vì khi bán lỗ, càng bán càng lỗ, mà chưa chắc đã có ai sạt nghiệp, nên đại gia dù có “đại” cách mấy cũng thua. Mà nếu có thắng được keo đầu, đến lúc nâng giá lên $11, $12 thì lại có người khác thấy ăn ngon nhào vô cạnh tranh, lại phải xuống giá.

À, nhưng cũng có thể thành công được nếu phần lỗ đó có ai đó thật lớn tài trợ. Đó là trường hợp một nước nào đó muốn khuyến khích xuất khẩu nên tài trợ cho các công ty bán xuất khẩu giá rẻ, lỗ nhà nước chịu. Điều này thì có thể xảy ra, và đã từng xảy ra trong quá khứ. Đây chính là một yếu tố “ngoài thị trường” làm cho các chi phí sản xuất giảm đi “một cách giả tạo.”
Tuy nhiên, đã có hiệp ước riêng về việc chống tài trợ rồi. Hiệp ước này mang tên
“Agreement on Subsidies and Countervailing Measures.” Trong giới chuyên môn về ngoại thương, người ta gọi tắt hiệp ước này là CVD, tắt cho chữ “countervailing duties” là thuế áp dụng khi hàng nhập khẩu đã được tài trợ. Còn chuyện phá giá là “anti-dumping”, tên chính thức của nó là “Agreement on the implementation of Article VI” – điều 6 của vòng thương lượng Uruguay là nói về phá giá. Giới chuyên môn gọi nó là “AD”. Vâng, người ta hay nói “AD-CVD” như là một thứ, nhưng thực ra nó là hai thứ.
Muốn đánh thuế quan tài trợ thì cứ việc đánh thuế quan tài trợ (CVD), lại bày ra thêm cái thuế quan chống phá giá (AD) làm gì?
Nói dài dòng như vậy để kết luận rằng, chuyện WTO chống phá giá, dù đã định nghĩa phá giá một cách rất chi li và có vẻ như rất văn minh, nói cho cùng cũng vô lý và đi ngược lại tinh thần tự do mậu dịch, không khác gì các bác bán cơm sườn ở chợ chống phá giá theo cái định nghĩa nhà quê của các bác ấy, là vô lý và đi ngược lại tinh thần kinh tế thị trường.
Nhưng kết luận thứ hai, quan trọng hơn, là ta phải hiểu rằng, do đó đừng có mang cái lập luận “anh kiện cá basa của tôi là đi ngược tinh thần tự do mậu dịch” ra mà nói, không ai nghe cả.

Vì người ta đã nghe chuyện này rồi. Một tay viết cho Đàn Chim Việt mà hắn biết rằng luật chống phá giá là thứ luật đi ngược tự do mậu dịch, thì chắc chắn các vị thương lượng các vòng WTO cũng biết thế. Biết ngay từ đầu.
Biết, mà vẫn cứ mang nó vào WTO, có nghĩa là người ta cố tình đi ngược lại tinh thần tự do mậu dịch.
Vì đó là một trong những nhượng bộ người ta chấp nhận để có thể có được một cái gọi là WTO. Thà rằng có một WTO, trong đó có hàng nghìn điều có lợi cho tự do mậu dịch, và trong đó cũng có đôi điều đi ngược lại tự do mậu dịch, còn hơn không có gì cả.
Chỉ có cách là chấp nhận cái sự thực đó, và làm ăn theo đúng cách để không phá giá – theo lối định nghĩa của WTO.

Việc thua kiện phá giá cá basa chỉ là một trong nhiều bài toán Việt Nam sẽ phải đương đầu khi buôn bán với nước ngoài. Thương trường quốc tế không phải là chỗ dễ chơi, muốn hội nhập còn phải học hỏi nhiều lắm.

(Trích đăng từ Đàn Chim Việt Online)