( BBT : Ý kiến bày tỏ ở đây là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Võ Tánh Website.) Không kể những vận động xúm xít để vào WTO, vấn đề trước mặt là liệu Việt nam có chấp nhận những nhượng bộ cần thiết để gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế hay không? --------------------------------------------------------------------------------------- Thời sự kinh tế : Thursday, July 01, 2004 Ông Lê Ðức Thúy chịu thua ! Ngô Nhân Dụng Mục này bữa qua đã trình bày những tác động giúp ngăn ngừa lạm phát do quyết định tăng lãi suất một phần tư điểm của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ (viết tắt là Fed). Ông Alan Greenspan - Chủ Tịch Fed, có thể yên tâm, là hành động trên sẽ khiến các xí nghiệp, các nhà đầu tư và người tiêu thụ ở Mỹ phải tự điều chỉnh công việc cho phù hợp với chính sách tiền tệ mới của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Ông Alan Greenspan giống như một nhạc trưởng tin tưởng là các nhạc sĩ sẽ nhìn theo hai cánh tay nhịp nhàng của mình mà đánh trống thổi kèn theo đúng nhịp bản nhạc kinh tế mà ông dự đoán cả nước Mỹ sẽ hòa tấu theo, để ngăn chặn lạm phát trước khi nó lên cao. Nghĩ như vậy mới thấy tội nghiệp cho ông Lê Ðức Thúy - Thống Ðốc Ngân Hàng Nhà Nước, tức Ngân Hàng Trung Ương ở Việt Nam. Trong một cuộc phỏng vấn đầu tuần này do báo Thanh Niên thực hiện, nhà báo hỏi ông Thúy có dự báo gì về mức lạm phát trong nước trong năm 2004 này. Ông Thúy (nhà báo không mô tả nhưng chắc ông phải tủm tỉm cười) nói rằng, “Tôi đã từng đưa ra những dự báo sai, và bây giờ tôi không đưa ra dự báo nữa!” Ông Thúy giống như một nhạc trưởng không biết chắc là khi mình đưa ta đánh nhịp nhanh hay chậm hơn thì các nhạc sĩ có theo hay không. Vì ông Thúy không phải là nhạc trưởng duy nhất, các nhạc sĩ trong ban hòa tấu của ông còn đưa mắt nhìn theo những cánh tay đánh nhịp khác, có nhiều người cũng đang đóng vai nhạc trưởng! Hơn nữa, nhiều nhạc sĩ còn nghĩ chính họ mới là nhạc trưởng, họ thổi kèn, kéo nhị thế nào là chuyện không liên can gì đến ông Thúy! Vì vậy chính ông nhạc trưởng Lê Ðức Thúy cũng biết là sẽ có cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược, ông cũng không biết rồi bản hòa tấu nó sẽ ra thế nào. Ngân Hàng Nhà Nước ở Việt Nam cũng mang trách nhiệm như Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang ở Mỹ, là ấn định chính sách tiền tệ, thí dụ như tăng hay giảm lãi suất, tỷ lệ số tiền các ngân hàng phải giữ không được đem cho vay (gọi là dự trữ bắt buộc) và mua hay bán công trái của nhà nước. Nhưng tại sao ông Alan Greenspan thì có thể tiên đoán nhiều phần trúng ít phần sai về phản ứng của dân Mỹ đối với các quyết định của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, trong khi ông Lê Ðức Thúy thì phải dè dặt không dám dự đoán gì cả. Có phải là dân Mỹ, các nhà quản lý và các người tiêu thụ đều được “chỉ đạo tốt,” đã “học tập tốt” những nghị quyết của Trung Ương Ðảng Cộng Hòa; cho nên họ đã “tu dưỡng đạo đức cách mạng” nhiều hơn, nhờ thế họ thi hành đúng các chỉ thị, chỉ tiêu từ trên ban xuống hay không? “Trật lất!” Các xí nghiệp và người tiêu thụ, giới đầu tư ở Mỹ, họ phản ứng giống như nhạc trưởng Alan Greenspan dự đoán, là vì họ lo cho quyền lợi của chính họ. Nếu lãi suất lên hay xuống như thế này, thì người ta phải hành động như thế đó, mới đỡ thiệt hại. Không cần chỉ đạo, học tập hay nghị quyết nào ráo trọi! Chỉ cần cho mọi người tự do quyết định theo cách nào họ thấy là tốt nhất cho họ. Ngân Hàng Trung Ương thi hành một chính sách tiền tệ rất đơn giản, dân chúng cứ theo quyền lợi của mình là quyết định làm gì thì làm. Nhà nước không cần ra lệnh, dân không ai phải học tập nghị quyết nào cả. Như vậy thì tại sao ở Việt Nam người ta không làm giống như vậy? Bộ người Việt mình không ai thèm nghĩ tới lợi lộc của mình hay sao? Không phải. Thường tình ai cũng muốn bảo vệ quyền lợi của mình. Nhưng ở Việt Nam dân không biết mình phải làm cái gì thì lợi vì cơ cấu kinh tế không có quy luật để theo, mà ban nhạc có nhiều nhạc trưởng quá! Ngân Hàng Nhà Nước ở các nước cộng sản không có vị thế độc lập đối với Ðảng và nhà nước. Ở cấp địa phương thì các ngân hàng cũng phải nghe lệnh các cán bộ lãnh đạo, nếu có lời thì được thưởng, nếu cho vay rồi bị mất thì cũng vô trách nhiệm. Các cán bộ quản lý xí nghiệp quốc doanh không cần quan tâm đến chuyện lãi suất cao hay thấp, vì họ tiêu “tiền chùa.” Lời thì họ hưởng, lỗ thì bá tánh nhân dân gánh chịu! Trong hoàn cảnh đó, ông thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước nào cũng chịu thua, không thể biết chính sách tiền tệ của mình sẽ đưa tới các hậu quả nào. Lý do chính khiến Ngân Hàng Nhà Nước chịu thua là chế độ độc quyền của một đảng muốn nắm đầu nắm cổ thằng dân từ trên xuống dưới, nó chỉ sợ giảm mất quyền hành, bất chấp các quyền lợi chung của nhân dân. Nhưng các vị có trách nhiệm trong Ngân Hàng Nhà Nước ở Việt Nam vẫn tránh né không dám nói vì sao họ chịu thua. Vì nói ra là chống lại chủ trương độc quyền của Ðảng Cộng Sản. Vì vậy, các vị có trách nhiệm chỉ lo chống chế! Ông Lê Ðức Thúy thì nói rằng “tăng giá không đồng nghĩa với lạm phát!” Như vậy thì không biết thế nào mới là lạm phát nữa! Chắc phải viết lại tất cả các tự điển kinh tế. Ông Thứ Trưởng Tài Chánh Nguyễn Ngọc Tuấn thì “khẳng định nhà nước vẫn có thể kiểm soát được lạm phát.” Chỉ số giá cả ở trong nước đã tăng 7.2 phần trăm trong sáu tháng đầu năm 2004, theo đà này thì cả năm sẽ tăng gần 15 phần trăm. Giới lãnh đạo có vẻ không lo lắng, vì họ còn nhớ những năm 1980 giá sinh hoạt tăng đến 700 phần trăm, con số 15 phần trăm không thấm thía gì, các quan trên cứ bằng chân như vại! Nhưng khi giá cả lên như vậy, người dân, nhất là dân nghèo chịu thiệt thòi nhất. Trong lúc chỉ số giá cả chỉ tăng khiêm tốn hơn 7 phần trăm, thì lương thực và thực phẩm đã tăng tới 14 phần trăm trong sáu tháng trước! Dân nghèo kiếm được tiền thì đem tiêu phần lớn vào thức ăn chứ đâu dám nghĩ đến ti vi, tủ lạnh, hay quần là áo lượt. Thức ăn tăng giá thì dân nghèo chịu khổ trước tiên. Rồi đến xăng, dầu, từ tháng này sẽ tăng 17 phần trăm nữa. Các quan lớn đi công xa, tiền xăng được nhà nước trả không lo, còn những chị em bán hàng chạy mỗi ngày phải chở hàng bằng xe gắn máy sẽ thấy túi tiền mình nhẹ xuống, đồng tiền đã mất giá. Và như Rodrigo de Rato - Ðại Diện IMF - Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ở Việt Nam, cảnh cáo, nạn lạm phát sẽ làm cho Chương Trình Xóa Ðói Giảm Nghèo mà IMF đang viện trợ sẽ mất hiệu quả. Thử tưởng tượng, nếu viện trợ giúp tăng lợi tức của những nông dân nghèo lên 10 phần trăm, mà giá sinh hoạt lại tăng 15 phần trăm, thì người dân lại nghèo hơn trước! Muốn giảm bớt lạm phát thì phải tăng số hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra, hoặc giảm số tiền lưu hành trong xã hội, điều này ai cũng biết. Một thứ tiền được bơm liên tục vào trong nền kinh tế là tín dụng, những món tiền ngân hàng thương mại cho các xí nghiệp và tư nhân vay. Ông Thống Ðốc Lê Ðức Thúy thấy rõ điều đó. Ở nước Mỹ thì ông Alan Greenspan tăng lãi suất chút đỉnh là hy vọng các xí nghiệp sẽ bớt vay tiền mua thiết bị, nguyên liệu; còn tư nhân thì bớt vay tiền mua nhà, mua xe, số tiền trong nước sẽ hãm bớt không phồng lên nhanh như trước. Nhưng ở Việt Nam thì khác. Ngân Hàng Nhà Nước không dám tăng lãi suất nếu Bộ Chính Trị không cho phép, mà dù có tăng lãi suất cũng chẳng làm cho ai phải động đậy! Quyết định vay tiền của các xí nghiệp không do tính toán lời lỗ mà do nhu cầu chính trị của các bộ, các sở, và từng địa phương. Lãi suất cao đến mấy họ cũng cứ đi vay, vì nếu không trả được sẽ có người khác chịu! Mà các ngân hàng do đảng nắm trong tay vẫn cứ cho vay không cần biết có ai trả được nợ hay không! Tóm lại, họ đều vô trách nhiệm. Chính ông Lê Ðức Thúy nhìn rõ vấn đề này. Trong bài phỏng vấn của báo Thanh Niên, ông công nhận phần lớn tiền cho vay thêm bây giờ “chủ yếu... là một số dự án của doanh nghiệp nhà nước,... đòi hỏi vốn lớn, thời gian đầu tư lâu dài...” Nhưng mặt khác, cũng chính ông công nhận các dự án đó “hiệu quả thì thấp, tạo ra ít công ăn việc làm và đóng góp ít vào tăng trưởng của GDP (Tổng Sản Lượng Nội Ðịa.)” Nói cách khác, tiền nhà nước được trao cho các cán bộ tiêu vào những việc ít lợi ích hoặc vô ích. Chỉ cốt để các cán bộ coi bộ vẫn đang làm việc! Vậy Ngân Hàng Nhà Nước có thể làm gì? Ra chỉ thị. Ðó là cách duy nhất, dù không biết chỉ thị của mình nói phải làm cái này, phải tránh cái kia có được thực hiện hay không. Ông Lê Dức Thúy nói, “Các ngân hàng phải giảm bớt cho vay đối với các dự án này và đòi hỏi những điều kiện ngặt nghèo hơn.” Ông còn đề nghị nên đem vốn cho các xí nghiệp nhỏ và các hộ nông dân vay, vì họ sẽ làm ăn có hiệu quả hơn, đóng góp vào GDP nhiều hơn. Khi số tiền bơm vào nền kinh tế tăng lên mà số hàng hóa, dịch vụ cũng tăng thì không lo giá sinh hoạt tăng nhiều quá. Ngược lại, đem tiền cho doanh nghiệp nhà nước vay rồi họ không sản xuất được cho tương xứng thì không tránh được lạm phát lên cao. Ông Nguyễn Danh Trọng - Phó Vụ Trưởng Vụ Chính Sách Tiền Tệ, cũng cảnh cáo: “Các tổ chức tín dụng phải hết sức thận trọng đối với việc cho vay đầu tư vào bất động sản, hoặc cho vay (với) thế chấp (bằng) bất động sản” vì giá nhà đất hiện nay cao quá, có thể tụt giá là ngân hàng cho vay sẽ mất tiền! Cuối cùng, biện pháp chính của giới lãnh đạo tiền tệ ở Việt Nam vẫn là “ra lệnh.” Ðó là phương pháp làm kinh tế chỉ huy có từ thời Thống Chế Stalin. Nhưng thời Stalin trên bảo dưới còn nghe, bây giờ lệnh quan không còn hiệu nghiệm nữa. Những cán bộ trong các xí nghiệp và ngân hàng không cần nghe lệnh ông Thúy, họ chỉ cần bám lấy một lãnh tụ trong Bộ Chính Trị, Trung Ương Ðảng là họ yên tâm rồi! Cơ cấu kinh tế Việt Nam vẫn theo lối hoạch định, chỉ huy như thời Stalin, nhưng không còn giữ được kỷ luật và chỉ huy thống nhất thời Stalin. Ðó là mối nguy lớn, không ai biết sẽ kiểm soát được nạn lạm phát hay không. Trong một nền kinh tế thị trường thực sự như ở Mỹ thì không ai, kể cả Tổng Thống Bush hay Chủ Tịch Greenspan cần ra lệnh các xí nghiệp hay ngân hàng phải làm gì cả. Vì khi giới lãnh đạo chính sách tiền tệ ở Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đưa ra một biện pháp rồi, mọi người cứ tính toán cách nào có lợi nhất cho xí nghiệp hay cho gia đình mình mà hành động. Không thống đốc Ngân Hàng Trung Ương nào biết chắc kết quả đích xác của các biện pháp mình đưa ra, nhưng họ biết chiều hướng sẽ như thế nào. Ðiều khiển một phi thuyền Cassini bay lên Thổ Tinh còn dễ, đoán được phản ứng của hàng triệu đơn vị kinh tế khó hơn nhiều. Ngân Hàng Trung Ương phải dựa trên các quy luật kinh tế và hệ thống thị trường mà hành động. Nhưng cơ cấu đơn giản đó phải đi đôi với một chế độ tự do. Nếu ở nước Mỹ mà có một đảng độc quyền cai trị, khư khư lo bảo vệ quyền lợi các cán bộ và đảng viên, cấm dân chúng không ai được than thở, thì ông Alan Greenspan cũng bó tay như ông Lê Ðức Thúy mà thôi! Khi lạm phát lên 15 phần trăm một năm thì tất cả mọi người tự nhiên thấy túi tiền của họ mất đi 15 phần trăm. Lạm phát chính là một thứ thuế vô hình, thứ thuế đánh trên tất cả mọi dân lành, mà chịu thiệt thòi nhất là các dân nghèo vì họ không có những tài sản có thể tăng giá theo lạm phát. Một quan cán bộ lớn có cái nhà to và có nhiều mỹ kim thì không lo, vì nếu lạm phát cao đến mấy thì giá nhà và giá đô la sẽ tăng lên theo. Còn thằng dân chỉ có ba cái áo, hai cái quần để thay đổi nếu giá sinh hoạt có tăng quần áo của nó cũng chẳng làm nó giàu thêm được chút nào! Khi lạm phát tăng lên, hệ thống ngân hàng bị nhà nước chỉ huy cũng trở thành một guồng máy bóc lột dân chúng nữa. Hiện nay các ngân hàng trả lãi 0.62 phần trăm một tháng, tức 1.8 phần trăm một năm nếu người dân gửi tiền với định kỳ 6 tháng. Một xóm gửi ngân hàng 100 triệu đồng thì sáu tháng sau sẽ được lãi 3.72 triệu. Nhưng số tiền hơn 103 triệu đem về đã mất giá vì lạm phát trong sáu tháng đó là 7.2 phần trăm; chỉ còn tương đương với gần 97 triệu đồng thôi. Người dân mất biến hơn 3 triệu đồng! Tiền đó chạy đi đâu? Tất cả chạy vào các doanh nghiệp nhà nước để phụng dưỡng các cán bộ nói giỏi mà không làm được điều gì lợi ích! Người dân Việt Nam sẽ còn phải chịu nạn độc quyền cai trị thì còn phải hy sinh quyền lợi của họ để bảo vệ quyền lợi của Ðảng Cộng Sản. Ngô Nhân Dụng (trích đăng từ Người Việt Online)